Giáo trình Dược liệu

GIỚI THIỆU HỌC PHẦN  
DƯỢC LIỆU  
Đối tượng: Cao đẳng Dược  
- Số tín chỉ:  
- Số tiết:  
4 (3/1)  
75 tiết  
+ Lý thuyết:  
+ Thực hành:  
+ Tự học:  
45 tiết  
30 tiết  
105 giờ  
- Thời điểm thực hiện:  
Học kỳ III  
MỤC TIÊU HỌC PHẦN  
1. Trình bày được về nguồn gốc, thành phần hoá học, vi phẫu, tác dụng và công  
dụng của dược liệu.  
2. Trình bày được cách nhận biết một số dược liệu thường dùng trong ngành  
dược.  
3. Tự thực hiện được các bước chế biến dược liệu theo đúng phương pháp,  
phân biệt chính xác các dược liệu  
4. Hướng dẫn sử dược liệu đảm bảo an toàn, hợp lý.  
5. Sinh viên có được kỹ năng đọc, nghiên cứu tài liệu, thuyết trình và phân tích  
vấn đề  
6. Nhận biết được nguồn gốc, đặc điểm thực vật, công dụng, cách dùng và liều  
lượng các dược liệu .  
7. Trung thực, khách quan, có tinh thần học tập vươn lên;  
8. Nghiêm túc trong việc nhận biết, hướng dẫn sử dụng và chế biến một số dược  
liệu thường dùng trong ngành dược.  
9. Thận trọng, tỷ mỉ, chính xác trong quá trình kiểm nghiệm dược liệu theo  
phương pháp vi phẫu và hóa học  
NỘI DUNG HỌC PHẦN  
Phần lý thuyết.  
STT  
Nội dung  
Trang  
3
Đại cương về dược liệu  
1
2
3
4
Dược liệu chứa những hợp chất Anthranoid  
Dược liệu chứa Coumarin, tanin  
Dược liệu chứa chất nhựa, chất béo  
Dược liệu chứa Carbonhydrat  
19  
32  
40  
5
6
7
8
9
54  
68  
80  
Dược liệu chứa Glycosid tim  
Dược liệu chứa Saponin  
Dược liệu chứa Flavonoid  
Dược liệu chứa Alcaloid  
Dược liệu chứa tinh dầu  
Tổng  
96  
113  
182  
209  
10  
1
Phần thực hành  
STT  
Nội dung  
Trang  
1
Xác định độ ẩm trong dược liệu và kiểm nghiệm hạt tinh bột  
210  
2
3
Kiểm nghiệm dược liệu bằng phương pháp vi học  
Kiểm nghiệm ích mẫu bằng phương pháp vi học  
Kiểm nghiệm Cam thảo bắc bằng phương pháp vi học  
Kiểm nghiệm chất béo trong dược liệu  
215  
235  
237  
239  
244  
252  
271  
273  
283  
4
5
6
Nhận thức dược liệu chứa Carbonhydrat  
7
Nhận thức dược liệu chứa Glycosid tim  
8
Thực địa vườn 1  
9
Nhận thức dược liệu chứa chất nhựa, chất béo, tinh dầu  
Kiểm nghiệm dược liệu theo tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam  
10  
11  
12  
13  
14  
Thực địa vườn 2  
285  
287  
290  
294  
Định tính Alcaloid trong dược liệu  
Kiểm nghiệm tinh dầu trong dược liệu  
Nhận thức dược liệu chứa Alcaloid  
Tổng  
ĐÁNH GIÁ  
- Hình thức thi: Vấn đáp  
- Thang điểm: 10  
+ Điểm chuyên cần: 10%  
+ Điểm thường xuyên: 03 bài kiểm tra trọng số 20%  
+ Điểm thi KT học phần: 01 bài thi trọng số 70%  
Cách tính điểm:  
- Điểm học phần = 10% điểm chuyên cần+ 20% điểm kiểm tra định kỳ+ 70%  
điểm thi hết học phần  
2
CHƯƠNG I  
ĐẠI CƯƠNG VỀ DƯỢC LIỆU  
MỤC TIÊU  
1. Trình bày được định nghĩa, lịch sử của nền y học thế giới và trong nước,  
gắn với môn học.  
2. Trình bày được vị trí của dược liệu trong nghành Y tế và trong nền kinh tế  
quốc dân.  
3. Phân tích được kỹ thuật thu hái, phơi sấy, chế biến, bảo quản dược liệu  
4. Áp dụng được các phương pháp đánh giá để đánh giá một số dược liệu .  
NỘI DUNG  
I. MỞ ĐẦU  
1. Định nghĩa môn học  
Dược liệu học là môn học nghiên cứu về sinh học và hoá học những nguyên  
liệu dùng làm thuốc có nguồn gốc thực vật và động vật.  
Nội dung môn học sẽ cung cấp cho sinh viên những kiến thức bao gồm nguồn  
gốc, thành phần hoá học, vi phẫu, tác dụng và công dụng của dược liệu; chủ yếu là xác  
định được, chất lượng và hướng dẫn sử dụng dược liệu.  
Dược liệu dùng có thể là tất cả các bộ phận của cây, con hoặc chỉ một vài bộ  
phận. Những chất chiết ra từ cây con như tinh dầu, dầu mỡ, nhựa, sáp cũng thuộc  
phạm vi dược liệu; theo quan niệm hiện nay thì môn dược liệu không chỉ nghiên cứu  
nguyên liệu thô mà nghiên cứu cả những tinh chất chiết ra từ dược liệu.  
Ví dụ: Hoa hoè và Rutin; Ba gạc và Reserpin.  
