Bồi thường thiệt hại do năng lượng hạt nhân gây ra dưới góc nhìn pháp luật so sánh và khuyến nghị cho Việt Nam
VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 9-19
Review Article
Compensation for Damage Caused
by Nuclear Energy from of Comparative Law
Perspectives and Recommendations for Vietnam
Nguyen Thi Phuong Cham*
VNU School of Law, 144 Xuan Thuy, Cau Giay, Hanoi, Vietnam
Received 9 August 2021
Revised 26 September 2021; Accepted 26 October 2021
Abstract: The peaceful use of nuclear energy plays an important role in the development of
manufacturing industry and becomes an indispensable need. However, along with the development
of science and technology, there are always potential risks of accidents. Therefore, the legal
mechanism in the event of an accident resulting in damage is always set as an indispensable premise
before putting nuclear energy into application. By reviewing compensation for damage caused by
nuclear energy from a comparative legal perspective, this article analyses the legal structure, basic
principles and the mechanism of Vietnamese compensation law damage caused by nuclear energy.
Keywords: Compensation for damage, nuclear energy, comparative law, Vietnamese law.*
________
* Corresponding author.
E-mail address: [email protected]
9
N. T. P. Cham / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 9-19
10
Bồi thường thiệt hại do năng lượng hạt nhân
gây ra dưới góc nhìn pháp luật so sánh
và khuyến nghị cho Việt Nam
Nguyễn Thị Phương Châm*
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam
Nhận ngày 9 tháng 8 năm 2021
Chỉnh sửa ngày 26 tháng 9 năm 2021; Chấp nhận đăng ngày 26 tháng 10 năm 2021
Tóm tắt: Ngày 25/11/2009, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 41/2009/QH12 quyết định chủ
trương đầu tư Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận Dự án này gặp rất nhiều ý kiến trái chiều, phản đối
vì lo ngại trong trường hợp nhà máy điện hạt nhân gặp sự cố thì việc những người dân sống trong
vùng sẽ phải gánh chịu những thảm hoạ khó lường. Tuy vậy, trong quá trình xây dựng đề án và khi
Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư, Dự án này hoàn toàn không đề cập đến vấn đề nguyên tắc,
cơ chế bồi thường thiệt hại cho người bị hại trong trường hợp nhà máy năng lượng hạt nhân gặp sự
cố. Trong bối cảnh này, việc nghiên cứu vấn đề bồi thường thiệt hại do năng lượng hạt nhân gây ra
(BTTH do NLHN) dưới góc nhìn pháp luật so sánh có ý nghĩa quan trọng đối với Việt Nam. Bài
viết này chỉ ra quy định pháp luật hiện hành liên quan thiếu tính khoa học pháp lý cũng như thiếu
tính đồng bộ, thống nhất so với pháp luật của các quốc gia khác cũng như pháp luật quốc tế.
Từ khóa: Bồi thường thiệt hại, năng lượng hạt nhân, pháp luật so sánh, pháp luật Việt Nam.
1. Pháp luật về bồi thường thiệt hại do năng
qua đó thúc đẩy công nghiệp NLHN phát triển.
Bên cạnh đó, vẫn phải đảm bảo đầy đủ cơ chế
pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của người dân trong trường hợp sự cố hạt nhân
xảy ra.
lượng hạt nhân từ góc nhìn lý thuyết*
1.1. Vị trí, mục đích và vai trò của pháp luật
liên quan đến bồi thường thiệt hại do năng
lương hạt nhân
Trong khi đó, ở Châu Âu từ mối quan hệ mật
thiết giữa các quốc gia này trong mọi hoạt động
kinh tế, xã hội,... ngay từ đầu nhu cầu cấp thiết
đặt ra đó là nguyên tắc chung về cơ chế BTTH
do NLHN giữa các quốc gia. Chính vì vậy việc
xây dựng các Công ước quốc tế về trách nghiệm
BTTH do NLHN gây ra với người thứ ba có ý
nghĩa quan trọng và đóng vai trò kim chỉ nam
trong tiến trình lập pháp của quốc gia. Tháng 7
năm 1960 Các quốc gia ở phía tây Châu Âu
(Thành viên của OECD) đã thông qua Công ước
Paris về BTTH do NLHN gây ra đối với người
thứ ba và Công ước có hiệu lực vào tháng 04 năm
Về Luật liên quan đến BTTH do NLHN dưới
góc độ pháp luật so sánh cho thấy Luật được ra
đời đầu tiên tại Mỹ vào nửa cuối thập niên 50 khi
có dịch chuyển sự độc chiếm kỹ thuật công nghệ
từ nhà nước sang dân doanh trong lĩnh vực
NLHN. Do vậy để thúc đẩy doanh nghiệp có kế
hoạch tích cực tham gia, Mỹ thấy rằng cần thiết
phải xây dựng quy chế pháp lý với mục đích
song song cân bằng hai vấn đề cơ bản đó là: giảm
thiểu rủi ro bồi thường với mức quá lớn đối với
doanh nghiệp vận hành NLHN để doanh nghiệp
yên tâm tham gia hoạt động trong lĩnh vực này,
________
* Tác giả liên hệ.
Địa chỉ email: [email protected]
N. T. P. Cham / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 9-19
11
1968. Kéo theo đó quy chế pháp lý về BTTH do
NLHN của một số quốc gia được ra đời trước đó
đã có sự sửa đổi để thống nhất hoá với Công
ước1, và một số nước chưa có Luật quốc gia về
BTTH do NLHN thì xây dựng luật dựa trên
tiêu chuẩn nội dung được quy định tại Công
ước này2. Nhìn chung pháp luật quốc gia
trong lĩnh vực này của các nước Châu Âu tồn
tại với tư cách để thực hiện hoá Công ước
Paris và Công ước bổ sung về BTTH do
NLHN Brussel ra đời năm 1964.
vào thời điểm đó khi mà nhiều quốc gia Tây Âu
sau khi xây dựng pháp luật quốc gia đã có sự sửa
đổi để phù hợp với pháp luật quốc tế, thì Nhật
Bản đã tham gia từ giai đoạn đầu tiên trong việc
soạn thảo Công ước Viên của IAEA nhưng với
lý do BTTH do NLHN Nhật Bản có ít khả năng
xảy ra các vấn đề chung với các quốc gia khác
nên một thời gian dài không tham gia vào các
công ước quốc tế và đây cũng là một trong những
lý do Nhật Bản duy trì chế độ pháp lý về BTTH
do NLHN có nhiều sự khác biệt so với các quốc
gia khác. Trong khi đó, Hàn Quốc thời kỳ đầu có
quy chế pháp lý giống Nhật Bản, nhưng đến năm
2001 Luật của Hàn Quốc sửa đổi do nước này
tham gia vào một số Công ước quốc tế.
