Giáo trình Thực vật dược
Chương 1
ĐẠI CƯƠNG VỀ THỰC VẬT DƯỢC
MỤC TIÊU:
1. Trình bày được vai trò của thực vật đối với thiên nhiên và ngành Dược
2. Trình bày được các phần của thực vật dược và ý nghĩa.
NỘI DUNG
1. Vai trò của thực vật
1.1 Với thiên nhiên và đời sống con người
Thực vật là một bộ phận của sinh giới bao gồm nhiều cơ thể sống khác nhau
nhưng có một đặc tính chung cơ bản là khả năng tự dưỡng của chúng. Đặc điểm này làm
cho thực vật khác với các loài sinh vật khác như động vật, nấm và đa số vi khuẩn. Cũng
chính nhờ có khả năng tự dưỡng mà thực vật có vai trò rất quan trọng trong thiên nhiên
và trong đời sống con người.
Thực vật đóng vai trò quan trọng trong hệ thống sinh giới, chúng vô cùng phong
phú và đa dạng. Ở các môi trường khác nhau thì có các loài thực vật khác nhau sinh
sống. Sự sống của con người được duy trì là phần lớn phụ thuộc vào sự tồn tại của các
loài thực vật. Thực vật có vai trò cung cấp oxy cho sự sống của con người và động vật,
đồng thời chúng cũng hấp thụ carbonic như một máy lọc không khí, tạo môi trường
không khí trong lành.
Mỗi năm, tất cả các cây xanh trên Trái Đất lấy của khí quyển một lượng khí
carbonic rất lớn khoảng 1,3 x 1010 tấn, chiếm 1/5 của toàn bộ lượng carbonic có trong
khí quyển. Như vậy, nếu lượng khí carbonic không được bổ sung thì chỉ sau 50 năm khí
quyển sẽ hết lượng khí cacbonic và quang hợp sẽ bị đình chỉ. Trong thiên nhiên, lượng
khí carbonic luôn luôn được bổ sung bởi sự hô hấp, sự đốt cháy, sự lên men và sự phun
trào của núi lửa. Nhưng nếu khí carbonic đó không bị tiêu thụ trong quang hợp thì chẳng
bao lâu các sinh vật trên Trái Đất sẽ bị thiếu oxy và chết. Nhờ có quang hợp của cây
xanh mà oxy được trả lại cho khí quyển.
Quang hợp của cây xanh còn tạo ra nhiều hợp chất hữu cơ như glucit, lipit và
protein, cung cấp thức ăn cho người, động vật và là nguyên liệu cho công nghiệp. Thực
vật còn cung cấp một số sản phẩm như tinh bột, đường, dầu béo, vitamin, các loại thuốc
chữa bệnh, các nguyên liệu dùng trong công nghiệp như: cao su, nhựa, tanin, sợi, gỗ,
thuốc nhuộm và nhiều vật liệu xây dựng, trang trí...
Ngoài ra, thực vật còn đóng vai trò là sinh vật sản xuất cung cấp thức ăn cho các
loài động vật, là mắc xích quan trọng trong chuỗi và lưới thức ăn, tạo sự cân bằng trong
hệ sinh thái.
1.2 Đối với ngành Dược
Từ xưa loài người đã biết sử dụng các cây cỏ hoang dại để làm thuốc chữa bệnh.
Người Neanderthan cổ ở Irap từ 60.000 năm trước đã biết sử dụng một số cây cỏ để
chữa bệnh như: Cỏ thi(Achillea millefolium), Cúc bạc…Người Ai Cập cách đây 3.600
năm trước đã biết dùng trên 700 cây thuốc: Lô hội(Aloe vera), Gai dầu (Cannabis
sativa)…Trong y học cổ truyền dân tộc ta dùng nhiều vị thuốc có nguồn gốc thực vật
như: ngải cứu, ích mẫu, mã đề, tía tô, kinh giới…
Hiện nay, y học cổ truyền đóng vai trò to lớn trong chăm sóc sức khỏe, phòng
chữa bệnh, đặc biệt là các nước nghèo, đang phát triển và có truyền thống sử dụng cây
cỏ làm thuốc.
1
Thực vật học giúp ta xác định tên cây, nghiên cứu cấu tạo, kiểm tra chất lượng
của các nguyên liệu làm thuốc có nguồn gốc từ thực vật. Từ đó có kế hoạch trồng trọt,
di thực và khai thác các cây dùng làm thuốc chữa bệnh và xuất khẩu.
Như vậy, thực vật đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự sống của mọi sinh
vật và hoạt động kinh tế của loài người nên chúng ta phải có trách nhiệm tích cực bảo
vệ thiên nhiên nói chung và cây xanh nói riêng để đảm bảo cân bằng sinh thái môi
trường.
2. Các phần của thực vật dược
Hình thái học thực vật: chuyên nghiên cứu về hình dạng bên ngoài của các cây
để phân biệt được cây thuốc hoặc các dược liệu chưa chế biến, nó cũng là cơ sở cho môn
Hệ thống học thực vật.
Giải phẫu học thực vật: chuyên nghiên cứu cấu tạo vi học bên trong của cây để
kiểm nghiệm được các vị thuốc đã cắt vụn hoặc tán thành bột phát hiện ra sự nhầm lẫn
hoặc giả mạo
Hai môn cơ sở của giải phẫu học thực vật là Tế bào học thực vật nghiên cứu về
các tế bào và Mô học thực vật nghiên cứu về các mô thực vật.
Sinh lý học thực vật: chuyên nghiên cứu các quá trình hoạt động sinh trưởng của
cây và sự tạo thành các hoạt chất trong cây thuốc; qua đó biết cách trồng, thời vụ thu hái
khi bộ phận dùng làm thuốc của cây chứa nhiều hoạt chất nhất để tăng hiệu quả chữa
bệnh.
Hệ thống học thực vật: chuyên nghiên cứu về cách sắp xếp các thực vật thành
từng nhóm dựa vào hệ thống tiến hóa của thực vật nên dễ nhớ đặc điểm của các cây,
phương hướng nghiên cứu cây thuốc và biết được sự tiến hóa chung của thực vật.
Sinh thái học thực vật: chuyên nghiên cứu quan hệ giữa thực vật với các yếu tố
của môi trường xung quanh. Mỗi cây có hình dạng và cấu trúc thích nghi với hoàn cảnh
như thổ nhưỡng, khí hậu, độ ẩm, nhiệt độ, ánh sáng…để trồng và di thực cây thuốc.
Địa lý học thực vật: chuyên nghiên cứu về sự phân bố thực vật trên trái đất và
thành phần của đất đáp ứng cho từng loại cây thuốc.
Ngoài ra còn một số phần khác như : Cổ sinh thực vật, Phôi sinh học thực vật, Di
truyền học, Phấn hoa học,…để áp dụng vào ngành Dược.
3. Quan hệ của môn học thực vật với các môn học khác
Để có nguồn dược liệu làm thuốc, ngoài cách thu hái bền vững từ tự nhiên còn
cần phải trồng trọt chúng. Muốn vậy phải hiểu biết về nơi sống, đặc điểm sinh lý, điều
kiện sinh thái, cách trồng trọt, thu hái sơ chế, bảo quản. Các hoạt động này liên quan
đến môn học ngành nông, lâm nghiệp.
Do đối tượng phục vụ là con người, dược liệu làm thuốc cần đạt các tiêu chuẩn
khắt khe về thành phần, hàm lượng. Điều này liên quan đến môn Dược liệu học, Hóa
thực vật, Phân tích.
Mỗi cây thuốc hiển nhiên cần biết bộ phận dùng, tác dụng, cách dùng, liều dùng
nhằm mang lại hiệu quả điều trị và chăm sóc sức khỏe cao nhất. Nội dung này liên quan
đến các môn: Dược lí học, Thực vật dân tộc, Dược liệu học, Dược cổ truyền.
Do là một tài nguyên đặc biệt, việc bảo tồn và phát triển cây thuốc liên quan đến
các lĩnh vực quản lí, kinh tế, xã hội và nhân văn, cần sự hỗ trợ của các ngành, các nhà
khoa học như: Quản lí, Kinh tế tài nguyên, Xã hội học, Dân tộc học…
2
LƯỢNG GIÁ
Trả lời các câu sau bằng cách điền từ, cụm từ thích hợp vào chỗ trống (…):
1. Thực vật dược là một ..... bao gồm nhiều cơ thể sống khác nhau nhưng có một đặc
tính chung cơ bản là khả năng tự dưỡng của chúng.
2. Thực vật học giúp ta ...... của các nguyên liệu làm thuốc có nguồn gốc từ thực vật.
A. ...................
B. ..................
C. ..................
Phân biệt đúng sai các câu sau bằng cách đánh dấu vào chữ A (cho câu đúng) và
chữ B (cho câu sai):
1. Từ xưa loài người đã biết sử dụng các cây cỏ hoang dại để làm thuốc
A – B
chữa bệnh.
