Quan hệ xã hội phi truyền thống thời đại 4.0 và vấn đề pháp luật xử lí các vi phạm có liên quan
Hội thảo Khoa học
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”
QUAN HỆ XÃ HỘI PHI TRUYỀN THỐNG THỜI ĐẠI 4.0 VÀ
VẤN ĐỀ PHÁP LUẬT XỬ LÍ CÁC VI PHẠM CÓ LIÊN QUAN
SOCIAL RELATIONSHIP TRADITION OF DATE 4.0 AND
LEGAL ISSUES HANDLING RELATED VIOLATIONS
TS. Lương Văn Tuấn1
Tóm tắt – Dưới sự tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, Việt
Nam cũng như các nước trên thế giới đang xuất hiện ngày càng nhiều và rõ nét
những quan hệ xã hội có tính phi truyền thống như mua bán hàng hóa qua mạng
xã hội, trộm cắp tài sản qua mạng Internet, dâm ô trẻ em, lừa đảo chiếm đoạt tài
sản qua mạng, sử dụng mạng xã hội xâm phạm an ninh quốc gia xuyên lục địa...
Các quan hệ xã hội này khiến cho cuộc sống người dân ở nhiều quốc gia đang bị
xáo trộn rất lớn. Để đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội, các quốc gia cần
phải kịp thời ban hành pháp luật điều chỉnh các hành vi, đồng thời cũng định
hướng các quan hệ xã hội này phát triển bình thường. Bằng phương pháp phân
tích, tổng hợp…, bài viết tập trung khảo sát, đánh giá các quan hệ xã hội mới
phát sinh trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và đặt ra yêu cầu xây dựng và
hoàn thiện pháp luật của nhà nước.
Từ khóa: cách mạng công nghiệp 4.0 và pháp luật, quan hệ xã hội phi
truyền thống, quan hệ xã hội thời 4.0, nhà nước và pháp luật thời 4.0, xử lí hành
vi phi truyền thống.
1. MỘT SỐ QUAN HỆ XÃ HỘI PHI TRUYỀN THỐNG PHỔ BIẾN
Toàn cầu hóa và sự xuất hiện của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư
hay còn gọi là cách mạng công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0) đang diễn ra mạnh mẽ đã
khiến cho xã hội xuất hiện ngày càng nhiều những quan hệ mới chứa đựng trí tuệ
thời đại. Trên nền tảng công nghệ vạn vật kết nối qua mạng Internet – Internet of
things, trí tuệ nhân tạo – Artificial Intelligence và người máy thông minh – smart
robot, các quan hệ xã hội gắn liền với CMCN 4.0 trong các lĩnh vực cơ sở dữ liệu
tập trung, thành phố thông minh, tiền ảo, trí tuệ nhân tạo, thương mại điện tử,
người máy… đang ngày càng trở nên phổ biến và đem lại cho xã hội sự đa dạng,
phong phú cả về đời sống vật chất và tinh thần, khiến cho ‘những điều tưởng như
chỉ tồn tại trong tôn giáo, trong huyền thoại nhưng với CMCN 4.0 đã trở thành
338
hiện thực: robot được sáng tạo có thể giao tiếp với con người; có địa vị pháp lí
như con người khi được cấp quốc tịch...’ [1, tr252].
Sự đa dạng về quan hệ xã hội trong thời CMCN 4.0 được thể hiện trên nhiều
phương diện khác nhau của đời sống xã hội:
- Quan hệ xã hội có tính chất dân sự thông qua mạng xã hội:
Các mạng xã hội phổ biến như facebook, zalo, viber... đã trở thành công cụ
hữu hiệu cho các cá nhân, tổ chức trong trao đổi công việc, thể hiện sở thích bản
thân, giao lưu tình cảm, tương tác cộng đồng trên diện rộng... Công cụ này đã
được ứng dụng vào nhiều lĩnh vực khác nhau, và đã đem lại hiệu quả kinh tế – xã
hội rất lớn cho cá nhân, tổ chức và nhà nước. Thông qua các công cụ liên quan
đến Internet, các quan hệ xã hội về mua bán hàng hóa tiêu dùng, kinh doanh
thương mại, lao động, cung ứng dịch vụ… được thiết lập. Tuy nhiên, ngay sau khi
ứng dụng các thành tựu công nghệ này vào cuộc sống, các quan hệ xã hội trên đây
cũng đã làm xuất hiện các tranh chấp khá đa dạng và đôi khi là khá thú vị và đều
thể hiện tính phi truyền thống – chưa có tiền lệ trong đời sống xã hội. Có những
tranh chấp xuất hiện tương đối nhỏ, thiệt hại không lớn, nhưng cũng có những
tranh chấp lại thể hiện tính nghiêm trọng khi xâm hại trực tiếp đến quyền lợi của
cá nhân, tổ chức và thậm chí là Nhà nước.
