Nâng cao chất lượng hoạt động quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước tại kỳ họp quốc hội
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG
QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ QUAN TRỌNG CỦA ĐẤT NƯỚC
TẠI KỲ HỌP QUỐC HỘI1
Lê Bộ Lĩnh*
Dương Thùy Dung**
* PGS.TS. Nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội
** ThS. Vụ Kinh tế, Văn phòng Quốc hội
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Bài viết phân tích thực trạng hoạt động quyết định các vấn đề quan
trọng của đất nước tại kỳ họp Quốc hội Khóa XIII và XIV; chỉ ra những
hạn chế, bất cập; đồng thời đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng
hoạt động quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước tại kỳ họp
Quốc hội.
Từ khóa: Hoạt động quyết định
các vấn đề quan trọng của đất
nước, kỳ họp Quốc hội.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 24/12/2020
: 04/01/2021
: 05/01/2021
Article Infomation:
Abstract:
This article provides an analysis of the status performance of the National
Assembly’s power of the decision on the country’s major matters at its
meeting sessions during the terms of XIII and XIV. It is also to give
out shortcomings and recommendations for further improvements of
the quality of activities in deciding the country’s major matters at the
National Assembly sessions.
Keywords: Performance
the National Assembly’s power
of the decision on the country’s
of
major
matters,
National
Assembly sessions
Article History:
Received
Edited
: 24 Dec. 2020
: 04 Jan. 2021
: 05 Jan. 2021
Approved
1. Vai trò của Quốc hội trong việc quyết
định các vấn đề quan trọng của đất nước
tại kỳ họp Quốc hội
đối ngoại, tổ chức bộ máy và nhân sự cấp cao
của Nhà nước. Hiệu quả hoạt động của Quốc
hội được bảo đảm bởi hiệu quả của các hình
thức hoạt động của Quốc hội; trong số đó, kỳ
họp Quốc hội là hình thức hoạt động chủ yếu
và quan trọng nhất. Cả về hình thức tổ chức,
thành phần tham gia, nguyên tắc hoạt động
cũng như nội dung kỳ họp Quốc hội đều bảo
Cùng với chức năng lập pháp và chức
năng giám sát tối cao, Quốc hội Việt Nam
còn thực hiện chức năng quyết định các vấn
đề quan trọng của đất nước trong các lĩnh
vực kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh,
1. Bài viết trong khuôn khổ đề tài NCKH cấp Bộ "Đổi mới hoạt động của Quốc hội tại kỳ họp Quốc hội trong
bối cảnh mới" do PGS.TS. Lê Bộ Lĩnh làm chủ nhiệm đề tài và TS. Hoàng Minh Hiếu làm Thư ký đề tài.
3
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
đảm tính đa dạng, toàn diện, thống nhất, dễ
tiếp cận và bảo đảm cao nhất sự giám sát của
nhân dân đối với hoạt động của Nhà nước.
Với tính chất quan trọng của việc thực hiện
chức năng quyết định các vấn đề quan trọng
của đất nước cũng như vị trí trung tâm của
kỳ họp Quốc hội, có thể nói rằng, việc nâng
cao chất lượng hoạt động quyết định các vấn
đề quan trọng của đất nước tại các kỳ họp
Quốc hội là đòi hỏi cấp thiết, có tính tất yếu
khách quan.
(1) Việc quyết định các vấn đề quan trọng
của đất nước đòi hỏi phải dựa trên và bảo
đảm tính pháp lý cao nhất; do đó, hiệu lực,
hiệu quả của việc quyết định các vấn đề
quan trọng liên quan mật thiết đến hệ thống
các quy định của pháp luật nói chung và
đến các chế định về chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn của các cơ quan trong hệ thống
chính trị và Nhà nước pháp quyền nói riêng;
(2) Những vấn đề quan trọng của đất nước
do Quốc hội quyết định cũng là căn cứ cho
việc thực hiện chức năng giám sát tối cao
của Quốc hội, từ nhân sự cấp cao trong bộ
máy nhà nước đến các chính sách cơ bản
về kinh tế, xã hội, khoa học, công nghệ,
văn hóa, giáo dục, quốc phòng, an ninh và
đối ngoại; (3) Việc Quốc hội quyết định các
vấn đề quan trọng của đất nước thể hiện
tập trung sự phân công, phối hợp giữa các
nhánh quyền lực trong bộ máy nhà nước.
Các quy định về nội dung quyết định
các vấn đề quan trọng của đất nước tại kỳ
họp Quốc hội được quy định trước hết tại
Hiến pháp2, được cụ thể hóa tại Luật Tổ chức
Quốc hội3 và các luật điều chỉnh các lĩnh vực
cụ thể4. Theo quy định của pháp luật hiện
hành, những nhiệm vụ, quyền hạn thuộc
về nội hàm Quốc hội quyết định các vấn đề
quan trọng của đất nước gồm: (1) Quốc hội
quyết định các vấn đề quan trọng về kinh tế
- xã hội; (2) Quốc hội quyết định chính sách
cơ bản về đối ngoại, nhiệm vụ quốc phòng,
an ninh; (3) Quốc hội quyết định các vấn đề
về tổ chức, nhân sự cấp cao của Nhà nước và
về địa giới hành chính; (4) Quốc hội quyết
định đại xá; (5) Quốc hội quyết định trưng
cầu ý dân.
2. Thực trạng hoạt động quyết định các
vấn đề quan trọng của đất nước tại kỳ
họp Quốc hội Khóa XIII, XIV
2.1. Kết quả tổ chức hoạt động quyết
định các vấn đề quan trọng của đất nước
tại kỳ họp Quốc hội
Quốc hội khóa XIII, XIV đã để lại
nhiều dấu ấn với hoạt động quyết định các
vấn đề quan trọng của đất nước5
. Việc Quốc
hội xem xét, quyết định các vấn đề quan
trọng của đất nước đã dần đi vào nền nếp,
Chức năng của Quốc hội về quyết định
các vấn đề quan trọng của đất nước có một
vai trò đặc biệt, thể hiện ở 3 phương diện:
2. Điều 70 Hiến pháp năm 2013
3. Các điều 7, 8, 9, 10, 11, 14, 16, 17, 18 và 19 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014.
4. Luật Đất đai năm 2013, Luật Đầu tư công năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), Luật Ngân sách Nhà nước
năm 2015, Luật Quy hoạch năm 2017, Luật Quản lý nợ công năm 2017, Luật Đầu tư năm 2020, Luật Điều
ước quốc tế năm 2016, Luật Biển Việt Nam năm 2012, Luật Quốc phòng năm 2018, Luật Tổ chức Chính phủ
năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Luật Tổ chức Viện Kiểm
sát nhân dân năm 2014, Luật Kiểm toán Nhà nước năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), Luật Trưng cầu ý
dân năm 2015.