Giống như Nhật Bản, các quốc gia, vùng
lãnh thổ xây dựng luật về BTTH do NLHN với
tư cách là luật chuyên ngành trong lĩnh vực
BTTHNHĐ có Hàn Quốc (1969), Đài Loan
(1971), Thụy Sỹ (1983), Ấn Độ (2010). Ngược
lại, các quốc gia xây dựng quy chế pháp lý về
BTTH do năng lượng hạt nhân gây ra với tư cách
là một phần (một chế định) trong “Luật năng
lượng hạt nhân” - Luật liên quan đến toàn bộ các
vấn đề trong lĩnh vực năng lượng hạt nhân như
quy định pháp lý về thể chế cấp phép, quy chế an
toàn... bên cạnh Mỹ (1957), có Anh (1959), Tây
Đức cũ (1959), Thụy Sỹ (1959)3, Nga (1995).
Dù được thiết kế là một đạo luật riêng hay
một chế định thuộc Luật Năng lượng hạt nhân thì
vị trí và vài trò của quy chế pháp lý về BTTH do
NLHN gây ra có thể khẳng định là quy chế pháp
lý đặc thù trong cấu trúc pháp luật BTTHNHĐ
của Luật dân sự.
Một mặt khác Cơ quan nguyên tử Quốc tế
(IAEA) từ năm 1959 tiến hành rất nhiều các Hội
nghị của các nhà chuyên môn và bắt đầu thảo
luận về việc xây dựng tiêu chuẩn thống nhất ở
mức giới hạn tối thiểu trên toàn thế giới về trách
nhiệm BTTH dân sự do NLHN, và đến 5/1963
Công ước Viên được thông qua. Tuy nhiên,
Công ước có quá nhiều thành viên tham gia nên
quá phức tạp do vậy về những điều khoản quan
trọng vẫn đôi khi không được quy định rõ ràng
hoặc là thiếu không đầy đủ (138), với lý do còn
tồn tại nhiều vấn đề liên quan đến giới hạn trách
nhiệm, quyền tài phán của toà án ...mà một số
nước Tây Âu không tham gia, do vậy đến tháng
11 năm 1977 Công ước Viên mới có hiệu lực.
Chế độ BTTH do NLHN ở Nhật Bản bắt đầu
tiến hành thảo luận khi Nhật nhận chuyển giao
kỹ thuật năng lượng nguyên tử hạt nhân từ Mỹ
và kí Hiệp định năng lượng hạt nhân Nhật - Mỹ
với điều khoản miễn trách nhiệm đối với Mỹ.
Nhật Bản nhận thấy rằng về quy chế pháp lý liên
quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng (BTTHNHĐ), quy định tại Điều 709
Bộ luật dân sự Nhật Bản người bị hại sẽ không
thể được bảo vệ quyền và lợi ích một cách đầy
đủ và kịp thời với nguyên tắc chung như trách
nhiệm dựa trên lỗi, tối đa hoá chủ thể chịu trách
nhiệm BTTH, và cơ chế BTTH thông qua tố tụng
tại Toà... Do đó 6/1961, Nhật Bản xây dựng
“Luật liên quan đến BTTH do NLHN” với tư
cách là luật đặc định (pháp luật chuyên ngành)
trong lĩnh vực BTTHNHĐ. Đối với vấn đề chung
1.2. Đặc trưng cơ bản của chế độ pháp lý bồi
thường thiệt hại do năng lượng hạt nhân gây ra
Đặc trưng của chế độ BTTH do NLHN là sự
chuyển hoá, chỉnh sửa chủ nghĩa trách nhiệm
dựa trên lỗi trong pháp luật BTTHNHĐ.
Thứ nhất, nguyên tắc riêng được xây dựng
như : trách nhiệm không dựa trên lỗi [1, 139] và
trách nhiệm tập trung, pháp luật xây dựng cấu
________
3 Sau đó đến năm 1983, Thuỵ Sỹ tách chế định BTTH
1 Anh (1959), Tây Đức cũ (1959), Thuỵ Sỹ (1959), Thuỵ
thành Luật chuyên ngành.
Điển (1960).
2 Italia (1963), Tây Ban Nha (1964), Hà Lan (1965), Pháp
(1965)
N. T. P. Cham / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 9-19
12
trúc trách nhiệm BTTH do NLHN chỉ thuộc về
một chủ thể duy nhất là chủ thể vận hành năng
lượng hạt nhân. Nguyên tắc trách nhiệm tập
trung được xác lập bởi các mục đích sau: Thứ
nhất, đơn giản hoá đặc định chủ thể chịu trách
nhiệm; Thứ hai, ổn định vị trí của doanh nghiệp
cung ứng qua đó bảo vệ và nuôi dưỡng các ngành
nghề công nghiệp; Thứ ba, tránh sự chồng chéo,
phức tạp khi các doanh nghiệp cung ứng phải ký
kết các hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm đối với
cùng một sự cố [2, 11]. Về quyền yêu cầu BTTH
của chủ thể vận hành năng lượng nguyên tử đối
với doanh nghiệp cung ứng sẽ được công nhận
trong trường hợp thiệt hại do NLHN gây ra phát
sinh do sự cố ý của doanh nghiệp cung ứng
(khoản 1 Điều 5 Luật BTTH do NLHN của Nhật
Bản), hoặc sẽ được thực hiện trong trường hợp
giữa doanh nghiệp vận hành năng lượng hạt nhân
và doanh nghiệp cung ứng có thoả thuận trước
đó (khoản 2 Điều trên). Hoặc như ở Ấn Độ công
nhận quyền yêu cầu BTTH đối với doanh nghiệp
cung ứng trong trường hợp có lỗi (Điều 17); Hàn
Quốc thì thêm vào điều kiện cố ý thì trong trường
hợp nếu doanh nghiệp cung cứng có lỗi nặng,
doanh nghiệp vận hành năng lượng hạt nhân
cũng có quyền yêu cầu doanh nghiệp cung ứng
BTTH (khoản 1 Điều 4).
Thứ hai, tuy dựa trên nguyên tắc trách nhiệm
không lỗi nhưng tuỳ vào mục đích của Luật về
BTTH do NLHN mà mỗi nước sẽ xây dựng quy
chế pháp lý khác nhau về miễm trừ trách nhiệm
do doanh nghiệp vận hành NLHN.
