Bồi thường thiệt hại do năng lượng hạt nhân gây ra dưới góc nhìn pháp luật so sánh và khuyến nghị cho Việt Nam

VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 9-19  
Review Article  
Compensation for Damage Caused  
by Nuclear Energy from of Comparative Law  
Perspectives and Recommendations for Vietnam  
Nguyen Thi Phuong Cham*  
VNU School of Law, 144 Xuan Thuy, Cau Giay, Hanoi, Vietnam  
Received 9 August 2021  
Revised 26 September 2021; Accepted 26 October 2021  
Abstract: The peaceful use of nuclear energy plays an important role in the development of  
manufacturing industry and becomes an indispensable need. However, along with the development  
of science and technology, there are always potential risks of accidents. Therefore, the legal  
mechanism in the event of an accident resulting in damage is always set as an indispensable premise  
before putting nuclear energy into application. By reviewing compensation for damage caused by  
nuclear energy from a comparative legal perspective, this article analyses the legal structure, basic  
principles and the mechanism of Vietnamese compensation law damage caused by nuclear energy.  
Keywords: Compensation for damage, nuclear energy, comparative law, Vietnamese law.*  
________  
* Corresponding author.  
E-mail address: [email protected]  
9
N. T. P. Cham / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 9-19  
10  
Bồi thường thiệt hại do năng lượng hạt nhân  
gây ra dưới góc nhìn pháp luật so sánh  
và khuyến nghị cho Việt Nam  
Nguyễn Thị Phương Châm*  
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam  
Nhận ngày 9 tháng 8 năm 2021  
Chỉnh sửa ngày 26 tháng 9 năm 2021; Chấp nhận đăng ngày 26 tháng 10 năm 2021  
Tóm tắt: Ngày 25/11/2009, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 41/2009/QH12 quyết định chủ  
trương đầu tư Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận Dự án này gặp rất nhiều ý kiến trái chiều, phản đối  
vì lo ngại trong trường hợp nhà máy điện hạt nhân gặp sự cố thì việc những người dân sống trong  
vùng sẽ phải gánh chịu những thảm hoạ khó lường. Tuy vậy, trong quá trình xây dựng đề án và khi  
Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư, Dự án này hoàn toàn không đề cập đến vấn đề nguyên tắc,  
cơ chế bồi thường thiệt hại cho người bị hại trong trường hợp nhà máy năng lượng hạt nhân gặp sự  
cố. Trong bối cảnh này, việc nghiên cứu vấn đề bồi thường thiệt hại do năng lượng hạt nhân gây ra  
(BTTH do NLHN) dưới góc nhìn pháp luật so sánh có ý nghĩa quan trọng đối với Việt Nam. Bài  
viết này chỉ ra quy định pháp luật hiện hành liên quan thiếu tính khoa học pháp lý cũng như thiếu  
tính đồng bộ, thống nhất so với pháp luật của các quốc gia khác cũng như pháp luật quốc tế.  
Từ khóa: Bồi thường thiệt hại, năng lượng hạt nhân, pháp luật so sánh, pháp luật Việt Nam.  
1. Pháp luật về bồi thường thiệt hại do năng  
qua đó thúc đẩy công nghiệp NLHN phát triển.  
Bên cạnh đó, vẫn phải đảm bảo đầy đủ cơ chế  
pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp  
của người dân trong trường hợp sự cố hạt nhân  
xảy ra.  
lượng hạt nhân từ góc nhìn lý thuyết*  
1.1. Vị trí, mục đích và vai trò của pháp luật  
liên quan đến bồi thường thiệt hại do năng  
lương hạt nhân  
Trong khi đó, ở Châu Âu từ mối quan hệ mật  
thiết giữa các quốc gia này trong mọi hoạt động  
kinh tế, xã hội,... ngay từ đầu nhu cầu cấp thiết  
đặt ra đó là nguyên tắc chung về cơ chế BTTH  
do NLHN giữa các quốc gia. Chính vì vậy việc  
xây dựng các Công ước quốc tế về trách nghiệm  
BTTH do NLHN gây ra với người thứ ba có ý  
nghĩa quan trọng và đóng vai trò kim chỉ nam  
trong tiến trình lập pháp của quốc gia. Tháng 7  
năm 1960 Các quốc gia ở phía tây Châu Âu  
(Thành viên của OECD) đã thông qua Công ước  
Paris về BTTH do NLHN gây ra đối với người  
thứ ba và Công ước có hiệu lực vào tháng 04 năm  
Về Luật liên quan đến BTTH do NLHN dưới  
góc độ pháp luật so sánh cho thấy Luật được ra  
đời đầu tiên tại Mỹ vào nửa cuối thập niên 50 khi  
có dịch chuyển sự độc chiếm kỹ thuật công nghệ  
từ nhà nước sang dân doanh trong lĩnh vực  
NLHN. Do vậy để thúc đẩy doanh nghiệp có kế  
hoạch tích cực tham gia, Mỹ thấy rằng cần thiết  
phải xây dựng quy chế pháp lý với mục đích  
song song cân bằng hai vấn đề cơ bản đó là: giảm  
thiểu rủi ro bồi thường với mức quá lớn đối với  
doanh nghiệp vận hành NLHN để doanh nghiệp  
yên tâm tham gia hoạt động trong lĩnh vực này,  
________  
* Tác giả liên hệ.  
Địa chỉ email: [email protected]  
N. T. P. Cham / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 9-19  
11  
1968. Kéo theo đó quy chế pháp lý về BTTH do  
NLHN của một số quốc gia được ra đời trước đó  
đã có sự sửa đổi để thống nhất hoá với Công  
ước1, và một số nước chưa có Luật quốc gia về  
BTTH do NLHN thì xây dựng luật dựa trên  
tiêu chuẩn nội dung được quy định tại Công  
ước này2. Nhìn chung pháp luật quốc gia  
trong lĩnh vực này của các nước Châu Âu tồn  
tại với tư cách để thực hiện hoá Công ước  
Paris và Công ước bổ sung về BTTH do  
NLHN Brussel ra đời năm 1964.  
vào thời điểm đó khi mà nhiều quốc gia Tây Âu  
sau khi xây dựng pháp luật quốc gia đã có sự sửa  
đổi để phù hợp với pháp luật quốc tế, thì Nhật  
Bản đã tham gia từ giai đoạn đầu tiên trong việc  
soạn thảo Công ước Viên của IAEA nhưng với  
lý do BTTH do NLHN Nhật Bản có ít khả năng  
xảy ra các vấn đề chung với các quốc gia khác  
nên một thời gian dài không tham gia vào các  
công ước quốc tế và đây cũng là một trong những  
lý do Nhật Bản duy trì chế độ pháp lý về BTTH  
do NLHN có nhiều sự khác biệt so với các quốc  
gia khác. Trong khi đó, Hàn Quốc thời kỳ đầu có  
quy chế pháp lý giống Nhật Bản, nhưng đến năm  
2001 Luật của Hàn Quốc sửa đổi do nước này  
tham gia vào một số Công ước quốc tế.  