5. Quốc hội khóa XIII: phê chuẩn Công hàm Thỏa thuận về cấp thị thực giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Hoa Kỳ; quyết định chủ trương đầu tư Dự án Cảng hàng không quốc tế
Long Thành, thể hiện thái độ, lập trường trong vấn đề “giàn khoan Hải Dương 981”, ra Thông cáo về vấn đề
Biển Đông, đăng cai tổ chức thành công Đại hội đồng Liên minh Nghị viện thế giới lần thứ 132 (IPU-132), phê
chuẩn Nghị định thư sửa đổi Hiệp định Marrakesh thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), phê chuẩn
4
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
nhiều hoạt động quyết định của Quốc hội đã
trở thành công việc mang tính định kỳ với
quy trình rõ nét; ngày càng có chất lượng,
giảm dần tính hình thức, đáp ứng yêu cầu
của thực tiễn, vì lợi ích của quốc gia, phù
hợp với ý chí và nguyện vọng của nhân dân,
góp phần vào ổn định kinh tế vĩ mô, phát
triển kinh tế - xã hội.
nhiệm của Quốc hội, đại biểu Quốc hội,
khẳng định Quốc hội đã ngày càng gần dân
hơn và bám sát hơn thực tiễn của đất nước.
Đặc biệt, có những vấn đề chưa được quy
định rõ thuộc thẩm quyền quyết định của
Quốc hội nhưng tác động lớn đến đời sống
chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước đã
được nhiều cử tri đòi hỏi phải được sự xem
xét, quyết định của Quốc hội. Điều này cho
thấy sự tín nhiệm, tin tưởng ngày một cao
của nhân dân đối với Quốc hội, khẳng định
rõ nét hơn địa vị hiến định của Quốc hội là
cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ
quan quyền lực nhà nước cao nhất.
Các nghị quyết của Quốc hội liên quan
đến quyết định các vấn đề quan trọng của
đất nước là căn cứ bước đầu để hoàn thiện
các nội dung về chính sách, pháp luật của
Nhà nước đáp ứng các yêu cầu phát triển
bền vững của đất nước trong từng giai đoạn
lịch sử, vừa chặt chẽ, vừa tạo sự linh hoạt
cần thiết cho các cơ quan nhà nước khác
thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của mình
theo quy định của pháp luật. Những vấn đề
có tính chất quan trọng, cơ bản, nhạy cảm
được Quốc hội xem xét, quyết định trong
thời gian qua đã cho thấy tinh thần trách
Để thực hiện tốt việc quyết định các
vấn đề quan trọng của đất nước, các cơ quan
của Quốc hội đã bám sát Chương trình hoạt
động toàn khóa của Quốc hội, xây dựng Kế
hoạch hoạt động cụ thể cho từng giai đoạn,
từng năm. Ủy ban thường vụ Quốc hội phân
công từng Ủy ban, từng đồng chí trong Ủy
Công ước của Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật; phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về chống
tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người; ban hành một số
chính sách thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho tổ chức và cá nhân…
- Quốc hội khóa XIV: dừng chủ trương đầu tư dự án điện hạt nhân Ninh Thuận; quyết định chủ trương
đầu tư Dự án xây dựng một số đoạn đường bộ cao tốc trên tuyến Bắc - Nam phía Đông giai đoạn 2017 -
2020; chủ trương đầu tư Dự án Hồ chứa nước Ka Pét, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận; gia nhập
Công ước số 105 của Tổ chức Lao động quốc tế về xóa bỏ lao động cưỡng bức; gia nhập Công ước số 98
của Tổ chức Lao động quốc tế về áp dụng những nguyên tắc của quyền tổ chức và thương lượng tập thể; phê
chuẩn Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương cùng các văn kiện liên quan; tổ chức
thành công Hội nghị thường niên lần thứ 26 của Diễn đàn nghị viện Châu Á-Thái Bình Dương (APPF-26) tại
Hà Nội; phê chuẩn Hiệp định Thương mại tự do giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên minh
Châu Âu; phê chuẩn Hiệp định Bảo hộ đầu tư giữa một bên là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và một
bên là Liên minh châu Âu và các nước thành viên Liên minh Châu Âu; công nhận và cho thi hành tại Việt Nam
phán quyết của cơ quan giải quyết tranh chấp đầu tư theo Hiệp định Bảo hộ đầu tư giữa một bên là Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam và một bên là Liên minh Châu Âu và các nước thành viên Liên minh Châu Âu;
phê chuẩn Hiệp ước bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào về việc sửa đổi điểm khởi đầu của đường biên giới quốc
gia Việt Nam - Lào;phê chuẩn Nghị định thư về đường biên giới và mốc quốc giới giữa nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào; phê chuẩn Hiệp ước bổ sung Hiệp ước hoạch
định biên giới quốc gia năm 1985 và Hiệp ước bổ sung năm 2005 và Nghị định thư phân giới cắm mốc biên
giới trên đất liền giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Campuchia… Lần đầu tiên,
Quốc hội có Nghị quyết riêng về vấn đề dân tộc; theo đó, Quốc hội phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế -
xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030. Năm 2019, Chủ tịch Quốc hội Việt
Nam đảm nhận chức Chủ tịch Đại hội đồng lần thứ 41 Liên nghị viện các quốc gia Đông Nam Á (AIPA 41)
nhiệm kỳ 2019 - 2020, tiếp tục khẳng định vai trò của Quốc hội Việt Nam trên diễn đàn Tổ chức liên minh nghị
viện ASEAN, tiếp tục khẳng định vị thế, tiếng nói của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.