Nhóm quan hệ xã hội mua bán, cung ứng dịch vụ trong tiêu dùng
Việc sử dụng các ứng dụng công nghệ liên quan đến mạng Internet đã giúp
cho con người có thể tiết kiệm rất nhiều đối với các khoản chi phí xã hội nhưng
cũng đưa lại khá nhiều các tranh chấp trong mua bán hàng hóa. Ví dụ tranh chấp
về hình thức của hàng hóa, phương thức thanh toán hàng hóa, chất lượng hàng
hóa, dịch vụ vận chuyển hàng hóa (shipper). Rất nhiều sự chia sẻ về trải nghiệm
cá nhân trong mua bán hàng hóa tiêu dùng qua mạng như: hình ảnh hàng hóa đăng
quảng cáo rất đẹp mắt, tuy nhiên khi giao nhận hàng hóa thì người mua lại chê, trả
lại hàng hóa và từ chối thanh toán (cả tiền dịch vụ ship). Hiện tượng này khá đơn
giản đối với những trường hợp thanh toán sau vì đơn giản là người mua không
thanh toán thì hàng trả lại cho bên bán nhưng lại rất phức tạp đối với những giao
dịch đã thanh toán trước hay có tạm ứng trước một phần, vì lúc này việc trả hàng
hóa và đòi lại tiền đã đặt trước/đã thanh toán trước sẽ khó khăn, do bên bán sẽ đòi
trừ các chi phí liên quan như tiền ship, phí nhận lại/đổi hàng… Nếu không đồng
tình, bên mua và bên bán sẽ trở thành các bên có tranh chấp. Không giải quyết ổn
thỏa, các quan hệ mua bán này có thể phát triển thành các quan hệ xã hội tiêu cực
khác như nói xấu nhau trên mạng xã hội, xúc phạm danh dự nhân phẩm của nhau
trên mạng xã hội…
Nhóm quan hệ xã hội trong kinh tế – lao động
Lao động được hiểu là ‘hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo ra
các loại sản phẩm vật chất và tinh thần cho xã hội’ [2, tr545].
339
Tuy nhiên, hiện nay, cuộc CMCN 4.0 đã đưa lại cho xã hội loài người sản
phẩm trí tuệ nhân tạo là robot.
‘Robot là một cỗ máy có khả năng thực hiện một loạt các hành động
phức tạp một cách tự động, đặc biệt là các cỗ máy được lập trình bởi một
máy tính. Hiểu theo nghĩa này thì robot chỉ có thể xuất hiện sau khi nhân
loại phát minh ra máy tính và ứng dụng vào cuộc sống. Robot cũng được
hiểu là các cỗ máy tự hành nhằm thay thế lao động con người. Hiểu theo
nghĩa này thì phạm trù robot sẽ rộng hơn và có thể thấy từ xa xưa trong lịch
sử nhân loại đã có những truyền thuyết về robot và ứng dụng robot vào các
phương diện khác nhau của cuộc sống. Lịch sử quân sự đã cho thấy thời
Đông Hán của Trung Quốc, Khổng Minh đã chế ra trâu máy, ngựa gỗ phục
vụ hậu cần. Thực tế tại Việt Nam cho thấy, từ lâu đã biết vận dụng các
thành tựu nghiên cứu để chế tác những vật dụng như robot tự hành có khả
năng thay thế sức lao động của con người, ví dụ như guồng nước giã gạo
phục vụ đời sống’ [1, tr253].
Mặc dù không phải là con người, nhưng hiện nay robot lại đang tham gia
vào quá trình lao động sản xuất để tạo ra của cải vật chất cũng như tạo ra các sản
phẩm tinh thần phục vụ cuộc sống con người. Và với tốc độ sản xuất robot theo
Erico Guizzo được dẫn bởi Trần Kiên [3, tr121]: ‘Dự đoán của Liên đoàn Robot
quốc tế cho biết vào năm 2019 số lượng robot bán ra hàng năm sẽ vào khoảng 1,9
triệu robot’. Hoạt động này ‘sẽ khiến cho nhân loại được bổ sung một đội ngũ
nhân lực vô cùng dồi dào về số lượng, hùng hậu và đồng đều về trí tuệ để có thể
giải quyết được những yêu cầu công việc khắt khe, đòi hỏi kĩ thuật cao như trong
các phòng phẫu thuật y học, làm việc trong môi trường khắc nghiệt, độc hại mà
không bị ảnh hưởng gì... Khả năng này của robot sẽ phục vụ cuộc sống của con
người tốt hơn. Thực tế này cũng cho thấy khả năng chiếm lĩnh việc làm của con
người ngày một tăng. Thất nghiệp hiện nay ở các quốc gia một phần do suy thoái
hay trì trệ kinh tế, nhưng cũng có một phần là do sự hiện diện của lực lượng
robot’ [1, tr254].
