Lẽ công bằng trong một số án lệ tại Việt Nam
LẼ CÔNG BẰNG TRONG MỘT SỐ ÁN LỆ TẠI VIỆT NAM
Nguyễn Thị Minh Huệ199
Tóm tắt
Áp dụng lẽ công bằng là một giải pháp giải quyết tranh chấp dân sự khi các bên
trong quan hệ dân sự không có thỏa thuận, pháp luật không có quy định, không có tập
quán, không thể áp dụng tương tự pháp luật, nguyên tắc cơ bản của pháp luật, án lệ. Vậy
lẽ công bằng là gì, việc áp dụng lẽ công bằng trên thực tế xét xử của tòa án trong thời
gian qua như thế nào và có thể xem là lẽ công bằng đã được áp dụng trong một số án lệ
hay không là những nội dung được tác giả phân tích trong bài viết này.
Từ khóa: Lẽ công bằng, án lệ, áp dụng lẽ công bằng
1. Một số vấn đề chung về lẽ công bằng theo pháp luật Việt Nam
Một trong những khó khăn trong quá trình tòa án thực hiện chức năng xét xử của
mình là không có các quy định pháp luật để áp dụng khi xem xét giải quyết các vụ, việc
cụ thể. Thực tế này đồng thời ảnh hưởng đến quyền khởi kiện của các cá nhân, tổ chức
khi muốn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình tại tòa án. Để tháo gỡ khó khăn đó
và trên cơ sở kế thừa những ưu điểm của hệ thống thông luật, Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015 (“BLTTDS năm 2015”) đã có quy định về việc tòa án không được từ chối giải
quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng. Theo Khoản 2 Điều 4
BLTTDS năm 2015, “Vụ việc dân sự chưa có điều luật để áp dụng là vụ việc dân sự
thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự nhưng tại thời điểm vụ việc dân sự đó
phát sinh và cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu Tòa án giải quyết chưa có điều luật để áp
dụng. Việc giải quyết vụ việc dân sự quy định tại khoản này được thực hiện theo các
nguyên tắc do Bộ luật Dân sự và Bộ luật này quy định”. Khoản 1 Điều 6 Bộ luật Dân sự
năm 2015 (“BLDS năm 2015”) quy định: “1. Trường hợp phát sinh quan hệ thuộc phạm
vi điều chỉnh của pháp luật dân sự mà các bên không có thỏa thuận, pháp luật không có
quy định và không có tập quán được áp dụng thì áp dụng quy định của pháp luật điều
chỉnh quan hệ dân sự tương tự. 2. Trường hợp không thể áp dụng tương tự pháp luật theo
quy định tại Khoản 1 Điều này thì áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự
quy định tại Điều 3 của Bộ luật này, án lệ, lẽ công bằng”.
Như vậy có thể thấy, theo các quy định trên, những yêu cầu giải quyết vụ, việc của
cá nhân, tổ chức phù hợp với các quy định của pháp luật thì Tòa án đều phải thụ lý để
giải quyết. Nếu các vụ, việc đó chưa có điều luật để áp dụng thì Tòa án dựa vào các quy
định về áp dụng tập quán, tương tự pháp luật, nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án
lệ và lẽ công bằng được áp dụng để xem xét, giải quyết vụ, việc. Khái niệm lẽ công bằng
cũng lần đầu tiên xuất hiện trong hệ thống pháp luật Việt Nam và được ghi nhận là cơ sở
để Tòa án giải quyết các vụ án, vụ việc theo các điều kiện nhất định.
199 Giám đốc Trung tâm liên kết Đào tạo Luật sư Thương mại quốc tế, Học viện Tư pháp.
127
Có rất nhiều các nhà nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam có những quan điểm
nhìn nhận và đưa ra các định nghĩa khác nhau về lẽ công bằng. Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015 cũng có quy định về lẽ công bằng, cụ thể tại Khoản 3 Điều 45: “Lẽ công bằng
được xác định trên cơ sở lẽ phải, được mọi người trong xã hội thừa nhận, phù hợp với
nguyên tắc nhân đạo, không thiên vị và bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các đương sự
trong vụ việc dân sự đó”. Theo quy định này, lẽ công bằng có một số đặc điểm chính như
sau:
Thứ nhất, lẽ công bằng phải là lẽ phải, những điều hợp lý, hợp tình, phù hợp với
các quy tắc xử sự, các chuẩn mực đạo đức; là lẽ phải và có sự hợp lý.
Thứ hai, lẽ công bằng phải là những điều được xã hội thừa nhận – tức là được sự
thừa nhận của số đông do những yếu tố được nêu trong mục thứ nhất.
Thứ ba, lẽ công bằng phải phù hợp với nguyên tắc nhân đạo, không thiên vị và
bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong vụ việc – đặc điểm này của lẽ
công bằng đảm bảo rằng lẽ công bằng là những giá trị tốt đẹp, nhân văn, được nhìn nhận
và đánh giá một cách khách quan.