Thứ ba, phụ thuộc vào mục đích của từng
quốc gia về Luật BTTH do NLHN gây ra khi cán
cân nghiêng về chức năng bảo vệ người bị hại
hay cán cân nghiêng về thúc đẩy công nghiệp
NLHN phát triển mà xác định tính chất của trách
nhiệm BTTH cho doanh nghiệp vận hành NLHN
là trách nhiệm vô hạn hay trách nhiệm hữu hạn
(giới hạn trách nhiệm).
nhiệm (nếu là trách nhiệm hữu hạn), trong
trường hợp doanh nghiệp vận hành NLHN
không đủ tiềm lực kinh tế thực hiện nghĩa vụ,
trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm phá sản
hoặc được miễn trừ trách nhiệm trong trường
hợp bất khả kháng bất khả kháng,...
Thứ năm, quy chế pháp lý về sự hỗ trợ BTTH
từ nhà nước trong trường hợp nếu công nhận cơ
chế miễn trừ trách nhiệm cho doanh nghiệp vận
hành NLHN.
2. Bồi thường thiệt hại do năng lượng hạt
nhân trong pháp luật một số nước
2.1. Mỹ
Năm 1953 tổng thống thứ 34 Dwight David
Eisenhower đã đề xướng sử dụng hoà bình năng
lượng nguyên tử hạt nhân và năm tiếp theo
(1954) Luật năng lượng nguyên tử được sửa đổi,
theo đó sự phát triển công nghiệp năng lượng
nguyên tử được mở rộng với sự chuyển đổi từ
độc quyền của nhà nước sang dân doanh. Tuy
nhiên, từ phía doanh nghiệp dân doanh trong
trường hợp không may xảy ra sự cố và phát sinh
rủi ro gây thiệt hại cực lớn yêu cầu có cơ chế quy
định của luật giảm thiểu rủi ro cho nhà nước. Với
sự tiếp nhận tư tưởng này, tháng 9 năm 1957
chỉnh sửa lại luật năng lượng nguyên tử 1954,
Luật PA (Price-Anderson Nuclear Industries
Indemnity Act) lấy hai mục đích bảo vệ người bị
hại và phát triển kiện toàn công nghiệp năng
lượng nguyên làm trụ cột là quy chế pháp lý đầu
tiên được ra đời trên thế giới về vấn đề trách
nhiệm BTTH do NLHN [3, 43].
* Các nguyên tắc liên quan đến trách nhiệm
của doanh nghiệp vận hành NLHN có điểm
chung giữa các quốc gia thời kỳ sơ khai là trách
nhiệm không dựa trên lỗi, trách nhiệm tập trung.
Tuy nhiên cả hai nguyên tắc này đều không được
quy định rõ ràng trong Luật PA.
Thứ nhất về nguyên tắc trách nhiệm không
dựa trên lỗi, nguyên nhân bởi trong lĩnh vực pháp
luật BTTHNHĐ quyền hạn xây dựng quy chế
pháp lý thuộc về các bang, do vậy việc Luật PA
- Luật của Liên Bang quy định thống nhất về
nguyên tắc trách nhiệm BTTH là việc không đơn
Thứ tư, để đảm bảo hiệu quả hoá chức năng
của luật là BTTH cho người người bị hại kịp thời
và đầy đủ phải xây dựng quy định về cơ chế thực
hiện BTTH thông qua nghĩa vụ tham gia kí kết
các loại hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm của
doanh nghiệp vận hành NLHN, cũng như cơ chế
BTTH trong trường hợp vượt quá giới hạn trách
N. T. P. Cham / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 9-19
13
giản. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử trong tố tụng
yêu cầu BTTH từ thời kỳ đầu đã chỉ cho thấy,
đối với các doanh nghiệp vận hành NLHN một
ngành nghề tiềm ẩn những rủi ro lớn thì nguyên
tắc áp dụng chuyển từ trách nhiệm dựa trên lỗi
sang trách nhiệm nghiêm ngặt là tiêu chí đoán
định chung. Về điểm này được cho rằng thực tế
không có sự khác nhau so với trách nhiệm không
dựa trên lỗi [4, 34]. Hơn thế nữa, vào năm 1966
cùng với sự sửa đổi luật, đối với trường hợp sự
cố hạt nhân bất thường (Theo Luật PA quy định
Extraordinary Nuclear Occurrence) minh thị hoá
quy định luật thống nhất trên cả nước. Cụ thể,
đối với trường hợp “Sự cố hạt nhân bất thường”
thì Uỷ ban năng lượng nguyên tử - NRC
(Nuclear Regulatory Commission) hoặc Bộ năng
lượng DOE (Department of Energy) có thẩm
quyền quy định điều khoản nhà vận hành NLHN
được bảo hiểm trách nhiệm phải từ bỏ một số
quyền kháng biện đặc định (khoản n Điều 170
Luật PA) và như vậy thì thực chất trách nhiệm
trong trường hợp này là trách nhiệm không dựa
trên lỗi [4 - 5].
Thứ hai về nguyên tắc trách nhiệm tập trung,
Luật PA không có quy định rõ ràng, do vậy trách
nhiệm tập trung của doanh nghiệp vận hành
NLHN của Mỹ được giới học thuật gọi là trách
nhiệm tập trung mang tính kinh tế mà không phải
là trách nhiệm tập trung mang tính pháp lý.
Bởi lý do cho dù Luật PA cũng không có quy
định minh bạch hoá, song trong trường hợp nếu
có tồn tại trách nhiệm của doanh nghiệp khoán
nhận thầu, doanh nghiệp cung ứng thì cơ chế bồi
thường của nhà vận hành năng lương nguyên tử
phải thực hiện nghĩa vụ BTTH bao gồm toàn bộ
mức thiệt hại. Do vậy, trong khi đối với các quốc
gia khác tập trung trách nhiệm cho người vận
hành NLHN theo quy chế pháp lý được luật hoá
trách nhiệm (Legal channeling) thì ở Mỹ cơ chế
tập trung trách nhiệm mang tính kinh tế
(Economic channeling) [3, 45].
có quy định liên quan đến vấn đề trong trường
hợp người vận hành NLHN được miễn trách
nhiệm thì nhà nước sẽ hỗ trợ bồi thường thiệt hại.
* Về cơ chế thực hiện BTTH: Mỹ áp dụng
giới hạn trách nhiệm đối với trách nhiệm của
người vận hành NLHN, thời kỳ đầu mức giới hạn
được xác định trên tổng cộng số tiền bảo hiểm
(khoản b Điều 170), và tiền hỗ trợ từ nhà nước
(khoản c, d, Điều 170), nhưng sau đó từ năm
1960 khi giới kinh doanh công nghiệp năng
lượng có sự cạnh tranh thì giới doanh nghiệp
năng lượng như than đá, dầu thô có sự phản đối
đối với chính sách nâng đỡ thông qua cơ chế hỗ
trợ bồi thường của nhà nước với số tiền quá lớn
cho ngành đặc thù năng lượng nguyên tử [6,
459]. Do vậy, Hỗ trợ bồi thường từ nhà nước đã
dần có xu hướng cắt giảm cũng như loại bỏ hẳn.