Robot – nhân lực máy hiện nay đã được sử dụng khá phổ biến trong công
việc từ đơn giản đến phức tạp như: giơ biển quảng cáo/mời chào khách hàng, bốc
xếp hàng hóa, chở hàng, giao hàng, tham gia phẫu thuật... Như vậy, robot đang
tham gia vào quan hệ lao động và có khả năng sẽ biến người lao động thành
những người thất nghiệp.
- Quan hệ xã hội có tính chất hành chính, hình sự qua mạng xã hội
Các giao dịch trên mạng xã hội có tính chất dân sự như mua bán, giao lưu
tình cảm, thể hiện sở thích, quan điểm cá nhân… có thể trở thành những tranh
chấp khi các bên tham gia có sự không hài lòng về nhau. Người mua bán không
hài lòng trong quan hệ mua bán. Người giao lưu tình cảm hay thể hiện sở thích cá
nhân nhận được sự tương tác không ưng ý… Tuy nhiên, điều đáng nói là khi các
tranh chấp đó phát triển lên thành các quan hệ xã hội có khả năng gây ra các ảnh
340
hưởng tiêu cực đến xã hội, tạo tâm lí hoang mang, lo lắng cho cộng đồng thông
qua các hành vi như nhục mạ nhau, phát tán hình ảnh nhạy cảm của nhau trên
mạng xã hội, thậm chí là tìm nhau để đánh đập trả thù… Bên cạnh đó, một số đối
tượng đã chủ động thực hiện hành vi lên mạng dụ dỗ trẻ em để lạm dụng tình dục,
bắt cóc, lừa tình, lừa tiền; truy cập mạng nội bộ các tổ chức đánh cắp thông tin,
đánh cắp thông tin tài khoản cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản; thực hiện các hành
vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc, kinh doanh ma túy trái phép, mại dâm… cũng đang
diễn biến hết sức phức tạp, đa dạng, có ảnh hưởng ngày càng tiêu cực đến đời
sống xã hội. Đặc biệt, các hành vi vi phạm của các đối tượng còn có tính chất
xuyên quốc gia, xuyên lục địa và còn có thể có các vi phạm đến an ninh chủ
quyền, toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia, trong khi quyền tài phán lại thuộc về phạm
vi lãnh thổ quốc gia, và trường hợp có sự tham gia của quốc tế cũng hạn chế vì
các vấn đề khác nhau về thể chế chính trị – pháp luật, và các quyền lợi khác trong
kinh tế quốc tế.
2.
KHUNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH CÁC QUAN HỆ XÃ HỘI PHI
TRUYỀN THỐNG
2.1. Một số quy phạm thực chất điều chỉnh các quan hệ xã hội phi
truyền thống
Trước đòi hỏi thực tế của cuộc CMCN 4.0 trên đây, Việt Nam cũng như
nhiều quốc gia đã không ngừng thể chế các quan hệ xã hội mới xuất hiện vào văn
bản pháp luật để điều chỉnh nhằm ổn định xã hội. Ở nước ta, trong thời gian gần
đây, các quan hệ xã hội phi truyền thống đã từng bước được thể chế vào pháp luật
trên các lĩnh vực. Cụ thể:
- Nhóm các quan hệ xã hội trong lĩnh vực dân sự
Để điều chỉnh các hành vi dân sự liên quan đến cơ sở dữ liệu điện tử – thành
quả của cuộc CMCN 4.0, theo Quốc hội [4], ‘Thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở
dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân được
bảo đảm an toàn và bí mật. Việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện thoại,
điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của
người khác chỉ được thực hiện trong trường hợp luật quy định’2. Về hình thức
giao dịch dân sự, ‘thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ
liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng
văn bản’3.
- Nhóm các quan hệ xã hội vi phạm trật tự quản lí hành chính nhà nước
Theo Quốc hội [5], công dân vi phạm các quy định về giao dịch điện tử thì
‘phạt tiền đến 40.000.000 đồng’4 và vi phạm hành chính trong lĩnh vực công nghệ
2 Khoản 3, Điều 38, Bộ luật Dân sự 2015
3 Điều 119, Khoản 1, Bộ luật Dân sự 2015
4 Điểm b, Khoản 1, Điều 24, Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012
341
thông tin, viễn thông, tần số vô tuyến điện, báo chí thì bị ‘phạt tiền đến
100.000.000 đồng’5; đối với tổ chức thì mức phạt tiền gấp đôi.6
- Nhóm các quan hệ xã hội vi phạm các quy định hình sự
Theo Quốc hội [6], các tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân sẽ
phạt tù từ 10 đến 15 năm đối với hành vi ‘tấn công, xâm hại, cản trở, gây rối loạn
hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử của cơ quan,
tổ chức, cá nhân’7; đối với tội làm nhục người khác sẽ phạt tù từ 03 tháng đến 02
năm đối với hành vi ‘sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện
điện tử để phạm tội’8; đối với tội vu khống mà ‘sử dụng mạng máy tính hoặc
mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội’9 thì bị phạt tù từ 01 năm đến
03 năm.