Tòa án khi giải quyết các vụ việc cũng phải tuân theo các điều kiện quy định tại
khoản 1 Điều 6 BLDS năm 2015 như sau: (i) vụ việc được giải quyết là vụ việc phát sinh
từ quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự; (ii) các bên tranh chấp không
có thỏa thuận; (iii) pháp luật không có quy định; (iv) không có tập quán được áp dụng;
(v) không thể áp dụng tương tự pháp luật; (vi) không áp dụng được các nguyên tắc cơ bản
của pháp luật dân sự; (vii) không có án lệ.
Có quan điểm cho rằng: “Khi áp dụng lẽ công bằng để giải quyết tranh chấp dân
sự, trong phần nội dung vụ án và nhận định của toà án phải ghi rõ những yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn, yêu cầu khởi kiện của cơ quan, tổ chức, cá nhân; yêu cầu phản tố,
đề nghị của bị đơn; yêu cầu độc lập, đề nghị của người có quyền, nghĩa vụ liên quan để
qua đó căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng
tại phiên toà để phân tích, đánh giá, nhận định đầy đủ, khách quan về các tình tiết của vụ
án, những sự kiện để áp dụng lẽ công bằng. Căn cứ phán quyết của toà án là dựa trên lẽ
công bằng, các yếu tố của lẽ công bằng được mô tả, viện dẫn áp dụng. Thay vì viện dẫn
điều luật trong các vụ tranh chấp có luật để áp dụng hoặc có tập quán để áp dụng hoặc có
luật để áp dụng tương tự hoặc có án lệ để áp dụng, thì trường hợp lẽ công bằng được áp
dụng để giải quyết tranh chấp cũng phải được toà án xác định rõ”200. Ý kiến này có những
điểm hợp lý nhất định khi cho rằng Hội đồng xét xử cần xác định rõ ràng rằng căn cứ để
Hội đồng xét xử ra bản án, quyết định là dựa trên lẽ công bằng và các yếu tố của lẽ công
bằng được mô tả, viện dẫn cụ thể - đây là cơ sở quan trọng để các đương sự đưa ra các
lập luận để thực hiện quyền kháng cáo, cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
mình ở các cấp xét xử cao hơn.
200
Phùng Trung Tập, Áp dụng lẽ công bằng để giải quyết tranh chấp dân sự, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 01,
tháng 01/2020.
128
Để áp dụng lẽ công bằng một cách phù hợp và chính xác, theo một tác giả cần
thiết phải xác định những yếu tố tác động, ảnh hưởng đến việc xác định lẽ công bằng, bao
gồm201: (i) cần xác định rõ điều kiện, hoàn cảnh giữa các bên chủ thể xác lập quan hệ và
những sự kiện pháp lý phát sinh do ý chí chủ quan của một bên hoặc cả hai bên trong một
quan hệ pháp luật cụ thể để có căn cứ xác định mối quan hệ và hậu quả xảy ra; (ii) yếu tố
ý chí của các bên chủ thể cũng cần phải được xác định rõ là ý chí chủ quan hay do hoàn
cảnh khách quan ngoài ý muốn. Theo đó, căn cứ vào sự kiện pháp lý phát sinh theo ý
muốn hay ngoài ý muốn của chủ thể để có căn cứ áp dụng lẽ công bằng, bảo vệ quyền,
lợi ích chính đáng của một bên hoặc lợi ích của người thứ ba; (iii) xác định các nguyên
nhân dẫn đến quyền, lợi ích của một bên bị thiệt hoặc lợi ích của người thứ ba bị xâm
phạm; (iv) xác định cụ thể những nguyên nhân khách quan mà quyền, lợi ích hợp pháp
của một bên trong quan hệ pháp luật bị thiệt thòi. Nguyên nhân khách quan có thể là hành
vi của người thứ ba hoặc do sự biến pháp lý tương đối hoặc tuyệt đối cụ thể mà hậu quả
của nó xâm phạm quyền, lợi ích chính đáng hoặc đáng lẽ có được nhưng bị mất mát, bị
giảm sút không chính đáng.
Ý nghĩa của việc áp dụng lẽ công bằng khi giải quyết các vụ việc dân sự đã được
thừa nhận rộng rãi tuy nhiên song hành với điều đó là những quan ngại về việc có thể có
những sự tùy tiện khi áp dụng lẽ công bằng để xét xử khi chưa có những hướng dẫn cụ
thể về việc áp dụng lẽ công bằng trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự. Do đó,
có nhiều ý kiến cho rằng “Hội đồng thẩm phán TANDTC cần có quy định (văn bản
hướng dẫn chi tiết thi hành điều luật) rõ các nội dung về lẽ công bằng làm căn cứ để Tòa
án áp dụng giải quyết các vụ, việc dân sự khi pháp luật chưa can thiệp kịp”202.