A – B
A – B
A - B
2. Mỗi năm cây xanh trên trái đất lấy một lượng khí carbonic chiếm 1/5
lượng khí carbonic trong khí quyển.
3. Sinh thái học thực vật chuyên nghiên cứu về sự phân bố thực vật trên
trái đất.
4. Hệ thống thực vật học chuyên nghiên cứu các quá trình hoạt động, sinh
trưởng của cây.
Chọn giải pháp đúng nhất cho các câu sau bằng cách đánh dấu vào đầu giải pháp
mà bạn lựa chọn:
1. Địa lý học thực vật chuyên nghiên cứu về:
A. Sự phân bố thực vật trên trái đất
B. Quá trình hoạt động sinh trưởng của cây
C. Quan hệ của thực vật với các yếu tố của môi trường xung quanh
D. Cách sắp xếp các thực vật thành từng nhóm
2. Thực vật có vai trò cung cấp:
A. Oxy
B. Carbonic
C. Nước
D. Không khí
3. Thực vật học giúp chúng ta xác định:
A. Tên cây, sự sinh trưởng, kiểm tra chất lượng
B. Tên cây, nghiên cứu cấu tạo, phân loại
C. Tên cây, phân loại, kiểm tra chất lượng
D.
Tên cây, nghiên cứu cấu tạo, kiểm tra chất lượng
4. Hình thái học của thực vật chuyên nghiên cứu về:
A. Hình dạng bên trong của của các cây
B. Hình dạng bên ngoài của của các cây
C. Quá trình hoạt động sinh trưởng của cây
D. Sự phân bố thực vật trên trái đất
5. Giải phẫu học thực vật chuyên nghiên cứu về:
A. Quá trình hoạt động sinh trưởng của cây
3
B. Cách sắp xếp các thực vật thành từng nhóm
C. Cấu tạo vi học bên trong của cây
D. Hình dạng bên ngoài của cây
6. Sinh lý học thực vật chuyên nghiên cứu:
A. Cách sắp xếp các thực vật thành từng nhóm
B. Sự phân bố thực vật trên trái đất
C. Cấu tạo vi học bên trong của cây
D. Quá trình hoạt động sinh trưởng của cây
7. Hệ thống học thực vật chuyên nghiên cứu về:
A. Cách sắp xếp các thực vật thành từng nhóm
B. Hình dạng bên ngoài của cây
C. Quá trình hoạt động sinh trưởng của cây
D. Sự phân bố thực vật trên trái đất
8. Sinh thái học thực vật chuyên nghiên cứu về:
A Quá trình hoạt động sinh trưởng của cây
B. Cấu tạo bên ngoài vi học bên trong của cây
C. Quan hệ của thực vật với các yếu tố của môi trường xung quanh
D. Hình dạng bên ngoài của cây
Trả lời các câu hỏi sau:
1. Trình bày vai trò của thực vật đối với thiên nhiên và đời sống con người.
2. Trình bày vai trò của thực vật đối với ngành Dược.
3. Trình bày được các phần của thực vật dược.
4. Trình bày được mối quan hệ của môn thực vật dược với các môn học khác.
4
Chương 2
TẾ BÀO VÀ MÔ THỰC VẬT
MỤC TIÊU
1.Trình bày được hình dạng, kích thước, các phần và vẽ được sơ đồ cấu tạo của
một tế bào thực vật
2.Trình bày được khái niệm và phân loại được mô thực vật (đặc điểm chính, chức
năng và hình thái của các loại mô thực vật).
NỘI DUNG:
1. TẾ BÀO THỰC VẬT
Tế bào thực vật là đơn vị cấu tạo giải phẫu sinh lý cơ bản của các cơ thể thực
vật.
1.1. Số lượng, hình dạng, kích thước tế bào thực vật
1.1.1 Số lượng
Cơ thể thực vật có khi chỉ cấu tạo bởi một tế bào gọi là cơ thể đơn bào (tảo cầu,
men bia..). Nhưng thông thường cơ thể thực vật cấu tạo bởi nhiều tế bào gọi là cơ thể đa
bào (trong 1 lá cây có gần 20 triệu tế bào). Một vài trường hợp như tảo không đốt
(Vaucheria spp), nấm mốc (Mucor) có cấu tạo cộng bào (cơ thể gồm nhiều tế bào thông
nhau, không phân biệt vách ngăn giữa chúng).
1.1.2 Hình dáng
Các tế bào thực vật có hình dạng rất khác nhau tùy thuộc vào từng loài và từng mô
thực vật. Ví dụ: rong tiểu cầu (Chlorella sp.) có tế bào hình cầu, tế bào men bia hình
trứng, tế bào ruột có hình bấc hình ngôi sao; còn đa số tế bào có hình khối nhiều mặt,
hình thoi, hình chữ nhật…
Hình 7.1 Một vài dạng tế
bào thực vật
a. Tảo tiểu cầu
b. Tảo Chlamydomonas;
c. Một vài dạng tế bào ở
các mô thực vật bậc cao
1.1.3. Kích thước
Kích thước các tế bào thực vật biến đổi rất nhiều ở các loại mô cũng như các loài
thực vật khác nhau. Đa số tế bào có kích thước hiển vi, mắt thường không nhìn thấy
được, trừ một số tế bào rất lớn mắt thường trông thấy dễ dàng như: tép bưởi, sợi
đay…Kích thước trung bình vủa tế bào mô phân sinh thực vật cao là 10-30μm (vi khuẩn
vào khoảng vài μm, đối với virus thì kính hiển vi quang học cực mạnh cũng không phân
biệt được.
5
1.2. Cấu tạo của tế bào thực vật
Trên kính hiển vi quang học và điện tử đã xác định rằng tế bào thực vật cũng như
tế bào động vật, trong đa số trường hợp đều có cấu trúc rõ rệt, có nghĩa là luôn được cấu
tạo nên từ một số thành phần.
Hình 7.2. Sơ đồ cấu tạo tế bào thực vật - Cấu tạo nhân
1.2.1 Thể nguyên sinh (chất nguyên sinh):
Đây là phần nội dung của tế bào trừ nhân, được bao quanh bởi vách tế bào, thành
phần gồm: chất tế bào, các thể sống nhỏ (thể tơ, thể ribo, thể golgi, thể lạp), thể vùi (tinh
thể, dầu, alơron, tinh bột) và không bào.
1.2.1.1 Chất tế bào : là thành phần cơ bản của một tế bào, thành phần bắt buộc, tại đây
xảy ra những quá trình tiêu biểu cho hoạt động sống của tế bào. Bao gồm hệ thống màng:
màng chất nguyên sinh (màng ngoài), màng không bào (màng trong), hệ thống lưới nội
chất, các sợi liên bào và một hỗn hợp chất nền không có cấu trúc hằng định.
a. Tính chất vật lý của chất tế bào
Chất tế bào là một khối chất quánh, nhớt, có tính đàn hồi, trong suốt không màu
trông giống như lòng trắng trứng. Chất tế bào không tan trong nước, khi gặp nhiệt độ
50-60°C chúng mất khả năng sống (trừ chất tế bào ở hạt khô, quả khô có thể chịu được
tới 80-105°C).
Trạng thái keo của chất tế bào được cấu tạo bởi những phân tử nhỏ gọi là mixen
keo. Các mixen mang điện tích cùng dấu sẽ đẩy nhau và gây chuyển động hỗn loạn
(chuyển động Brown). Các mixen này không tan trong nước thành dung dịch thật mà
chúng phân tán tạo thành dung dịch giả.
b) Thành phần hóa học của chất tế bào
Thành phần hóa học của chất tế bào rất phức tạp và không ổn định. Các nguyên
tố chính là C,H,N,O và một số thành phần vi lượng như: P, Co, Mg, K, Na, Cl, Fe, Zn,
Al…Phần lớn các thành phần là sản phẩm của quá trình trao đổi (dự trữ, bài tiết..) mà
không phải là chất sống. Các chất chính tham gia thành phần của chất tế bào là Protid,
Lipid, glucid, nước .
Nước: Chiếm khoảng 80% khối lượng chất tế bào. Nước cần thiết cho 2 quá trình
thủy phân và oxy hóa thường xuyên xảy ra trong tế bào.
Có 2 dạng nước: Nước liên kết bao quanh các phân tử keo, duy trì độ bền của keo
chất tế bào, không đóng vai trò dung môi; Nước tự do là môi trường thực hiện mọi quá
trình sinh hóa trong tế bào, chiếm phần lớn khối lượng nước trong tế bào.
6
Protein: Chiếm 1 tỉ lệ không lớn nhưng đóng vai trò rất quan trọng. Protein là
chất cơ bản của quá trình sống . Có 2 loại protein: protein đơn giản va protein phức tạp.