Riêng trong Chương XXI. Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự
công cộng, tại Mục 2 về Tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn
thông, sẽ xử lí các tội sản xuất, mua bán, trao đổi hoặc tặng cho công cụ, thiết bị,
phần mềm để sử dụng vào mục đích trái pháp luật như ‘tấn công mạng máy tính,
mạng viễn thông, phương tiện điện tử để sử dụng vào mục đích trái pháp luật’10,
‘tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng
viễn thông, phương tiện điện tử’11; đối với tội xâm nhập trái phép vào mạng máy
tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác bằng các hành vi
như ‘cố ý vượt qua cảnh báo, mã truy cập, tường lửa, sử dụng quyền quản trị của
người khác hoặc bằng phương thức khác xâm nhập trái phép vào mạng máy tính,
mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác chiếm quyền điều
khiển; can thiệp vào chức năng hoạt động của phương tiện điện tử; lấy cắp, thay
đổi, hủy hoại, làm giả dữ liệu hoặc sử dụng trái phép các dịch vụ’12. ‘Đối với trạm
trung chuyển Internet quốc gia, hệ thống cơ sở dữ liệu tên miền và hệ thống máy
chủ tên miền quốc gia’13; đối với tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông,
phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, cá nhân “sử dụng mạng
máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử thực hiện một trong những
hành vi: sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cơ quan, tổ chức, cá
nhân để chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa,
dịch vụ; thiết lập, cung cấp trái phép dịch vụ viễn thông, Internet nhằm chiếm
đoạt tài sản”14; tội đánh bạc nếu ‘sử dụng mạng Internet, mạng máy tính, mạng
5 Điểm đ, Khoản 1, Điều 24, Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012
6 Khoản 2, Điều 24, Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012
7 Điểm d, Khoản 2, Điều 113, Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017
8 Điểm e, Khoản 2, Điều 155, Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017
9 Điểm e, Khoản 2, Điều 156, Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017
10 Điều 285, Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017
11 Điểm c, Khoản 1, Điều 286, Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017
12 Khoản 1, Điều 289, Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017
13 Điểm đ, Khoản 2, Điều 289, Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017
14 Khoản 1, Điều 290, Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017
342
viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội’15; Đối với tội tổ chức đánh bạc hoặc
gá bạc nếu ‘sử dụng mạng Internet, mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương
tiện điện tử để phạm tội’16.
2.2. Hạn chế của khung pháp luật hiện hành trong điều chỉnh các quan hệ
xã hội phi truyền thống
- Hạn chế từ văn bản pháp luật
Nhiều văn bản quy phạm pháp luật hiện hành còn chưa thống nhất một số
thuật ngữ liên quan đến nhận thức pháp luật nói chung và các hành vi vi phạm
pháp luật cần phải xử lí để giữ nghiêm trật tự kỉ cương trong quản lí nhà nước
bằng biện pháp hành chính, hình sự… Điều này sẽ làm giảm hiệu lực cho công tác
phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật và cũng chưa đảm bảo tính hiệu lực của
văn bản quy phạm pháp luật:
+ Thuật ngữ “Internet” và “mạng Internet”
Quốc hội [7] có sử dụng thuật ngữ “mạng Internet”17 và Chính phủ [8],
trong Nghị định số 15/2020/NĐ-CP, cũng đề cập đến “mạng Internet”18 nhưng
không giải thích mạng Internet là gì. Trong khi Luật Xử lý vi phạm hành chính
năm 2012 lại không có quy định nào liên quan đến Internet mà chỉ có quy định
liên quan đến các lĩnh vực về giao dịch điện tử, công nghệ thông tin; viễn thông;
tần số vô tuyến điện (Điểm b, đ, Khoản 1, Điều 24); liên quan đến trang thông tin
điện tử (Điều 34, 46, 72); và Bộ luật Hình sự năm 2015, 2017 có các điều luật quy
định xử phạt đối với các trường hợp sử dụng Internet để phạm tội (Điều 289, 290,
321, 322, 326).