Việc áp dụng lẽ công bằng là một quy định mới trong Bộ luật Dân sự 2015 và Bộ
luật Tố tụng dân sự 2015. Vậy trên thực tế, trong thời gian qua lẽ công bằng đã được áp
dụng để giải quyết các vụ việc hay chưa? Đến thời điểm hiện nay, chưa có bất kỳ số liệu,
thống kê nào về việc đã có bao nhiêu bản án, vụ việc đã áp dụng lẽ công bằng để giải vụ
các vụ việc dân sự. Tuy nhiên, “Ở nước ta, trước khi BLDS năm 2015 ra đời, khái niệm
“lẽ công bằng” chưa từng được nhắc đến trong các văn bản quy phạm pháp luật, nhưng
trong một chừng mực nào đó, nó vẫn được ghi nhận và thể hiện trong các quyết định
giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán TANDTC (TANDTC). Và, chính từ những
quyết định giám đốc thẩm này, sau đó đã được TANDTC tuyển chọn và phát triển thành
các án lệ hiện nay. Nhìn chung, lẽ công bằng thường được áp dụng trong hoạt động xét
xử của tòa án trong hai trường hợp: (i) luật có quy định, nhưng trường hợp vi phạm là
một ngoại lệ, (ii) luật chưa có quy định. ”203. Phân tích Án lệ số 04/2016/AL, Án lệ số
07/2016/AL, Án lệ số 16/2017/AL và Án lệ số 35/2020/AL góp phần minh chứng cho
nhận định nêu trên.
201
Phùng Trung Tập, Áp dụng lẽ công bằng để giải quyết tranh chấp dân sự, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 01,
tháng 01/2020.
202
Nguyễn Hương, Một số vấn đề về “Lẽ công bằng” theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015,
203
Hồ Ngọc Điệp, Tòa án và nguyên tắc xét xử theo lẽ công bằng, https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/toa-an-
129
2. Áp dụng lẽ công bằng trong một số án lệ
2.1. Án lệ số 04/2016/AL204
Ngày 06 tháng 4 năm 2016, Hội đồng thẩm phán TANDTC thông qua Án lệ số
04/2016/AL. Nguồn của Án lệ xuất phát từ Quyết định giám đốc thẩm số 04/2010/QĐ-
HĐTP ngày 03/3/2010 của Hội đồng thẩm phán TANDTC về vụ án “Tranh chấp hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” tại thành phố Hà Nội giữa nguyên đơn là bà
Kiều Thị Tý, ông Chu Văn Tiến với bị đơn là ông Lê Văn Ngự; người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan là bà Lê Thị Quý, bà Trần Thị Phấn, anh Lê Văn Tám, chị Lê Thị Tường,
anh Lê Đức Lợi, chị Lê Thị Đường, anh Lê Mạnh Hải, chị Lê Thị Nhâm.
Năm 1996, vợ chồng ông Chu Văn Tiến và bà Kiều Thị Tý có mua 02 căn nhà cấp
4 trên diện tích đất thổ cư giáp mặt đường Xuân La có chiều ngang 7m, chiều dài hết khổ
đất của gia đình ông Lê Văn Ngự tại xã Xuân La, huyện Từ Liêm (nay là phường Xuân
La, quận Tây Hồ). Hai bên có làm giấy viết tay mua bán chuyển nhượng nhà đất, nhưng
sau đó không thực hiện các thủ tục theo quy định của pháp luật. Sau khi mua, bà Tý đã
phá cả hai căn nhà trên để làm lại, tôn nền, xây lại móng, tường lợp ngói như hiện nay.
Cuối năm 2005, khi bà Tý đề nghị làm thủ tục xin cấp giấy tờ về quyền sở hữu nhà ở và
quyền sử dụng đất ở thì gia đình ông Ngự tranh chấp cho rằng bà Tý còn nợ 3,4 cây vàng
và chỉ bán diện tích nhà đất phía trong, còn diện tích nhà đất giáp mặt đường Xuân La
vẫn là nhà đất của gia đình ông. Cuối năm 2006, hai bên có xảy ra xô xát tranh chấp diện
tích nhà đất 21m2 phía mặt đường Xuân La, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội. Ngày
29/10/2007, bà Kiều Thị Tý và ông Chu Văn Tiến khởi kiện đòi quyền sở hữu nhà đất
thông qua hợp đồng mua bán nhà đất được xác lập ngày 26/4/1996 giữa vợ chồng ông Lê
Văn Ngự, bà Trần Thị Phấn với vợ chồng bà Kiều Thị Tý, ông Chu Văn Tiến. Hợp đồng
mua bán nhà đất giữa bà Tý, ông Tiến với vợ chồng ông Ngự, bà Phấn chưa tuân thủ theo
quy định của pháp luật cả về hình thức và nội dung của hợp đồng; trong khi gia đình ông
Ngự cho rằng vợ chồng ông Tiến, bà Tý còn nợ 3,4 cây vàng và không bán diện tích nhà
đất giáp mặt đường Xuân La; cho nên vợ chồng ông Ngự, bà Phấn không đồng ý cho vợ
chồng ông Tiến, bà Tý làm thủ tục sang tên đăng ký quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng
đất theo quy định của pháp luật. Hiện nay toàn bộ diện tích nhà đất theo hợp đồng mua
bán chuyển nhượng trên vẫn đứng tên vợ chồng ông Ngự, bà Phấn.