5
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
ban Thường vụ Quốc hội chủ trì theo dõi
tiến độ, nội dung được giao ngay từ khi bắt
đầu triển khai xây dựng hoặc sửa đổi. Các cơ
quan của Quốc hội đã thu thập thông tin, tài
liệu, nghiên cứu và phân tích các nội dung có
liên quan để kịp thời xem xét, thẩm tra thấu
đáo các nội dung; tổ chức các cuộc khảo sát
thực tế, các hội thảo, tọa đàm với các chuyên
gia, nhà khoa học, nhà quản lý, các đối tượng
chịu sự tác động, nghiên cứu tham khảo có
chọn lọc kinh nghiệm quốc tế nhằm đáp ứng
yêu cầu hội nhập... trước khi trình xin ý kiến
Ủy ban Thường vụ Quốc hội và trình Quốc
hội thảo luận, cho ý kiến hoặc xem xét, thông
qua. Hoạt động thu thập thông tin, lấy ý kiến
đa chiều từ các cơ quan, tổ chức, chuyên gia,
đối tượng tác động của chính sách để cung
cấp, phục vụ cho quá trình Quốc hội xem
xét, quyết định các vấn đề quan trọng của
đất nước ngày càng được chú trọng, cả từ
phía các đại biểu Quốc hội, các đoàn đại biểu
Quốc hội, Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban
của Quốc hội cũng như từ phía Viện Nghiên
cứu lập pháp, Trung tâm Thông tin trước
đây và nay là Thư viện Quốc hội. Các báo
cáo thẩm tra của các cơ quan Quốc hội đã
đề cập, phân tích và đánh giá khá toàn diện,
khách quan và sâu sắc về nhiều vấn đề; đặc
biệt là đối với các vấn đề xã hội, tư pháp đã
có sự quan tâm hơn trước. Nội dung tiếp thu,
giải trình ý kiến của đại biểu được các cơ
quan chuẩn bị thuyết phục, thỏa đáng. Năng
lực đại biểu Quốc hội, các cơ quan của Quốc
hội, các cơ quan thuộc Ủy ban Thường vụ
Quốc hội và Văn phòng Quốc hội ngày càng
được nâng cao theo hướng chuyên nghiệp,
chất lượng, hiệu quả. Vị thế của Quốc hội
nước ta trên diễn đàn của các tổ chức liên
nghị viện khu vực và quốc tế cũng ngày càng
được khẳng định.
các bước xem xét, quyết định theo quy trình;
đồng thời, được điều chỉnh kịp thời, linh hoạt
sát diễn biến thực tế của kỳ họp. Xu hướng
chung là giảm thời lượng trình bày báo cáo,
tăng thời lượng thảo luận, tranh luận; khống
chế thời gian phát biểu ý kiến của mỗi đại
biểu ở mức bảo đảm tối đa sự tham gia của
các đại biểu trong quá trình thảo luận, mặt
khác, bảo đảm thời lượng tối thiểu cần thiết
để các đại biểu phát biểu ý kiến. Hoạt động
của các đại biểu Quốc hội tại các kỳ họp Quốc
hội đã được hỗ trợ ngày một tích cực hơn,
hiệu quả, tiết kiệm hơn, nhờ ứng dụng công
nghệ thông tin vào các hoạt động truy cập dữ
liệu, tài liệu kỳ họp và phục vụ cho hoạt động
phát biểu tại Hội trường, tại Tổ. Công tác chỉ
đạo, điều hành các phiên thảo luận tại các kỳ
họp Quốc hội quán triệt cao nguyên tắc tập
trung dân chủ, làm việc theo chế độ hội nghị
và quyết định theo đa số ngày càng khoa học,
chủ động, vừa linh hoạt, uyển chuyển, vừa
dứt khoát, bảo đảm bao quát toàn diện, hài
hòa, tạo cơ hội cho nhiều ý kiến trao đổi qua
lại; qua đó, phát huy được trí tuệ, tinh thần
trách nhiệm của đại biểu Quốc hội, góp phần
tạo không khí sôi nổi, dân chủ nhưng vẫn
bảo đảm tính nghiêm túc, kỷ luật. Công tác
tập hợp, tổng hợp ý kiến của đại biểu Quốc
hội được thực hiện đầy đủ, kịp thời, nghiêm
túc, đóng góp tích cực vào hoạt động xem
xét, quyết định các vấn đề quan trọng của đất
nước tại các kỳ họp Quốc hội. Hoạt động thảo
luận, tranh luận của các đại biểu Quốc hội
tại kỳ họp Quốc hội ngày càng sôi nổi; ngày
càng có nhiều hơn các ý kiến phản biện mạnh
mẽ, sâu sắc, có tính xây dựng, đi thẳng, đi
trực tiếp vào các vấn đề; các ý kiến, kiến nghị
của cử tri ở nhiều vùng, miền, địa phương
cũng được các đại biểu Quốc hội phản ánh
đầy đủ hơn, qua đó cho thấy tinh thần thẳng
thắn, trách nhiệm, dân chủ trong thảo luận
của các đại biểu Quốc hội tại kỳ họp. Ngoài
ra, công tác thông tin, tuyên truyền về kỳ họp
được triển khai, chu đáo, kịp thời, nội dung
Chương trình kỳ họp được xây dựng
khoa học, chặt chẽ, phù hợp với tính chất
từng nội dung họp, cả về thời lượng dành cho
mỗi nội dung cũng như thời điểm thực hiện
6
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
phong phú, đa dạng, nhiều chiều, góp phần
tạo cầu nối giữa Quốc hội với cử tri và nhân
dân, ngày càng thể hiện tinh thần dân chủ,
công khai, minh bạch trong hoạt động của
Quốc hội về quyết định vấn đề quan trọng
của đất nước. Bên cạnh đó, việc tăng cường
chất lượng và hiệu quả các hoạt động giám
sát nói chung và hoạt động giám sát tình
hình thực hiện các nghị quyết của Quốc hội
về quyết định các vấn đề quan trọng của đất
nước nói riêng cũng là một điểm nhấn có tác
động tích cực tới chất lượng hoạt động của
Quốc hội về quyết định các vấn đề quan trọng
của đất nước.
chiến lược nên ảnh hưởng của Quốc hội đối
với những vấn đề về chính sách tiền tệ ở
tầm chiến lược còn hạn chế.
Mặc dù Chính phủ có báo cáo giữa kỳ
và cuối kỳ về kết quả thực hiện kế hoạch sử
dụng đất của cả nước nhưng các báo cáo
này thường được gửi cho các đại biểu Quốc
hội dưới dạng tài liệu kỳ họp, Ủy ban của
Quốc hội có báo cáo ý kiến về báo cáo của
Chính phủ chứ không được đưa ra thảo luận
tại kỳ họp Quốc hội nên công tác quyết định
của Quốc hội còn mang tính hình thức.