Đến năm 1975 khi sửa đổi Luật, áp dụng cơ chế
tương hỗ giữa các doanh nghiệp thay cho cơ chế
nhà nước hỗ trợ BTTH. Và giới hạn trách nhiệm
được xác định trên tổng số tiền từ bảo hiểm trách
nhiệm (Cơ chế bồi thường thứ nhất) và số tiền
trích xuất từ các doanh nghiệp thông qua chế độ
tương hỗ giữa các doanh nghiệp (cơ chế bồi
thường thứ 2) (khoản b, Điều 170).
* Cơ chế hỗ trợ của nhà nước: Đối với những
trường hợp có khả năng vượt quá mức hạn định
bồi thường trên, theo khoản i Điều 170, Tổng
thống trong vòng 90 ngày phải báo cáo, đề xuất
lên Nghị viện kế hoạch bồi thường cụ thể như số
tiền ước tính bồi thường, sự tác động tới ngân
khố nhà nước, thiết lập các quỹ thực hiện BTTH,
phương hướng BTTH... và Nghị viện phải có
những hành động cần thiết, kịp thời , đối với
người bị hại.
2.2. Đức
Tại Đức, năm 1959 với mục đích bảo vệ
người bị hại và phát triển kiện toàn lĩnh vực năng
lượng hạt nhân “Luật liên quan đến sử dụng hoà
bình năng lượng nguyên tử hạt nhân và phòng vệ
sự nguy hiểm” (sau đây gọi là “Luật năng lượng
hạt nhân”(Luật NLHN)) được xây dựng. Trong
đó quy định cơ chế pháp lý về BTTH do NLHN
với những đặc trưng sau:
* Về cơ chế miễn trừ trách nhiệm: Sự cố
năng lượng hạt nhân do thiên tai không phải
được xem là lý do miễn trừ trách nhiệm, nhưng
chiến tranh là nguyên nhân của sự cố NLHN lại
được Luật PA công nhận là lý do miễn trách
nhiệm (khoản w Điều 11). Tuy nhiên, lại không
* Trách nhiệm không lỗi tuyệt đối (không
công nhận cơ chế miễn trừ trách nhiệm)
N. T. P. Cham / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 9-19
14
Theo khoản 3 Điều 25 Luật NLHN công
để sản xuất điện dùng cho công nghiệp” . Như
vậy thông qua sửa đổi Luật 2002 cho thấy, chế
độ BTTH do NLH trong pháp luật Đức có mục
đích chính và chủ yếu là bù đắp thiệt hại người
bị hại để thúc đẩy đảm bảo tính an toàn công
nghiệp NLHN [1, 133].
* Trách nhiệm tập trung chuyển từ tập trung
mang tính kinh tế sang tập trung mang tính luật:
Năm 1960, Đức ký Công ước Paris nhưng về
trách nhiệm BTTH của doanh nghiệp vận hành
NLHN thì Đức thấy rằng thời kỳ đầu chế độ
BTTH do NLHN áp dụng nguyên tắc tập chung
trách nhiệm theo tính chất kinh tế giống với Luật
PA của Mỹ có sự khác biệt so với công ước Paris
nên không phê chuẩn gia nhập Công ước [7,
101].
Nhưng để thống nhất Châu Âu, Đức phê
chuẩn Công ước năm 1975 và Công ước áp dụng
trực tiếp cho nội bộ quốc gia Đức (theo khoản 1
Điều 75 Luật NLHN). Theo đó, nguyên tắc trách
nhiệm tập trung của doanh nghiệp vận hành năng
lượng hạt nhân chuyển từ trách nhiệm tập trung
theo tính chất kinh tế sang tập trung trách nhiệm
mang tính luật hoá dựa trên quy định của Công
ước Paris.
nhận trách nhiệm không dựa trên lỗi mang tính
tuyệt đối và nhất quán không công nhận miễn trừ
trách nhiệm cho doanh nghiệp vận hành năng
lượng hạt nhân từ quan điểm ưu tiên bảo vệ
người bị hại. Do vậy Đức loại bỏ áp dụng Công
ước Paris đối với thiệt hại do năng lượng hạt
nhân gây ra trong trường hợp bất khả kháng như
thiên tai và hành vi chiến tranh. Theo pháp luật
Đức, đối với thiệt hại phát sinh từ sự cố về
NLHN do thiên tai bất thường, bạo động, chiến
tranh thì doanh nghiệp vận hành NLHN vẫn phải
gánh chịu trách nhiệm BTTH [3, 53]. Nhưng
theo Luật của Đức đối với sự cố NLHN do các
hiện tượng trên (bất khả kháng) thì một mặt
doanh nghiệp vận hành năng lượng nguyên tử
gánh chịu trách nhiệm, mặt khác trách nhiệm này
được giới hạn bằng một khoản tiền dựa trên chế
độ “nghĩa vụ miễn trách nhiệm của nhà nước đối
với doanh nghiệp vận hành NLHN” (khoản 1
Điều 31).
* Trách nhiệm BTTH của doanh nghiệp vận
hành NLHN chuyển từ hữu hạn sang vô hạn:
Luật NLHN thời kỳ đầu được xây dựng với
nguyên tắc trách nhiệm hữu hạn cho doanh
nghiệp vận hành năng lượng nguyên tử có sự
tương đồng với pháp luật các quốc gia khác. Tuy
nhiên cùng với sự dịch chuyển của thời đại, Đức
theo đuổi sự phát triển mang tính chất toàn cầu
công nghiệp năng lượng nguyên tử hạt nhân
trong tương quan ngày càng đề cao tính an toàn.
Do vậy đối với quan điểm cho rằng: Giới hạn
trách nhiệm của doanh nghiệp vận hành NLHN
là cần thiết để đảm bảo sự phát triển công nghiệp
NLHN đã được xoá bỏ tại Đức [4, 34]. Với sự
sửa đổi Luật năm 1985 trách nhiệm BTTH của
doanh nghiệp vận hành NLHN chuyển từ trách
nhiệm hữu hạn sang trách nhiệm vô hạn4. Thêm
vào đó, thông qua Luật sửa đổi năm 2002, đã loại
bỏ mục đích của Luật như “Thúc đẩy nghiên cứu,
phát triển, sử dụng hoà bình năng lượng nguyên
tử” và thay vào đó Điều 1 được quy định như
sau: “Đảm bảo sự an toàn trong vận hành hiện tại
cho đến khi bãi bỏ, ngừng việc sử dụng NLHN
* Về cơ chế thực hiện BTTH:
Tại Đức cơ chế này được thiết lập dựa trên
bảo hiểm trách nhiệm và sự bảo đảm mang tính
chất vốn của 4 nhà máy điện lớn.