Giống như Nhật Bản, các quốc gia, vùng  
lãnh thổ xây dựng luật về BTTH do NLHN với  
tư cách là luật chuyên ngành trong lĩnh vực  
BTTHNHĐ có Hàn Quốc (1969), Đài Loan  
(1971), Thụy Sỹ (1983), Ấn Độ (2010). Ngược  
lại, các quốc gia xây dựng quy chế pháp lý về  
BTTH do năng lượng hạt nhân gây ra với tư cách  
là một phần (một chế định) trong “Luật năng  
lượng hạt nhân” - Luật liên quan đến toàn bộ các  
vấn đề trong lĩnh vực năng lượng hạt nhân như  
quy định pháp lý về thể chế cấp phép, quy chế an  
toàn... bên cạnh Mỹ (1957), có Anh (1959), Tây  
Đức cũ (1959), Thụy Sỹ (1959)3, Nga (1995).  
Dù được thiết kế là một đạo luật riêng hay  
một chế định thuộc Luật Năng lượng hạt nhân thì  
vị trí và vài trò của quy chế pháp lý về BTTH do  
NLHN gây ra có thể khẳng định là quy chế pháp  
lý đặc thù trong cấu trúc pháp luật BTTHNHĐ  
của Luật dân sự.  
Một mặt khác Cơ quan nguyên tử Quốc tế  
(IAEA) từ năm 1959 tiến hành rất nhiều các Hội  
nghị của các nhà chuyên môn và bắt đầu thảo  
luận về việc xây dựng tiêu chuẩn thống nhất ở  
mức giới hạn tối thiểu trên toàn thế giới về trách  
nhiệm BTTH dân sự do NLHN, và đến 5/1963  
Công ước Viên được thông qua. Tuy nhiên,  
Công ước có quá nhiều thành viên tham gia nên  
quá phức tạp do vậy về những điều khoản quan  
trọng vẫn đôi khi không được quy định rõ ràng  
hoặc là thiếu không đầy đủ (138), với lý do còn  
tồn tại nhiều vấn đề liên quan đến giới hạn trách  
nhiệm, quyền tài phán của toà án ...mà một số  
nước Tây Âu không tham gia, do vậy đến tháng  
11 năm 1977 Công ước Viên mới có hiệu lực.  
Chế độ BTTH do NLHN ở Nhật Bản bắt đầu  
tiến hành thảo luận khi Nhật nhận chuyển giao  
kỹ thuật năng lượng nguyên tử hạt nhân từ Mỹ  
và kí Hiệp định năng lượng hạt nhân Nhật - Mỹ  
với điều khoản miễn trách nhiệm đối với Mỹ.  
Nhật Bản nhận thấy rằng về quy chế pháp lý liên  
quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài  
hợp đồng (BTTHNHĐ), quy định tại Điều 709  
Bộ luật dân sự Nhật Bản người bị hại sẽ không  
thể được bảo vệ quyền và lợi ích một cách đầy  
đủ và kịp thời với nguyên tắc chung như trách  
nhiệm dựa trên lỗi, tối đa hoá chủ thể chịu trách  
nhiệm BTTH, và cơ chế BTTH thông qua tố tụng  
tại Toà... Do đó 6/1961, Nhật Bản xây dựng  
“Luật liên quan đến BTTH do NLHN” với tư  
cách là luật đặc định (pháp luật chuyên ngành)  
trong lĩnh vực BTTHNHĐ. Đối với vấn đề chung  
1.2. Đặc trưng cơ bản của chế độ pháp lý bồi  
thường thiệt hại do năng lượng hạt nhân gây ra  
Đặc trưng của chế độ BTTH do NLHN là sự  
chuyển hoá, chỉnh sửa chủ nghĩa trách nhiệm  
dựa trên lỗi trong pháp luật BTTHNHĐ.  
Thứ nhất, nguyên tắc riêng được xây dựng  
như : trách nhiệm không dựa trên lỗi [1, 139] và  
trách nhiệm tập trung, pháp luật xây dựng cấu  
________  
3 Sau đó đến năm 1983, Thuỵ Sỹ tách chế định BTTH  
1 Anh (1959), Tây Đức cũ (1959), Thuỵ Sỹ (1959), Thuỵ  
thành Luật chuyên ngành.  
Điển (1960).  
2 Italia (1963), Tây Ban Nha (1964), Hà Lan (1965), Pháp  
(1965)  
N. T. P. Cham / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 9-19  
12  
trúc trách nhiệm BTTH do NLHN chỉ thuộc về  
một chủ thể duy nhất là chủ thể vận hành năng  
lượng hạt nhân. Nguyên tắc trách nhiệm tập  
trung được xác lập bởi các mục đích sau: Thứ  
nhất, đơn giản hoá đặc định chủ thể chịu trách  
nhiệm; Thứ hai, ổn định vị trí của doanh nghiệp  
cung ứng qua đó bảo vệ và nuôi dưỡng các ngành  
nghề công nghiệp; Thứ ba, tránh sự chồng chéo,  
phức tạp khi các doanh nghiệp cung ứng phải ký  
kết các hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm đối với  
cùng một sự cố [2, 11]. Về quyền yêu cầu BTTH  
của chủ thể vận hành năng lượng nguyên tử đối  
với doanh nghiệp cung ứng sẽ được công nhận  
trong trường hợp thiệt hại do NLHN gây ra phát  
sinh do sự cố ý của doanh nghiệp cung ứng  
(khoản 1 Điều 5 Luật BTTH do NLHN của Nhật  
Bản), hoặc sẽ được thực hiện trong trường hợp  
giữa doanh nghiệp vận hành năng lượng hạt nhân  
và doanh nghiệp cung ứng có thoả thuận trước  
đó (khoản 2 Điều trên). Hoặc như ở Ấn Độ công  
nhận quyền yêu cầu BTTH đối với doanh nghiệp  
cung ứng trong trường hợp có lỗi (Điều 17); Hàn  
Quốc thì thêm vào điều kiện cố ý thì trong trường  
hợp nếu doanh nghiệp cung cứng có lỗi nặng,  
doanh nghiệp vận hành năng lượng hạt nhân  
cũng có quyền yêu cầu doanh nghiệp cung ứng  
BTTH (khoản 1 Điều 4).  
Thứ hai, tuy dựa trên nguyên tắc trách nhiệm  
không lỗi nhưng tuỳ vào mục đích của Luật về  
BTTH do NLHN mà mỗi nước sẽ xây dựng quy  
chế pháp lý khác nhau về miễm trừ trách nhiệm  
do doanh nghiệp vận hành NLHN.  