Một số nội dung quyết định vấn đề
quan trọng của đất nước kéo dài nhiều năm,
trong khi quyết định phân bổ ngân sách lại
theo hàng năm hoặc trung hạn nên thiếu
gắn kết giữa chính sách về vấn đề quan
trọng và chính sách phân bổ cụ thể; thực
tế có nhiều công trình không được phân bổ
vốn theo đúng tiến độ, dở dang kéo dài, kém
hiệu quả.
2.2. Hạn chế, vướng mắc trong tổ
chức hoạt động quyết định các vấn đề
quan trọng của đất nước tại các kỳ họp
Quốc hội
Một là, nội dung thảo luận và biểu
quyết thông qua Nghị quyết về kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước dù
đã có đổi mới đáng kể để tạo sự cân bằng
giữa các khía cạnh của sự phát triển nhưng
chủ yếu vẫn nặng về khía cạnh kinh tế, khía
cạnh quốc phòng, an ninh và đối ngoại còn
mờ nhạt. Dù cơ sở pháp lý cho Quốc hội
thực hiện chức năng quyết định các vấn đề
quan trọng là tương đối đầy đủ nhưng hiện
vẫn chưa có tiêu chí xác định rõ ràng trong
nghị quyết của Quốc hội thì chỉ tiêu mang
tính bắt buộc phải thực hiện hay chỉ tiêu chỉ
mang tính định hướng nên khó đánh giá,
xác định trách nhiệm khi không đạt chỉ tiêu
của kỳ kế hoạch, nhất là với các chỉ tiêu
mang tính tổng hợp, phản ánh chất lượng và
sự phát triển bền vững6.
Công tác quy hoạch chậm được đổi
mới, dù Luật Quy hoạch năm 2017 chính
thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2019 nhưng
các văn bản hướng dẫn thi hành chậm được
ban hành từ 4 đến 5 tháng, ảnh hưởng đến
công tác triển khai thi hành luật; việc xây
dựng các quy hoạch thuộc hệ thống quy
hoạch quốc gia được thực hiện theo phương
thức mới có tác động đa chiều từ tư duy,
cách nghĩ, cách làm; do vậy, việc thực thi
trên thực tế trong giai đoạn chuyển giao còn
lúng túng, chậm trễ.
Hai là, các vấn đề quan trọng của đất
nước thường có nội dung phức tạp, nhiều vấn
đề liên quan đến chuyên môn sâu, mang tính
kỹ thuật cao, hàm lượng thông tin, dữ liệu
đồ sộ, một số nội dung mang tính đa ngành,
đa lĩnh vực, liên quan đến trách nhiệm theo
dõi, quản lý của nhiều cơ quan, là thách thức
không nhỏ với các đại biểu Quốc hội, các cơ
quan của Quốc hội trong việc thẩm tra, cho
Hiến pháp, Luật Tổ chức Quốc hội quy
định Quốc hội quyết định chính sách tiền tệ
quốc gia nhưng ngoài việc quyết định chỉ
tiêu chỉ số giá tiêu dùng thì cho đến nay,
Quốc hội vẫn chưa có quyết định nào về
chính sách tiền tệ quốc gia cụ thể ở tầm
6. Như chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng, tốc độ tăng giá tiêu dùng, bội chi ngân sách, nợ công, tỷ lệ che phủ rừng...
7
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Bộ phận Thường trực Hội đồng Dân
tộc, Ủy ban của Quốc hội còn mỏng, nên
cũng không tập trung được nhiều nhân lực
dành cho công tác quyết định những vấn
đề quan trọng của đất nước. Các cơ quan
của Quốc hội còn chịu nhiều sức ép, chưa
thực sự kiên quyết trong việc xử lý đối với
văn bản trình chậm tiến độ, kém chất lượng.
Chất lượng các phiên họp thẩm tra chưa
đồng đều; thời gian dành cho thẩm tra tại
mỗi phiên họp thường ngắn, số thành viên
dự họp thường không bảo đảm nên trong
một số trường hợp chưa đủ để thảo luận sâu
các vấn đề lớn; do đó, tính phản biện trong
một số báo cáo thẩm tra chưa cao.
ý kiến phản biện về các nội dung quyết định
thuộc thẩm quyền Quốc hội. Mặt khác, nền
kinh tế nước ta là nền kinh tế đang phát triển,
có độ mở lớn, quan hệ kinh tế - xã hội biến
chuyển khá năng động và nhanh chóng trong
bối cảnh tình hình thế giới và khu vực tiếp
tục có nhiều biến động phức tạp khó lường
và dưới tác động mạnh mẽ của cuộc Cách
mạng công nhiệp lần thứ tư nên chỉ sau một
thời gian ngắn đã có nhiều vấn đề xã hội và
quản lý xã hội cũng như các vấn đề quốc
phòng, an ninh, đối ngoại mới liên tục nảy
sinh, từ đó đặt ra ngày càng nhiều hơn các
nhiệm vụ cho Quốc hội quyết định các vấn
đề quan trọng của đất nước, nhất là những
vấn đề chưa có tiền lệ, chưa có khung khổ
pháp lý quy định cụ thể.
Tính chuyên nghiệp trong hoạt động
của bộ máy giúp việc chưa cao; chưa có
cơ chế khuyến khích thu hút các chuyên
gia giỏi, cán bộ có năng lực, kinh nghiệm
về làm việc tại các cơ quan giúp việc của
Quốc hội. Đội ngũ công chức trực tiếp tham
mưu, giúp việc còn thiếu về số lượng, một
số công chức còn yếu về trình độ, năng lực
chuyên môn, kinh nghiệm thực tiễn chưa
sâu, chưa đáp ứng được yêu cầu, trong khi
đó khối lượng công việc chuyên môn nhiều,
yêu cầu chất lượng cao, đòi hỏi cán bộ phải
có tư duy ở tầm vĩ mô, chiến lược.
