Điều khoản giải quyết tranh chấp trong hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế theo quy định của PICC, CISG và pháp luật Việt Nam

ĐIỀU KHOẢN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG HỢP ĐỒNG...  
MUA BÁN HÀNG HOÁ QUỐC TẾ THEO QUY ĐỊNH CỦA PICC, CISG  
VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM  
ĐỖ HỒNG QUYÊN*  
Điều khoản giải quyết tranh chấp trong hợp đồng mua bán quốc tế là một loại điều  
khoản đặc biệt được các bên thỏa thuận để làm cơ sở giải quyết tranh chấp trong quá trình  
thực hiện hợp đồng. Do đó, nó chỉ điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của chủ thể hợp đồng khi  
có tranh chấp xảy ra. Nói cách khác, điều khoản giải quyết tranh chấp sẽ không có ý nghĩa  
gì đối với các bên nếu không có tranh chấp xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng.  
Từ khoá: Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, điều khoản hợp đồng, điều khoản giải  
quyết tranh chấp.  
Ngày nhận bài: 24/9/2020; Biên tập xong: 25/9/2020; Duyệt đăng: 25/9/2020  
Dispute resolution clause in international sales contracts is a special kind  
of provision set out by the parties to serve as a basis for resolving disputes in the  
peformance of contract. Therefore, it only regulates the rights and obligations of the  
contract holder when disputing. In case of no dispute in performance of contract,  
dispute resolution clause will be meaningless to the parties.  
Keywords: International sales contracts, contract clauses, dispute resolution clause.  
rong bối cảnh hiện nay, Việt Bộ nguyên tắc này có một ý nghĩa quan trọng  
Nam đang hội nhập quốc tế trong lĩnh vực thương mại quốc tế. Nội  
Tngày càng sâu rộng, việc tìm dung của tài liệu này được coi là tổng hợp  
các nguyên tắc điều chỉnh hợp đồng trong  
thương mại quốc tế; theo đó, việc áp dụng  
các nguyên tắc này là áp dụng các nguyên  
tắc chung của pháp luật (Lex mercatoria)1.  
Bộ nguyên tắc còn có ý nghĩa trong việc giải  
thích pháp luật quốc gia, pháp luật quốc tế,  
đồng thời được coi là khuôn mẫu cho những  
nhà làm luật quốc gia và quốc tế trong lĩnh  
vực thương mại quốc tế.2  
hiểu thói quen trong giao dịch thương  
mại quốc tế, pháp luật quốc tế về thương  
mại nói chung cũng như tìm hiểu vấn đề  
giải quyết tranh chấp trong hợp đồng mua  
bán hàng hóa quốc tế (HĐMBHHQT) nói  
riêng là hết sức cần thiết. Bài viết đề cập  
tới một số vấn đề pháp lý cơ bản liên  
quan tới điều khoản giải quyết tranh chấp  
trong HĐMBHHQT được ghi nhận trong  
hai tài liệu là “Bộ nguyên tắc UNIDROIT  
về hợp đồng thương mại quốc tế” (PICC)  
và “Công ước Viên 1980 của Liên hợp  
quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa  
quốc tế” (CISG).  
Thứ hai, về Công ước Viên 1980 của  
Liên hợp quốc về hợp đồng thương mại  
quốc tế (CISG). Đây là một điều ước quốc  
* Thạc sĩ, Trường Đại học Thương mại  
1ꢀ Xem: Bộ nguyên tắc UNIDROIT, phiên bản 2004,  
trang 35  
Thứ nhất, về Bộ nguyên tắc UNIDROIT.  
Mặcdùkhôngphảilàđiềuướcquốctếnhưng  
2ꢀ  
Xem: Bộ nguyên tắc UNIDROIT, phiên bản 2004,  
trang 39  
136 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 03 - 2020  
ĐỖ HỒNG QUYÊN  
tế quan trọng, hiện đang điều chỉnh các tắc tự do hợp đồng (freedom of contract)  
là nguyên tắc đầu tiên1 .  
giao dịch chiếm khoảng 80% thương mại  
hàng hóa trên thế giới. Việc tìm hiểu điều  
khoản giải quyết tranh chấp trong Công  
ước này cũng rất hữu ích cho các doanh  
nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mở rộng  
giao lưu thương mại quốc tế ngày nay.  
Với tên gọi của Điều 1.1 là “tự do hợp  
đồng” (freedom of contract) thể hiện trong  
PICC, đây được xem như nguyên tắc cơ  
bản làm nền tảng cho những nội dung  
khác trong hợp đồng. Theo đó, người  
kinh doanh thương mại quốc tế có quyền  
tự do chọn đối tác mà họ sẽ cung cấp hàng  
hoá, dịch vụ; đồng thời có quyền tự do  
thoả thuận các điều khoản khác của giao  
dịch... Điều đó có nghĩa là các bên trong  
hợp đồng được tự do lựa chọn việc tham  
gia hợp đồng, lựa chọn đối tác, thống nhất  
nội dung, thoả thuận những điều khoản  
chung và những điều khoản đặc thù đối  
với hợp đồng, trong đó có điều khoản giải  
quyết tranh chấp.  