- Protein đơn giản: Bao gồm các nguyên tố C, H, O, N, đôi khi có thêm cả S và
P. Các axit amin trong protein đơn giản không sắp xếp trên mặt phẳng ngang mà nằm
trong không gian 3 chiều, có dạng bện xoắn. Trong thiên nhiên, người ta đã biết hơn 80
loại acid amin, nhưng trong các protein thực vật thường gặp khoảng 20 – 22 loại.
- Protein phức tạp: gồm phần protein (acid amin) và phần không phải protein
(lipid, glucid…). Protein phức tạp đó là các lipoprotein, glucoprotein, nucleoprotein,
photphoprotein. Trong đó nucleoprotein là quan trọng nhất đối với sự sống của tế bào
và của cả cơ thể sinh vật vì các acid nucleic (AND, ARN) mang hệ thống thông tin di
truyền đặc trưng cho từng loài, từng cá thể.
Lipid: Là những este của glyxerin, chiếm hơn 20% khối lượng khô của chất tế
bào. Lipit không phải là chất sống mà là sản phẩm của sự trao đổi chất, chủ yếu ở trong
các chất dự trữ như các giọt dầu mỡ. Trong chất tế bào, lipid có thể kết hợp với protein
tạo thành chất lipo-protein có trong ty thể. Ngoài ra, lipid còn gặp trong màng sinh chất
và màng nhân.
Glucid: Chiếm 4 – 6% khối lượng chất khô của tế bào, gồm những đường đơn
giản như glucozơ, ribozơ…và những đường phức tạp như tinh bột, saccarozơ,
xenlulozơ…Các monosaccarit có vai trò quan trọng trong sự trao đổi chất của tế bào, đó
là những chất hữu cơ đầu tiên được hình thành trong tế bào.
c. Cấu trúc và siêu cấu trúc
Nhờ kính hiển vi điện tử, ta đã phân biệt được các lớp riêng biệt của chất tế bào.
Chúng được ngăn cách bởi các lớp màng.
-Màng chất nguyên sinh : nằm ngay sát vách tế bào, có tính thấm phân biệt vào
và vận chuyển tích cực các chất, thậm chí ngược gradien nồng độ.
- Màng không bào: là những phần chất nguyên sinh bao quanh các không bào.
Chất tế bào là một chất sống cho nên nó có đầy đủ mọi hiện tượng đặc trưng của sự
sống như dinh dưỡng, hô hấp, tăng trưởng, vận động….
1.2.1.2 Các thể sống nhỏ:
- Thể tơ (ty thể - mitochondrin) là các thành tố hằng định của các thể nguyên
sinh, là những tổ chức rất nhỏ bé chỉ gặp ở những tế bào nhân thực (Eucaryota), còn
những tế bào tiền nhân (Procaryota) thì không có tổ chức năng này. Thể tơ có hình dạng
rất biến thiên như hình hạt, hình sợi hay hình chuỗi hạt, dài khoảng 30μm và đường kính
khoảng 0,1- 1,5 μm. Số lượng trong tế bào khoảng 800- 50.000, chiếm 18% khối lượng
tế bào. Chúng sinh sản bằng phân đôi hay nảy chồi và chỉ tồn tại được 8 ngày.
Thể tơ chứa các enzym oxy hóa chính và tham gia vào các phản ứng của chu
trình Kreb. Nhờ các enzym, thể tơ được coi là trung tâm hô hấp và “nhà máy” năng
lượng của tế bào. Quá trình sinh lý đặc biệt này xảy ra nhờ sự hấp thu oxy, giải phóng
CO2 và nước cùng với những năng lượng cần thiết cho hoạt động sống của tế bào.
- Thể lạp là những thể của thể nguyên sinh được giới hạn rõ ràng, có cấu trúc và
chức năng đặc biệt, chỉ có ở các tế bào thực vật có diệp lục, tế bào động vật không có
bộ phận tương thích. Tùy theo bản chất các chất màu, người ta phân thể lạp ra làm 3
loại:
+ Lạp lục: có màu xanh lục, có nhiều trong mô quang hợp chính là phần thịt lá,
có vai trò đồng hóa ở cây xanh và tảo. Lạp lục có kích thước rất nhỏ 4-10μm. Mỗi lạp
lục đều được bao bọc bởi một màng kép gồm hai lớp màng cách nhau một khoảng rỗng.
Trên màng trong có nhiều hạt xếp chồng nhau, các hạt này tập trung chất diệp lục. Ở
thực vật bậc cao, lạp lục có dạng hình cầu, hình bầu dục, hình thấu kính hay hình thoi.
7
Ở tảo, lạp lục dưới dạng khác nhau gọi là thể sắc; các thể sắc này có thể là hình xoắn
như ở tảo xoắn (Spirogyra sp.) hình ngôi sao như ở tảo sao (Zygnema sp.) …
+ Lạp màu: là thể lạp có màu vàng, da cam, đỏ, tím…tạo ra cho cánh hoa, quả, lá,
rễ cây những màu sắc khác màu xanh của diệp lục. Lạp màu có hình dạng rất khác nhau
như hình cầu, hình thoi, hình kim, hình dấu phẩy hay hình khối nhiều mặt…Chức năng
chính của lạp màu là quyến rũ sâu bọ để thực hiện sự thụ phấn cho hoa và lôi cuốn các
loài chim thực hiện sự phát tán quả và hạt.
+ Lạp không màu: là thể lạp nhỏ không có màu và thường gặp ở những cơ quan
không màu của thực vật bậc cao như mô phôi ngọn rễ, ngọn thân, nội nhũ hạt, cánh hoa
màu trắng, củ. Lạp không màu có dạng hình cầu, hình bầu dục, hình tròn, hình thoi hay
hình que…Lạp không màu là nơi đúc tạo tinh bột vì các glucid hòa tan trong chất tế bào
thường kéo đến lạp không màu rồi tích lũy dưới dạng tinh bột. Ngoài ra một số ý kiến
cho rằng lạp không màu có khả năng tạo mỡ, protid. Lạp không màu có thể chuyển thành
lục lạp vì chúng có cùng nguồn gốc từ tiền thể lạp. Cho nên củ khoai tây để ra ánh sáng
có màu xanh.
- Thể golgi là những mạng đặc biệt nằm trong chất tế bào. Thể golgi cấu tạo bởi
những mạng hình đĩa dẹt hay các tấm bẹt, mỗi tấm chứa 5-10 túi. Ở đầu mỗi tấm có một
số bong bóng nhỏ và phía bề mặt nhiều bong bóng lớn hơn. Thể golgi có vai trò quan
trọng trong việc tạo màng khung của tế bào thực vật, là nơi tích luỹ protein và tiến hành
tổng hợp polysaccharid.
-Thể Ribo (riboxom) là những hạt hình cầu nhỏ, kích thước khoảng 150Å, do rất
giàu ARN nên được gọi là thể ribo. Nó tồn tại trong tế bào dưới dạng tự do hay dạng
chuỗi nhỏ (5-10 ribo) gọi là polyxom. Các chuỗi polyxom có vai trò quan trọng trong
quá trình tổng hợp protid vì chúng là nơi thu hút đầy acid amin, lựa chọn và sắp xếp
thành chuỗi polypeptid.
1.2.1.3. Thể vùi
Là những thể nhỏ bé trong chất tế bào và là những chất dự trữ hay cặn bã.
- Thể vùi loại tinh bột là loại chất dự trữ phổ biến nhất trong tế bào thực vật (trong
rễ củ, thân rễ, thân củ, hạt…). Mỗi loại cây có dạng tinh bột riêng và kích thước cũng
khác nhau, do vậy dễ dàng phân biệt chúng với nhau. Do các hạt tinh bột được cấu tạo
từ những tinh thể hình kim xếp vuông góc với vân tăng trưởng thành từng lớp, nên khi
soi trên kính hiển vi phân cực ta thấy chữ thập đen mà chỗ giao nhau là rốn của hạt tinh
bột. Có thể dựa vào hình thái các hạt tinh bột và tính chất bắt màu của tinh bột (màu
xanh đen khi gặp iod trong KI3) để kiểm nghiệm thuốc và bột dược liệu.
- Thể vùi loại protid
Trong chất tế bào tồn tại các hạt protid dự trữ, không màu, chiết quang, thường hình
cầu hay bầu dục gọi là hạt alơron. Kích thước trung bình 50μm. Hạt alơron là do các
không bào khô lại khi hạt chín.
-Thể vùi loại lipid: thường gặp trong chất tế bào, đó là những giọt dầu nhỏ hình
cầu, không màu hay màu vàng, không tan trong nước, tan trong dung môi hữu cơ (ether,
benzen..). Có 3 loại giọt dầu:
+ Loại giọt dầu mỡ thường gặp trong hạt như hạt lạc, vừng, thầu dầu…
+Loại giọt tinh dầu có nhiều ở một số họ thực vật như họ hoa môi, họ long não, họ
hoa tán,… khác với giọt dầu mỡ, tinh dầu dễ bay hơi và có mùi đặc biệt. Là sản phẩm
thải hồi của quá trình chuyển hóa trong tế bào. Có ở nhiều bộ phận khác nhau của cây:
tế bào tiết, túi tiết, ống tiết, lông tiết..