Ngày 15/7/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 72/2013/NĐ-CP về
quản lí, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng. Ngày
13/11/2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 174/2013/NĐ-CP quy định xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và
tần số vô tuyến điện – hiện đã được thay thế bằng Nghị định số 15/2020/NĐ-CP
ngày 03/02/2020 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính,
viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử. Việc
ban hành các Nghị định trên đây đều căn cứ vào Luật Xử phạt Vi phạm hành
chính năm 2012 và các luật chuyên ngành như Luật Viễn thông, Luật Công nghệ
thông tin. Tuy vậy, trong Luật Công nghệ thông tin cũng chưa có sự giải thích rõ
ràng đối với nội hàm các thuật ngữ liên quan đến Internet, cụ thể: ‘Cơ sở hạ tầng
thông tin là hệ thống trang thiết bị phục vụ cho việc sản xuất, truyền đưa, thu thập,
xử lí, lưu trữ và trao đổi thông tin số, bao gồm mạng viễn thông, mạng Internet,
15 Điểm c, Khoản 2, Điều 321, Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017
16 Điểm c, Khoản 2, Điều 322, Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017
17 Khoản 4, Điều 4, Luật Công nghệ Thông tin năm 2006
18 Khoản 1, Điều 81; Điểm c, Khoản 3, Điều 94; Khoản 7, Điều 94; Điểm a, Khoản 1, Điều 95;
Điểm a, Khoản 2, Điều 95; Điểm b, Khoản 3, Điều 95 Nghị định số 15/2020/NĐ-CP.
343
mạng máy tính và cơ sở dữ liệu’19. ‘Điểm truy nhập Internet công cộng được ưu
tiên đặt tại bưu cục, điểm bưu điện văn hóa xã, nhà ga, bến xe, cảng biển, cảng
hàng không, cửa khẩu, khu dân cư, bệnh viện, trường học, siêu thị, trung tâm văn
hóa, thể thao để phục vụ nhu cầu của tổ chức, cá nhân’20. Trong quy định này, các
thuật ngữ mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính được đề cập. Theo
Quốc hội [9], giải thích trong Luật Viễn thông, ‘viễn thông là việc gửi, truyền,
nhận và xử lí kí hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng
thông tin khác bằng đường cáp, sóng vô tuyến điện, phương tiện quang học và
phương tiện điện từ khác; và mạng viễn thông là tập hợp thiết bị viễn thông được
liên kết với nhau bằng đường truyền dẫn để cung cấp dịch vụ viễn thông, dịch vụ
ứng dụng viễn thông’21. Đối với thuật ngữ mạng Internet, cả Luật Công nghệ
thông tin và Luật Viễn thông đều không có định nghĩa, chỉ có định nghĩa về
Internet ‘là hệ thống thông tin toàn cầu sử dụng giao thức Internet và tài nguyên
Internet để cung cấp các dịch vụ và ứng dụng khác nhau cho người sử dụng dịch
vụ viễn thông’22. Bên cạnh đó, một thuật ngữ khác cần làm rõ là “điểm truy nhập
Internet công cộng” là gì và có khác biệt gì với điểm truy cập Internet phi công
cộng. Các vi phạm có gì khác nhau nếu truy nhập Internet tại điểm truy nhập công
cộng và phi công cộng để có thể xử lí nếu có vi phạm hành chính, hoặc tội phạm
xảy ra. Luật Xử phạt vi phạm hành chính 2012 không có quy định nào liên quan
đến Internet, trong khi đây là luật cơ bản để các cơ quan có thẩm quyền căn cứ
vào đó để ban hành các quyết định hành chính quy phạm và cá biệt. Điều này cho
thấy tính chưa nhất quán, chưa đồng bộ giữa các văn bản quy phạm pháp luật, và
có phần chưa phù hợp với Luật Xử phạt vi phạm hành chính.
+ Thuật ngữ “viễn thông” và “mạng viễn thông”
Theo Quốc hội [6], Bộ luật Hình sự năm 2017 đã sửa cụm từ “viễn thông”
thành “mạng viễn thông” để xử lí tội phạm đối với các hành vi tội phạm: ‘chiếm
đoạt thư tín, điện báo, telex, fax hoặc văn bản khác của người khác được truyền
đưa bằng mạng bưu chính, viễn thông dưới bất kì hình thức nào; cố ý làm hư
hỏng, thất lạc hoặc cố ý lấy các thông tin, nội dung của thư tín, điện báo, telex, fax
hoặc văn bản khác của người khác được truyền đưa bằng mạng bưu chính, viễn
thông’23. Tuy nhiên, Luật Xử phạt vi phạm hành chính năm 2012 vẫn giữ nguyên
thuật ngữ “viễn thông” tại Điểm đ, Khoản 1, Điều 24. Liên quan đến vấn đề thuật
ngữ “mạng viễn thông”, Khoản 4, Điều 4, Luật Công nghệ thông tin định nghĩa:
‘Cơ sở hạ tầng thông tin là hệ thống trang thiết bị phục vụ cho việc sản xuất,
truyền đưa, thu thập, xử lí, lưu trữ và trao đổi thông tin số, bao gồm mạng viễn
thông, mạng Internet, mạng máy tính và cơ sở dữ liệu’ [7]. Việc định nghĩa này đã
19 Khoản 4, Điều 4; , Luật Công nghệ thông tin năm 2006
20 Khoản 2, Điều 55, Luật Công nghệ thông tin năm 2006
21 Khoản 1 và Khoản 10, Điều 3, Luật Viễn thông
22 Khoản 14, Điều 3, Luật Viễn thông
23 Bộ luật Hình sự 2015-2017: Điều 159. Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại,
điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác.