1. Nguyên tắc tạo lập điều khoản giải  
quyết tranh chấp trong hợp đồng mua  
bán hàng hóa quốc tế  
1.1. Nguyên tắc tự do thỏa thuận  
Nguyên tắc cơ bản để tạo lập điều khoản  
giải quyết tranh chấp trong HĐMBHHQT  
là nguyên tắc tự do thỏa thuận. Theo đó,  
các bên chủ thể có quyền tự do thỏa thuận  
về những vấn đề pháp lý trong việc giải  
quyết tranh chấp liên quan tới hợp đồng.  
Về mặt lý luận, nội dung hợp đồng được  
hiểu là tổng thể những điều khoản do các  
bên chủ thể thỏa thuận, các điều khoản này  
ràng buộc quyền và nghĩa vụ của các chủ  
thể trong việc thực hiện hợp đồng. Vì vậy,  
với tư cách là điều khoản của hợp đồng,  
điều khoản giải quyết tranh chấp sẽ phải  
tuân thủ nguyên tắc tự do thỏa thuận của  
các bên.  
Thứ hai, Công ước Viên năm 1980  
về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc  
tế (CISG). Công ước này được xem là  
một trong những văn bản pháp lý quốc  
tế thành công nhất góp phần thúc đẩy  
thương mại quốc tế trong bối cảnh hiện  
nay. Công ước được ký ngày 11/04/1980,  
có hiệu lực thi hành ngày 01/01/1988, hiện  
có 93 thành viên2. Việt Nam là thành viên  
thứ 84 của Công ước và bị ràng buộc bởi  
Công ước từ ngày 01/01/2017.  
Nội dung của nguyên tắc tự do thỏa  
thuận được thể hiện trong PICC và CISG  
như sau:  
CISG được xây dựng thành bốn phần,  
gồm 101 Điều khoản với các nội dung  
chính là: Tiêu chí xác định hợp đồng  
MBHHQT; Phạm vi áp dụng CISG; Giao  
kết hợp đồng MBHHQT; Nghĩa vụ của  
bên bán và bên mua; Các biện pháp khắc  
phục vi phạm hợp đồng MBHHQT. Mặc  
Thứ nhất, nguyên tắc tự do hợp đồng  
được đề cập trong Bộ nguyên tắc của  
UNIDROIT về hợp đồng thương mại  
quốc tế (PICC). Phiên bản đầu tiên của  
PICC được ban hành vào năm 1994. Để  
thích ứng với sự thay đổi và phát triển của  
thương mại quốc tế, cho đến nay, PICC đã  
được sửa đổi bổ sung 3 lần vào các năm  
2004, 2010 và 2016. Điểm đáng lưu ý là  
trong các lần sửa đổi bổ sung sau này, tất  
1ꢀ  
Xem Điều 1.1  
2ꢀ Xem: Công ước Viên Liên hiệp quốc về  
hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.  
cả các phiên bản của PICC đều đặt nguyên vi.m.wikipedia.org (Truy cập ngày 12/09/2020)  
Số chuyên đề 03 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 137  
ĐIỀU KHOẢN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG HỢP ĐỒNG...  
dù CISG không xây dựng một điều khoản định về điều khoản của hợp đồng nói  
cụ thể “Freedom of contract” như PICC chung. Theo PICC và CISG thì hợp đồng  
nhưng rất nhiều điều khoản của CISG, được thể hiện dưới bất cứ hình thức nào  
đặc biệt từ Điều 14 đến Điều 24, đều thể cũng đều có giá trị pháp lý.  
hiện nguyên tắc tự do thỏa thuận.  
PICC quy định nội dung này tại Điều  
Nội dung Phần II về ký kết hợp đồng  
đã thể hiện khá rõ nét về nguyên tắc tự  
do hợp đồng. Theo đó, CISG quy định:  
Hợp đồng chỉ được coi như đã được ký  
kết khi cả hai bên chủ thể đều biết đầy đủ,  
chính xác nội dung chào hàng và muốn  
tự ràng buộc vào những điều khoản của  
chào hàng (Điều 14). Theo Điều 17 của  
CISG, chào hàng - dù là cố định, sẽ mất  
hiệu lực khi người chào hàng nhận được  
thông báo về việc từ chối chào hàng (Điều  
17). Điều 18 của CISG quy định chấp nhận  
chào hàng có hiệu lực từ khi người chào  
hàng nhận được chấp thuận (Điều 18(2)).  