+Loại nhựa và gôm là những sản phẩm hóa học rất thay đổi. Chúng là kết quả
của quá trình oxy hóa và trung hợp hóa một số dầu.
8
-Thể vùi loại tính thể là những chất cặn bã kết tinh. Trong tế bào thực vật thường
gặp 2 loại tinh thể:
+ Tinh thể calci oxalat có nhiều hình dạng, ở nhiều cơ quan khác nhau của cây
như hình hạt cát ở lá cây Cà độc dược, hình lăng trụ ở vỏ củ Hành ta; hình khối nhiều
mặt trong lá cây Bưởi; hình cầu gai trong lá cây Trúc đào, hình kim trong lá cây Bèo
tây…Đặc điểm này giúp phân biệt các loại dược liệu, cây thuốc.
+Tinh thể calci carbonat trong lá cây Đa, lông che chở lá vòi voi, thường gặp dưới
dạng một khối xù xì như quả mít, nhiều gai nhọn gọi là nang thạch.
1.2.1.4. Không bào
Là những khoảng trống trong chất tế bào, chứa đầy chất lỏng gọi là dịch không
bào hay dịch tế bào. Dịch tế bào chứa rất nhiều chất khác nhau tùy loại cây như nước,
muối khoáng, các glucid, acid hữu cơ, glycosid, alcaloid, vitamin, phytoncid…trong đó
có nhiều chất có tác dụng chữa bệnh quan trọng dùng trong ngành Dược. Ngoài chức
năng tích lũy các chất và dự trữ cặn bã, không bào còn có vai trò quan trọng đối với sinh
lý của tế bào nhờ tính thẩm thấu của dịch tế bào.
1.2.2. Nhân tế bào
Tất cả các tế bào thực vật (trừ nhóm Procaryota) đều chứa một khối hình cầu ở
giữa tế bào, gọi là nhân. Kích thước trung bình của nhân từ 5-50μm. Loài Nấm có nhân
rất nhỏ (0,5-3 μm), một số cây lớp Tuế có nhân rất lớn(500-600 μm). Nhân ở trạng thái
nghỉ giữa hai lần phân chia gồm có màng nhân, chất nhân và hạch nhân.
1.2.2.1 Màng nhân
Là một màng kép, gồm 2 lớp lipoprotein, dày khoảng 30 – 50nm, khoảng cách
giữa 2 lớp màng khoảng 200-300Å. Màng nhân thường thông với màng mạng lưới nội
chất qua những lỗ nhỏ. Màng nhân có tính tạm thời, nó sẽ biến đổi khi nhân phân chia.
1.2.2.2 Chất nhân: là một chất dịch phức tạp,chiếm gần hết phía trong màng nhân, gồm
dịch nhân và chất nhiễm sắc. Chất nhân có độ pH 4-5, có độ chiết quang hơn chất tế
bào.
1.2.2.3 Hạch nhân
Hạch nhân rất giàu ARN, nó tham gia tổng hợp ARN và protein. Nhân chứa 80%
là protein, 10% AND (acid desoxyribonucleic), 3,7% ARN (acid ribonucleic), 5%
phosphor-lipid và 1,3% là ion kim loại, trong đó AND, ARN quyết định vai trò sinh lý
của nhân.
Nhân có vai trò sinh lí quan trọng trong đời sống tế bào. Nó có nhiệm vụ duy trì
và truyền các thông tin di truyền. Vai trò quan trọng trong sự trao đổi chất và tham gia
các quá trình tổng hợp của tế bào.
Nhân còn có vai trò rất lớn trong việc điều hòa các sản phẩm quang hợp, trong
việc tạo thành tinh bột.
1.2.3 Vách tế bào
Là lớp vỏ cứng bao bọc xung quanh tế bào, ngăn cách các tế bào với nhau hoặc
ngăn cách tế bào với môi trường bên ngoài. Đây chính là điểm khác biệt nổi bật để phân
biệt tế bào Động vật và tế bào Thực vật (có một số tế bào Thực vật không có vách: tế
bào giới tính, tế bào di động của Tảo.)
Vách tế bào thực vật gồm 2 lớp:
-Phiến giữa -lớp pectin: là một polysaccachid có tác dụng gắn các lớp cellulose
của các tế bào lân cận lại với nhau. Ở tế bào mô gỗ phiến giữa thường hóa gỗ.
-Vách cấp một- lớp cellulose tạo thành vỏ cứng xung quanh tế bào, là thành phần
duy nhất có trong nhiều loại tế bào.
Trên vách tế bào còn có các lỗ và ống trao đổi, giúp trao đổi chất giữa các tế bào
cạnh nhau. Nếu vách tế bào dầy thì sẽ các sợi liên bào đóng vai trò trao đổi chất.
9
Vách thực vật có thể thay đổi tính chất vật lý và thành phần hóa học như hóa gỗ,
hóa bần, hóa cutin, hóa sáp, hóa nhầy…tùy theo từng chức phận đặc biệt riêng. Sự biến
đổi này làm tăng độ cứng rắn, dẻo dai và bền vững của màng tế bào.
2. MÔ THỰC VẬT
Mô thực vật là tổ chức của các tế bào thuộc một hay một số loại tế bào có nguồn
gốc và chức phận sinh lý chung. Có nhiều cách phân loại mô:
- Dựa vào hình thái, kích thước tế bào: mô mềm, mô tế bào hình thoi.
- Theo nguồn gốc, hai loại : Mô phân sinh và mô vĩnh viễn.
- Theo chức năng sinh lý, gồm 6 loại: mô phân sinh, mô dinh dưỡng (mô mềm),
mô che chở, mô nâng đỡ, mô dẫn và mô tiết.
2.1 Mô phân sinh
Mô phân sinh cấu tạo bởi những tế bào non chưa phân hóa, màng mỏng bằng
cellulose, không có dự trữ dinh dưỡng, xếp xít vào nhau, không để hở những khoảng
gian bào. Các tế bào đó phân chia rất nhanh để tạo thành các mô khác. Tế bào phân chia
gọi là tế bào khởi sinh, tế bào được phân hóa gọi là tế bào dẫn xuất.
Có ba loại mô phân sinh:
2.1.1 Mô phân sinh ngọn:
Đầu rễ non và ngọn thân cây có một đám tế bào non gọi là tế bào khởi sinh, có phân
chia rất nhanh, lộn xộn không theo qui tắc nhất định và thành một khối tế bào. Các tế
bào này dần dần sẽ dài ra và biến đổi thành các thứ mô khác của rễ hoặc của thân cây,
giúp cho rễ và thân cây mọc dài ra .
2.1.2 Mô phân sinh lóng
Gồm các tế bào phân chia giúp thân cây mọc dài ra ở phía gốc các lóng. Đây là
đặc trưng của các cây họ Lúa (Poaceae).
2.1.3 Mô phân sinh bên (mô phân sinh cấp hai)
Mô này làm cho rễ và thân của các cây lớp Ngọc Lan có thể tăng trưởng theo
chiều ngang. Khi phân chia các mô này hình thành đều đặn về hai phía nên chúng xếp
đều đặn thành vòng đồng tâm và dãy xuyên tâm. Tùy theo vị trí mô phân sinh cấp hai
được chia thành hai loại:
-Tầng sinh bần - lục bì (tầng sinh vỏ) ở trong vỏ của rễ và thân cây.Về phía ngoài
tầng sinh bần tạo một lớp bần có vai trò che chở cho cây. Về phía trong tầng sinh vỏ tạo
ra một mô mềm cấp hai gọi là vỏ lục (lục bì)
-Tầng sinh libe -gỗ (tầng sinh trụ) đặt trong trụ giữa của rễ và thân cây, ở giữa
libe cấp một và gỗ cấp một. Mặt ngoài nó sinh ra một lớp libe cấp hai để dẫn nhựa luyện,
mặt trong sinh ra lớp gỗ cấp hai dẫn nhựa nguyên.
2.2. Mô mềm
10
Hình 7.3. Lát cắt dọc của
Hình 7.4. Mô phân sinh bên
chồi ngọn
1. Tầng sinh trụ; 2. Tầng sinh vỏ
Mô mềm cấu tạo bởi những tế bào sống chưa phân hóa nhiều, màng vẫn mỏng
và bằng cellulose. Mô mềm có nhiệm vụ liên kết các mô khác với nhau; đồng thời còn
làm chức năng đồng hóa hay dự trữ. Các tế bào mô mềm có kích thước đồng đều, có
hình hơi tròn, hình trái xoan hoặc đa giác tròn ở góc hay hình phiến… thường xếp sát
nhau
Theo chức năng mô mềm được chia thành ba loại:
2.2.1. Mô mềm hấp thụ: gồm các lông hút của rễ, có nhiệm vụ hấp thụ nước và các
muối vô cơ hòa tan trong nước.