Tòa án hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong
vụ án này là “Tranh chấp quyền sở hữu nhà đất” và áp dụng các Điều 255 và Điều 256
của Bộ luật dân sự để chấp nhận yêu cầu đòi lại nhà đất của vợ chồng bà Kiều Thị Tý,
ông Chu Văn Tiến đối với vợ chồng ông Lê Văn Ngự, bà Trần Thị Phấn. Tại Quyết định
số 63/QĐ-KNGĐT-V5 ngày 14/5/2009, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã
kháng nghị Bản án phúc thẩm nêu trên và đề nghị Hội đồng thẩm phán TANDTC xét xử
theo thủ tục giám đốc thẩm hủy Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và hủy Bản án dân sự
sơ thẩm số 27/2008/DS-ST ngày 25/4/2008 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; giao
hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm lại.
204
Tòa
án
nhân
dân
tối
cao,
Án
lệ,
130
Nhận định của Hội đồng thẩm phán TANDTC cho thấy lẽ công bằng đã được sử
dụng là một trong những cơ sở để ra quyết định. Trong Án lệ này, lẽ phải, sự hợp lý cần
được thừa nhận là tài sản chung của vợ chồng là nhà đất mà chỉ có một người đứng tên
ký hợp đồng chuyển nhượng cho người khác nếu có đủ căn cứ xác định: (i) bên chuyển
nhượng đã nhận đủ số tiền theo thỏa thuận; (ii) người không ký tên trong hợp đồng biết
và cùng sử dụng tiền chuyển nhượng nhà đất; (iii) bên nhận chuyển nhượng nhà đất đã
nhận và quản lý, sử dụng nhà đất đó công khai thì phải xác định là người không ký tên
trong hợp đồng đồng ý với việc chuyển nhượng nhà đất, cụ thể:
Việc chuyển nhượng nhà, đất theo Hợp đồng mua bán nhà đất diễn ra vào ngày
26/4/1996. Sau khi mua nhà, đất, ông Tiến, bà Tý đã trả đủ tiền, nhận nhà đất, tôn nền
đất, sửa lại nhà và cho các cháu đến ở. Trong khi đó gia đình ông Ngự, bà Phấn vẫn ở
trên diện tích đất còn lại, liền kề với nhà ông Tiến, bà Tý. Theo lời khai của các người
con ông Ngự, bà Phấn thì sau khi bán nhà, đất cho vợ chồng bà Tý, ông Ngự, bà Phấn đã
phân chia vàng cho các người con.
Sau khi chuyển nhượng và giao nhà đất cho ông Tiến, bà Tý thì ngày 26/4/1996,
ông Ngự còn viết “giấy cam kết” có nội dung mượn lại phần nhà đất đã sang nhượng để ở
khi xây dựng lại nhà trên phần đất còn lại và trong thực tế vợ chồng bà Phấn, ông Ngự đã
sử dụng phần nhà đất của bà Tý, ông Tiến khi xây dựng nhà. Như vậy, có cơ sở xác định
bà Phấn biết có việc chuyển nhượng nhà, đất giữa ông Ngự với vợ chồng ông Tiến và bà
Tý, bà Phấn đã đồng ý, cùng thực hiện nên việc bà Phấn khiếu nại cho rằng ông Ngự
chuyển nhượng nhà đất cho vợ chồng bà Tý bà không biết là không có căn cứ.
Như vậy, có thể thấy rằng, pháp luật hiện hành không có quy định để giải quyết
trường hợp ký hợp đồng chuyển nhượng nhà đất là tài sản chung của vợ chồng mà chỉ có
một người đứng tên ký hợp đồng chuyển nhượng nhà đất đó cho người khác, người còn
lại không ký tên trong hợp đồng thì xử lý như thế nào. Bên cạnh đó pháp luật cũng không
có quy định về việc nếu có đủ căn cứ xác định bên chuyển nhượng đã nhận đủ số tiền
theo thỏa thuận, người không ký tên trong hợp đồng chuyển nhượng nhà đất là tài sản
chung của vợ chồng biết và cùng sử dụng tiền chuyển nhượng nhà đất; bên nhận chuyển
nhượng nhà đất đã nhận và quản lý, sử dụng nhà đất đó công khai thì cần phải xác định
như thế nào. Mặt khác, không có tập quán, không thể áp dụng tương tự pháp luật, nguyên
tắc cơ bản của pháp luật, án lệ để giải quyết vụ việc này. Tuy nhiên, căn cứ vào bản chất
pháp lý của sự việc, những diễn biến, sự kiện, hành vi và chứng cứ chứng minh việc đã
có hành vi chuyển giao tiền; chuyển giao đối tượng của hợp đồng; cũng như việc sử dụng
lợi ích tài chính của cá nhân không ký vào hợp đồng chuyển nhượng nhà đất là tài sản
chung của vợ chồng, Hội đồng thẩm phán TANDTC đã nhận định là cần phải xác định là
người đó đồng ý với việc chuyển nhượng nhà đất.