Thứ ba, phụ thuộc vào mục đích của từng  
quốc gia về Luật BTTH do NLHN gây ra khi cán  
cân nghiêng về chức năng bảo vệ người bị hại  
hay cán cân nghiêng về thúc đẩy công nghiệp  
NLHN phát triển mà xác định tính chất của trách  
nhiệm BTTH cho doanh nghiệp vận hành NLHN  
là trách nhiệm vô hạn hay trách nhiệm hữu hạn  
(giới hạn trách nhiệm).  
nhiệm (nếu là trách nhiệm hữu hạn), trong  
trường hợp doanh nghiệp vận hành NLHN  
không đủ tiềm lực kinh tế thực hiện nghĩa vụ,  
trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm phá sản  
hoặc được miễn trừ trách nhiệm trong trường  
hợp bất khả kháng bất khả kháng,...  
Thứ năm, quy chế pháp lý về sự hỗ trợ BTTH  
từ nhà nước trong trường hợp nếu công nhận cơ  
chế miễn trừ trách nhiệm cho doanh nghiệp vận  
hành NLHN.  
2. Bồi thường thiệt hại do năng lượng hạt  
nhân trong pháp luật một số nước  
2.1. Mỹ  
Năm 1953 tổng thống thứ 34 Dwight David  
Eisenhower đã đề xướng sử dụng hoà bình năng  
lượng nguyên tử hạt nhân và năm tiếp theo  
(1954) Luật năng lượng nguyên tử được sửa đổi,  
theo đó sự phát triển công nghiệp năng lượng  
nguyên tử được mở rộng với sự chuyển đổi từ  
độc quyền của nhà nước sang dân doanh. Tuy  
nhiên, từ phía doanh nghiệp dân doanh trong  
trường hợp không may xảy ra sự cố và phát sinh  
rủi ro gây thiệt hại cực lớn yêu cầu có cơ chế quy  
định của luật giảm thiểu rủi ro cho nhà nước. Với  
sự tiếp nhận tư tưởng này, tháng 9 năm 1957  
chỉnh sửa lại luật năng lượng nguyên tử 1954,  
Luật PA (Price-Anderson Nuclear Industries  
Indemnity Act) lấy hai mục đích bảo vệ người bị  
hại và phát triển kiện toàn công nghiệp năng  
lượng nguyên làm trụ cột là quy chế pháp lý đầu  
tiên được ra đời trên thế giới về vấn đề trách  
nhiệm BTTH do NLHN [3, 43].  
* Các nguyên tắc liên quan đến trách nhiệm  
của doanh nghiệp vận hành NLHN có điểm  
chung giữa các quốc gia thời kỳ sơ khai là trách  
nhiệm không dựa trên lỗi, trách nhiệm tập trung.  
Tuy nhiên cả hai nguyên tắc này đều không được  
quy định rõ ràng trong Luật PA.  
Thứ nhất về nguyên tắc trách nhiệm không  
dựa trên lỗi, nguyên nhân bởi trong lĩnh vực pháp  
luật BTTHNHĐ quyền hạn xây dựng quy chế  
pháp lý thuộc về các bang, do vậy việc Luật PA  
- Luật của Liên Bang quy định thống nhất về  
nguyên tắc trách nhiệm BTTH là việc không đơn  
Thứ tư, để đảm bảo hiệu quả hoá chức năng  
của luật là BTTH cho người người bị hại kịp thời  
và đầy đủ phải xây dựng quy định về cơ chế thực  
hiện BTTH thông qua nghĩa vụ tham gia kí kết  
các loại hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm của  
doanh nghiệp vận hành NLHN, cũng như cơ chế  
BTTH trong trường hợp vượt quá giới hạn trách  
N. T. P. Cham / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 9-19  
13  
giản. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử trong tố tụng  
yêu cầu BTTH từ thời kỳ đầu đã chỉ cho thấy,  
đối với các doanh nghiệp vận hành NLHN một  
ngành nghề tiềm ẩn những rủi ro lớn thì nguyên  
tắc áp dụng chuyển từ trách nhiệm dựa trên lỗi  
sang trách nhiệm nghiêm ngặt là tiêu chí đoán  
định chung. Về điểm này được cho rằng thực tế  
không có sự khác nhau so với trách nhiệm không  
dựa trên lỗi [4, 34]. Hơn thế nữa, vào năm 1966  
cùng với sự sửa đổi luật, đối với trường hợp sự  
cố hạt nhân bất thường (Theo Luật PA quy định  
Extraordinary Nuclear Occurrence) minh thị hoá  
quy định luật thống nhất trên cả nước. Cụ thể,  
đối với trường hợp “Sự cố hạt nhân bất thường”  
thì Uỷ ban năng lượng nguyên tử - NRC  
(Nuclear Regulatory Commission) hoặc Bộ năng  
lượng DOE (Department of Energy) có thẩm  
quyền quy định điều khoản nhà vận hành NLHN  
được bảo hiểm trách nhiệm phải từ bỏ một số  
quyền kháng biện đặc định (khoản n Điều 170  
Luật PA) và như vậy thì thực chất trách nhiệm  
trong trường hợp này là trách nhiệm không dựa  
trên lỗi [4 - 5].  
Thứ hai về nguyên tắc trách nhiệm tập trung,  
Luật PA không có quy định rõ ràng, do vậy trách  
nhiệm tập trung của doanh nghiệp vận hành  
NLHN của Mỹ được giới học thuật gọi là trách  
nhiệm tập trung mang tính kinh tế mà không phải  
là trách nhiệm tập trung mang tính pháp lý.  
Bởi lý do cho dù Luật PA cũng không có quy  
định minh bạch hoá, song trong trường hợp nếu  
có tồn tại trách nhiệm của doanh nghiệp khoán  
nhận thầu, doanh nghiệp cung ứng thì cơ chế bồi  
thường của nhà vận hành năng lương nguyên tử  
phải thực hiện nghĩa vụ BTTH bao gồm toàn bộ  
mức thiệt hại. Do vậy, trong khi đối với các quốc  
gia khác tập trung trách nhiệm cho người vận  
hành NLHN theo quy chế pháp lý được luật hoá  
trách nhiệm (Legal channeling) thì ở Mỹ cơ chế  
tập trung trách nhiệm mang tính kinh tế  
(Economic channeling) [3, 45].  
có quy định liên quan đến vấn đề trong trường  
hợp người vận hành NLHN được miễn trách  
nhiệm thì nhà nước sẽ hỗ trợ bồi thường thiệt hại.  
* Về cơ chế thực hiện BTTH: Mỹ áp dụng  
giới hạn trách nhiệm đối với trách nhiệm của  
người vận hành NLHN, thời kỳ đầu mức giới hạn  
được xác định trên tổng cộng số tiền bảo hiểm  
(khoản b Điều 170), và tiền hỗ trợ từ nhà nước  
(khoản c, d, Điều 170), nhưng sau đó từ năm  
1960 khi giới kinh doanh công nghiệp năng  
lượng có sự cạnh tranh thì giới doanh nghiệp  
năng lượng như than đá, dầu thô có sự phản đối  
đối với chính sách nâng đỡ thông qua cơ chế hỗ  
trợ bồi thường của nhà nước với số tiền quá lớn  
cho ngành đặc thù năng lượng nguyên tử [6,  
459]. Do vậy, Hỗ trợ bồi thường từ nhà nước đã  
dần có xu hướng cắt giảm cũng như loại bỏ hẳn.  