Bảo hiểm trách nhiệm sẽ được miễn trừ trong
trường hợp bất khả kháng, hoặc trường hợp
doanh nghiệp bảo hiểm phá sản thì rõ ràng bảo
hiểm không thể dùng để BTTH, trong trường
hợp này theo khoản 1 Điều 34 Luật NLHN, nhà
nước sẽ hỗ trợ bồi thường với mức tối đa lên tới
2.500.000.000 EUR.
Đối với thiệt hại vượt quá cơ chế bồi thường,
Luật NLHN không tồn tại quy định liên quan đến
nhà nước hỗ trợ bồi thường. Do vậy, trường hợp
phát sinh thiệt hại vượt quá mức cơ chế bồi
thường dự liệu từ trước, doanh nghiệp vận hành
NLHN là nguyên nhân của sự cố, tuân theo
nguyên tắc trách nhiệm vô hạn phải thực hiện
nghĩa vụ BTTH trên phần vốn sở hữu. Thêm vào
________
4 Trước đó Luật NLHN của Đức giới hạn trách nhiệm cho
doanh nghiệp vận hành NLHN với mức tối đa bồi thường
là 500 triệu Mác Đức.
N. T. P. Cham / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 9-19
15
đó, trong trường hợp nếu dự tính cho thấy số tiền
BTTH vượt quá vốn có khả năng sử dụng thì
những thủ tục cần thiết phải tuân thủ và phân
phối vốn phải tuân theo quy chế được ban hành
của chính phủ, cho dù người bị hại không được
bồi thường hoàn toàn thì việc tiến hành phân bổ
nguồn vốn phải được thực hiện mang tính công
bằng (Điều 35).
hạt nhân không quy định về vai trò hỗ trợ bồi
thường của nhà nước trong trường hợp này.
* Về cơ chế thực hiện bồi thường:
Đối với mức bồi thường trong giới hạn tối
đa sẽ được thực hiện thông qua bảo hiểm trách
nhiệm. Với mức bồi thường trong trường hợp
vượt quá mức tối đa theo Điều 3 Công ước Bổ
sung Brussels sẽ tiến hành bồi thường cho người
bị hại dựa trên số tiền trích xuất của các quốc gia
thành viên và không vượt quá mức 300.000.000
SDR. Song đối với trường hợp thiệt hại vượt quá
mức 300.000.000 SDR, Luật TNDS do NLHN
của Pháp không có quy định điều chỉnh. Trường
hợp nếu dự đoán thấy thiệt hại có thể vượt quá
mức tối đa này, chính phủ trong vòng 6 tháng
quyết định về phương thức phân bổ tổng số vốn
có khả năng sử dụng của doanh nghiệp vận hành
NLHN (Điều 13 Luật TNDS do NLHN).
2.3. Pháp
Tại Pháp, năm 1960 sau khi gia nhập Công
ước Paris tiến hành Luật hoá trong nước và lấy
nội dung các điều khoản của Công ước là tiêu
chuẩn, đến năm 1968 xây dựng “Luật về trách
nhiệm dân sự trong lĩnh vực năng lượng hạt
nhân” (Sau đây gọi là “Luật TNDS do NLHN”)
Pháp là thành viên của Công ước Paris cũng
như Công ước bổ sung Brussels, về quy chế
pháp lý BTTH do NLHN áp dụng trực tiếp quy
chế pháp lý của 2 công ước trên, chỉ những nội
dung nào công ước dành quyền quyết định cho
các nước thành viên thì được quy định tại Luật
TNDS do NLHN [1, 137].
2.4. Nhật Bản
Theo pháp luật Nhật Bản tại Điều 1 Luật
BTTH do NLHN đã nêu rõ mục đích như sau:
“Luật này xây dựng những quy định cơ bản liên
quan đến trách nhiệm BTTH trong trường hợp
phát sinh sự cố thiệt hại do NLHN gây ra trong
quá trình vận hành lò năng lượng hạt nhân
nguyên tử, để hướng tới mục đích nhằm bảo vệ
người bị hại và thúc đẩy sự phát triển kiện toàn
của công nghiệp năng lượng nguyên tử.”. Như
vậy thấy rõ so với các luật khác liên quan đến
BTTH hay hỗ trợ thiệt hại với mục đích chính là
bảo vệ người bi hại thì Luật BTTH do NLHN
gây ra mang một đặc trưng riêng đó là nhấn
mạnh mục đích quan trọng là phát triển kiện toàn
công nghiệp NLHN. Do vậy, nếu không may sự
cố năng lượng hạt sự xảy ra thì minh bạch hoá
việc nhà nước hỗ trợ tích cực đối với trách nhiệm
gánh chịu tổn thất cực lớn sẽ giúp doanh nghiệp
có khả năng dự đoán trước, góp phần thức đẩy
pháp triển kiện toàn có ý nghĩa rất lớn.
* Trách nhiệm dựa trên không lỗi và trách
nhiệm tập trung mang tính luật
Về trách nhiệm của doanh nghiệp vận hành
NLHN trong trường hợp NLHn phát sinh sự cố,
Luật TNDS do NLHN không có quy định cụ thể,
theo Điều 3 Công ước Paris trách nhiệm của
doanh nghiệp là trách nhiệm không dựa trên lỗi
và theo khoản b Điều 6 Công ước Paris trách
nhiệm của doanh nghiệp vận hành NLHN là
trách nhiệm tập trung mang tính luật.
* Trách nhiệm hữu hạn
Theo khoản a Điều 7 Công ước Paris quy
định: Trách nhiệm của doanh nghiệp vận hành
NLHN là trách nhiệm hữu hạn và về giới hạn
trách nhiệm theo khoản b Điều 7 Công ước Paris
chuyển quyền quyết định cho pháp luật quốc gia
quy định, do đó theo Điều 4 Luật của Pháp quy
định mức tối đa doanh nghiệp vận hành năng
lượng nguyên tử chiu đó là 91.500.000 EUR.