344
xác định rõ mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính và cơ sở dữ liệu là
những thuật ngữ độc lập, còn Luật Viễn thông có quy định về Internet nhưng cũng
không định nghĩa về mạng Internet là gì (quy định về mạng Internet), trong khi có
giải thích về mạng viễn thông ‘là tập hợp thiết bị viễn thông được liên kết với
nhau bằng đường truyền dẫn để cung cấp dịch vụ viễn thông, dịch vụ ứng dụng
viễn thông’24. Theo Quốc hội [10], Luật Bưu chính cũng có định nghĩa về mạng
bưu chính ‘là hệ thống cơ sở khai thác bưu gửi, điểm phục vụ bưu chính được kết
nối bằng các tuyến vận chuyển và tuyến phát để cung ứng dịch vụ bưu chính’25.
Mặc dù vậy, chưa có luật nào đưa ra định nghĩa về mạng Internet, mạng máy tính.
Theo cách hiểu phổ biến nhưng chưa chính thống, mạng máy tính ‘là mạng viễn
thông kĩ thuật số cho phép các nút mạng chia sẻ tài nguyên’26. Hay, ‘mạng máy
tính là mạng của hai hay nhiều máy tính được nối lại với nhau bằng một đường
truyền vật lí theo một kiến trúc nào đó’ [11, tr.6]. Hoặc, ‘mạng máy tính là tập
hợp các máy tính và các thiết bị phụ trợ khác sử dụng chung một nhóm giao thức
để chia sẻ tài nguyên thông qua các phương tiện truyền thông mạng’ [12, tr.8].
Các khái niệm trên đây cho thấy cách hiểu về mạng máy tính cũng hết sức đa
dạng, và cũng chưa có một cách hiểu chung nhất về thuật ngữ này. Điều này đỏi
hỏi Nhà nước cần thống nhất một cách hiểu chung về mạng máy tính trong văn
bản luật để có thể thực hiện pháp luật dễ dàng và không có sự khác biệt.
+ Thuật ngữ “bưu chính”
Luật Bưu chính không có định nghĩa về bưu chính nhưng lại có các giải
thích về cụm từ “hoạt động bưu chính”. Đó là ‘các hoạt động đầu tư, kinh doanh,
cung ứng, sử dụng dịch vụ bưu chính, dịch vụ bưu chính công ích, tem bưu
chính’27. Việc xử lí vi phạm trong lĩnh vực bưu chính cũng được đặt ra trong Nghị
định số 15/2020/NĐ-CP; và trong Bộ luật Hình sự năm 2015, 2017: ‘chiếm đoạt
thư tín, điện báo, telex, fax hoặc văn bản khác của người khác được truyền đưa
bằng mạng bưu chính, viễn thông dưới bất kì hình thức nào; cố ý làm hư hỏng,
thất lạc hoặc cố ý lấy các thông tin, nội dung của thư tín, điện báo, telex, fax hoặc
văn bản khác của người khác được truyền đưa bằng mạng bưu chính, viễn
thông’28.
+ Thuật ngữ “tần số vô tuyến điện”
Tần số vô tuyến điện lại không thấy xuất hiện trong Bộ luật Hình sự 2015,
2017, trong khi lại tồn tại ở Luật Xử phạt vi phạm hành chính năm 2012. Nếu như
xác định trong lĩnh vực tần số vô tuyến điện, các chủ thể tham gia lĩnh vực này có
thể bị xử lí nếu có hành vi vi phạm trật tự quản lí hành chính do Nhà nước thiết
24 Khoản 10, Điều 3, Luật Viễn thông
25 Khoản 9, Điều 3, Luật Bưu chính
26 https://vi.wikipedia.org [Ngày truy cập 26/11/2020] .
27 Khoản 1, Điều 3, Luật Bưu chính
28 Bộ luật Hình sự 2015-2017: Điều 159. Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại,
điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác.