2.2. Án lệ số 07/2016/AL205
205
Tòa
án
nhân
dân
tối
cao,
Án
lệ,
131
Ngày 17 tháng 10 năm 2016, Hội đồng thẩm phán TANDTC thông qua Án lệ số
07/2016/AL. Nguồn của Án lệ xuất phát từ Quyết định giám đốc thẩm số 126/2013/DS-
GĐT ngày 23/9/2013 của Hội đồng thẩm phán TANDTC về vụ án dân sự “Tranh chấp
quyền sở hữu, sử dụng nhà” tại thành phố Hà Nội giữa nguyên đơn là các ông, bà
Nguyễn Đình Sông, Nguyễn Thị Hồng, Nguyễn Thị Hương với bị đơn là các ông, bà Đỗ
Trọng Thành, Đỗ Thị Nguyệt, Vương Chí Tường, Vương Chí Thắng, Vương Bích Vân,
Vương Bích Hợp; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm các ông, bà Nguyễn Thị
Lan, Nguyễn Thị Hay, Tô Thị Lâm, Nguyễn Đình Uân, Nguyễn Thị Hợp, Nguyễn Đình
Hòa, Nguyễn Thị Minh Nguyệt, Trần Thị Bích, Vũ Đình Hậu”.
Theo hồ sơ vụ án thì căn nhà số 19 phố Thuốc Bắc, phường Hàng Bồ, quận Hoàn
Kiếm, Hà Nội thuộc quyền sở hữu của vợ chồng cụ Đỗ Huy Ngọc và cụ Lê Thị Hữu đã
sang tên thừa kế cho các con là ông Đỗ Trọng Cao (chết năm 1972, không vợ con) được
hưởng 8/12 phần, còn lại bà Đỗ Thị Ngà (tức Nga), bà Đỗ Thị Nguyệt, bà Đỗ Thị Song
Toàn (chết năm 1963, không chồng con), ông Đỗ Trọng Thành hưởng chung 4/12 phần.
Ngày 01/7/1971, ông Thành ký hợp đồng cho gia đình cụ Nguyễn Đình Nhuần (là bác
ruột ông Nguyễn Đình Sông, chết năm 2000) và vợ chồng cụ Nguyễn Đình Chiện (là cha
của ông Sông, chết năm 1998) thuê gian buồng tầng 2 nhà 19 phố Thuốc Bắc, diện tích
39,36m2 để lấy tiền chữa bệnh cho ông Cao, đã nhận trước 2000 đồng.
Theo “Giấy bán đứt một buồng ở” (không ghi ngày tháng năm nhưng ông Thành thừa
nhận văn bản này viết khoảng năm 1971), ông Cao đã bán cho cụ Nhuần 01 gian buồng tầng
2 nhà 19 phố Thuốc Bắc (không ghi diện tích) giá 6.550 đồng, bên bán đã nhận đủ tiền, ghi
là cụ Chiện đại diện mua bán và ký thay cụ Nhuần. Ông Thành cho rằng gian nhà bán này
chính là gian nhà thuê nêu trên và bán cho cụ Nhuần, không phải bán cho cụ Chiện. Tuy
nhiên, cụ Tô Thị Lâm và các ông, bà Nguyễn Đình Uân, Nguyễn Đình Hòa, Nguyễn Quỳnh
Hợp, Nguyễn Thị Minh Nguyệt (là vợ, con cụ Nhuần) đều xác định cụ Chiện trực tiếp giao
dịch và trả tiền, cụ Nhuần chỉ đứng tên hộ cụ Chiện trên hợp đồng mua nhà do ông Cao bán.
Do đó, có cơ sở xác định cụ Chiện là người mua gian buồng này.
Ngày 09/9/1972, ông Cao viết giấy ủy quyền để ông Thành bán căn buồng phụ
ông Cao đang ở. Ngày 05/11/1972, ông Cao chết không để lại di chúc. Cùng ngày
05/11/1972, ông Thành, bà Ngà, bà Nguyệt ký “Văn tự bán đứt tầng 2 số nhà 19 phố
Thuốc Bắc” có nội dung bán cho vợ chồng cụ Chiện buồng chính 38,07m2, buồng phụ
7,095m2, tổng là 45,165m2, giá 3.000 đồng, bên bán đã nhận đủ tiền, bên mua đã nhận sử
dụng diện tích tầng 2 và đang ở; văn tự có đủ 3 người gồm ông Thành, bà Ngà, bà
Nguyệt là bên bán ký tên, còn bên mua ghi tên cụ Chiện, cụ Mở nhưng không ký.
Khi tranh chấp, ông Sông xuất trình được 02 văn tự bán nhà nêu trên và cả giấy
ông Cao ủy quyền cho ông Thành bán nhà. Thực tế, gia đình cụ Chiện đã quản lý cả 02
gian buồng tầng 2 nhà 19 phố Thuốc Bắc của gia đình ông Thành từ năm 1972 đến nay,
gia đình ông Thành ở số nhà 17 phố Thuốc Bắc liền kề không tranh chấp đòi tiền thuê
nhà hoặc tiền mua nhà. Nội dung “Văn tự bán đứt tầng 2 số nhà 19 phố Thuốc Bắc” đều
ghi rõ bên bán đã nhận đủ tiền, không có việc hai bên thỏa thuận sẽ lập giấy trả tiền riêng.
Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm cho rằng bên mua chưa ký tên vào văn bản mua
132
bán nhà và không chứng minh được đã trả tiền để bác yêu cầu công nhận hợp đồng mua
bán nhà của nguyên đơn là chưa đảm bảo quyền lợi của nguyên đơn. Hội đồng thẩm phán
TANDTC tuyên hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm số 86/2010/DS-PT ngày 18/5/2010.
Giao hồ sơ vụ án cho Tòa phúc thẩm TANDTC tại Hà Nội xét xử phúc thẩm lại theo quy
định của pháp luật.
Lẽ công bằng, sự hợp lý, lẽ phải ghi nhận qua các chứng cứ đã được Hội đồng
thẩm phán TANDTC nhận diện và ghi nhận trong Án lệ này như sau: “Trường hợp này,
hợp đồng có giá trị xác định bên mua đã trả đủ tiền cho bên bán và ý chí của bên mua
đồng ý với hợp đồng mua bán nhà đó, hợp đồng mua bán nhà được công nhận”. Theo hồ
sơ tranh chấp, ông Sông xuất trình được 02 văn tự bán nhà nêu trên và cả giấy ông Cao
ủy quyền cho ông Thành bán nhà. Thực tế, gia đình cụ Chiện đã quản lý cả 02 gian
buồng tầng 2 nhà 19 phố Thuốc Bắc của gia đình ông Thành từ năm 1972 đến nay, gia
đình ông Thành ở số nhà 17 phố Thuốc Bắc liền kề không tranh chấp đòi tiền thuê nhà
hoặc tiền mua nhà. Nội dung “Văn tự bán đứt tầng 2 số nhà 19 phố Thuốc Bắc” đều ghi
rõ bên bán đã nhận đủ tiền, không có việc hai bên thỏa thuận sẽ lập giấy trả tiền riêng,
đây chính là biên nhận mà bên bán xác nhận là bên mua đã trả tiền. Bên mua chưa ký vào
văn bản mua bán, nhưng văn bản này bên mua là người giữ, nên vẫn có giá trị xác định
nghĩa vụ của bên bán về việc đã nhận tiền.
Như vậy, có thể thấy rằng, pháp luật hiện hành không có quy định để giải quyết
trường hợp hợp đồng mua bán nhà có chữ ký của bên bán, ghi rõ bên bán đã nhận đủ tiền,
bên mua tuy chưa ký tên trên hợp đồng nhưng là người giữ hợp đồng và đã quản lý, sử
dụng nhà ở ổn định trong thời gian dài mà bên bán không có tranh chấp đòi tiền mua nhà
thì được giải quyết như thế nào. Bên cạnh đó, không có tập quán, không thể áp dụng
tương tự pháp luật, nguyên tắc cơ bản của pháp luật, án lệ để giải quyết vụ việc này. Do
vậy, căn cứ vào bản chất pháp lý của vụ việc, những diễn biến, sự kiện, hành vi và chứng
cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng thẩm phán TANDTC đã ra nhận định là cần phải công
nhận hợp đồng mua bán đó.
2.3. Án lệ 16/2017/AL206
Ngày 14 tháng 12 năm 2017, Hội đồng thẩm phán TANDTC thông qua Án lệ số
16/2017/AL. Nguồn của Án lệ xuất phát từ Quyết định giám đốc thẩm số 573/2013/DS-
GĐT ngày 16/12/2013 của Tòa Dân sự TANDTC về vụ án “Tranh chấp thừa kế tài sản”
tại tỉnh Vĩnh Phúc giữa nguyên đơn là chị Phùng Thị H1, chị Phùng Thị N1, chị Phùng
Thị H2, chị Phùng Thị P với bị đơn là anh Phùng Văn T; người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan gồm chị Phùng Thị N2, chị Phùng Thị H3.
Ông Phùng Văn N và bà Phùng Thị G có 06 người con là: Phùng Thị N1, Phùng
Thị N2, Phùng Thị H2, Phùng Văn T, Phùng Thị P, Phùng Thị H1. Tài sản chung của
ông bà có 01 ngôi nhà cấp 4 cùng công trình phụ trên diện tích đất 398m2 tại khu L,
phường M, thành phố N, tỉnh Vĩnh Phúc. Ngày 07/7/1984 ông Phùng Văn N chết (không
206
Tòa
án
nhân
dân
tối
cao,
Án
lệ,
133
để lại di chúc), bà Phùng Thị G và anh Phùng Văn T quản lý và sử dụng nhà đất. Năm
1991, bà Phùng Thị G chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K một phần diện tích 131m2,
còn lại 267m2. Năm 1999, bà Phùng Thị G được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
(GCNQSDĐ), bà Phùng Thị G muốn cho con gái chị Phùng Thị H1 một phần diện tích
đất làm nhà ở nhưng anh Phùng Văn T giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên bà
Phùng Thị G không tách đất cho chị Phùng Thị H1 được. Vì vậy tháng 03/2010 bà Phùng
Thị G đã lập di chúc với nội dung: Để lại cho chị Phùng Thị H1 diện tích đất 90m2 và
toàn bộ cây cối lâm lộc. Ngày 19/12/2010 bà Phùng Thị G chết, toàn bộ khối tài sản trên
vợ chồng anh Phùng Văn T vẫn quản lý sử dụng.