* Cơ chế miễn trừ trách nhiệm:
Tiếp đến áp dụng Điều 9 Công ước Paris,
Pháp công nhận miễn trừ trách nhiệm cho doanh
nghiệp vận hành NLHN trong trường hợp thiên
tai và chiến tranh. Tuy nhiên, Luật năng lượng
Trong pháp luật Nhật bản chế độ BTTH do
NLHN gây ra được điều chỉnh bởi hai Đạo luật:
- Luật liên quan đến bồi thường thiệt hại do
nguyên tử gây ra (Gọi tắt là Genbaihou)
- Luật liên quan đến hợp đồng hỗ trợ bồi
thường do NLHN (Luật hợp đồng hỗ trợ -
Hoshokeiyakuhou)
N. T. P. Cham / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 9-19
16
Mục đích chung của cả hai đạo luật trên đó
Điều 3 luật BTTH do NLHN, nhưng khoản 1
Điều 4 luật này đã quy định rõ, ngoài doanh
nghiệp vận hành NLHN không chủ thể nào khác
phải gánh chịu trách nhiệm BTTH, do vậy A là
công ty mẹ không phải là doanh nghiệp vận hành
NLHN. Và điều khoản trách nhiệm tập trung loại
trừ áp dụng cả quy định BTTH trong BLDS.
- Mối quan hệ giữa Luật BTTH do NLHN và
Luật trách nhiệm sản phẩm
là: bảo vệ quyền và lợi ích của người bị hại đồng
thời phát triển kiện toàn công nghiệp NLHN.
Đây được xem là luật chuyên ngành của luật dân
sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng [8, 12].
Đặc trưng của pháp luật về BTTH do NLHN
của Nhật Bản:
* Trách nhiệm BTTH do NLHN là trách
nhiệm không dựa trên lỗi.
Theo Điều 3 Luật BTTH do NLHN, trách
nhiệm bồi thường của người vận hành NLHN là
trách nhệm không dựa trên lỗi, quy chế pháp lý
đặc thù so với quy định tại phần chung
BTTHNHĐ tại BLDS.
Án lệ của Toà phúc thẩm Tokyo ngày 8
tháng 12 năm 2017, trong vụ án này nguyên đơn
yêu cầu 3 công ty chế tạo lò hạt nhân là Hitachi,
Toshiba và GE mỗi công ty phải bồi thường cho
nguyên đơn 100 yên cho thiệt hại về nỗi đau tinh
thần mà nguyên đơn phải gánh chịu trọng sự cố
Fukushima. Nguyên đơn cho rằng khoản 1 điều
4 Luật BTTH do NLHN gây ra vi phạm điều 29
Hiến pháp.
* Trách nhiệm tập trung mang tính luật:
Theo Điều 4 Luật BTTH do NLHN trách
nhiệm được tập trung cho duy nhất người vận
hành NLHN. Đến năm 1994 cùng với sự ra đời
của Luật trách nhiệm sản phẩm với mục đích bảo
vệ thân thể, tính mạng, sức khoẻ và tài sản người
tiêu dùng, tồn tại song song hai quy chế pháp lý
trách nhiệm không dựa trên lỗi trong Luật BTTH
do NLHN và Luật trách nhiệm sản phẩm. Các
nhà làm luật giả sử rằng trong trường hợp đối với
thiệt hại do sự cố NLHN gây ra nếu áp dụng Luật
trách nhiệm sản phẩm, không phải người vận
hành NLHN mà doanh nghiệp chế tạo lò hạt
nhân cũng có trách nhiệm BTTH đối với người
bị hại. Do vậy để khẳng định nguyên tắc trách
nhiệm tập trung đối với trách nhiệm BTTH do
NLHN gây ra, khoản 3 Điều 4 Luật BTTH do
NLHN được sửa đổi trong quá trình xây dựng
Luật trách nhiệm sản phẩm: “Ngay cả đối với
trách nhệm BTTH của nhà sản xuất liên quan đến
thiệt hại do NLHN thì người vận hành NLHN
vẫn phải chịu trách nhiệm”.
- Mối quan hệ giữa Luật BTTH do NLHN và
Quy định BTTH trong BLDS (Điều 709
BLDSNB)
Án lệ của Toà địa phương thành phố Mito
ngày 27 tháng 2 năm 2008 [9, 67].
Người dân bị hại khởi kiện yêu cầu công ty
A là công ty mẹ của công ty của công ty vận hành
NLHN phải BTTH với căn cứ chính là Điều 709
BLDS, và căn cứ phụ là khoản 1 Điều 3 Luật
BTTH do NLHN gây ra. Toà nhận định có thiệt
hại do NLHN gây ra, được quy định tại khoản 1
Toà án chỉ ra rằng cùng với quy định tại
khoản 1 Điều 3 Luật BTTH quy định doanh
nghiệp vận hành năng lượng hạt nhân có nghĩa
vụ BTTH và tại khoản 1 Điều 4 quy định ngoài
doanh nghiệp vận hành BLHN thì không chủ thể
nào phải chịu trách nhiệm BTTH, do vậy loại trừ
việc áp dụng Luật trách nhiệm sản phẩm. Đây là
quy định khẳng định nguyên tắc chế độ trách
nhiệm tập trung, quyền yêu cầu BTTH đối với
thiệt hại do NLHN gây ra bị giới hạn phạm vi
người bị yêu cầu. Qua đó cũng có thể nói phần
nào hạn chế quyền tài sản của người bị hại. Tuy
nhiên, mục đích của Luật BTTH cùng với việc
bảo vệ người bị hại, được lý giải là góp phần phát
triển công nghiệp NLHN do vậy mục đích của
chính sách lập pháp phù hợp với phúc lợi chung
của xã hội, chế độ trách nhiệm tập trung của Luật
BTTH tồn tại song song kết hợp với sự hỗ trợ
của chính phủ và cơ chế BTTH, do vậy quy chế
pháp lý này không thiếu tính hợp lý và cần thiết.
Như vậy, với quy định chung đặc thù trách
nhiệm tập trung loại trừ áp dụng quy định
BTTH theo quy định tại BLDS và Luật trách
nhiệm sản phẩm.
- Mối quan hệ giữa Luật BTTH do NLHN và
Luật BTTH nhà nước
Án lệ của Toà địa phương Maebashi ngày 18
tháng 3 năm 2017 [1], 137 người dân phải lánh
nạn từ Fukushima sang các tỉnh lân cận như
N. T. P. Cham / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 9-19
17
Gunmaken cùng với việc tiến hành yêu cầu công
ty điện lực Tokyo BTTH thì tiến hành yêu cầu
Nhà nước BTTH với lý do Nhà nước không thực
hiện công việc trong quyền hạn đã được quy
định. Và đây là án lệ đầu tiên công nhận trách
nhiệm dựa trên lỗi của nhà nước. Toà án đã nhận
định như sau về mối quan hệ giữa Luật BTTH do
NLHN và Luật Bồi thường nhà nước: “Trong vụ
kiện này, Bị cáo Nhà nước có thể được xem xét
đã vi phạm quy định của pháp luật không thực
hiện công việc quyền hạn được quy định.... Và
Luật BTTH do NLHN không được giải thích là
quy định ngoại lệ với trách nhiệm BTTH của
bị cáo Nhà nước được quy định tại Điều 17
Hiến pháp, do vậy ngay cả khi nói trách nhiệm
của người vận hành là trách nhiệm tập trung
nhưng trách nhiệm BTTH của nhà nước không
được miễn trừ theo quy định tại khoản 1 Điều
4 Luật BTTH do NLHN”.
nên được giải thích là trách nhiệm trong trường
hợp này là trách nhiệm vô hạn [10].