Đến năm 1975 khi sửa đổi Luật, áp dụng cơ chế  
tương hỗ giữa các doanh nghiệp thay cho cơ chế  
nhà nước hỗ trợ BTTH. Và giới hạn trách nhiệm  
được xác định trên tổng số tiền từ bảo hiểm trách  
nhiệm (Cơ chế bồi thường thứ nhất) và số tiền  
trích xuất từ các doanh nghiệp thông qua chế độ  
tương hỗ giữa các doanh nghiệp (cơ chế bồi  
thường thứ 2) (khoản b, Điều 170).  
* Cơ chế hỗ trợ của nhà nước: Đối với những  
trường hợp có khả năng vượt quá mức hạn định  
bồi thường trên, theo khoản i Điều 170, Tổng  
thống trong vòng 90 ngày phải báo cáo, đề xuất  
lên Nghị viện kế hoạch bồi thường cụ thể như số  
tiền ước tính bồi thường, sự tác động tới ngân  
khố nhà nước, thiết lập các quỹ thực hiện BTTH,  
phương hướng BTTH... và Nghị viện phải có  
những hành động cần thiết, kịp thời , đối với  
người bị hại.  
2.2. Đức  
Tại Đức, năm 1959 với mục đích bảo vệ  
người bị hại và phát triển kiện toàn lĩnh vực năng  
lượng hạt nhân “Luật liên quan đến sử dụng hoà  
bình năng lượng nguyên tử hạt nhân và phòng vệ  
sự nguy hiểm” (sau đây gọi là “Luật năng lượng  
hạt nhân”(Luật NLHN)) được xây dựng. Trong  
đó quy định cơ chế pháp lý về BTTH do NLHN  
với những đặc trưng sau:  
* Về cơ chế miễn trừ trách nhiệm: Sự cố  
năng lượng hạt nhân do thiên tai không phải  
được xem là lý do miễn trừ trách nhiệm, nhưng  
chiến tranh là nguyên nhân của sự cố NLHN lại  
được Luật PA công nhận là lý do miễn trách  
nhiệm (khoản w Điều 11). Tuy nhiên, lại không  
* Trách nhiệm không lỗi tuyệt đối (không  
công nhận cơ chế miễn trừ trách nhiệm)  
N. T. P. Cham / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 9-19  
14  
Theo khoản 3 Điều 25 Luật NLHN công  
để sản xuất điện dùng cho công nghiệp” . Như  
vậy thông qua sửa đổi Luật 2002 cho thấy, chế  
độ BTTH do NLH trong pháp luật Đức có mục  
đích chính và chủ yếu là bù đắp thiệt hại người  
bị hại để thúc đẩy đảm bảo tính an toàn công  
nghiệp NLHN [1, 133].  
* Trách nhiệm tập trung chuyển từ tập trung  
mang tính kinh tế sang tập trung mang tính luật:  
Năm 1960, Đức ký Công ước Paris nhưng về  
trách nhiệm BTTH của doanh nghiệp vận hành  
NLHN thì Đức thấy rằng thời kỳ đầu chế độ  
BTTH do NLHN áp dụng nguyên tắc tập chung  
trách nhiệm theo tính chất kinh tế giống với Luật  
PA của Mỹ có sự khác biệt so với công ước Paris  
nên không phê chuẩn gia nhập Công ước [7,  
101].  
Nhưng để thống nhất Châu Âu, Đức phê  
chuẩn Công ước năm 1975 và Công ước áp dụng  
trực tiếp cho nội bộ quốc gia Đức (theo khoản 1  
Điều 75 Luật NLHN). Theo đó, nguyên tắc trách  
nhiệm tập trung của doanh nghiệp vận hành năng  
lượng hạt nhân chuyển từ trách nhiệm tập trung  
theo tính chất kinh tế sang tập trung trách nhiệm  
mang tính luật hoá dựa trên quy định của Công  
ước Paris.  
nhận trách nhiệm không dựa trên lỗi mang tính  
tuyệt đối và nhất quán không công nhận miễn trừ  
trách nhiệm cho doanh nghiệp vận hành năng  
lượng hạt nhân từ quan điểm ưu tiên bảo vệ  
người bị hại. Do vậy Đức loại bỏ áp dụng Công  
ước Paris đối với thiệt hại do năng lượng hạt  
nhân gây ra trong trường hợp bất khả kháng như  
thiên tai và hành vi chiến tranh. Theo pháp luật  
Đức, đối với thiệt hại phát sinh từ sự cố về  
NLHN do thiên tai bất thường, bạo động, chiến  
tranh thì doanh nghiệp vận hành NLHN vẫn phải  
gánh chịu trách nhiệm BTTH [3, 53]. Nhưng  
theo Luật của Đức đối với sự cố NLHN do các  
hiện tượng trên (bất khả kháng) thì một mặt  
doanh nghiệp vận hành năng lượng nguyên tử  
gánh chịu trách nhiệm, mặt khác trách nhiệm này  
được giới hạn bằng một khoản tiền dựa trên chế  
độ “nghĩa vụ miễn trách nhiệm của nhà nước đối  
với doanh nghiệp vận hành NLHN” (khoản 1  
Điều 31).  
* Trách nhiệm BTTH của doanh nghiệp vận  
hành NLHN chuyển từ hữu hạn sang vô hạn:  
Luật NLHN thời kỳ đầu được xây dựng với  
nguyên tắc trách nhiệm hữu hạn cho doanh  
nghiệp vận hành năng lượng nguyên tử có sự  
tương đồng với pháp luật các quốc gia khác. Tuy  
nhiên cùng với sự dịch chuyển của thời đại, Đức  
theo đuổi sự phát triển mang tính chất toàn cầu  
công nghiệp năng lượng nguyên tử hạt nhân  
trong tương quan ngày càng đề cao tính an toàn.  
Do vậy đối với quan điểm cho rằng: Giới hạn  
trách nhiệm của doanh nghiệp vận hành NLHN  
là cần thiết để đảm bảo sự phát triển công nghiệp  
NLHN đã được xoá bỏ tại Đức [4, 34]. Với sự  
sửa đổi Luật năm 1985 trách nhiệm BTTH của  
doanh nghiệp vận hành NLHN chuyển từ trách  
nhiệm hữu hạn sang trách nhiệm vô hạn4. Thêm  
vào đó, thông qua Luật sửa đổi năm 2002, đã loại  
bỏ mục đích của Luật như “Thúc đẩy nghiên cứu,  
phát triển, sử dụng hoà bình năng lượng nguyên  
tử” và thay vào đó Điều 1 được quy định như  
sau: “Đảm bảo sự an toàn trong vận hành hiện tại  
cho đến khi bãi bỏ, ngừng việc sử dụng NLHN  
* Về cơ chế thực hiện BTTH:  
Tại Đức cơ chế này được thiết lập dựa trên  
bảo hiểm trách nhiệm và sự bảo đảm mang tính  
chất vốn của 4 nhà máy điện lớn.  