1.2 về hình thức hợp đồng; theo đó, hợp  
đồng không bắt buộc phải tuân theo các  
điều kiện về hình thức hợp đồng. “Chúng  
có thể được chứng minh bằng bất kỳ cách  
thức nào, kể cả bằng nhân chứng” (Điều  
1.2, PICC, phiên bản 2004). Với nội dung  
quy định tại Điều 1.2 của PICC, có thể  
hiểu hình thức hợp đồng không cần phải  
thể hiện dưới một dạng vật chất cụ thể.  
Trong bối cảnh truyền thông hiện đại phát  
triển nhanh chóng, các hình thức kết nối  
để tiến hành các giao dịch trong thương  
mại quốc tế như điện thoại, fax, thư điện  
3
1
tử, internet… đều được chấp nhận .  
Với những quy định của PICC và CISG  
trên đây, có thể thấy trong cả hai tài liệu này,  
hợp đồng chỉ có giá trị pháp lý ràng buộc  
các bên khi các bên chủ thể của hợp đồng  
biết rõ ràng và cụ thể về nội dung hợp đồng  
và các bên tự nguyện ràng buộc quyền và  
nghĩa vụ được xác lập từ hợp đồng đó.  
CISG quy định hình thức của hợp đồng  
tại Điều 11, theo đó, hợp đồng mua bán  
không cần phải được ký kết hoặc xác nhận  
bằng văn bản hay phải tuân thủ một yêu  
cầu nào khác về hình thức hợp đồng. Hợp  
đồng có thể được chứng minh bằng mọi  
cách kể cả bằng những lời khai của nhân  
chứng (Điều 11, CISG). Theo tinh thần của  
CISG thì điện báo và telex cũng được coi là  
hình thức văn bản (Điều 13, CISG).  
1.2. Nguyên tắc hình thức điều khoản  
giải quyết tranh chấp được thể hiện dưới  
hình thức văn bản  
Với quan điểm về hình thức hợp pháp  
của HĐMBHHQT như đã đề cập trên đây  
của PICC và CISG, có thể hiểu, hợp đồng  
có thể được coi là hợp pháp dưới mọi hình  
thức. Điều đó cũng có nghĩa là mọi điều  
khoản của hợp đồng đều được coi là hợp  
pháp dưới mọi hình thức, trong đó bao  
gồm điều khoản giải quyết tranh chấp.  
Tuy nhiên, việc quy định điều khoản giải  
Hình thức điều khoản giải quyết tranh  
chấp là dạng vật chất chứa đựng sự thỏa  
thuận của các chủ thể của hợp đồng liên  
quan tới việc giải quyết bất đồng, mâu  
thuẫn hoặc xung đột lợi ích giữa các bên  
chủ thể của hợp đồng.  
Như đã đề cập trên đây, điều khoản  
giải quyết tranh chấp là một loại điều  
khoản của hợp đồng. Do đó, loại điều  
khoản này cần phải tuân thủ những quy 3ꢀ Xem: Bình luận Điều 1.2, PICC 2004  
138 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 03 - 2020  
ĐỖ HỒNG QUYÊN  
quyết tranh chấp trong HĐMBHHQT và tranh chấp HĐMBHHQT nói riêng, các  
được thể hiện dưới mọi hình thức có thể phương thức như thương lượng, trung  
gian hòa giải và xét xử (bao gồm xét xử  
tạo ra những khó khăn trên thực tiễn áp  
dụng quy định này vì trong nhiều trường  
hợp, pháp luật quy định điều khoản giải  
trước trọng tài và xét xử trước tòa án)6  
3
thường được sử dụng.  
quyết tranh chấp phải được thể hiện dưới  
Thứ nhất, phương thức thương lượng.  
Thương lượng là phương thức giải quyết  
tranh chấp thường được các bên hợp đồng  
thoả thuận lựa chọn để giải quyết tranh  
chấp trong giai đoạn đầu tiên của quá  
trình giải quyết tranh chấp. Theo đó, các  
bên tranh chấp sẽ gặp nhau để trao đổi và  
thể hiện nguyện vọng của mình liên quan  
tới tranh chấp. Trong phương thức này,  
chỉ có các bên tranh chấp tham gia giải  
quyết tranh chấp mà không có bên thứ  
ba. Trong quá trình thương lượng, các bên  
không phải chịu sự ràng buộc vào phán  
quyết nào. Kết quả của sự thương lượng  
sẽ do các bên tự nguyện thực hiện. Nói  
cách khác, kết quả thương lượng sẽ hoàn  
toàn phụ thuộc vào sự tự nguyện của các  
bên tranh chấp mà không có bất kỳ cơ chế  
pháp lý nào để cưỡng chế thi hành. Nếu  
các bên thỏa mãn yêu cầu của mình trong  
quá trình thương lượng thì việc giải quyết  
tranh chấp coi như được chấm dứt.  