2.2.2. Mô mềm đồng hóa: Cấu tạo bởi những tế bào chứa nhiều lạp lục để thực hiện
chức năng quang hợp. Do đó mô mềm đồng hóa ở ngay dưới biểu bì của lá và thân cây
non.
Trong lá cây lớp ngọc lan, mô mềm đồng hóa có hai dạng:
- Mô hình giậu cấu tạo bởi những tế bào dài và hẹp, xếp xít nhau như những cọc
của một bờ giậu, thẳng góc với mặt lá. Vách tế bào mỏng, chứa nhiều hạt diệp lục, có
chức năng quang hợp.
- Mô xốp (mô khuyết) cấu tạo bởi những tế bào không đều, để hở những khoảng
gian bào to lớn trống rỗng chứa đầy khí.
2.2.3. Mô mềm dự trữ cấu tạo bởi những tế bào có màng mỏng bằng cellulose, thường
để hở những khoảng gian bào ở góc tế bào. Trong tế bào chứa chất để nuôi cây như:
Đường (cây Mía…), Tinh bột ( Củ khoai lang, hạt Ngô…), Dầu và aleuron (hạt Thầu
dầu, hạt Lạc..), Chất hemicellulose- gần giống cellulose, làm cho vách trong tế bào cứng,
dày lên (hạt Mã tiền, hạt Cà phê…), Nước (Xương rồng, cây Thuốc bỏng…), Không khí
(Sen, Súng…).
2.3 Mô che chở
Mô che chở là mô chuyển hóa từ mô phân sinh, có nhiệm vụ bảo vệ các bộ phận
của cây chống lại tác hại của môi trường ngoài như sự xâm nhập của các giống ký sinh,
sự thay đổi nhiệt độ đột ngột... Mô che chở ở mặt ngoài các cơ quan của cây, các tế bào
xếp xít nhau và vách tế bào biến thành một chất không thấm nước và khí.
Có hai loại mô che chở:
2.3.1. Biểu bì: cấu tạo bởi một lớp tế bào sống bao bọc các phần của cây. Vách ngoài tế
bào biểu bì đã cutin hóa thành lớp cutin không thấm nước và không khí, có thể nhuộm
bởi xanh methylen hay lục iod. Trên biểu bì có hai bộ phận rất quan trọng đối với việc
kiểm nghiệm dược liệu là lỗ khí
và lông:
- Lỗ khí là những lỗ thủng
trong biểu bì dùng để trao đổi khí.
Mỗi lỗ khí gồm hai tế bào hình
hạt đậu úp vào nhau bởi mặt lõm,
để hở một khe lỗ khí. Tế bào lỗ
khí thường đi kèm 1,2,3,4, tế bào
phụ gọi là tế bào bạn. Số lượng
và vị trí của các tế bào bạn là
những đặc điểm có thể phân biệt
trong kiểm nghiêm dược liệu.
Người ta phân biệt 5 kiểu lỗ khí:
Kiểu hỗn bào (Thanh táo, Xương
Hình 7.5. Biểu bì lá lẻ bạn
a. Hình cắt ngang; b. Hình nhìn từ bề mặt
1.Vách ngoài; 2.Vách bên; 3.Vách trong; 4.Lỗ khí
11
sông), Kiểu trực bào, Kiểu dị bào (Su hào), Kiểu song bào (Thông thiên, Cà phê chè),
Kiểu vòng bào (Lá lốt, Khúc khắc).
- Lông là những tế bào biểu bì mọc dài ra ngoài để tăng cường vai trò bảo vệ hoặc
giảm bớt sự thoát hơi nước. Lông có màu trắng do chứa đầy không khí. Hình dạng các
lông rất quan trọng để phân biệt các loài, nhất là các dược liệu đã bị cắt vụn hoặc các
bột thuốc. Một số dạng lông thường gặp: Lông đa bào (Mướp, Mơ tam thể), Lông hình
thoi (cây Vú sữa), Lông tảo tròn (lá Sầu riêng), Lông ngứa (cây Lá han).
2.3.2. Bần và thụ bì:
- Bần: Cấu tạo bởi nhiều lớp tế bào chết bao bọc phần già của cây. Tất cả các
màng đã biến thành chất bần không thấm nước và khí, có tính co giãn, chứa đầy không
khí nên có thể bảo vệ cây chống lạnh. Sự trao đổi khí xảy ra qua kẽ hở nhỏ chứa đầy tế
bào tròn gọi là tế bào bổ xung, đây chính lầ các nốt sần trên thân cây.
- Thụ bì: Lớp bần sau khi được hình thành đã ngăn cách các mô ở phía ngoài bần
đó với các mô ở phía trong làm cho các mô ở phía ngoài khô héo dần và chết tạo thành
thụ bì. Người ta gọi bần và thụ bì là vỏ chết (như vỏ chết ở cây Ổi, cây Bạch đàn).
- Chu bì: là tập hợp của ba lớp: bần, tầng sinh bần và lục bì.
2.4. Mô nâng đỡ
Mô nâng đỡ còn gọi là mô “cơ giới”, cấu tạo bởi những tế bào có màng dày cứng,
làm nhiệm vụ nâng đỡ, tựa như bộ xương của cây.
Tùy theo bản chất của mô nâng đỡ, người ta phân biệt thành hai loại:
2.4.1 Mô dày: cấu tạo bởi những tế bào sống có màng dày nhưng vẫn bằng cellulose.
Tùy theo cách dày lên của tế bào, mô dày được chia thành các loại: mô dày góc, mô dày
tròn, mô dày phiến, mô dày xốp. Mô dày thường tập trung ở xa trung tâm, tại những chỗ
lồi của cuống lá, thân cây.
Cây lớp Hành không có mô dày. Mô dày được nhuộm bằng đỏ son phèn.
2.4.2. Mô cứng: cấu tạo bởi những tế bào chết có màng dày hóa gỗ ít nhiều. Màng này
có nhiều ống nhỏ đi xuyên qua để cho những sự trao đổi có thể xảy ra được khi tế bào
còn sống. Mô cứng thường đặt sâu trong những cơ quan không còn khả năng mọc dài
được nữa. Có ba loại mô cứng:
-Tế bào mô cứng là các tế bào có đường kính đều nhau, thường hình khối nhiều
mặt , có thể đứng riêng lẻ hoặc tụ họp thành từng đám gọi là tế bào đá như trong thịt quả
Lê, quả Na, hay tạo thành những lớp dày xung quanh các hạt, hạch cứng trong quả hạch
như: Mận, Đào, Trám…
-Thể cứng là những tế bào mô cứng riêng lẻ, tương đối lớn, có khi phân nhánh,
thường có trong lá cây Chè, cuống quả cây Hồi…
-Sợi mô cứng cấu tạo bởi những tế bào dài, hình thon, vách rất dày, ít nhiều hóa
gỗ, khoang tế bào rất hẹp. Được chia thành hai loại:
+ Sợi vỏ: trong vỏ cây, gồm: Sợi vỏ thật- từ nội bì trở ra; Sợi trụ bì- do tế bào trụ
bì biến đổi; Sợi libe- ở trong libe.
+ Sợi gỗ: ở trong phần gỗ của cây, vách tế bào hóa gỗ.
2.5. Mô dẫn
Mô dẫn cấu tạo bởi những tế bào dài, xếp nối tiếp nhau thành từng dãy dọc song
song với trục của cơ quan và dùng để dẫn nhựa. Gồm hai loại: gỗ và libe.
2.5.1.Gỗ
Gỗ là một mô phức tạp gồm cả tế bào sống và chết, dùng để dẫn nhựa nguyên
gồm nước và muối khoáng từ rễ qua thân lên tới lá - dòng đi lên. Ngoài ra, gỗ còn có
chức năng nâng đỡ và dự trữ . Có ba thành phần: Mạch ngăn và mach thông, Sợi gỗ, Mô
mềm gỗ.
- Mạch ngăn và mạch thông
12
+ Mạch ngăn (quản bào): là các tế bào hình thoi, chết, nhọn 2 đầu, xếp nối tiếp
nhau. Nhựa nguyên được vận chuyển từ tế bào này sang
tế bào khác qua các vách ngang không hóa gỗ. Vách bên
của mạch ngăn dày lên thứ cấp (hóa gỗ) theo nhiều kiểu
khác nhau tạo nên các loại mạch ngăn khác nhau: Mạch
ngăn vòng, Mạch ngăn xoắn, Mạch ngăn hình thang,
Mạch ngăn chấm hình đồng tiền.