Ba là, một số nội dung trình Quốc hội
có chất lượng chuẩn bị chưa cao; nội dung
tổng kết thực tiễn, phân tích, đánh giá tác
động của chính sách, lấy ý kiến của đối
tượng chịu tác động trực tiếp của chính
sách trong đề nghị vẫn còn hình thức; một
số nội dung chưa có sự thống nhất giữa các
cơ quan của Chính phủ dẫn đến khó khăn,
bị động trong thẩm tra, tiếp thu, giải trình
và hoàn thiện nội dung trình Quốc hội tại
kỳ họp; vẫn còn tình trạng chậm gửi hồ sơ
tài liệu và việc bổ sung gấp nhiều nội dung
quan trọng sát kỳ họp gây khó khăn, áp lực
trong việc chuẩn bị, tiến hành kỳ họp cũng
như trong việc nghiên cứu, tham gia ý kiến
của đại biểu Quốc hội cũng như cho thẩm
tra của các cơ quan của Quốc hội.
Cơ chế giúp việc cho các cơ quan của
Quốc hội, cá nhân đại biểu Quốc hội chưa
rõ ràng, chưa có sự phân biệt rõ giữa giúp
việc cho tập thể Ủy ban với việc giúp việc
cho cá nhân từng thành viên Thường trực,
dẫn đến hiệu quả làm việc của các cơ quan
giúp việc chưa cao; việc thực hiện tách rồi
lại hợp nhất cơ quan giúp việc Đoàn đại
biểu Quốc hội cũng có tác động nhất định
đến chất lượng, hiệu quả công tác tham
mưu, giúp việc của bộ phận này.
Bốn là, phần lớn đại biểu Quốc hội là
kiêm nhiệm ở các cơ quan, địa phương nên
khó có điều kiện tham gia sâu, đầy đủ các
hoạt động của các cơ quan của Quốc hội,
ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả trong
việc quyết định các vấn đề quan trọng của
đất nước. Nhiệm vụ, quyền hạn, cơ chế
hoạt động của đại biểu Quốc hội hoạt động
chuyên trách chưa cụ thể, rõ ràng, chưa đủ
để phát huy hiệu quả hoạt động của đại biểu
Quốc hội hoạt động chuyên trách.
Viện Nghiên cứu lập pháp, Thư viện
Quốc hội chưa phát huy hết vai trò cung cấp
thông tin, dữ liệu, nghiên cứu độc lập phục
vụ cho hoạt động của đại biểu Quốc hội, các
8
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
2. Giải pháp tiếp tục nâng cao chất lượng
hoạt động của Quốc hội về quyết định các
vấn đề quan trọng của đất nước tại kỳ
họp Quốc hội
cơ quan của Quốc hội, các cơ quan thuộc
Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Việc tổ chức
các hoạt động đào tạo, tập huấn cho đại biểu
hoạt động chuyên trách còn hạn chế về thời
gian và kinh phí, điều kiện hỗ trợ cho các
hoạt động đào tạo, tăng cường năng lực cho
đại biểu Quốc hội và các chuyên viên tham
mưu giúp việc còn khó khăn và chưa được
triển khai thường xuyên.
Để nâng cao chất lượng hoạt động của
Quốc hội về quyết định các vấn đề quan
trọng của đất nước tại kỳ họp Quốc hội,
đòi hỏi một số giải pháp liên quan đến bảo
đảm các điều kiện chung cho hoạt động của
Quốc hội như: nâng cao nhận thức về vị trí,
vai trò của Quốc hội; đề cao trách nhiệm
của các cơ quan có thẩm quyền trình Quốc
hội các vấn đề quan trọng của quốc gia;
kiện toàn tổ chức và nhân sự của Quốc hội,
nâng cao năng lực của đại biểu Quốc hội,
các cơ quan của Quốc hội; năng lực tham
mưu của các Vụ trực tiếp tham mưu, phục
vụ cho Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của
Quốc hội, các Vụ phục vụ chung và văn
phòng các Đoàn đại biểu Quốc hội; phát
huy dân chủ, tăng cường sự tham gia trực
tiếp của nhân dân vào quá trình quyết định
của Quốc hội... Bên cạnh đó, chúng tôi kiến
nghị một số giải pháp sau:
Năm là, trách nhiệm và sự phối hợp
giữa cơ quan trình và cơ quan thẩm tra vẫn
còn hạn chế, chưa phát huy hết khả năng và
vai trò của từng cơ quan, làm ảnh hưởng
tới chất lượng chuẩn bị và hoàn thiện dự
án trước khi trình thông qua. Công tác phối
hợp giữa các cơ quan của Quốc hội còn có
lúc, có việc chưa nhuần nhuyễn, hiệu quả
chưa cao. Việc phân công cơ quan chủ trì
thẩm tra nội dung quyết định các vấn đề
quan trọng có nội dung còn chưa thật sự phù
hợp, còn tình trạng một cơ quan đảm trách
nhiều nội dung trong cùng một kỳ họp.
Sáu là, cơ chế huy động trí tuệ của
nhân dân, xã hội vào công tác quyết định
những vấn đề quan trọng của đất nước cũng
như cơ chế bảo đảm sự kiểm tra, giám sát
của nhân dân, xã hội, vai trò giám sát của
Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội đối với
việc thực thi các nghị quyết của Quốc hội
về các vấn đề quan trọng chưa phát huy đầy
đủ hiệu lực, hiệu quả trong thực tiễn. Việc
tổ chức thực hiện lấy ý kiến và sử dụng các
chuyên gia, nhà khoa học còn gặp khó khăn
và hạn chế cả về thời gian và cách thức; các
quy định của pháp luật để thực hiện còn
chưa cụ thể, cơ chế tài chính cho hoạt động
này chưa rõ ràng, hợp lý. Việc lấy ý kiến
nhân dân về các dự án, dự thảo nghị quyết
chưa phát huy được hiệu quả. Cơ chế phản
hồi, tiếp thu ý kiến đóng góp chưa hợp lý
nên chưa động viên, khuyến khích được sự
tham gia tích cực của các cơ quan, tổ chức,
cá nhân.
2.1. Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đi
đôi với đổi mới phương thức tăng cường
sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội
trong công tác quyết định các vấn đề quan
trọng của đất nước
Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối
với hoạt động của Quốc hội nói chung và
đối với việc quyết định các vấn đề quan
trọng của đất nước nói riêng. Đảng lãnh
đạo Quốc hội bằng đường lối, chủ trương,
chính sách thể hiện trong các văn kiện Đại
hội, nghị quyết của Đảng. Chủ trương về
vấn đề quan trọng của đất nước đã được
quyết định trong các nghị quyết của Đảng
là căn cứ quan trọng cho việc Quốc hội
quyết định từng vấn đề cụ thể. Bảo đảm
sự lãnh đạo của Đảng với Quốc hội thông
qua Đảng đoàn Quốc hội và các đảng viên
là đại biểu Quốc hội.