4
1
hình thức viết mới có giá trị pháp lý. Ví  
dụ như tại khoản 1, Điều II Công ước  
New York (1958) về Công nhận và cho thi  
hành phán quyết của trọng tài nước ngoài  
(được thông qua ngày 10/6/1958 tại New  
York); khoản 2, Điều 7 Luật mẫu trọng tài  
5
2
thương mại quốc tế cũng như trong quy  
định pháp luật Việt Nam tại khoản 2, Điều  
16, Luật trọng tài thương mại (2010) được  
Quốc hội Khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông  
qua ngày 17/06/2010.  
2. Nội dung cơ bản của điều khoản  
giải quyết tranh chấp  
Với chức năng giải quyết tranh chấp nên  
nội dung của điều khoản giải quyết tranh  
chấp bao gồm tất cả những vấn đề liên  
quan tới giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên,  
với thực tiễn pháp lý, nội dung cơ bản của  
điều khoản giải quyết thường bao gồm vấn  
đề như: Phương thức giải quyết tranh chấp,  
luật áp dụng và điều khoản đặc biệt…  
Thứ hai, phương thức trung gian hòa  
giải. Trong trường hợp tranh chấp không  
thể thực hiện được ở phương thức  
thương lượng thì thường sẽ được giải  
quyết ở phương thức trung gian hòa giải.  
Khác với phương thức thương lượng do  
các bên tranh chấp tự giải quyết, trong  
phương thức trung gian hòa giải có sự  
tham gia của bên thứ ba. Bên thứ ba, với  
2.1. Phương thức giải quyết tranh chấp  
Phương thức giải quyết tranh chấp là  
cách thức mà các bên tranh chấp dùng để  
xử lý mâu thuẫn, xung đột lợi ích trong  
quá trình thực hiện hợp đồng. Trong  
tranh chấp thương mại quốc tế nói chung  
4 Xem: Nông Quốc Bình, Đặc điểm của điều khoản  
thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế và kinh  
nghiệm cho các bên kí kết, Tạp chí Luật học số tư cách trung gian, sẽ giúp các bên nhận  
5/2018.  
rõ tình trạng tranh chấp và cách thức  
5ꢀ Xem: Luật mẫu trọng tài thương mại quốc tế,  
được Ủy ban Luật thương mại quốc tế của Liên 6ꢀ Xem: Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình  
hợp quốc thông qua ngày 21/06/1985.  
Luật thương mại quốc tế, 2019, trang 386.  
Số chuyên đề 03 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 139  
ĐIỀU KHOẢN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG HỢP ĐỒNG...  
tháo gỡ tranh chấp, trên cơ sở đó làm của trọng tài viên, tính liên tục của thẩm  
quyền trọng tài.7  
1
cho các bên hiểu thêm hậu quả các bên  
phải gánh chịu nếu tranh chấp không  
được giải quyết. Để giải quyết tranh  
chấp bằng phương pháp trung gian hòa  
giải, bên thứ ba không được quyền đưa  
ra phán quyết mà chỉ giúp các bên nhận  
thức được vấn đề của tranh chấp để cùng  
nhau giải quyết.  
Để có cơ sở pháp lý cho việc giải quyết  
tranh chấp bằng các phương thức nêu trên  
như thương lượng hay trung gian hòa giải  
hoặc xét xử (xét xử trước trọng tài hoặc  
tòa án), các bên chủ thể của hợp đồng cần  
thoả thuận nhất trí lựa chọn một phương  
thức cụ thể đưa vào điều khoản giải quyết  
tranh chấp.  
Thứ ba, phương thức xét xử trước trọng  
tài. Trong trường hợp tranh chấp không  
giải quyết được tại phương thức trung  
gian hòa giải thì tranh chấp có thể được  
giải quyết tại phương thức trọng tài hoặc  
tòa án. Nếu các bên chọn phương thức  
trọng tài để giải quyết tranh chấp, thì các  
bên có thể chọn loại trọng tài thiết chế  
(Institutional Arbitration) hoặc loại trọng  
tài vụ việc (Ad hoc Arbitration). Tùy theo  
mức độ phức tạp và những điều kiện  
thuận lợi hoặc khó khăn mà các bên có thể  
chọn loại trọng tài. Kết quả của phương  
thức trọng tài là phán quyết trọng tài.  
Phán quyết trọng tài phán quyết của bên  
thứ ba, nó là phán quyết chung thẩm và  
được các bên tự nguyện thực hiện.  
Nội dung về phương thức giải quyết  
tranh chấp trong điều khoản giải quyết  
tranh chấp của HĐMBHHQT được thể  
hiện trong PICC và CISG như sau:  
Đối với PICC: Tuy không quy định một  
cách cụ thể việc đưa nội dung phương  
thức giải quyết tranh chấp vào hợp đồng  
nhưng các loại phương thức truyền thống  
dùng để giải quyết tranh chấp được đề  
cập khá rõ ràng trong PICC. Ví dụ, khi  
đề cập tới vấn đề “hoàn cảnh khó khăn”  
(Hardship), Điều 6.2.3 (3) quy định: “Nếu  
các bên không thỏa thuận được trong một  
thời gian hợp lý thì mỗi bên có quyền yêu  
cầu tòa án giải quyết”; Nội dung quy định  
thời hiệu tạm dừng do thủ tục tố tụng  
được thể hiện tại Điều 10.5 trong đó đề  
cập tới cơ quan tài phán (tòa án); Thời  
hiệu tạm dừng do thủ tục trọng tài được  
thể hiện tại Điều 10.6; Biện pháp hòa giải  
được đề cập tới tại Điều 10.7 của PICC.  