345
lập, thì trong bối cảnh hiện nay, các vi phạm liên quan đến tần số vô tuyến điện
cũng cần nâng lên mức xử lí về mặt hình sự. Vì thực tế, các loại tội xâm phạm đến
an ninh quốc phòng, an ninh trật tự xã hội sẽ tận dụng rất nhiều đối với loại công
nghệ này để thực hiện các hành vi phá hoại của mình. Ngay những năm kháng
chiến chống Mĩ cứu nước đã cho thấy đây là một loại công nghệ tinh vi và hiệu
quả đã được đế quốc Mĩ sử dụng để chống lại Nhân dân và Nhà nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa. Ngày nay, dưới sự ảnh hưởng của hội nhập quốc tế, toàn cầu
hóa và CMCN 4.0, các loại công nghệ liên quan đến tần số vô tuyến điện sẽ diễn
ra ngày càng phổ biến nên việc Bộ luật Hình sự hiện hành không đưa vào xử lí đối
với các hành vi này sẽ không đảm bảo hiệu quả điều chỉnh pháp luật.
- Yêu cầu về cách thức xử lí một số quan hệ xã hội phi truyền thống bằng
pháp luật:
Trong thực tế quản lí, Nhà nước đã đặt ra các quy định về chuẩn mực ứng xử
chung và các mức xử lí tương ứng với các hành vi vi phạm theo hướng từ thấp
đến cao. Theo đó, trong các cách thức xử phạt cũng được thiết lập bằng các biện
pháp xử phạt hành chính (vi phạm trật tự quản lí hành chính nhà nước) và các vi
phạm có tính chất tội phạm được xử lí bằng các hình phạt tương ứng. Như vậy,
đối với các hành vi xâm phạm trật tự quản lí hành chính nhà nước sẽ được xác
định là những vi phạm có “ảnh hưởng chưa đến mức phải xử lí bằng hình sự” vì
chưa bị coi là tội phạm nhưng do yêu cầu của quản lí nhà nước vẫn cần phải xử lí.
Nên trước tiên, với các hành vi vi phạm này sẽ phải xử lí nhưng bằng biện pháp
hành chính, sau đó nếu có tái phạm thì mới xử lí về mặt hình sự. Cụ thể, như tại
Điều 321, Bộ luật Hình sự về tội đánh bạc quy định: ‘người nào đánh bạc trái
phép dưới bất kì hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ
5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị
xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322
của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ
luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm…’, trong đó tại Điểm c, Khoản 2,
Điều 321 và Điều 322 đều quy định ‘sử dụng mạng Internet, mạng máy tính,
mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội’ đều quy định ‘đã bị xử phạt vi
phạm hành chính’. Không phải quan hệ xã hội nào cũng phải xử lí tuần tự theo
hướng: xử lí hành chính rồi đến xử lí hình sự, hay chỉ xử lí hành chính mà không
cần xử lí hình sự…, tuy nhiên, đối với một số lĩnh vực có liên quan đến công nghệ
và thành tựu của CMCN 4.0 hiện nay thì cũng nên có các quy định xử lí về mặt
hành chính và nâng lên mức xử lí hình sự nếu có tái phạm. Việc xử lí này là cần
thiết để mang tính chất vừa phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật vừa có các
biện pháp xử lí từ thấp đến cao đối với lĩnh vực liên quan.
2.3. Một số đề xuất nâng cao hiệu quả quản lí nhà nước đối với vi phạm
pháp luật phi truyền thống
- Đối với thuật ngữ “Internet” và “mạng Internet”
346
Cần sửa đổi, bổ sung Luật Xử phạt vi phạm hành chính năm 2012 theo
hướng đưa thuật ngữ “Internet”, “mạng Internet” vào Luật này để làm cơ sở pháp
lí cho việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về xử phạt hành chính của
Chính phủ, các Bộ và cơ quan ngang Bộ.
Luật Công nghệ thông tin năm 2006 cũng cần phải giải thích rõ thuật ngữ
“mạng Internet”, “điểm truy nhập Internet”, “điểm truy nhập Internet công cộng”.
Việc xem xét để sửa đổi, bổ sung hai Luật này là cần thiết để đảm bảo quá
trình thực thi hoạt động quản lí hành chính nhà nước của các cơ quan hành pháp
đạt hiệu quả.
- Đối với thuật ngữ “viễn thông” và “mạng viễn thông”
Sửa đổi, bổ sung Luật Xử phạt vi phạm hành chính năm 2012 theo hướng bổ
sung thuật ngữ “mạng viễn thông”.
- Đối với thuật ngữ “bưu chính”
Sửa đổi, bổ sung giải thích thuật ngữ “bưu chính” trong Luật Bưu chính để
thống nhất cách hiểu về bưu chính.