Bảo hiểm trách nhiệm sẽ được miễn trừ trong  
trường hợp bất khả kháng, hoặc trường hợp  
doanh nghiệp bảo hiểm phá sản thì rõ ràng bảo  
hiểm không thể dùng để BTTH, trong trường  
hợp này theo khoản 1 Điều 34 Luật NLHN, nhà  
nước sẽ hỗ trợ bồi thường với mức tối đa lên tới  
2.500.000.000 EUR.  
Đối với thiệt hại vượt quá cơ chế bồi thường,  
Luật NLHN không tồn tại quy định liên quan đến  
nhà nước hỗ trợ bồi thường. Do vậy, trường hợp  
phát sinh thiệt hại vượt quá mức cơ chế bồi  
thường dự liệu từ trước, doanh nghiệp vận hành  
NLHN là nguyên nhân của sự cố, tuân theo  
nguyên tắc trách nhiệm vô hạn phải thực hiện  
nghĩa vụ BTTH trên phần vốn sở hữu. Thêm vào  
________  
4 Trước đó Luật NLHN của Đức giới hạn trách nhiệm cho  
doanh nghiệp vận hành NLHN với mức tối đa bồi thường  
là 500 triệu Mác Đức.  
N. T. P. Cham / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 9-19  
15  
đó, trong trường hợp nếu dự tính cho thấy số tiền  
BTTH vượt quá vốn có khả năng sử dụng thì  
những thủ tục cần thiết phải tuân thủ và phân  
phối vốn phải tuân theo quy chế được ban hành  
của chính phủ, cho dù người bị hại không được  
bồi thường hoàn toàn thì việc tiến hành phân bổ  
nguồn vốn phải được thực hiện mang tính công  
bằng (Điều 35).  
hạt nhân không quy định về vai trò hỗ trợ bồi  
thường của nhà nước trong trường hợp này.  
* Về cơ chế thực hiện bồi thường:  
Đối với mức bồi thường trong giới hạn tối  
đa sẽ được thực hiện thông qua bảo hiểm trách  
nhiệm. Với mức bồi thường trong trường hợp  
vượt quá mức tối đa theo Điều 3 Công ước Bổ  
sung Brussels sẽ tiến hành bồi thường cho người  
bị hại dựa trên số tiền trích xuất của các quốc gia  
thành viên và không vượt quá mức 300.000.000  
SDR. Song đối với trường hợp thiệt hại vượt quá  
mức 300.000.000 SDR, Luật TNDS do NLHN  
của Pháp không có quy định điều chỉnh. Trường  
hợp nếu dự đoán thấy thiệt hại có thể vượt quá  
mức tối đa này, chính phủ trong vòng 6 tháng  
quyết định về phương thức phân bổ tổng số vốn  
có khả năng sử dụng của doanh nghiệp vận hành  
NLHN (Điều 13 Luật TNDS do NLHN).  
2.3. Pháp  
Tại Pháp, năm 1960 sau khi gia nhập Công  
ước Paris tiến hành Luật hoá trong nước và lấy  
nội dung các điều khoản của Công ước là tiêu  
chuẩn, đến năm 1968 xây dựng “Luật về trách  
nhiệm dân sự trong lĩnh vực năng lượng hạt  
nhân” (Sau đây gọi là “Luật TNDS do NLHN”)  
Pháp là thành viên của Công ước Paris cũng  
như Công ước bổ sung Brussels, về quy chế  
pháp lý BTTH do NLHN áp dụng trực tiếp quy  
chế pháp lý của 2 công ước trên, chỉ những nội  
dung nào công ước dành quyền quyết định cho  
các nước thành viên thì được quy định tại Luật  
TNDS do NLHN [1, 137].  
2.4. Nhật Bản  
Theo pháp luật Nhật Bản tại Điều 1 Luật  
BTTH do NLHN đã nêu rõ mục đích như sau:  
“Luật này xây dựng những quy định cơ bản liên  
quan đến trách nhiệm BTTH trong trường hợp  
phát sinh sự cố thiệt hại do NLHN gây ra trong  
quá trình vận hành lò năng lượng hạt nhân  
nguyên tử, để hướng tới mục đích nhằm bảo vệ  
người bị hại và thúc đẩy sự phát triển kiện toàn  
của công nghiệp năng lượng nguyên tử.”. Như  
vậy thấy rõ so với các luật khác liên quan đến  
BTTH hay hỗ trợ thiệt hại với mục đích chính là  
bảo vệ người bi hại thì Luật BTTH do NLHN  
gây ra mang một đặc trưng riêng đó là nhấn  
mạnh mục đích quan trọng là phát triển kiện toàn  
công nghiệp NLHN. Do vậy, nếu không may sự  
cố năng lượng hạt sự xảy ra thì minh bạch hoá  
việc nhà nước hỗ trợ tích cực đối với trách nhiệm  
gánh chịu tổn thất cực lớn sẽ giúp doanh nghiệp  
có khả năng dự đoán trước, góp phần thức đẩy  
pháp triển kiện toàn có ý nghĩa rất lớn.  
* Trách nhiệm dựa trên không lỗi và trách  
nhiệm tập trung mang tính luật  
Về trách nhiệm của doanh nghiệp vận hành  
NLHN trong trường hợp NLHn phát sinh sự cố,  
Luật TNDS do NLHN không có quy định cụ thể,  
theo Điều 3 Công ước Paris trách nhiệm của  
doanh nghiệp là trách nhiệm không dựa trên lỗi  
và theo khoản b Điều 6 Công ước Paris trách  
nhiệm của doanh nghiệp vận hành NLHN là  
trách nhiệm tập trung mang tính luật.  
* Trách nhiệm hữu hạn  
Theo khoản a Điều 7 Công ước Paris quy  
định: Trách nhiệm của doanh nghiệp vận hành  
NLHN là trách nhiệm hữu hạn và về giới hạn  
trách nhiệm theo khoản b Điều 7 Công ước Paris  
chuyển quyền quyết định cho pháp luật quốc gia  
quy định, do đó theo Điều 4 Luật của Pháp quy  
định mức tối đa doanh nghiệp vận hành năng  
lượng nguyên tử chiu đó là 91.500.000 EUR.  