Như vậy, những quy định về phương thức  
giải quyết tranh chấp nêu trên đây của  
PICC đã thể hiện sự quan tâm của những  
người soạn thảo PICC liên quan tới điều  
khoản giải quyết tranh chấp. Theo đó, các  
phương thức giải quyết tranh chấp cần  
được các bên tính đến trong quá trình xây  
Thứ tư, phương thức xét xử trước tòa  
án. Nếu các bên không lựa chọn phương  
thức trọng tài, như đã đề cập trên đây thì  
các bên có thể chọn phương thức tòa án.  
Tòa án sẽ là bên thứ ba tiến hành xét xử  
và bên thứ ba này có quyền đưa ra phán  
quyết buộc các bên tranh chấp phải thi  
hành. Nếu so sánh việc giải quyết tranh  
chấp trước trọng tài với tòa án thì việc xét  
xử trước trọng tài có nhiều ưu điểm hơn  
so với tòa án bởi các yếu tố có tính chất  
đặc thù của trọng tài như: Tính trung lập,  
khả năng thi hành phán quyết, tính linh  
7
Xem: Redfern & Hunter, Trọng tài quốc tế,  
hoạt, tính bảo mật, thẩm quyền bổ sung Oxford, ấn bản lần thứ sáu, trang 39.  
140 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 03 - 2020  
ĐỖ HỒNG QUYÊN  
dựng điều khoản giải quyết tranh chấp Theo sự thỏa thuận của các bên về áp  
trong HĐMBHHQT.  
dụng pháp luật nước ngoài; Khi cơ quan  
có thẩm quyền xác định luật nước ngoài  
Đối với CISG: Nội dung liên quan tới  
thỏa thuận về phương thức giải quyết  
tranh chấp trong HĐMBHHQT được  
ghi nhận trong CISG tại Điều 61(3), theo  
đó:“không một thời gian gia hạn nào có thể  
được Tòa án hay Trọng tài ban cho người mua  
khi người bán viện dẫn một biện pháp bảo hộ  
pháp lý nào đó mà họ có quyền sử dụng trong  
trường hợp người mua vi phạm hợp đồng”.  
được áp dụng.8  
1
Trong PICC quy định về luật áp dụng  
được ghi nhận tại Điều 1.3, Điều 1.4; Điều 1.9.  
Điều 1.3 của PICC quy định về tính ràng  
buộc của các điều khoản của PICC, theo đó,  
hợp đồng ràng buộc các bên giao kết. Các  
bên chỉ có thể sửa đổi, bổ sung hoặc chấm  
dứt hợp đồng trên cơ sở các điều khoản  
của hợp đồng. Điều này có nghĩa là điều  
khoản do các bên thỏa thuận sẽ điều chỉnh  
quyền và nghĩa vụ của họ. Nội dung này  
được tái khẳng định tại Điều 1.5. của PICC.  
Với nội dung quy định tại Điều 61(3)  
của CISG trên đây, có thể hiểu rằng có hai  
vấn đề cần lưu ý. Một là, CISG đã khuyến  
khích các bên chủ thể của hợp đồng sử  
dụng phương thức Tòa án hoặc Trọng  
tài trong việc giải quyết tranh chấp. Hai  
là, bên cạnh việc sử dụng phương thức  
Tòa án hay Trọng tài, các bên còn có thể  
sử dụng các phương thức khác để giải  
quyết tranh chấp. Theo thói quen truyền  
thống, các phương thức khác có thể là  
thương lượng, trung gian và hòa giải. Việc  
áp dụng phương thức nào sẽ do các bên  
thỏa thuận đưa vào điều khoản giải quyết  
tranh chấp trong HĐMBHHQT.  
Điều 1.4 của PICC quy định: “Bộ  
nguyên tắc này không hạn chế việc áp dụng  
những quy phạm bắt buộc, có nguồn gốc quốc  
gia, quốc tế hay siêu quốc gia, được áp dụng  
trên cơ sở các quy phạm của tư pháp quốc tế”.  
Điều này có nghĩa là PICC tuân thủ các  
nguyên tắc của tư pháp quốc tế trong việc  
áp dụng các điều ước quốc tế và áp dụng  
pháp luật nước ngoài để điều chỉnh quan  
hệ HĐMBHHQT.  
Điều 1.9 của PICC quy định các bên  
sẽ bị ràng buộc bởi tập quán mà các bên  
đã thỏa thuận và thói quen mà họ xác lập  
trong giao dịch.  