9
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
2.2. Hoàn thiện quy định của pháp
luật về thẩm quyền của Quốc hội quyết
định các vấn đề quan trọng
Bên cạnh đó, tiếp tục nghiên cứu, đổi
mới thời điểm tổ chức, cách thức thảo luận,
quyết định các vấn đề quan trọng của đất
nước tại các hội nghị Ban chấp hành Trung
ương Đảng và thời điểm tổ chức, cách thức
thảo luận, quyết định các vấn đề quan trọng
của đất nước tại các kỳ họp Quốc hội; tránh
việc Đảng quyết định quá chi tiết những
vấn đề thuộc công tác thể chế hóa của Nhà
nước. Tiếp tục phân định rõ nội dung quyết
định các vấn đề quan trọng của đất nước do
Đảng quyết định với nội dung quyết định
của Quốc hội. Đối với các vấn đề tổ chức
và nhân sự, bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối,
toàn diện của Đảng, Ban Chấp hành Trung
ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, thông qua
Đảng đoàn Quốc hội lãnh đạo chặt chẽ, bảo
đảm quy trình giới thiệu, thảo luận, thăm
dò ý kiến và biểu quyết lựa chọn dân chủ.
Đối với các vấn đề kinh tế - xã hội, Đảng chỉ
cho ý kiến có tính định hướng và Quốc hội
chủ động xem xét quyết định trên cơ sở các
Tờ trình của Chính phủ và tình hình, yêu
cầu thực tế. Tiếp tục thực hiện Đảng quyết
định Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
10 năm, làm cơ sở cho Quốc hội ban hành
Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội 5 năm và hàng năm. Nghiên cứu quy
định rõ hơn quy trình xin ý kiến chỉ đạo của
Đảng về những nội dung kinh tế - xã hội
theo hướng: những vấn đề lớn, ý kiến còn
khác nhau và có điểm mới, khác so với các
Nghị quyết của Đảng thì Đảng đoàn Quốc
hội báo cáo xin ý kiến Bộ Chính trị; những
vấn đề không vượt ra ngoài đường lối, chính
sách chung, thì Đảng đoàn Quốc hội và các
đảng viên là đại biểu Quốc hội phải chịu
trách nhiệm trước Đảng về quyết định của
mình để phát huy hơn nữa tính chủ động và
nâng cao trách nhiệm của Quốc hội. Đối với
các vấn đề quốc phòng, an ninh, đối ngoại,
bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng
trong mọi hoạt động quyết định các vấn đề
quan trọng.
Tiếp tục hoàn thiện quy định của pháp
luật về nội dung thẩm quyền Quốc hội xem
xét, quyết định các vấn đề quan trọng của
đất nước nhằm mục tiêu tạo cơ sở pháp lý
vững chắc, thể hiện quyết tâm chính trị của
Nhà nước, tạo sự đồng thuận cao trong toàn
xã hội trong việc triển khai thực hiện; mặt
khác, không cản trở sự linh hoạt trong quá
trình điều hành của Chính phủ phù hợp
với chức năng, nhiệm vụ đã được quy định
trong Hiến pháp.
Đối với kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội, tiếp tục xác định rõ phạm vi quyết
định thuộc thẩm quyền Quốc hội và Chính
phủ theo hướng: giảm bớt những chỉ tiêu bắt
buộc tuân thủ, mở rộng những chỉ tiêu mang
tính định hướng cho công tác điều hành của
Chính phủ; đồng thời, gắn các mục tiêu phát
triển với các quyết sách thuộc thẩm quyền
của Quốc hội hoặc khuyến nghị những giải
pháp thuộc công tác điều hành của Chính
phủ. Gắn quyết định các chỉ tiêu, nhiệm vụ
kinh tế - xã hội 5 năm và hàng năm với quyết
định phân bổ ngân sách nhà nước hàng năm
và kế hoạch tài chính trung hạn.
Do đặc điểm Quốc hội nước ta chỉ có
hai kỳ họp giữa năm và cuối năm, trong
điều kiện chưa có sự thay đổi về thời gian
họp và số lượng các kỳ họp của Quốc hội,
trong kỳ họp giữa năm, Quốc hội cần ban
hành nghị quyết về định hướng cho các
mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của
năm sau để làm cơ sở cho việc dự toán
phân bổ ngân sách đầu tư; trong kỳ họp
cuối năm sẽ quyết định cụ thể cả mục tiêu,
chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã
hội và ngân sách nhà nước.
Tiếp tục hoàn thiện hệ thống các tiêu
chí về chương trình mục tiêu, dự án để
Quốc hội xem xét, quyết định, chấp thuận
10
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
2.3. Tiếp tục đổi mới và hoàn thiện
hoạt động thẩm tra, cách thức tổ chức,
điều hành, thảo luận tại kỳ họp Quốc hội
chủ trương đầu tư. Tổ chức thực hiện tốt
quy định của Luật Quy hoạch năm 2017
để nâng cao tính đồng bộ, hệ thống của
công tác quy hoạch trên phạm vi cả nước,
để quy hoạch thực sự là động lực thúc
đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững;
nghiên cứu ban hành, sửa đổi, bổ sung
các quy định của pháp luật về chính sách
dân tộc, tôn giáo theo hướng quy định rõ
những chính sách dân tộc, chính sách tôn
giáo cần trình Quốc hội xem xét, quyết
định; nghiên cứu ban hành quy định cụ
thể về đại xá, điều kiện, hoàn cảnh xem
xét đại xá; hệ thống hóa và hoàn thiện các
quy định về công tác đánh giá cán bộ,
nhất là lượng hóa nội dung tiêu chí đánh
giá cán bộ trước khi trình Quốc hội xem
xét, quyết định về vấn đề nhân sự cấp cao
của Nhà nước.
Các vấn đề quan trọng được Quốc hội
thảo luận và quyết định dựa trên các báo
cáo thẩm tra của các cơ quan của Quốc hội.
Một số vấn đề mặc dù được trình bày chung
trong Báo cáo kinh tế - xã hội nhưng cũng
cần được thảo luận riêng như các vấn đề
văn hóa, giáo dục, khoa học công nghệ,
quốc phòng, an ninh, đối ngoại... để bảo
đảm chiều sâu trong thảo luận và quyết định
tương xứng với tầm quan trọng của các vấn
đề này. Công tác phối hợp thẩm tra của Hội
đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội
đóng vai trò trọng yếu, dù là một cơ quan
chủ trì thẩm tra hay thành lập một Ủy ban
thẩm tra chung thì yếu tố tham gia chặt chẽ
của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của
Quốc hội là không thể thiếu.