+ Mạch thông (mạch gỗ) là các tế bào chết, các
vách ngăn ngang đã có sự thủng lỗ tạo nên ống thông
(thành phần mạch), vách bên dày và hóa gỗ theo nhiều
kiểu khác nhau, bên trong không có chất tế bào. Sự thủng
lỗ giúp nhựa nguyên lưu thông dễ dàng, sự thủng lỗ của
các vách ngăn ngang là một dấu hiệu chuyên hóa cao và
mạch tiến hóa hơn so với mạch ngăn. Có các kiểu thủng
lỗ sau: Thủng lỗ kép (thủng lỗ hình mạng, thủng lỗ hình
thang, thủng lỗ rây), Thủng lỗ đơn. Ngoài ra, thành bên
của mạch gỗ còn dày lên theo các kiểu giống mạch ngăn.
- Sợi gỗ là những tế bào chết , hình thoi dài có
màng dày hóa gỗ . Các sợi gỗ làm nhiệm vụ nâng đỡ.
- Mô mềm gỗ cấu tạo bởi những tế bào sống, màng
có thể hóa gỗ hoặc vẫn mỏng và bằng cellulose. Mô mềm
gỗ làm nhiệm vụ dự trữ. Khi nhuộm kép có màu xanh.
2.5.2. Libe
Hình 7.6. Mạch ngăn
1. Mạch xoắn; 2. Mạch
thang;
3. Mạch chấm hình đồng
tiền.
Có chức năng nhựa luyện gồm dung dịch các chất hữu cơ do lá đúc luyện được
nhờ hiện tượng quang hợp xuống tất cả các bộ phận khác trong cây. Trong phương pháp
nhuộm kép có màu đỏ son phèn. Các yếu tố của libe, gồm mạch rây, tế bào kèm, mô
mềm libe và sợi libe.
- Mạch rây cấu tạo bởi những tế bào sống, xếp nối tiếp nhau thành từng dãy,
màng mỏng bằng cellulose. Các vách ngăn có nhiều lỗ thủng nhỏ trông tựa như cái rây,
giữa mạch rây là một không bào rất lớn chứa nhựa luyện.
- Tế bào kèm là những tế bào sống, ở bên cạnh các mạch rây; có nhiệm vụ tiết ra
các chất men, giúp mạch rây thực hiện các phản ứng sinh hóa trong mạch, ngăn cản chất
tế bào của mạch rây đông lại để đảm bảo việc vận chuyển các sản phẩm tổng hợp.
- Mô mềm libe gồm những tế bào sống có màng mỏng bằng cellulose có nhiệm
vụ chứa cất dự trữ như tinh bột, dầu và các sản phẩm khác.
- Sợi libe là những tế bào hình thoi dài, có màng dày hóa gỗ hay không hóa gỗ,
có khoang hẹp, làm nhiệm vụ nâng đỡ.
2.5.3 Các bó dẫn.
Các thành phần libe và gỗ thường tụ họp thành đám gọi là bó mạch sợi hay bó
dẫn. Có 4 loại bó:
- Bó xếp chồng: libe và gỗ xếp chồng lên nhau, tiếp xúc với nhau bởi một mặt,
libe ở phía ngoài và gỗ ở phía trong: Bó mạch kín- giữa libe và gỗ không có tầng phát
sinh, bó libe gỗ không phát triển (cây lớp Hành), Bó mạch hở- có tầng phát sinh nằm
giữa libe và gỗ, tạo ra các yếu tố của gỗ và libe thứ cấp (Hai lá mầm và Hạt trần).
- Bó chồng kép: libe và gỗ xếp chồng lên nhau, có thêm lớp libe ở phía trong gỗ,
gỗ tiếp xúc với libe ở cả 2 mặt, có tầng phát sinh nằm giữa gỗ và libe ngoài (cây họ Sim,
Bầu bí, Trúc đào…)
- Bó đồng tâm: gỗ bao quanh libe (thân rễ củ gấu) hoặc libe bao quanh gỗ (thân
Dương xỉ).
13
-Bó xuyên tâm: các bó gỗ và libe riêng rẽ nhau, xếp xen kẽ nhau theo hướng
xuyên tâm.
2.6. Mô tiết
Mô tiết cấu tạo bởi những tế bào sống, có màng bằng cellulose, tiết ra các chất
coi như là chất bã của cây vì cây không dùng đến như tinh dầu. nhựa, gôm,
tanin…Thường các chất này không được thải ra ngoài mà đọng lại trong cây trong những
cấu tạo riêng. Có 5 loại mô tiết:
2.6.1.Biểu bì tiết là các tế bào tiết ra tinh dầu thơm (cánh hoa Hồng, hoa Nhài…) Các
tuyến mật tiết ra mật hoa cũng thuộc loại này và có vai trò lôi cuốn côn trùng.
2.6.2.Lông tiết có nguồn gốc từ biểu bì hoặc từ các tế bào nằm sâu hơn, gồm một chân
và một đầu, có cấu tạo đơn bào hay đa bào.Có vai trò trong cất được tinh dầu dễ dàng
và nhận dạng dược liệu.
2.6.3.Tế bào tiết là những tế bào riêng lẻ ở rải rác trong mô mềm, chứa những chất do
chính tế bào đó tiết ra như:
-Tinh dầu : lá cây Long não , thân rễ cây Thạch xương bồ, quả cây Đại hồi, thân
Trầu không…
- Tanin :lá cây ổi, rễ củ cây Hà thủ ô đỏ, quả cây Kim anh, Củ Nâu…
- Chất nhầy: cây Râm bụt..
2.6.4. Túi tiết và ống tiết là những lỗ hình cầu (túi) hay hình trụ (ống) bao bọc bởi các
tế bào tiết và đựng những chất do tế bào đó tiết ra.Có hai cách tạo túi tiết và ông tiết:
+ Kiểu phân sinh: tế bào tiết phân chia nhiều lần rồi tách nhau ở phía giữa thành
một khoảng trống rỗng đựng chất tiết.
+ Kiểu dung sinh: tế bào tiết phân chia nhiều lần rồi tế bào ở giữa tiêu hủy đi,
thành một khoảng trống đựng chất tiết lẫn mảnh vỡ của tế bào đã bị tiêu hủy.
2.6.5.Ống nhựa mủ là những ống dài hẹp, phân nhánh nhiều, đựng một chất lỏng trắng
như sữa gọi là nhựa mủ. Ống nhựa mủ được thành 2 loại:
- Ống nhựa mủ phân đốt: cấu tạo bởi những tế bào xếp nối tiếp nhau thành từng
dãy.
- Ống nhựa mủ không phân đốt: cấu tạo bởi những tế bào mọc dài vô hạn, không
phân nhánh, hay phân nhánh thành mạng ống.
Hình 7.7. Ống nhựa mủ
A. Ống nhựa mủ phân đốt;
B. Ống nhựa mủ không phân đốt ở cây xương rắn
1. Thành ống; 2 .Các hạt tinh bột hình quả tạ; 3. Chất tế bào
14
Các hoạt chất chứa trong nhựa mủ có thể dùng làm thuốc như Morphin,
codein,…có trong nhựa quả cây thuốc phiện. Ống nhựa mủ chỉ có ở một số họ Thầu
dầu, họ Trúc đào, họ Thuốc phiện. Cho nên sự có mặt của nhựa mủ giúp ta trong việc
định tên cây.
LƯỢNG GIÁ:
Trả lời các câu sau bằng cách điền từ, cụm từ thích hợp vào chỗ trống (…):
1. Tế bào thực vật là đơn vị ....... .... cơ bản của các cơ thể thực vật.
2. Các tế bào thực vật có hình dạng rất khác nhau tùy thuộc vào từng .... và .... thực vật.
3. Trạng thái keo của chất tế bào được cấu tạo bởi những phân tử nhỏ gọi là .....
4. Màng chất nguyên sinh nằm ngay .......
5. Mô che chở là mô chuyển hóa từ ...... có nhiệm vụ bảo vệ các bộ phận của cây.
Phân biệt đúng sai các câu sau bằng cách đánh dấu vào chữ A (cho câu đúng) và
chữ B (cho câu sai):
A – B
1. Lá cây là một cơ thể đơn bào.
A – B
2. Men bia có tế bào hình cầu.
A – B
3. Mỗi tép bưởi là một tế bào.
A – B
4. Chất tế bào là một khối chất trông giống như lòng trắng trứng.
A – B
5. Các mixen không tan trong nước thành dung dịch thật mà chúng phân
A – B
tán tạo thành dung dịch giả.