2.2. Luật áp dụng để giải quyết tranh chấp  
Quan hệ HĐMBHHQT là quan hệ dân  
sự có yếu tố nước ngoài, do đó nó được  
điều chỉnh trên cơ sở những nguyên tắc  
của tư pháp quốc tế. Một trong những vấn  
đề cơ bản khi giải quyết xung đột pháp  
luật là áp dụng pháp luật để xử lý những  
trường hợp cụ thể. Để xác định và áp  
dụng pháp luật nước ngoài trong tư pháp  
quốc tế người ta có thể dựa vào nhiều  
tiêu chí như: Khi có quy phạm xung đột  
thông thường dẫn chiếu đến luật nước  
ngoài; Khi có quy phạm xung đột thống  
Như vậy, theo PICC, việc áp dụng  
pháp luật quốc gia, pháp luật quốc tế  
được xác định bởi các nguyên tắc của  
Tư pháp quốc tế. Bên cạnh đó, PICC còn  
đề cập tới việc áp dụng tập quán và thói  
quen thương mại để điều chỉnh quyền và  
nghĩa vụ của các bên, trong đó có vấn đề  
giải quyết tranh chấp.  
8 Xem: Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Tư  
nhất dẫn chiếu đến pháp luật nước ngoài; pháp quốc tế, Hà Nội, 2017, trang 79  
Số chuyên đề 03 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 141  
ĐIỀU KHOẢN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG HỢP ĐỒNG...  
Trong CISG, nội dung liên quan tới áp  
dụng pháp luật cho quan hệ giữa các bên  
tại Điều 1; Điều 7.2 và Điều 9.1 như sau:  
3. Pháp luật Việt Nam liên quan tới  
điều khoản giải quyết tranh chấp trong  
hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế  
Thứ nhất, về nguyên tắc tự do thỏa  
thuận xác lập điều khoản giải quyết tranh  
chấp. Pháp luật Việt Nam quy định về  
quyền tự do giao kết hợp đồng là khá  
nhất quán và cụ thể. Bộ luật dân sự năm  
2015 đưa ra định nghĩa về hợp đồng và  
đề nghị giao kết hợp đồng theo đó: Hợp  
đồng là sự thꢀa thuận giữa các bên về việc xác  
Điều 1 Công ước quy định về phạm  
vi áp dụng Công ước là đối với các hợp  
đồng mua bán hàng hóa giữa các bên có  
trụ sở thương mại tại các quốc gia khác  
nhau trong hai trường hợp: Trường hợp  
thứ nhất, khi các quốc gia này là các quốc  
gia thành viên của Công ước. Trường hợp  
thứ hai, khi theo các quy tắc của tư pháp  
quốc tế thì luật được áp dụng là luật của  
các nước thành viên Công ước.  
lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa  
9
1
vụ dân sự (Điều 385); và đề nghị giao kết  
hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết  
hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này  
Điều 7.2 của Công ước quy định:  
Trong trường hợp liên quan tới đối tượng  
điều chỉnh của Công ước mà không được  
quy định cụ thể trong Công ước thì sẽ  
được giải quyết theo nguyên tắc chung  
hình thành Công ước. Trường hợp không  
có các nguyên tắc này thì chiếu theo luật  
được áp dụng theo quy phạm của tư pháp  
quốc tế.  
của bên đề nghị đối với bên đã được xác định10  
2
(Điều 386). Đối với hoạt động thương  
mại, quyền tự do hợp đồng được pháp  
luật chuyên ngành cụ thể hoá tại Luật  
Thương mại năm 2005: Các bên có quyền  
tự do thoả thuận không trái với các quy  
định của pháp luật, thuần phong mỹ tục  
và đạo đức xã hội để xác lập các quyền  
và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động  
thương mại. Nhà nước tôn trọng và bảo  
hộ các quyền đó; Trong hoạt động thương  
mại, các bên hoàn toàn tự nguyện, không  
Điều 9.1 Công ước quy định: Các bên bị  
ràng buộc bởi tập quán mà họ đã thỏa thuận  
và thực tiễn mà họ đã thiết lập.  
Như vậy, với các quy định liên quan tới  
luật áp dụng được ghi nhận trong PICC và  
CISG có thể thấy việc xác định pháp luật  
trong các tài liệu này có thể thực hiện trực  
tiếp là các quy định cụ thể của Công ước,  
hoặc dựa vào thói quen, tập quán do các  
bên thực hiện, xác lập hoặc theo nguyên  
tắc của tư pháp quốc tế. Có thể thấy, dù  
xác định theo cách thức nào thì các bên  
cũng hướng tới mục đích là xác định pháp  
luật áp dụng cho quyền và nghĩa vụ của  
các bên, trong đó có việc xác định pháp  
luật áp dụng cho việc giải quyết tranh  
chấp trong HĐMBHHQT.  
bên nào được thực hiện hành vi áp đặt,  
11  
3
cưỡng ép, đe doạ, ngăn cản bên nào .  