Khi xảy ra tranh chấp, các nguyên đơn yêu cầu chia theo di chúc 90m2 là của chị
H1, phần 177m2 đề nghị chia theo pháp luật. Bị đơn anh Phùng Văn T do chị Phùng Thị
H3 (vợ) cho rằng năm 1991, bà Phùng Văn G tự ý bán đất cho ông Phùng Văn K mà
không bàn bạc với anh Phùng Văn T, tiền bán đất được bao nhiêu sử dụng vào việc gì
anh không biết. Đến năm 1999, bà Phùng Thị G được cấp GCNQSĐ, ông Phùng Văn K
cũng được cấp GCNQSDĐ đã mua của bà G. Nay các chị em trong gia đình khởi kiện
yêu cầu chia thừa kế theo di chúc và theo pháp luật, quan điểm anh Phùng Văn T không
đồng ý phân chia thừa kế do nhà chỉ có mình anh là con trai nên anh sử dụng để ở và thờ
cũng tổ tiên.
Tòa án cấp sơ thẩm xác định di sản để chia thừa kế là tổng diện tích đất 398m2
(bao gồm cả phần đất bán cho ông Phùng Văn K). Hội đồng thẩm phán TANDTC hủy
toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2011/DS-PT ngày 04/10/2011 và hủy Bản án dân sự
phúc thẩm số 06/2012/DS – PT ngày 23/02/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc;
giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm lại.
Lẽ công bằng, sự hợp lý, lẽ phải ghi nhận qua các chứng cứ đã được Hội đồng
thẩm phán TANDTC nhận diện và ghi nhận trong Án lệ này như sau: “Trường chuyển
nhượng quyền sử dụng đất thuộc tài sản thừa kế chung của các đồng thừa kế được thực
hiện bởi một người được thừa kế mà các đồng thừa kế khác đã biết mà không phản đối,
người nhận chuyển nhượng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì việc
chuyển nhượng đó được coi là hợp pháp”. Theo hồ sơ tranh chấp, tuy bà G đã chuyển
nhượng một phần di sản thừa kế mà không có sự ủy quyền của các con (do anh Phùng
Văn T có trình bày là việc chuyển nhượng là bà G tự ý chuyển không bàn bạc với anh
nên anh không biết). Dù vậy thực tế cho thấy các con của bà G đều biết về việc chuyển
nhượng này nhưng không ai phản đối (các con của bà G còn có lời khai là bà G bán đất
để lo cho cuộc sống của bà và các con) và người nhận chuyển nhượng là ông K đã thanh
toán tiền chuyển nhượng đất và đã được cơ quan nhà nước cấp GCNQSDĐ.
Như vậy, có thể thấy rằng, pháp luật hiện hành không có quy định để giải quyết
trường hợp giao dịch chuyển nhượng nhà đất của một đồng sở hữu hoặc đồng thừa kế mà
không có ủy quyền của những đồng thừa kế khác. Bên cạnh đó, không có tập quán,
không thể áp dụng tương tự pháp luật, nguyên tắc cơ bản của pháp luật, án lệ để giải
quyết vụ việc này. Do vậy, căn cứ vào bản chất pháp lý của vụ việc, những diễn biến, sự
134
kiện, hành vi và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng thẩm phán TANDTC đã ra
nhận định là cần phải công nhận hợp đồng chuyển nhượng đất đó.
2.4. Án lệ số 35/2020/AL207
Ngày 05 tháng 02 năm 2020, Hội đồng thẩm phán TANDTC thông qua Án lệ số
35/2020/AL. Nguồn của Án lệ xuất phát từ Quyết định giám đốc thẩm số 65/2018/GĐT -
DS ngày 06/8/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng về vụ án dân sự “Tranh
chấp về tài sản bị cưỡng chế thi hành án” tại tỉnh Đắk Lắk giữa nguyên đơn là cụ Nguyễn
Thị K với bị đơn là bà Nguyễn Thị T; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm 09
người.
Theo hồ sơ vụ án, năm diện tích 4.924m2 đất mà vợ chồng ông D, bà T được Ủy
ban nhân dân thành phố P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 26-12-2005 thì
chỉ có 300,5m2 là đất ở (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 579302, thửa số 9A,
tờ bản đồ 58) còn lại 4.624,9m2 đất, tại thửa 09, tờ bản đồ 58 là đất nông nghiệp (Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất so AD 579313). Năm 1983, cụ C, cụ K sang Đức định cư
và để lại nhà, diện tích đất còn lại cho vợ chồng ông D quản lý và sử dụng và cuối năm
2005 vợ chồng ông D đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng 4.924m2 đất (gồm
300,5m2 đất ở và 4.624,9m2 đất nông nghiệp). Năm 2004, cụ K hồi hương; năm 2006 cụ
K được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cả diện tích đất mà vợ chồng ông D đang sử
dụng, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; nhưng sau đó, Ủy ban phát hiện
nên đã ban hành quyết định hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho cụ K và
xác định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông D là đúng pháp
luật.