* Cơ chế miễn trừ trách nhiệm:
Trách nhiệm BTTH do NLHN chỉ được miễn
trừ trong trường hợp xã hội loạn lạc do chiến
tranh, nội chiến hoặc thiên tai bất thường (khoản
1 Điều 3 Luật BTTH do NLHN). Và thực tiễn áp
dụng quy định này cho thấy việc nhận định thiên
tai bất thường rất khắt khe, đối với sự cố nhà máy
điện hạt nhân Fukushima 3/2011 do động đất 9
độ richter gây sóng thần cũng được nhận định
không thuộc thiên tai cực lớn bất thường do
trước đó đã từng xảy ra những cơn địa chấn
tương tự hoặc lớn hơn và thiên tai cực lớn bất
thường thuộc trường hợp miễn trừ trách nhiệm
BTTH được giải thích đó là thiên tai mà con
người chưa từng trải qua trong lịch sử [1, 8]. Do
vậy, có thể khẳng định cùng với cơ chế miễn trừ
trách nhiệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối
với một số trường hợp bất khả kháng đặc định
cho thấy mục đích của Luật BTTH do NLHN
hướng tới bảo vệ tối đa lơi ích và quyền lợi của
người bị hại.
* Nghĩa vụ của doanh nghiệp vận hành
NLHN trong cơ chế BTTH và Trách nhiệm
vô hạn.
Chế độ BTTH do NLHN của Nhật Bản với
mục đích đảm bảo thực hiện trách nhiệm BTTH,
theo Điều 6, 7 Luật BTTH do NLHN bắt buộc
việc doanh nghiệp vận hành NLHN tham gia cơ
chế thực hiện BTTH. Cùng với việc phải thực
hiện kí kết hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm
BTTH do NLHN với công ty bảo hiểm dân
doanh, doanh nghiệp vận hành NLHN đồng thời
song song phải kí kết hợp đồng hỗ trợ BTTH do
NLHN với chính phủ. Hợp đồng hỗ trợ BTTH
với chính phủ sẽ bổ sung BTTH trong trường
hợp thiệt hại không được bù đắp thông qua hợp
đồng bảo hiểm trách nhiệm với công ty bảo hiểm
dân doanh. Và trong trường hợp nếu có thiệt hại
xảy ra, mức tối đa bồi thường đối với mỗi trường
hợp trên là 120 tỷ yên Nhật [1] (được gọi là mức
bồi thường theo cơ chế thực hiện bồi thường). Và
theo Điều 16 Luật BTTH do NLHN: Trong
trường hợp nếu phát sinh thiệt hại vượt quá mức
bồi thường theo cơ chế thực hiện BTTH thì nhà
nước sẽ hỗ trợ.
3. Pháp luật Việt Nam về bồi thường thiệt hại
do năng lượng hạt nhân
3.1. Về cấu trúc
Pháp luật liên quan về BTTH do NLHN gây
ra được quy định tại Mục 2 Chương X Luật năng
lượng hạt nhân (Từ Điều 87 đến Điều 91).
3.2. Về nguyên tắc trách nhiệm BTTH do NLHN
Quy định của pháp luật Việt Nam khẳng định
trách nhiệm BTTH trong trường hợp này là trách
nhiệm không dựa trên lỗi nhưng không tồn tại
quy định liên quan đến nguyên tắc trách nhiệm
tập trung. Quy định tại khoản 2 Điều 87 cho
thấy: Pháp luật Việt Nam liên quan chưa có
những nghiên cứu pháp luật so sánh về vấn đề
chủ thể chịu trách nhiệm trong trường hơp
NLHN gây ra. Với quy định như hiện hành sẽ
xảy ra vấn đề tồn tại liên quan đến mối quan
hệ giữa chủ sở hữu và người được chủ sở hữu
giao và sử dụng hợp pháp vật liệu, thiết bị hạt
nhân (người chiếm hữu hợp pháp).
Theo Luật BTTH do NLHN của Nhật Bản
chỉ tồn tại quy định liên quan đến trường hợp
miễn trừ trách nhiệm, không có quy định về mức
tối đa BTTH cho doanh nghiệp vận hành NLHN
N. T. P. Cham / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 9-19
18
Theo quy định tại khoản 2 Điều 88: “Tổng
3.4. Nghĩa vụ kèm theo của cơ chế thực hiện bồi
mức bồi thường thiệt hại đối với mỗi sự cố hạt
nhân xảy ra tại nhà máy điện hạt nhân không
vượt quá một trăm năm mươi triệu SDR, đối với
sự cố xảy ra tại các cơ sở hạt nhân khác và sự cố
do vận chuyển vật liệu hạt nhân không vượt quá
mười triệu SDR”.
Như vậy Pháp luật Việt Nam cho thấy rõ:
Trách nhiệm BTTH trong trường hợp này là
trách nhiệm hữu hạn tuy nhiên cũng tồn tại vấn
đề như sau:
Trường hợp tồn tại nhiều chủ thể chịu trách
nhiệm BTTH (Do pháp luật Việt Nam không
khẳng định nguyên tắc trách nhiệm tập trung) thì
đây là giới hạn đối một chủ thể hay giới hạn trách
nhiệm cho tất cả các chủ thể trong một sự cố
năng lượng hạt nhân.
thường thiệt hại
Hoàn toàn không có quy định nghĩa vụ đối
với chủ thể vận hành NLHN về việc tham gia bảo
hiểm trách nhiệm dân sự với các doanh nghiệp
bảo hiểm, cũng như việc giữa các doanh nghiệp
vận hành phải thực hiện nghĩa vụ xây dựng quỹ
hỗ trợ bồi thường...
3.5. Phạm vi trách nhiệm của doanh nghiệp vận
hành năng lượng nguyên tử và hỗ trợ bồi thường
từ nhà nước
Điều 91 - quy định về Quỹ hỗ trợ khắc phục
thiệt hại hạt nhân - cho thấy rõ các vấn đề sau:
Thứ nhất, đây không phải quy chế pháp lý hỗ
trợ BTTH do NLHN gây ra.