Như vậy, nguyên tắc tự do thỏa thuận  
được ghi nhận trong pháp luật Việt Nam  
là nguyên tắc hoàn toàn phù hợp với quy  
định của PICC và CISG. Nguyên tắc này  
không chỉ điều chỉnh quyền và nghĩa vụ  
của các bên trong hợp đồng mà nó còn là  
cơ sở để các bên xây dựng điều khoản giải  
quyết tranh chấp trong HĐMBHHQT.  
9ꢀ Điều 385, BLDS năm 2015  
10ꢀ Điều 116, BLDS năm 2015  
11ꢀ Điều 11, Luật Thương mại năm 2005  
142 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 03 - 2020  
ĐỖ HỒNG QUYÊN  
Thứ hai, về nguyên tắc hình thức  
điều khoản giải quyết tranh chấp trong  
HĐMBHHQT phải bằng văn bản. Theo  
nội dung của Văn bản hợp nhất 03/VBHN-  
VPQH năm 2017 hợp nhất Luật thương  
mại do Văn phòng Quốc hội ban hành đã  
quy định về hình thức của hợp đồng mua  
bán hàng hóa như sau: Đối với hợp đồng  
mua bán hàng hóa không có yếu tố quốc tế  
thì “Hợp đồng mua bán hàng hóa được thể  
hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được  
xác lập bằng hành vi cụ thể” (khoản 1,  
Điều 24); Đối với hợp đồng mua bán hàng  
hóa quốc tế thì phải được thực hiện trên  
cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng  
hình thức có giá trị pháp lý tương đương.  
(khoản 2, Điều 27).  
Để tránh rơi vào tình trạng thỏa thuận  
về điều khoản giải quyết tranh chấp không  
có giá trị pháp lý, các doanh nghiệp Việt  
Nam trong khi ký hợp đồng cần lưu ý tới  
hình thức thỏa thuận về điều khoản giải  
quyết tranh chấp. Thỏa thuận giải quyết  
tranh chấp luôn phải được thể hiện dưới  
hình thức văn bản cho dù hợp đồng được  
thể hiện dưới hình thức nào. Điều này hoàn  
toàn có thể thực hiện được vì thỏa thuận  
điều khoản giải quyết tranh chấp và thỏa  
thuận về các điều khoản khác của hợp đồng  
là các thỏa thuận luôn độc lập với nhau. Vì  
vậy, chúng có thể được xác lập ở các thời  
điểm khác nhau và với hình thức khác nhau.  
Thứ ba, về phương thức giải quyết  
tranh chấp. Theo pháp luật Việt Nam,  
việc tự do thoả thuận về phương thức giải  
quyết tranh chấp được ghi nhận trong  
nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Ví  
dụ: Luật thương mại năm 2005 đưa ra  
các phương thức giải quyết tranh chấp để  
các bên lựa chọn tại Điều 317. Theo đó,  
“Thương lượng giữa các bên; Hoà giải giữa  
các bên do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân  
được các bên thoả thuận chọn làm trung gian  
hoà giải; Giải quyết tại Trọng tài hoặc Toà  
án”. Hoặc phương thức giải quyết tranh  
chấp bằng tố tụng Tòa án, được ghi nhận  
tại Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự năm  
2015. Theo đó, các bên có quyền “Tự thꢀa  
thuận với nhau về việc giải quyết vụ án do Tòa  
án tiến hành (Khoản 11 Điều 70); “Tòa án  
có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều  
kiện thuận lợi để các đương sự thꢀa thuận với  
nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo  
quy định của Bộ luật này”12.  
Việc quy định về hình thức  
HĐMBHHQT phải được thể hiện dưới  
hình thức văn bản đã không phù hợp với  
quy định của một số điều ước quốc tế về  
vấn đề này như CISG mà Việt Nam là  
một thành viên, như đã đề cập trên đây.  
Tuy nhiên, quy định này lại phù hợp với  
quy định của Công ước New York 1958  
về Công nhận và cho thi hành phán quyết  
của trọng tài nước ngoài, mà Việt Nam  
cũng là thành viên. Nội dung này được  
quy định tại Điều IV của Công ước. Theo  
đó, bên yêu cầu công nhận phán quyết  
trọng tài nước ngoài phải nộp bộ hồ sơ  
trong đó có bản gốc thỏa thuận trọng tài  
hoặc bản sao thỏa thuận trọng tài có xác  
nhận hợp lệ. Trong quy định này, thỏa  
thuận trọng tài được xem là cơ sở pháp lý  
xác lập điều khoản giải quyết tranh chấp.  
Như vậy, hình thức thỏa thuận giải quyết  
tranh chấp trong trường hợp này phải  
được thể hiện dưới hình thức văn bản mới  
có giá trị pháp lý.  