* Cơ chế miễn trừ trách nhiệm:  
Tiếp đến áp dụng Điều 9 Công ước Paris,  
Pháp công nhận miễn trừ trách nhiệm cho doanh  
nghiệp vận hành NLHN trong trường hợp thiên  
tai và chiến tranh. Tuy nhiên, Luật năng lượng  
Trong pháp luật Nhật bản chế độ BTTH do  
NLHN gây ra được điều chỉnh bởi hai Đạo luật:  
- Luật liên quan đến bồi thường thiệt hại do  
nguyên tử gây ra (Gọi tắt là Genbaihou)  
- Luật liên quan đến hợp đồng hỗ trợ bồi  
thường do NLHN (Luật hợp đồng hỗ trợ -  
Hoshokeiyakuhou)  
N. T. P. Cham / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 9-19  
16  
Mục đích chung của cả hai đạo luật trên đó  
Điều 3 luật BTTH do NLHN, nhưng khoản 1  
Điều 4 luật này đã quy định rõ, ngoài doanh  
nghiệp vận hành NLHN không chủ thể nào khác  
phải gánh chịu trách nhiệm BTTH, do vậy A là  
công ty mẹ không phải là doanh nghiệp vận hành  
NLHN. Và điều khoản trách nhiệm tập trung loại  
trừ áp dụng cả quy định BTTH trong BLDS.  
- Mối quan hệ giữa Luật BTTH do NLHN và  
Luật trách nhiệm sản phẩm  
là: bảo vệ quyền và lợi ích của người bị hại đồng  
thời phát triển kiện toàn công nghiệp NLHN.  
Đây được xem là luật chuyên ngành của luật dân  
sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng [8, 12].  
Đặc trưng của pháp luật về BTTH do NLHN  
của Nhật Bản:  
* Trách nhiệm BTTH do NLHN là trách  
nhiệm không dựa trên lỗi.  
Theo Điều 3 Luật BTTH do NLHN, trách  
nhiệm bồi thường của người vận hành NLHN là  
trách nhệm không dựa trên lỗi, quy chế pháp lý  
đặc thù so với quy định tại phần chung  
BTTHNHĐ tại BLDS.  
Án lệ của Toà phúc thẩm Tokyo ngày 8  
tháng 12 năm 2017, trong vụ án này nguyên đơn  
yêu cầu 3 công ty chế tạo lò hạt nhân là Hitachi,  
Toshiba và GE mỗi công ty phải bồi thường cho  
nguyên đơn 100 yên cho thiệt hại về nỗi đau tinh  
thần mà nguyên đơn phải gánh chịu trọng sự cố  
Fukushima. Nguyên đơn cho rằng khoản 1 điều  
4 Luật BTTH do NLHN gây ra vi phạm điều 29  
Hiến pháp.  
* Trách nhiệm tập trung mang tính luật:  
Theo Điều 4 Luật BTTH do NLHN trách  
nhiệm được tập trung cho duy nhất người vận  
hành NLHN. Đến năm 1994 cùng với sự ra đời  
của Luật trách nhiệm sản phẩm với mục đích bảo  
vệ thân thể, tính mạng, sức khoẻ và tài sản người  
tiêu dùng, tồn tại song song hai quy chế pháp lý  
trách nhiệm không dựa trên lỗi trong Luật BTTH  
do NLHN và Luật trách nhiệm sản phẩm. Các  
nhà làm luật giả sử rằng trong trường hợp đối với  
thiệt hại do sự cố NLHN gây ra nếu áp dụng Luật  
trách nhiệm sản phẩm, không phải người vận  
hành NLHN mà doanh nghiệp chế tạo lò hạt  
nhân cũng có trách nhiệm BTTH đối với người  
bị hại. Do vậy để khẳng định nguyên tắc trách  
nhiệm tập trung đối với trách nhiệm BTTH do  
NLHN gây ra, khoản 3 Điều 4 Luật BTTH do  
NLHN được sửa đổi trong quá trình xây dựng  
Luật trách nhiệm sản phẩm: “Ngay cả đối với  
trách nhệm BTTH của nhà sản xuất liên quan đến  
thiệt hại do NLHN thì người vận hành NLHN  
vẫn phải chịu trách nhiệm”.  
- Mối quan hệ giữa Luật BTTH do NLHN và  
Quy định BTTH trong BLDS (Điều 709  
BLDSNB)  
Án lệ của Toà địa phương thành phố Mito  
ngày 27 tháng 2 năm 2008 [9, 67].  
Người dân bị hại khởi kiện yêu cầu công ty  
A là công ty mẹ của công ty của công ty vận hành  
NLHN phải BTTH với căn cứ chính là Điều 709  
BLDS, và căn cứ phụ là khoản 1 Điều 3 Luật  
BTTH do NLHN gây ra. Toà nhận định có thiệt  
hại do NLHN gây ra, được quy định tại khoản 1  
Toà án chỉ ra rằng cùng với quy định tại  
khoản 1 Điều 3 Luật BTTH quy định doanh  
nghiệp vận hành năng lượng hạt nhân có nghĩa  
vụ BTTH và tại khoản 1 Điều 4 quy định ngoài  
doanh nghiệp vận hành BLHN thì không chủ thể  
nào phải chịu trách nhiệm BTTH, do vậy loại trừ  
việc áp dụng Luật trách nhiệm sản phẩm. Đây là  
quy định khẳng định nguyên tắc chế độ trách  
nhiệm tập trung, quyền yêu cầu BTTH đối với  
thiệt hại do NLHN gây ra bị giới hạn phạm vi  
người bị yêu cầu. Qua đó cũng có thể nói phần  
nào hạn chế quyền tài sản của người bị hại. Tuy  
nhiên, mục đích của Luật BTTH cùng với việc  
bảo vệ người bị hại, được lý giải là góp phần phát  
triển công nghiệp NLHN do vậy mục đích của  
chính sách lập pháp phù hợp với phúc lợi chung  
của xã hội, chế độ trách nhiệm tập trung của Luật  
BTTH tồn tại song song kết hợp với sự hỗ trợ  
của chính phủ và cơ chế BTTH, do vậy quy chế  
pháp lý này không thiếu tính hợp lý và cần thiết.  
Như vậy, với quy định chung đặc thù trách  
nhiệm tập trung loại trừ áp dụng quy định  
BTTH theo quy định tại BLDS và Luật trách  
nhiệm sản phẩm.  
- Mối quan hệ giữa Luật BTTH do NLHN và  
Luật BTTH nhà nước  
Án lệ của Toà địa phương Maebashi ngày 18  
tháng 3 năm 2017 [1], 137 người dân phải lánh  
nạn từ Fukushima sang các tỉnh lân cận như  
N. T. P. Cham / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 9-19  
17  
Gunmaken cùng với việc tiến hành yêu cầu công  
ty điện lực Tokyo BTTH thì tiến hành yêu cầu  
Nhà nước BTTH với lý do Nhà nước không thực  
hiện công việc trong quyền hạn đã được quy  
định. Và đây là án lệ đầu tiên công nhận trách  
nhiệm dựa trên lỗi của nhà nước. Toà án đã nhận  
định như sau về mối quan hệ giữa Luật BTTH do  
NLHN và Luật Bồi thường nhà nước: “Trong vụ  
kiện này, Bị cáo Nhà nước có thể được xem xét  
đã vi phạm quy định của pháp luật không thực  
hiện công việc quyền hạn được quy định.... Và  
Luật BTTH do NLHN không được giải thích là  
quy định ngoại lệ với trách nhiệm BTTH của  
bị cáo Nhà nước được quy định tại Điều 17  
Hiến pháp, do vậy ngay cả khi nói trách nhiệm  
của người vận hành là trách nhiệm tập trung  
nhưng trách nhiệm BTTH của nhà nước không  
được miễn trừ theo quy định tại khoản 1 Điều  
4 Luật BTTH do NLHN”.  
nên được giải thích là trách nhiệm trong trường  
hợp này là trách nhiệm vô hạn [10].  