Rà soát, chuẩn hóa các quy định về
trình tự, thủ tục, hình thức xem xét, cho
ý kiến, quyết định các vấn đề quan trọng
của đất nước thuộc thẩm quyền của Quốc
hội tại các luật có liên quan và Nội quy kỳ
họp Quốc hội; tiếp tục nghiên cứu đổi mới
quy trình xem xét, quyết định các vấn đề
quan trọng của đất nước, hoàn thiện các quy
định của pháp luật theo hướng: xác định rõ
trách nhiệm của các cơ quan trình, cơ quan
thẩm tra và vai trò của các đại biểu Quốc
hội; quy định rõ sự phân công, phân cấp,
phối hợp giữa các cơ quan của Quốc hội
trong việc thẩm tra các báo cáo, dự án liên
quan đến các vấn đề quan trọng quốc gia;
quy định trách nhiệm tổ chức, thực hiện các
nghị quyết của Quốc hội về các vấn đề quan
trọng của đất nước.
Phát huy vai trò chủ động, linh hoạt của
chủ tọa phiên họp trong công tác điều hành
các phiên họp tại kỳ hop Quốc hội. Tiếp tục
đổi mới cách thức trình bày các tờ trình,
báo cáo tại kỳ họp Quốc hội theo hướng rút
ngắn thời gian trình bày, chỉ nêu khái quát
những nội dung chính, nêu cao trách nhiệm
của các đại biểu Quốc hội tự nghiên cứu
báo cáo đầy đủ về các nội dung được thảo
luận tại kỳ họp Quốc hội đã được gửi trong
hồ sơ các dự án, dự thảo trình Quốc hội.
Bố trí thời gian hợp lý để Quốc hội
thảo luận, xem xét, thông qua các quyết
định, bảo đảm để đại biểu Quốc hội có đầy
đủ thông tin, có đủ thời gian nghiên cứu
nắm chắc vấn đề trước khi quyết định; tăng
thời lượng thảo luận tại Phiên họp toàn thể,
giảm thời lượng thảo luận tại Tổ; nâng cao
chất lượng thảo luận tại Tổ, nghiên cứu quy
định cho phép người dân dự thính các buổi
thảo luận tại Tổ; ứng dụng công nghệ thông
tin, thực hiện truyền hình, phát thanh trực
tiếp các phiên thảo luận tại Tổ.
Quy định thống nhất về thể thức và
kỹ thuật trình bày nghị quyết của Quốc
hội không chứa quy phạm pháp luật; quy
định rõ ràng về hiệu lực của các nghị
quyết của Quốc hội không chứa quy phạm
pháp luật.
11
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
nghiệm và có giải pháp cụ thể đẩy mạnh hơn
nữa hiệu quả kỳ họp Quốc hội nói chung và
hoạt động quyết định các vấn đề quan trọng
của đất nước tại kỳ họp Quốc hội nói riêng.
Nghiên cứu bổ sung hoạt động của Hội
đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội
phù hợp với Chương trình kỳ họp Quốc hội,
chuyển dần trọng tâm thảo luận tại Phiên
họp toàn thể và Tổ sang thảo luận tại Hội
đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội;
nghiên cứu yêu cầu đại biểu Quốc hội phát
biểu ý kiến gắn với đề xuất sửa đổi, bổ sung
trực tiếp các nội dung trong dự thảo nghị
quyết của Quốc hội; nghiên cứu biểu quyết
từng phần, từng đoạn trước khi biểu quyết
toàn văn dự thảo nghị quyết của Quốc hội;
thực hiện công khai danh tính đại biểu
Quốc hội biểu quyết để tăng cường mối liên
hệ chặt chẽ giữa đại biểu Quốc hội và cử
tri, góp phần nâng cao trách nhiệm của đại
biểu Quốc hội trước cử tri và Quốc hội về
việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đại biểu
của mình, qua đó nâng cao chất lượng quyết
định các vấn đề quan trọng của đất nước tại
kỳ họp Quốc hội.
2.4. Nâng cao chất lượng cơ sở dữ
liệu, thông tin phục vụ cho hoạt động của
Quốc hội về quyết định các vấn đề quan
trọng của đất nước
Nghiên cứu từng bước xây dựng đơn
vị phân tích dự báo về kinh tế - xã hội, ngân
sách thuộc Văn phòng Quốc hội để thực
hiện các nghiên cứu có tính độc lập nhằm
cung cấp thông tin phục vụ cho các hoạt
động của Quốc hội.
Tăng cường hiệu quả phối hợp giữa
Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội,
các cơ quan thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc
hội, Văn phòng Quốc hội, Viện Nghiên cứu
lập pháp với Tổng cục Thống kê, trường
đại học, viện nghiên cứu, trung tâm nghiên
cứu, hình thành mạng lưới chuyên gia độc
lập riêng thuộc các lĩnh vực để chủ động
làm giàu nguồn thông tin, dữ liệu về phía
Quốc hội. Quan tâm xây dựng các diễn
đàn có thương hiệu để tạo không gian thảo
luận, qua đó, thu thập ý kiến có chất lượng
của các chuyên gia, góp phần nâng cao chất
lượng phản biện chính sách của Quốc hội.
Tiếp tục áp dụng phương thức họp trực
tuyến và việc bố trí kỳ họp theo từng đợt
đối với mỗi kỳ họp Quốc hội để trở thành
phương thức tổ chức thường xuyên các kỳ
họp của Quốc hội. Cách thức tổ chức như
vậy vừa tiết kiệm ngân sách nhà nước, tiết
kiệm thời gian đại biểu Quốc hội kiêm
nhiệm tham gia các kỳ họp của Quốc hội,
vừa có tác dụng tạo động lực tốt hơn cho các
đại biểu Quốc hội đăng ký phát biểu ý kiến
và nâng cao chất lượng các ý kiến phát biểu
của mình tại các điểm cầu ở địa phương; mặt
khác, tạo điều kiện cho cử tri cả nước theo
dõi tốt hơn các vấn đề quan trọng được thảo
luận tại Quốc hội cũng như việc thực hiện
vai trò đại biểu dân cử của đại biểu Quốc hội
được bầu; tăng cường và bảo đảm sự đồng
bộ, chuyên nghiệp hóa về cơ sở vật chất kỹ
thuật cũng như công tác phục vụ khác để đáp
ứng cao nhất yêu cầu phục vụ kỳ họp Quốc
hội, nhất là họp trực tuyến.
Nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm
vụ của Thư viện Quốc hội nhằm đáp ứng
một cách đầy đủ, tin cậy, khách quan và kịp
thời các yêu cầu cung cấp thông tin, nghiên
cứu của các đại biểu Quốc hội, các cơ quan
của Quốc hội; hoàn thiện và triển khai thực
hiện Đề án Quốc hội điện tử; áp dụng công
nghệ thông tin, ứng dụng các thành tựu của
cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư về
dữ liệu lớn, kết nối vạn vật, điện toán đám
mây… vào công tác kết nối, lưu trữ, thu
thập, thống kê, tổng hợp, phân tích, dự báo,
chia sẻ và cung cấp thông tin, dữ liệu thuộc
các lĩnh vực kinh tế - xã hội, quốc phòng,
an ninh, đối ngoại phục vụ cho hoạt động
Tiếp tục nâng cao chất lượng công tác
tổng kết kỳ họp Quốc hội, kịp thời rút kinh
12
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
của Quốc hội quyết định các vấn đề quan
trọng của đất nước.
nhiệm của các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền trình Quốc hội về tiếp thu, giải trình
các ý kiến bảo đảm thỏa đáng, phản ánh đầy
đủ tâm tư, nguyện vọng của cử tri; tham gia
đầy đủ và có trách nhiệm tại bước hoàn thiện
các nghị quyết của Quốc hội quyết định các
vấn đề quan trọng của đất nước.
Nâng cao năng lực Trung tâm Tin học,
tiến tới nâng cấp thành Trung tâm điều
hành Quốc hội điện tử để vận hành nền tảng
đa năng đáp ứng nhu cầu truy cập dễ dàng
và thuận tiện tới các tài liệu, xử lý thông
tin nghiệp vụ và quản lý hồ sơ, đồng thời
tăng tính tương tác giữa các đại biểu Quốc
hôi, các cơ quan của Quốc hội, các cơ quan
thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội; qua đó,
đơn giản hóa quy trình và cắt giảm chi phí,
thời gian, tăng cường hiệu quả công tác
tham mưu, phục vụ Quốc hội.
2.6. Nâng cao chất lượng xây dựng
pháp luật và giám sát của Quốc hội
Ba chức năng cơ bản của Quốc hội có
mối quan hệ mật thiết, vừa mang tính thống
nhất, vừa có sự tác động qua lại lẫn nhau. Có
hoàn thiện các quy định của pháp luật liên
quan đến việc Quốc hội quyết định các vấn đề
quan trọng của đất nước tại các kỳ họp Quốc
hội thì hoạt động quyết định của Quốc hội tại
kỳ họp mới có đầy đủ “điểm tựa” pháp lý để
một mặt, bảo đảm những vấn đề quan trọng
nhất của đất nước được đưa ra Quốc hội xem
xét, quyết định; mặt khác, tránh tình trạng
“đẩy” trách nhiệm sang Quốc hội để quyết
định; đồng thời, bảo đảm trọng tâm trong quá
trình thảo luận, quyết định, tránh việc thảo
luận, quyết định mang tính hình thức.
2.5. Tăng cường sự phối hợp giữa
các cơ quan thực hiện các chức năng lập
pháp, hành pháp và tư pháp
Nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ
quan thực hiện các chức năng lập pháp, hành
pháp và tư pháp trong việc chia sẻ thông tin,
thực hiện các nội dung công tác và đặc biệt là
trong quá trình lập, thẩm định, thẩm tra, trình
Quốc hội xem xét, thảo luận và biểu quyết đối
với những vấn đề quan trọng của đất nước.
Các cơ quan của Quốc hội chủ động tham
gia nắm bắt thông tin từ xa, từ sớm. Các cơ
quan có thẩm quyền trình Quốc hội thực hiện
đầy đủ trách nhiệm cung cấp thông tin, mời
các đại biểu Quốc hội, các đại diện Hội đồng
Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội, đại diện
Văn phòng Quốc hội, các vụ, đơn vị trực tiếp
tham mưu, phục vụ Hội đồng Dân tộc và các
Ủy ban của Quốc hội tham gia ngay từ khi
lập, thẩm định hồ sơ trình Quốc hội. Các
cơ quan tham gia thẩm tra tăng cường trách
nhiệm, chủ động tổ chức các hoạt động thẩm
tra riêng từ góc độ lĩnh vực phụ trách đối với
vấn đề quan trọng được đưa ra xem xét. Đặc
biệt quan tâm quá trình giải trình, tiếp thu
các ý kiến của đại biểu Quốc hội tại tất cả
các bước, các khâu của quy trình quyết định
nói chung và ý kiến của đại biểu Quốc hội
tại kỳ họp Quốc hội nói riêng; đề cao trách
Công tác giám sát được chú trọng, tăng
cường, nhất là hoạt động giám sát việc thực
hiện các nghị quyết của Quốc hội, hoạt động
chất vấn và giám sát việc thực hiện lời hứa của
các thành viên Chính phủ, trưởng ngành sau
chất vấn, hoạt động giải quyết đơn thư khiếu
nại, tố cáo của người dân, thì hiệu lực pháp
lý của các nghị quyết của Quốc hội đối với
các cơ quan nhà nước khác mới được khẳng
định, vai trò thực tế của Quốc hội quyết định
các vấn đề quan trọng của đất nước mới được
nâng tầm, hoạt động quyết định của Quốc hội
mới ngày càng đi vào thực chất. Mặt khác,
qua giám sát sẽ phát hiện kịp thời những bất
cập trong việc triển khai thực hiện để kịp thời
kiến nghị các giải pháp đối với các cơ quan
quản lý nhà nước, khắc phục những hạn chế,
yếu kém để thực hiện tốt hơn hoặc kiến nghị
điều chỉnh các nội dung khi cần thiết
13
Bạn đang xem tài liệu "Nâng cao chất lượng hoạt động quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước tại kỳ họp quốc hội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
nang_cao_chat_luong_hoat_dong_quyet_dinh_cac_van_de_quan_tro.pdf