Như vậy, vợ chồng cụ K đã bỏ, không canh tác, sử dụng, sinh sống trên khu đất
này hơn 20 năm. Theo quy định tại khoản 5 Điều 14 Luật Đất đai năm 1987, khoản 3
Điều 26 Luật Đất đai năm 1993 thì Nhà nước sẽ thu hồi đất nếu người sử dụng đất không
sử dụng đất quá 6 tháng hoặc 12 tháng mà không được Nhà nước cho phép. Theo quy
định tại khoản 11 Điều 38 Luật Đất đai 2003 và điểm h khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai
2013 thì một số trường hợp sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai sẽ bị Nhà nước thu
hồi đất như: “Đất trồng cây hàng năm không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên
tục, đất trồng cây lâu năm không được sử dụng trong thời hạn 18 tháng liên tục; đất trồng
rừng không được sử dụng trong thời hạn 24 tháng liên tục”.
Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm nhận định buộc vợ chồng ông D, bà T trả đất lại
cho cụ K (có trừ 183,74m2 đất cụ K tự nguyện cho và ông D đã làm nhà), hủy 2 giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất mà Ủy ban nhân dân thành phố P đã cấp cho vợ chồng
ông D, bà T. Tại Quyết định giám đốc thẩm số 461/2014/DS-GĐT ngày 24-11-2014, Tòa
Dân sự TANDTC hủy án sơ, phúc thẩm; giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân thành phố Buôn
Ma Thuột giải quyết sơ thẩm lại.
207
Tòa
án
nhân
dân
tối
cao,
Án
lệ,
135
Nhận định của Hội đồng thẩm phán TANDTC cho thấy lẽ công bằng đã được sử
dụng là một trong những cơ sở để ra quyết định. Trong Án lệ này, lẽ phải, sự hợp lý cần
được thừa nhận là người được giao quản lý, sử dụng khu đất không bị đòi lại quyền sử
dụng nếu có đủ căn cứ xác định: (i) bên được Nhà nước giao đất đã không sử dụng khu
đất đó trong một thời gian dài và đã giao lại khu đất cho người khác sử dụng, (ii) bên
được giao sử dụng đất đã quản lý, sử dụng đất đó trong thời gian dài, đã kê khai và nộp
thuế cho Nhà nước đầy đủ và được cấp GCNQSDĐ
Như vậy, có thể thấy rằng pháp luật hiện hành có quy định nếu người được giao
đất không sử dụng đất trong một thời gian dài thì đất đó thuộc diện phải bị Nhà nước thu
hồi. Tuy nhiên thực tế, nhận thấy rằng ông D đã sinh sống và trực tiếp khai thác khu đất
đó trong một thời gian dài, hàng năm có kê khai, nộp thuế cho Nhà nước đầy đủ và cũng
đã được cấp GCNQSDĐ với hồ sơ hợp lệ. Do vậy, căn cứ vào bản chất pháp lý của vụ
việc, những diễn biến, sự kiện, hành vi và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng thẩm
phán TANDTC đã ra nhận định là cần phải công nhận quyền sử dụng đất cho họ.
Qua việc nhận diện và phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến
lẽ công bằng nêu trên có thể nhận thấy lẽ công bằng là một trong những cơ sở giá trị cho
hội đồng xét xử ra những bản án “thấu tình đạt lý”. Khi lẽ công bằng được ghi nhận trong
các án lệ sẽ góp phần tạo ra những tiền lệ tích cực giúp cho những người làm công tác xét
xử mạnh dạn, chủ động, tích cực, sáng tạo hơn trong việc xem xét, đánh giá và ra quyết
định. Qua đó có thể thấy, lẽ công bằng và án lệ hiện đã và đang phát huy giá trị “bổ
khuyết” cho những khiếm khuyết của hệ thống pháp luật và góp phần giải quyết nhanh
chóng, triệt để và hiệu quả các tranh chấp dân sự tại Việt Nam hiện nay./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phùng Trung Tập, Áp dụng lẽ công bằng để giải quyết tranh chấp dân sự, Tạp chí
Nghiên cứu Lập pháp số 01, tháng 01/2020.
2. Nguyễn Hương, Một số vấn đề về “Lẽ công bằng” theo quy định của Bộ luật Tố tụng
2015.
3. Hồ Ngọc Điệp, Tòa án và nguyên tắc xét xử theo lẽ công bằng,
4.
TANDTC,
Án
lệ,
2020
5.
TANDTC,
Án
lệ,
6. LS.TS. Lưu Tiến Dũng, Sách 37 Án lệ đầu tiên của Việt Nam – Phân tích và luận giải,
Nhà xuất bản tư pháp, Hà Nội
136
7. Lê Đức Triết, Án lệ với nguyên tắc công lý không thể bị chối từ, trì hoãn
137
Bạn đang xem tài liệu "Lẽ công bằng trong một số án lệ tại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
le_cong_bang_trong_mot_so_an_le_tai_viet_nam.pdf