* Cơ chế miễn trừ trách nhiệm:  
Trách nhiệm BTTH do NLHN chỉ được miễn  
trừ trong trường hợp xã hội loạn lạc do chiến  
tranh, nội chiến hoặc thiên tai bất thường (khoản  
1 Điều 3 Luật BTTH do NLHN). Và thực tiễn áp  
dụng quy định này cho thấy việc nhận định thiên  
tai bất thường rất khắt khe, đối với sự cố nhà máy  
điện hạt nhân Fukushima 3/2011 do động đất 9  
độ richter gây sóng thần cũng được nhận định  
không thuộc thiên tai cực lớn bất thường do  
trước đó đã từng xảy ra những cơn địa chấn  
tương tự hoặc lớn hơn và thiên tai cực lớn bất  
thường thuộc trường hợp miễn trừ trách nhiệm  
BTTH được giải thích đó là thiên tai mà con  
người chưa từng trải qua trong lịch sử [1, 8]. Do  
vậy, có thể khẳng định cùng với cơ chế miễn trừ  
trách nhiệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối  
với một số trường hợp bất khả kháng đặc định  
cho thấy mục đích của Luật BTTH do NLHN  
hướng tới bảo vệ tối đa lơi ích và quyền lợi của  
người bị hại.  
* Nghĩa vụ của doanh nghiệp vận hành  
NLHN trong cơ chế BTTH và Trách nhiệm  
vô hạn.  
Chế độ BTTH do NLHN của Nhật Bản với  
mục đích đảm bảo thực hiện trách nhiệm BTTH,  
theo Điều 6, 7 Luật BTTH do NLHN bắt buộc  
việc doanh nghiệp vận hành NLHN tham gia cơ  
chế thực hiện BTTH. Cùng với việc phải thực  
hiện kí kết hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm  
BTTH do NLHN với công ty bảo hiểm dân  
doanh, doanh nghiệp vận hành NLHN đồng thời  
song song phải kí kết hợp đồng hỗ trợ BTTH do  
NLHN với chính phủ. Hợp đồng hỗ trợ BTTH  
với chính phủ sẽ bổ sung BTTH trong trường  
hợp thiệt hại không được bù đắp thông qua hợp  
đồng bảo hiểm trách nhiệm với công ty bảo hiểm  
dân doanh. Và trong trường hợp nếu có thiệt hại  
xảy ra, mức tối đa bồi thường đối với mỗi trường  
hợp trên là 120 tỷ yên Nhật [1] (được gọi là mức  
bồi thường theo cơ chế thực hiện bồi thường). Và  
theo Điều 16 Luật BTTH do NLHN: Trong  
trường hợp nếu phát sinh thiệt hại vượt quá mức  
bồi thường theo cơ chế thực hiện BTTH thì nhà  
nước sẽ hỗ trợ.  
3. Pháp luật Việt Nam về bồi thường thiệt hại  
do năng lượng hạt nhân  
3.1. Về cấu trúc  
Pháp luật liên quan về BTTH do NLHN gây  
ra được quy định tại Mục 2 Chương X Luật năng  
lượng hạt nhân (Từ Điều 87 đến Điều 91).  
3.2. Về nguyên tắc trách nhiệm BTTH do NLHN  
Quy định của pháp luật Việt Nam khẳng định  
trách nhiệm BTTH trong trường hợp này là trách  
nhiệm không dựa trên lỗi nhưng không tồn tại  
quy định liên quan đến nguyên tắc trách nhiệm  
tập trung. Quy định tại khoản 2 Điều 87 cho  
thấy: Pháp luật Việt Nam liên quan chưa có  
những nghiên cứu pháp luật so sánh về vấn đề  
chủ thể chịu trách nhiệm trong trường hơp  
NLHN gây ra. Với quy định như hiện hành sẽ  
xảy ra vấn đề tồn tại liên quan đến mối quan  
hệ giữa chủ sở hữu và người được chủ sở hữu  
giao và sử dụng hợp pháp vật liệu, thiết bị hạt  
nhân (người chiếm hữu hợp pháp).  
Theo Luật BTTH do NLHN của Nhật Bản  
chỉ tồn tại quy định liên quan đến trường hợp  
miễn trừ trách nhiệm, không có quy định về mức  
tối đa BTTH cho doanh nghiệp vận hành NLHN  
N. T. P. Cham / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 9-19  
18  
Theo quy định tại khoản 2 Điều 88: “Tổng  
3.4. Nghĩa vụ kèm theo của cơ chế thực hiện bồi  
mức bồi thường thiệt hại đối với mỗi sự cố hạt  
nhân xảy ra tại nhà máy điện hạt nhân không  
vượt quá một trăm năm mươi triệu SDR, đối với  
sự cố xảy ra tại các cơ sở hạt nhân khác và sự cố  
do vận chuyển vật liệu hạt nhân không vượt quá  
mười triệu SDR”.  
Như vậy Pháp luật Việt Nam cho thấy rõ:  
Trách nhiệm BTTH trong trường hợp này là  
trách nhiệm hữu hạn tuy nhiên cũng tồn tại vấn  
đề như sau:  
Trường hợp tồn tại nhiều chủ thể chịu trách  
nhiệm BTTH (Do pháp luật Việt Nam không  
khẳng định nguyên tắc trách nhiệm tập trung) thì  
đây là giới hạn đối một chủ thể hay giới hạn trách  
nhiệm cho tất cả các chủ thể trong một sự cố  
năng lượng hạt nhân.  
thường thiệt hại  
Hoàn toàn không có quy định nghĩa vụ đối  
với chủ thể vận hành NLHN về việc tham gia bảo  
hiểm trách nhiệm dân sự với các doanh nghiệp  
bảo hiểm, cũng như việc giữa các doanh nghiệp  
vận hành phải thực hiện nghĩa vụ xây dựng quỹ  
hỗ trợ bồi thường...  
3.5. Phạm vi trách nhiệm của doanh nghiệp vận  
hành năng lượng nguyên tử và hỗ trợ bồi thường  
từ nhà nước  
Điều 91 - quy định về Quỹ hỗ trợ khắc phục  
thiệt hại hạt nhân - cho thấy rõ các vấn đề sau:  
Thứ nhất, đây không phải quy chế pháp lý hỗ  
trợ BTTH do NLHN gây ra.  