Thứ hai, quỹ được thành lập hoàn toàn dựa
trên sự đóng góp (không phải xuất phát từ nghĩa
vụ) của các cơ sở hạt nhân; tài trợ từ các chủ thể
khác trong xã hội. Như vậy, Quỹ này có thể tồn
tại hoặc không? Và mức tiền quỹ có thể hỗ trợ
hoàn toàn không dự liệu trước trong cơ chế thực
hiện. Do vậy, trong trường hợp chủ thể chịu trách
nhiệm BTTH không có khả năng thực hiện nghĩa
vụ, vượt quá mức giới hạn sẽ không có cơ chế
pháp lý bù đắp thiệt hại cho người bị hại.
Thêm vào đó, pháp luật hiện hành cũng hoàn
toàn thiếu vắng quy chế pháp lý liên quan đến
vấn đề Nhà nước hỗ trợ bồi thường thiệt hại trong
trường hợp sự cố hạt nhân xảy ra.
3.3. Cơ chế miễn trừ trách nhiệm
Pháp luật Việt Nam đưa ra một phạm vi rất
rộng miễn trừ trách nhiệm trong đó bao gồm:
Trường hợp chiến tranh, khủng bố, thảm họa
thiên tai vượt quá giới hạn an toàn của thiết kế
theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, (khoản 2 Điều
87 Luật NLHN 2008).
Về điều khoản miễn trừ liên quan đến Khủng
bố hiện nay dưới góc độ pháp luật so sánh cho
thấy chỉ có duy nhất Ấn độ công nhận. Về Điều
khoản miễn trừ do thảm hoạ thiên tai với quy chế
pháp lý của Việt Nam cho thấy rủi ro người bị
hại không nhận được đền bù thiệt hại là rất lớn,
đưa một điều kiện mang tính khách quan bất khả
kháng thành một điều khoản miễn trừ mang tính
chủ quan. Như vậy, doanh nghiệp vận hành
NLHN chỉ cần kháng biện chứng minh rằng: Nhà
máy năng lượng hạt nhân thiết kế theo quy chuẩn
kỹ thuật Quốc gia với một giới hạn nhất định, thì
trong trường hợp thảm hoạ thiệt tai vượt quá giới
hạn an toàn thì doanh nghiệp vận hành NLHN sẽ
không phải BTTH. Quy định này cho thấy đi
ngược lại với xu thế hiện nay của pháp luật Quốc
tế và pháp luật quốc gia của các nước và chỉ ra
rằng pháp luật Việt Nam không hẳn đã áp dụng
nguyên tắc trách nhiệm không lỗi đối với BTTH
do NLHN (công nhận cơ chế kháng biện cho
nguyên đơn).
4. Kết luận
Pháp luật Việt Nam hiện hành thiếu vắng
nhiều quy chế pháp lý về trách nhiệm BTTH của
các cơ sở hạt nhân trong trường hợp NLHN gây
ra thiệt hại cho chủ thể pháp luật tư. Việc hoàn
thiện pháp luật BTTH do NLHN gây ra là yêu
cầu cấp thiết. Qua nghiên cứu pháp luật so sánh,
bài viết đưa ra một số khuyến nghị cụ thể như
sau: i) khẳng định nguyên tắc trách nhiệm BTTH
do NLHN gây ra là trách nhiệm tuyệt đối (trách
nhiệm không dựa trên lỗi); ii) minh bạch hoá cơ
chế miễn trừ trách nhiệm để tránh mâu thuẫn với
nguyên tắc trách nhiệm tuyệt đối; iii) minh bạch
N. T. P. Cham / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 9-19
19
[3] N. Utatsu, Vấn đề pháp lý trong Bồi thường thiệt
hại do Năng lượng hạt nhân, Nhà xuất bản
Kinzai, 2012.
hoá mối quan hệ trách nhiệm BTTH giữa các chủ
thể như chủ sở hữu, người chiếm hữu, hoàn toàn
có thể áp dụng lý thuyết trách nhiệm tập trung để
đảm bảo được chức năng của pháp luật BTTH đó
là bù đắp thiệt hại đầy đủ, kịp thời; iv) đồng hành
song song cùng nguyên tắc giới hạn trách nhiệm,
nhất thiết phải hoàn thiện cơ chế hỗ trợ thông qua
các quỹ để hiệu quả hoá chức năng của pháp luật
BTTH ngoài hợp đồng.
[4] N. Utatsu, Phát triển Luật năng lượng nguyên tử
hiện đại và Lý luận chung về Luật học, Nhà xuất
bản Nihonhyouron, 2002.
[5] W. P. Keeton, D. B. Dobbs, R. E. Keeton, D. G.
Owen: Prosser and Keeton on the Law of Torts, 5th
Edition , St Paul, MN, West Publishing, 1984.
[6] S. Yamamoto (chủ biên), Toàn tập Luật học hiện
đại 54: Xã hội tương lai và Luật, Nhà xuất bản
Chikumashobo, 1976.
Tài liệu tham khảo
[7] Y. Kanazawa (chủ biên), Kỷ yếu hội thảo: Luật
năng lượng hạt nhân so sánh Nhật Bản và Đức -
Hội thảo lần 1 Pháp luật Đức về năng lượng hạt
nhân,1980.
[8] H. Fujiwara, Thực tiễn Bồi thường thiệt hại do
năng lượng hạt nhân, Nhà xuất bản Hội nghiên cứu
Luật dân sự, 2011.
[1] Viện nghiên cứu năng lượng Nhật Bản, “Báo cáo
nghiên cứu thường niên của nghiên cứu viên năm
2017 về: Chế độ pháp lý và thực trạng về BTTH do
năng lượng hạt nhân gây ra trong pháp luật các
nước” 11/2018.
Truy cập ngày 14/09/2021.
[2] Y. Kanazawa “Về hoạt động liên quan đến các vấn
đề hỗ trợ bồi thường thiệt hại do năng lượng hạt
nhân gây ra của Cơ quan năng lượng hạt nhân quốc
tế” Tạp chí Jurist số 190, 1959.
[9] Tạp chí thời báo án lệ số 2003 (7/2008).
[10] Trung tâm nghiên cứu Bồi thường thiệt hại do năng
lượng hạt nhân và chính sách công của Khoa Luật
Đại học Yokohama biên soạn, Khuynh hướng và
vấn đề về sửa đổi Luật Bồi thường thiệt hại do năng
lượng hạt nhân, Nhà xuất bản Taisei, 2017.
Bạn đang xem tài liệu "Bồi thường thiệt hại do năng lượng hạt nhân gây ra dưới góc nhìn pháp luật so sánh và khuyến nghị cho Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
boi_thuong_thiet_hai_do_nang_luong_hat_nhan_gay_ra_duoi_goc.pdf