- Đối với thuật ngữ “tần số vô tuyến điện”
Bổ sung thuật ngữ “tần số vô tuyến điện” trong Bộ luật Hình sự để xử lí các
vi phạm nếu tái phạm sau khi đã bị xử lí về mặt hành chính, đồng thời cần có quy
định hành vi bị coi là phạm tội trong lĩnh vực này để có thể xử lí ngay khi phát
hiện có hành vi vi phạm.
- Trách nhiệm của cơ quan nhà nước
+ Đối với các cơ quan quyền lực nhà nước: Tăng cường hoạt động giám sát
việc thực thi pháp luật của cơ quan hành chính nhằm đảm bảo tính thừa hành
trong phân công, phối hợp thực hiện các quyền theo quy định của Hiến pháp, pháp
luật.
+ Đối với Bộ Tư pháp: Tăng cường rà soát, kiểm tra các văn bản pháp luật để
phát hiện những bất cập trong quy định hiện hành và có giải pháp đề xuất sửa đổi,
bổ sung các văn bản nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động quản lí nói chung
và hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, các cơ quan
thuộc Chính phủ và cơ quan hành chính các cấp thuộc địa phương.
+ Đối với Chính phủ, các cơ quan thuộc Chính phủ: Khi ban hành các văn
bản quy phạm pháp luật theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm
2015 và 2020, cần tuân thủ tuyệt đối nguyên tắc thừa hành. Đảm bảo sự sáng tạo
trong quản lí hành chính nhà nước nhưng trên cơ sở hợp hiến, hợp pháp.
+ Đối với Nhà nước nói chung: Cần tăng cường giao lưu quốc tế, tham gia
các diễn đàn toàn cầu, thúc đẩy hợp tác quốc tế về phòng chống vi phạm pháp luật
công nghệ cao xuyên lục địa.
347
4. KẾT LUẬN
CMCN 4.0 đã và đang làm xuất hiện ngày càng nhiều các quan hệ xã hội mới
thông qua các hành vi và các phương tiện thực hiện hành vi rất mới, chưa có tiền
lệ. Vì vậy, việc ban hành các quy định mới hay sửa đổi các quy định hiện hành để
không ngừng nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp luật đối với các hành vi là cần
thiết, đảm bảo tính kịp thời nhằm thực hiện đầy đủ chức năng quản lí của nhà
nước. Đây là vấn đề mà mọi quốc gia hiện nay đều phải đối diện và cần từng bước
tháo gỡ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Lương Văn Tuấn. Vai trò của Nhà nước trong hoàn thiện hệ thống pháp luật
dưới sự tác động của cách mạng công nghiệp 4.0. Kỉ yếu Hội thảo Khoa học
“Tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 tới hoàn thiện hệ thống pháp luật
Việt Nam”. 2019. Hà Nội: NXB Lao động.
[2] Viện Ngôn ngữ học. Từ điển tiếng Việt. 2002. Hà Nội: NXB Đà Nẵng – Trung
tâm Từ điển học.
[3] Trần Kiên. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và vấn đề cơ chế pháp lí kiểm
soát và điều chỉnh robot. Hội thảo khoa học “Cách mạng 4.0 và những vấn đề
đặt ra đối với việc cải cách pháp luật Việt Nam”. 2018. Khoa Luật – Đại học
Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
[4] Quốc hội Nước CHXHCN. Bộ luật Dân sự Nước CHXHCN Việt Nam. 2015.
[5] Quốc hội Nước CHXHCN. Luật Xử phạt vi phạm hành chính Nước CHXHCN
Việt Nam. 2012.
[6] Quốc hội Nước CHXHCN. Bộ luật Hình sự Nước CHXHCN Việt Nam. 2015,
2017.
[7] Quốc hội Nước CHXHCN. Luật Công nghệ thông tin Nước CHXHCN Việt
Nam. 2006.
[8] Chính phủ Nước CHXHCN. Nghị định số 15/2020/NĐ-CP Quy định xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến
điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử. 2020.
[9] Quốc hội Nước CHXHCN. Luật Viễn thông Nước CHXHCN Việt Nam. 2009.
[10] Quốc hội Nước CHXHCN. Luật Bưu chính Nước CHXHCN Việt Nam. 2010.
[11] Ngô Bá Hùng, Phạm Thế Phi. Giáo trình Mạng máy tính. Truy cập từ
[12] Hồ Đắc Phương. Giáo trình Nhập môn mạng máy tính. 2009. Hà Nội: NXB.
Giáo dục Việt Nam.
348
Bạn đang xem tài liệu "Quan hệ xã hội phi truyền thống thời đại 4.0 và vấn đề pháp luật xử lí các vi phạm có liên quan", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
quan_he_xa_hoi_phi_truyen_thong_thoi_dai_4_0_va_van_de_phap.pdf