6. Lạp lục có nhiều trong mô quang hợp chính là phần thịt lá.
A – B
Chọn giải pháp đúng nhất cho các câu sau bằng cách đánh dấu vào đầu giải pháp
mà bạn lựa chọn:
1. Dựa theo chức năng sinh lý gồm có ... loại mô:
A. 4
B. 5
C. 6
D. 7
2. Chất tế bào là một khối chất:
A. Đặc
B. Quánh
C. Lỏng
D. Rắn
3. Chất tế bào không tan trong:
A. Nước
B. Col
C. Ether
D. Cloroform
4. Chất tế bào khi gặp nhiệt độ từ ..... thì chúng mất khả năng sống:
A. 40 - 500c
B. 50 - 600c
C. 60 - 700c
D. 70 - 800c
15
5. Thể tơ được coi là trung tâm:
A. Dự trữ
B. Hô hấp
C. Hấp thụ
D. Dinh dưỡng
6. Tùy theo bản chất các chất màu, người ta phân thể lạp ra làm:
A. 2 loại
B. 3 loại
C. 4 loại
D. 5 loại
7. Lạp không màu là nơi:
A. Đúc tạo tinh bột - glucid
B. Đúc tạo tinh bột - lipid
C. Đúc tạo tinh bột - protein
D. Đúc tạo tinh bột - nước
8. Thể golgi có vai trò:
A. Tạo màng khung của tế bào
B. Dự trữ dinh dưỡng
C. Đồng hóa của cây xanh
D. Dị hóa ở cây xanh
9. Thể vùi loại tinh thể trong tế bào thực vật thường gặp:
A. 1 loại
B. 2 loại
C. 3 loại
D. 4 loại
Trả lời các câu hỏi sau:
1. Trình bày được cấu tạo chung của tế bào.
2. Trình bày được cấu tạo và vai trò của: thể tơ, thể lạp, thể vùi.
3. Trình bày được vị trí, đặc điểm cấu tạo chính, vai trò của 6 loại mô.
16
Chương 3
CƠ QUAN SINH DƯỠNG
MỤC TIÊU
1. Trình bày được các phần của một rễ, thân, lá cây
2. Phân loại được các rễ, thân, lá dựa trên đặc điểm hình thái.
3. Mô tả, vẽ và so sánh được đặc điểm cấu tạo giải phẫu của các loại rễ, thân lá
của các đại diện lớp Ngọc lan và lớp Hành.
NỘI DUNG
1. RỄ CÂY
1.1 Định nghĩa
Rễ là cơ quan dinh dưỡng của cây, thường mọc ở dưới đất, từ trên xuống. Rễ bám
chắc vào đất giúp cho cây đứng vững trong môi trường sống. Rễ không bao giờ mang
lá, không có chất diệp lục (trừ rễ khí sinh như họ Lan)
1.2 Hình thái ngoài của rễ
1.2.1 Các miền của rễ
Rễ cái là bộ phận lớn nhất của rễ, thường có hình trụ nón, mọc ra nhiều rễ con,
do phôi phát triển và nối liền với trụ dưới lá mầm. Rễ được chia thành các phần (miền)
như sau:
- Miền chóp rễ: có màu sẫm hơn các miền khác, gồm các tế bào có vách ngoài hóa
nhầy che chở cho mô phân sinh tận cùng khỏi bị hư hỏng và xây xát khi rễ đâm vào đất.
- Miền sinh trưởng: nằm ngay trên chóp rễ, là nhóm tế bào mô phân sinh, phân chia
liên tục làm cho rễ dài ra. Khi miền sinh trưởng bị gày thì rễ không dài ra nữa, tại đó
mọc ra nhiều rễ con.
- Miền lông hút (hấp thụ): là miền quan trọng nhất của rễ có chức năng hấp thu
nước và muối khoáng, có mang nhiều lông hút sống và hoạt động trong thời gian nhất
định, chết và rụng đi.
- Miền hóa bần (miền phân nhánh) được bao bọc bởi một lớp tế bào hóa bần để
làm nhiệm vụ che chở cho rễ cây. Đối với cây thuộc ngành Thông và Ngọc lan, miền
hóa bần có các rễ con từ trong mọc xiên ra và cũng mang đủ bộ phận như rễ cái.
- Cổ rễ là đoạn nối liền rễ với thân cây.Tại đây hệ mạch dẫn của rễ chuyển sang
cấu tạo hệ mạch dẫn của thân.
1.2.2 Các loại rễ cây
Rễ có nhiều kiểu khác nhau, có chức năng sinh lí khác nhau:
- Rễ trụ (rễ cọc): đặc trưng cho các cây thuộc lớp Ngọc lan và ngành Thông, gồm
có rễ chính và các rễ bên. Rễ chính phát triển từ mầm rễ, đâm thẳng xuống đất.
- Rễ chùm: đặc trưng cho các cây thuộc lớp Hành, không có rễ chính, gồm nhiều rễ
con có hình dạng và kích thước tương đối đồng đều. Tất cả các rễ trong hệ rễ chùm được
mọc ra từ gốc thân sau khi rễ mầm chết sớm.
- Rễ phụ: sinh ra từ thân, cành hoặc lá, chúng mọc từ thân gần đất ẩm của nhiều
cây gỗ lâu năm hoặc trên thân rễ của các cây họ Lúa. Ví dụ: cây đa, si, ngô, mía, tre…
Một số rễ biến dạng để thích nghi với môi trường sống:
- Rễ củ: là rễ cái hoặc rễ con có thể phồng to lên vì tích lũy nhiều chất dự trữ: tinh
bột, inulin. Ví dụ rễ: cây Bạch chỉ, Khoai lang, Cà rốt…
- Rễ bám: là rễ mọc từ thân để cây cây bám chắc vào giàn: rễ cây Lá lốt.
17
- Rễ giác mút là rễ của các cây ký sinh (rễ cây trầm gửi, cây tơ hồng) mọc vào vỏ
của cây chủ những giác mút để hút trực tiếp nhựa của cây chủ.
- Rễ khí sinh là rễ mọc trong không khí để hút hơi ẩm như rễ cây họ Lan…
- Rễ hô hấp là rễ mọc thẳng đứng lên khỏi mặt nước để cung cấp không khí cho
các phần rễ phía dưới. Như rễ cây bụt mọc, cây bần…
- Rễ biểu sinh: rễ của những cây sống nhờ cây khác, có tác dụng bám vào vỏ cây
gỗ lớn và hấp thụ nước chảy dọc thân.Ví dụ họ Lan…
- Rễ cà kheo (rễ chống):là rễ phụ phát triển mạnh, mọc vững chắc xuống đất để
tăng sức chống đỡ cho cây. Ví dụ cây Đước…
A
B
C
Hình 8.1. Các kiểu rễ
A. Rễ cọc; B. Rễ chùm; C. Rễ phụ ở Chi Ficus
1.3 Cấu tạo giải phẫu của rễ
Cấu tạo giải phẫu của cây thường phức tạp, đa dạng, phụ thuộc vào môi trường
và chức năng sinh lý của mỗi loài. Rễ cây có hai giai đoạn phát triển: giai đoạn dài ra
do mô phân sinh ngọn phát triển (rễ cấp I), giai đoạn tăng chiều ngang do mô phân sinh
bên phát triển (rễ cấp II).
1.3.1. Cấu tạo cấp I
Cấu tạo này gặp ở cả hai loại cây lớp Ngọc lan và lớp Hành. Khi cắt ngang qua
miền lông hút của rễ cây, đem soi kính hiển vi ta sẽ thấy rễ có cấu tạo tỏa tròn, gồm có
ba phần:
1.3.1.1. Tầng lông hút (biểu bì): gồm những tế bào ngoài cùng kéo dài ra, vách mỏng
bằng cellulose, có nhiệm vụ hấp thụ nước và muỗi khoáng.
1.3.1.2 Vỏ cấp I
- Vỏ cấp I do tầng sinh vỏ của mô phân sinh đầu ngọn rễ sinh ra. Gồm các tế bào
vách mỏng bằng cellulose, thường chia thành hai vùng:
+ Mô mềm vỏ ngoài bao gồm nhiều tế bào màng mỏng bằng cellulose, sắp xếp
không trật tự, tạo ra các khoảng gian bào.
+ Mô mềm vỏ trong gồm các tế bào vách mỏng, xếp thành các vòng tròn đồng
tâm và dãy xuyên tâm. Thường có chất dự trữ.
- Ngoại bì: Ở nhiều cây ngay dưới lông hút hay lớp velamen, vỏ cấp một chuyển
hóa thành một mô gọi là ngoại bì, có chức năng như mô che chở.
- Nội bì là phần trong cùng của vỏ cấp I, gồm một hàng tế bào khá đều, có nguồn
gốc từ tầng sinh vỏ. Chức năng của nội bì là làm giảm bớt sự xâm nhập của nước vào
trụ giữa.
18
Vỏ cấp I ở cây ngành Thông và lớp Ngọc lan chỉ tồn tại thời gian ngắn, khi hình
thành cấu tạo cấp II thì vành tế bào nội bì bị phá vỡ. Cây thuộc lớp Hành vỏ cấp I tồn
tại suốt đời.