Thứ hai, quỹ được thành lập hoàn toàn dựa  
trên sự đóng góp (không phải xuất phát từ nghĩa  
vụ) của các cơ sở hạt nhân; tài trợ từ các chủ thể  
khác trong xã hội. Như vậy, Quỹ này có thể tồn  
tại hoặc không? Và mức tiền quỹ có thể hỗ trợ  
hoàn toàn không dự liệu trước trong cơ chế thực  
hiện. Do vậy, trong trường hợp chủ thể chịu trách  
nhiệm BTTH không có khả năng thực hiện nghĩa  
vụ, vượt quá mức giới hạn sẽ không có cơ chế  
pháp lý bù đắp thiệt hại cho người bị hại.  
Thêm vào đó, pháp luật hiện hành cũng hoàn  
toàn thiếu vắng quy chế pháp lý liên quan đến  
vấn đề Nhà nước hỗ trợ bồi thường thiệt hại trong  
trường hợp sự cố hạt nhân xảy ra.  
3.3. Cơ chế miễn trừ trách nhiệm  
Pháp luật Việt Nam đưa ra một phạm vi rất  
rộng miễn trừ trách nhiệm trong đó bao gồm:  
Trường hợp chiến tranh, khủng bố, thảm họa  
thiên tai vượt quá giới hạn an toàn của thiết kế  
theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, (khoản 2 Điều  
87 Luật NLHN 2008).  
Về điều khoản miễn trừ liên quan đến Khủng  
bố hiện nay dưới góc độ pháp luật so sánh cho  
thấy chỉ có duy nhất Ấn độ công nhận. Về Điều  
khoản miễn trừ do thảm hoạ thiên tai với quy chế  
pháp lý của Việt Nam cho thấy rủi ro người bị  
hại không nhận được đền bù thiệt hại là rất lớn,  
đưa một điều kiện mang tính khách quan bất khả  
kháng thành một điều khoản miễn trừ mang tính  
chủ quan. Như vậy, doanh nghiệp vận hành  
NLHN chỉ cần kháng biện chứng minh rằng: Nhà  
máy năng lượng hạt nhân thiết kế theo quy chuẩn  
kỹ thuật Quốc gia với một giới hạn nhất định, thì  
trong trường hợp thảm hoạ thiệt tai vượt quá giới  
hạn an toàn thì doanh nghiệp vận hành NLHN sẽ  
không phải BTTH. Quy định này cho thấy đi  
ngược lại với xu thế hiện nay của pháp luật Quốc  
tế và pháp luật quốc gia của các nước và chỉ ra  
rằng pháp luật Việt Nam không hẳn đã áp dụng  
nguyên tắc trách nhiệm không lỗi đối với BTTH  
do NLHN (công nhận cơ chế kháng biện cho  
nguyên đơn).  
4. Kết luận  
Pháp luật Việt Nam hiện hành thiếu vắng  
nhiều quy chế pháp lý về trách nhiệm BTTH của  
các cơ sở hạt nhân trong trường hợp NLHN gây  
ra thiệt hại cho chủ thể pháp luật tư. Việc hoàn  
thiện pháp luật BTTH do NLHN gây ra là yêu  
cầu cấp thiết. Qua nghiên cứu pháp luật so sánh,  
bài viết đưa ra một số khuyến nghị cụ thể như  
sau: i) khẳng định nguyên tắc trách nhiệm BTTH  
do NLHN gây ra là trách nhiệm tuyệt đối (trách  
nhiệm không dựa trên lỗi); ii) minh bạch hoá cơ  
chế miễn trừ trách nhiệm để tránh mâu thuẫn với  
nguyên tắc trách nhiệm tuyệt đối; iii) minh bạch  
N. T. P. Cham / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 9-19  
19  
[3] N. Utatsu, Vấn đề pháp lý trong Bồi thường thiệt  
hại do Năng lượng hạt nhân, Nhà xuất bản  
Kinzai, 2012.  
hoá mối quan hệ trách nhiệm BTTH giữa các chủ  
thể như chủ sở hữu, người chiếm hữu, hoàn toàn  
có thể áp dụng lý thuyết trách nhiệm tập trung để  
đảm bảo được chức năng của pháp luật BTTH đó  
là bù đắp thiệt hại đầy đủ, kịp thời; iv) đồng hành  
song song cùng nguyên tắc giới hạn trách nhiệm,  
nhất thiết phải hoàn thiện cơ chế hỗ trợ thông qua  
các quỹ để hiệu quả hoá chức năng của pháp luật  
BTTH ngoài hợp đồng.  
[4] N. Utatsu, Phát triển Luật năng lượng nguyên tử  
hiện đại và Lý luận chung về Luật học, Nhà xuất  
bản Nihonhyouron, 2002.  
[5] W. P. Keeton, D. B. Dobbs, R. E. Keeton, D. G.  
Owen: Prosser and Keeton on the Law of Torts, 5th  
Edition , St Paul, MN, West Publishing, 1984.  
[6] S. Yamamoto (chủ biên), Toàn tập Luật học hiện  
đại 54: Xã hội tương lai và Luật, Nhà xuất bản  
Chikumashobo, 1976.  
Tài liệu tham khảo  
[7] Y. Kanazawa (chủ biên), Kỷ yếu hội thảo: Luật  
năng lượng hạt nhân so sánh Nhật Bản và Đức -  
Hội thảo lần 1 Pháp luật Đức về năng lượng hạt  
nhân,1980.  
[8] H. Fujiwara, Thực tiễn Bồi thường thiệt hại do  
năng lượng hạt nhân, Nhà xuất bản Hội nghiên cứu  
Luật dân sự, 2011.  
[1] Viện nghiên cứu năng lượng Nhật Bản, “Báo cáo  
nghiên cứu thường niên của nghiên cứu viên năm  
2017 về: Chế độ pháp lý và thực trạng về BTTH do  
năng lượng hạt nhân gây ra trong pháp luật các  
nước” 11/2018.  
Truy cập ngày 14/09/2021.  
[2] Y. Kanazawa “Về hoạt động liên quan đến các vấn  
đề hỗ trợ bồi thường thiệt hại do năng lượng hạt  
nhân gây ra của Cơ quan năng lượng hạt nhân quốc  
tế” Tạp chí Jurist số 190, 1959.  
[9] Tạp chí thời báo án lệ số 2003 (7/2008).  
[10] Trung tâm nghiên cứu Bồi thường thiệt hại do năng  
lượng hạt nhân và chính sách công của Khoa Luật  
Đại học Yokohama biên soạn, Khuynh hướng và  
vấn đề về sửa đổi Luật Bồi thường thiệt hại do năng  
lượng hạt nhân, Nhà xuất bản Taisei, 2017.  
pdf 11 trang Thùy Anh 12700 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bồi thường thiệt hại do năng lượng hạt nhân gây ra dưới góc nhìn pháp luật so sánh và khuyến nghị cho Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfboi_thuong_thiet_hai_do_nang_luong_hat_nhan_gay_ra_duoi_goc.pdf