Như vậy, theo quy định của pháp luật  
hiện hành, các phương thức giải quyết  
12ꢀ Điều 10, BLTTDS năm 2015  
Số chuyên đề 03 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 143  
ĐIỀU KHOẢN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG HỢP ĐỒNG...  
tranh chấp đã được đề cập khá cụ thể. nếu pháp luật nước ngoài, tập quán thương  
Theo đó, các phương thức do các bên có  
thể lựa chọn để giải quyết tranh chấp bao  
gồm: thương lượng, trung gian hòa giải,  
xét xử trước trọng tài hoặc trước tòa án.  
Việc lựa chọn phương thức nào sẽ do các  
bên thỏa thuận đưa vào điều khoản giải  
quyết tranh chấp của hợp đồng.  
mại quốc tế đó không trái với các nguyên tắc  
15  
3
cơ bản của pháp luật Việt Nam” .  
Tóm lại, điều khoản giải quyết tranh  
chấp là một loại điều khoản quan trọng  
trong HĐMBHHQT. Điều khoản này  
được thể hiện rõ ràng trong PICC, CISG  
và trong pháp luật Việt Nam. Để có cơ sở  
pháp lý thực hiện điều khoản giải quyết  
tranh chấp, các chủ thể của HĐMBHHQT  
cần lưu ý tới những nguyên tắc tạo lập  
điều khoản cũng như nội dung của điều  
khoản này. Theo đó, tự do thỏa thuận tạo  
lập điều khoản, điều khoản phải thể hiện  
dưới hình thức văn bản, phương thức  
giải quyết tranh chấp và luật áp dụng là  
những vấn đề cần được quan tâm./.  
Thứ tư, về luật áp dụng để giải quyết  
tranh chấp. Theo BLDS năm 2015 thì nội  
dung này được quy định tại khoản 1 Điều  
683 như sau: “Các bên trong quan hệ hợp  
đồng được thꢀa thuận lựa chọn pháp luật áp  
dụng đối với hợp đồng”. “Trường hợp các bên  
không có thꢀa thuận về pháp luật áp dụng thì  
pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất  
với hợp đồng đó được áp dụng”.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Luật Trọng tài thương mại năm 2010  
có quy định sự tự do thoả thuận của các  
bên tranh chấp đối với luật áp dụng, theo  
đó, “…đối với tranh chấp có yếu tố nước  
ngoài, thì áp dụng pháp luật do các bên lựa  
chọn; Nếu các bên không có thꢀa thuận về luật  
áp dụng thì Hội đồng trọng tài quyết định áp  
dụng pháp luật mà Hội đồng trọng tài cho là  
phù hợp nhất…”13.  
1. UNCITRAL, Công ước của Liên hợp quốc  
về mua bán hàng hóa quốc tế (Công ước Viên năm  
1980).  
2. UNIDROIT, Bộ nguyên tắc Unidroit về hợp  
đồng thương mại quốc tế, 2004.  
3. Quốc hội nước CHXHCNVN, Bộ luật  
dân sự, năm 2015.  
4. Từ điển Luật học, Bộ Tư pháp, Viện khoa  
học pháp lý, Nhà xuất bản Từ điển bách khoa, Nhà  
xuất bản Tư pháp, 2006  
Đối với việc áp dụng tập quán quốc  
tế, Điều 666 BLDS năm 2015 quy định: Các  
bên được lựa chọn tập quán quốc tế trong  
trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 664  
của BLDS. Nếu hậu quả của việc áp dụng  
tập quán quốc tế đó trái với các nguyên tắc  
5. Christophe Imhoos, Herman Verbist  
and jean-Francois Bourque, Arbitration and  
alternative dispute resolution: How to seꢁle  
international business dispute, Arrelano Law  
Foundation (with the support of UNCTAD/  
WTO Genève), 2002.  
cơ bản của pháp luật Việt Nam thì pháp  
14  
2
luật Việt Nam được áp dụng , Hoặc Điều  
6. The University of Michigan Press (2001),  
Assessing the Valua of Law in Transition Economies.  
5, Luật Thương mại năm 2005 quy định:  
“Các bên trong giao dịch thương mại có yếu  
tố nước ngoài được thoả thuận áp dụng pháp  
luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế  
7. Li, Ya-Wei (2006) “Dispute Resolution  
Clauses in International Contracts: An Empirical  
Study,” Cornell International Law Journal.  
13ꢀ Điều 14, Luật Trọng tài năm 2010  
14ꢀ Xem Điều 666 BLDS năm 2015  
15  
Xem Điều 5 Luật Thương mại năm 2005.  
144 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 03 - 2020  
pdf 9 trang Thùy Anh 11560 Free
Bạn đang xem tài liệu "Điều khoản giải quyết tranh chấp trong hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế theo quy định của PICC, CISG và pháp luật Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdieu_khoan_giai_quyet_tranh_chap_trong_hop_dong_mua_ban_hang.pdf