1.3.1.3. Trụ giữa (trung trụ)
Ở vị trí trung tâm của rễ. Gồm có:
- Trụ bì (vỏ trụ) là một hay nhiều lớp tế bào có màng mỏng nằm xen kẽ với tế
bào nội bì. Ở các cây Ngành Thông và lớp Ngọc lan, phần trụ bì có khả năng phân sinh
tạo thành rễ bên. Ở rễ già các cây lớp Hành vỏ trụ có thể hóa cứng từng phần hay toàn
bộ.
- Hệ thống dẫn: bao gồm các bó gỗ và bó libe nằm xen kẽ nhau: bó libe cấp I
tạo thành dải xung quanh trụ giữa ngay sát trụ bì, bó gỗ tạo nên những chỗ lồi vào mô
mềm ruột.
- Ruột và tia ruột: Tia ruột nằm xen kẽ giữa bó libe và bó gỗ. Mô mềm ruột ở
trong cùng gồm các tế bào mô mềm.
1.3.2 Cấu tạo cấp II của rễ
Có ở các cây Ngành Thông và hầu hết cây lớp Ngọc lan. Khi trên thân những lá
đầu tiên xuất hiện thì ở rễ xuất hiện cấu tạo cấp II. Sự phát triển này do hoạt động của
hai tầng phát sinh:
- Tầng phát sinh ngoài (tầng phát sinh bần- lục bì) xuất hiện ở vị trí từ trụ bì ra
biểu bì. Gồm có một lớp tế bào có khả năng phân chia tạo ra bên ngoài những lớp tế bào
đều đặn có màng hóa bần và bên trong tạo ra những lớp tế bào có màng mỏng gọi là lục
bì. Tầng này làm nội bì và vỏ cấp I chết đi, bong ra.
- Tầng phát sinh trong (tầng phát sinh libe-gỗ hay tầng sinh gỗ):là một vòng tròn
liên tục uốn lượn, nằm giữa bó libe cấp I và bó gỗ cấp I. Các tế bào này kéo dài ra và
phân chia tạo thành libe cấp II bên ngoài và gỗ cấp II bên trong, làm cho các bó libe cấp
I hẹp lại khó nhận ra. Ngoài sự hoạt động của tầng sinh gỗ cũng tạo ra tia ruột cấp II có
chức năng trao đổi khí giữa mô mềm ruột và các tổ chức bên ngoài.
1.3.3 Cấu tạo cấp III
Ở những rễ củ, mô dự trữ do các mô phân sinh cấp hai sinh ra rất phát triển.Đó
là cấu tạo cấp III. Có thể chia làm hai loại:
1.3.3.1 Kiểu củ Bạch tạp: Các tầng sinh gỗ mới được tiếp tục sinh ra ở bên ngoài các
tầng sinh gỗ ngừng phát triển, tạo thành libe, gỗ cấp ba, cấp bốn… Như ở rễ củ cây Bạch
tạp, cây Hoa phấn…
1.3.3.2 Kiểu củ Đại hoàng: trên lớp gỗ cấp hai xuất hiện vòng sinh gỗ nhỏ hình tròn,
sinh libe ở trong, gỗ ở ngoài. Tia ruột loe rộng hình phễu chia phần gỗ vừa phát triển
thành hình sao đặc trưng: củ Khoai lang, củ Đại hoàng…
2. THÂN CÂY
2.1 Định nghĩa
Thân cây là cơ quan sinh trưởng của cây, thường mọc ở trên mặt đất từ dưới lên
trên, có nhiệm vụ dẫn nhựa đi khắp cây và mang lá, hoa, quả.
2.2 Đặc điểm hình thái
2.2.1 Các phần của thân:
Dựa vào đặc điểm hình thái và giải phẫu, thân cây được chia thành các phần
chính sau:
2.2.1.1 Thân chính: là bộ phận hình trụ nón, thường có mặt cắt là hình tròn. Đôi khi
thân có thiết diện vuông (cây Bạc hà, Ích mẫu), hình tam giác (họ Cói), hình dẹt (cây
Quỳnh), hình ngũ giác (họ Bí). Khi còn non, thân chính có màu lục, khi già chuyển sang
19
màu nâu hay xám. Có cây không có thân như Mã đề, có cây thân rất thấp bé chỉ vài cm,
nhưng nhiều cây có thân vừa cao vừa to như
Chò chỉ, Bạch đàn Châu Úc…
2.2.1.2 Mấu và gióng: Mấu là chỗ lá dính vào thân phía dưới chồi nách. Khoảng cách
giữa hai mấu liên tiếp gọi là gióng (lóng).
2.2.1.3 Chồi: là phần thân không dài ra, có các gióng ngắn và lá non, được bao bọc bởi
các lá bắc chồi. Chồi ngọn nằm ở đầu ngọn thân cây, chồi bên (nách) mọc ở kẽ các lá
sau phát triển thành cành hay hoa. Chồi chỉ mọc ra cành lá là chồi lá, chỉ mọc ra hoa là
chồi hoa, cả lá và hoa là chồi hỗn hợp.
2.2.1.4 Cành: là bộ phận phát triển từ chồi bên của thân chính. Cành có đầy đủ bộ phận
như thân chính nhưng nhỏ hơn, và tạo với thân thẳng đứng một góc đặc trưng tùy loài
cây: góc nhọn như Trác bách, góc vuông như cây Bàng, góc tù như cây Liễu.
2.2.1.5 Gốc là phần tận cùng của thân trên mặt đất, tiếp giáp với cổ rễ. Một số cây gốc
lồi ra, tăng sự vững chắc cho cây gọi là bành gốc.
2.2.2 Các loại cây
- Cây gỗ: có thân chính phát triển mạnh, có sự hóa gỗ, được chia thành 3 loại: Cây
gỗ to: thân cao từ 20m trở lên (chò chỉ, chò nâu…), Cây gỗ vừa: thân cao 10-20m (sấu,
đa, dẻ…), Cây gỗ nhỏ: thân cao dưới 10m (na, ổi, xiêm…).
- Cây bụi: thân dươi dạng gỗ, thân trên dạng cỏ, sống nhiều năm. Cây thân bụi có
chiều cao không quá 6m (sim, mua, sú…).
- Cây bụi nhỏ: có thân hóa gỗ một phần ở gần gốc sống nhiều năm, phần ngọn
không hóa gỗ sống hằng năm như: Cỏ lào…
- Cây cỏ: thân nằm trên mặt đất và chết vào cuối thời kì ra hoa kết quả, không có
cấu tạo thứ cấp, có nhiều loại: cỏ một năm, cỏ hai năm, cỏ nhiều năm.
2.2.3 Các loại thân
Được chia tùy theo dạng thân và nơi sống, gồm các loại thân sau:
2.2.3.1 Thân khí sinh: thân nằm hoàn toàn trên mặt đất.
- Thân đứng: thân mọc thẳng lên trời, gồm: Thân gỗ to, hóa gỗ và phân nhánh (Sấu,
Nhãn, Ổi..), Thân cột: hình trụ thẳng, không phân nhánh, mang bó lá ở ngọn (Cau,
Dừa…), Thân rạ: rỗng, có mấu và gióng (Lúa, Tre…).
- Thân bò: thân bò lan trên mặt đất như cây Dâu tây, cây Rau má…
- Thân leo (dây hay đằng): cây dựa vào cây khác hay giàn để vươn lên đón ánh
sáng. Thân có thể leo bằng: Thân cuốn (Mùng tơi, Thiên lý), Tua cuốn (Mướp, Bí), Thân
leo nhờ rễ bám (Trầu không, Tầm gửi).
2.2.3.2 Thân địa sinh: mọc dưới đất nhưng khác với rễ là thân địa sinh có mang lá biến
đổi thành vảy khô.
-Thân rễ: dài, mọc ngang dưới đất, trông giống rễ, nhưng khác rễ vì có mang vảy
(Gừng, Riềng). Trong thân rễ có chứa nhiều chất dự trữ như tinh bột.
-Thân hành: rất ngắn, dưới mang rễ, xung quanh mang nhiều lá biến đổi mọng
nước, chứa nhiều chaart dự trữ, được chia làm 3 loại: Thân hành áo các lá biến đổi bao
bọc nhau như chiếc áo (Hành, Tỏi), Thân hành vảy các lá mọng nước úp lên nhau như
những viên ngói trên mái nhà (Bách hợp), Thân hành đặc phần thân là phiến dày, vảy
mỏng khô (La dơn).
- Thân củ: Thân phồng lên chứa chất dự trữ: củ Khoai tây, củ Su hào…
2.3 CẤU TẠO GIẢI PHẪU THÂN CÂY
2.3.1 Thân cây lớp Ngọc lan
2.3.1.1 Cấu tạo cấp I:
Cắt ngang qua thân cây non (mới nảy mầm) của một cây thuộc lớp Ngọc lan, đem
soi trên kính hiển vi, ta thấy thân có cấu tạo như sau:
20
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Thực vật dược", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
giao_trinh_thuc_vat_duoc.pdf