Là một trong những môn học chuyên môn, môn dược liệu có liên quan đến  
những môn học khác như: thực vật, hoá hữu cơ, hoá phân tích, dược lý, do đó học sinh  
cần nắm chắc kiến thức của các môn học trên khi học môn dược liệu.  
2. Lịch sử môn dược liệu  
Vào thời kỳ tiền sử, con người phải kiếm cây cỏ và động vật hoang dại để làm  
thức ăn, qua chọn lọc và thử thách, con người dần dần xác định được thực vật, động  
vật nào ăn được hoặc không ăn được; tác dụng chữa bệnh của một số thực vật hoặc  
động vật cũng được tình cờ phát hiện rồi kinh nghiệm được tích luỹ dần.  
Theo tài liệu cổ cho biết khoảng 5000 năm trước công nguyên (TCN) người  
Babilon đã biết tác dụng của nhiều cây, con làm thuốc. Theo tài liệu tìm được trong  
3
ngôi mộ cổ ướp xác viết vào năm 1550 TCN thì người Ai cập thời đại xưa đã có trình  
độ cao về ướp xác và biết dùng nhiều cây và con dùng làm thuốc.  
Tên tuổi của một số thầy thuốc Hy lạp cổ được lịch sử ghi lại.  
Hippocrat (460-370 TCN) được coi là tổ sư của nghành y dược, ngoài công  
trình giải phẫu sinh lý, ông còn biết sử dụng hơn 200 cây thuốc. Lời tuyên thệ  
“Hippocrat” ngày nay phản ánh sự quý trọng đối với người thầy thuốc Hy lạp đó.  
Aristot (384-370 TCN) và học trò của ông là Theophrat (370-287 TCN) đều là  
các nhà khoa học tự nhiên nổi tiếng những tài liệu này được ứng dụng nhiều trong lĩnh  
vực nghiên cứu động vật - thực vật.  
Dioscorid một nhà nghiên cứu về dược liệu sống vào thế kỷ thứ nhất trước công  
nguyên đã viết tập sách “Dược liệu học” vào năm 78 TCN, ông đã mô tả hàng ngàn  
cây có tác dụng chữa bệnh, trong đó có nhiều cây còn sử dụng cho y học hiện đại ngày  
nay.  
Còn có rất nhiều những người khác sống ở thời đó đến nay vẫn được tôn trọng  
coi là bậc tiền bối của nghành dược học.  
Với nền y học phương Đông, phải kể đến nền y học Trung Quốc, vào thời kỳ  
Hoàng đế (2637 TCN) đã có sách nói về phương pháp chữa bệnh theo nguyên lý đông  
phương đó là cuốn “Nội kinh”. Tuy vậy, phải đến năm 1596 cuốn sách mới thực sự  
được công nhận có giá trị khoa học đó là “Bản thảo cương mục” của Lý Thời Trân  
biên soạn (1518 – 1593).  
Dân tộc Việt Nam cũng có lịch sử về y dược học lâu đời, vào khoảng 4000 năm  
TCN, thần nông * đã dạy cho dân sử dụng các loại ngũ cốc, thực phẩm và biết phân  
biệt các loại cây cỏ có tác dụng chữa bệnh.  
(* Thần nông của người Việt cổ dạy dân trồng lúa nước (ông là vị thần của cư  
dân phương Nam) là tổ tiên của vua Hùng. Thần nông sinh ra Đế Minh, Đế Minh sinh  
ra Kinh Dương Vương, Kinh Dương Vương sinh ra Lạc Long Quân, Lạc Long Quân  
sinh ra Vua Hùng.)  
Vào thời kỳ Hồng Bàng (2879 TCN), Tổ tiên ta đã biết kết hợp một số dược  
liệu (vỏ lựu, ngũ bội tử, cánh kiến) để nhuộm răng, đã có tập tục nhai trầu (Trầu, cau,  
vôi) để bảo vệ răng và da dẻ hồng hào, biết uống chè vối cho dễ tiêu, dùng gừng hành,  
tỏi để làm gia vị và phòng bệnh.  
Dưới thời Nam Việt Giao chỉ, nhiều vị thuốc đã được phát hiện: Cau, Ý dĩ,  
Long nhãn, vải, gừng, quế, trầm hương, sử quân tử, cánh kiến, mật ong, sừng tê giác.  
Dưới thời Bắc thuộc, (207 TCN đến 905 TCN) người Trung Quốc đô hộ thường bắt  
cống nạp các loại thuốc quý hiếm đem về nước họ và cũng trong thời kỳ này ta giao  
lưu với Trung Quốc.  
4
Dưới triều Ngô – Đinh – Lê – Lý, ta đã có nhiều thầy thuốc chuyên nghiệp chữa  
bệnh cho dân và trong triều đình đã có tổ chức Thái y Viện, để chăm lo sức khoẻ cho  
hoàng gia các vị danh y có tiếng vào đời Lý là Từ Đạo Hạnh - Nguyễn Minh Không.  
Đến thế kỷ thứ 14 dưới đời nhà Trần (1225-1399) nền y dược học nước ta mới  
được phát triển. Có mở khoa thi tuyển lựa lương y, viện Thái y tổ chức đi thu thập cây  
thuốc và trồng thuốc. Dưới đây là những danh y có nhiều cống hiến cho sự nghiệp bảo  
vệ sức khoẻ nhân dân và xây dựng nền y dược học Việt nam.  
Dưới triều Trần Anh Tông (1293-1313) có Phạm Công Bàu ngoài nhiệm vụ ở  
viện Thái y về nhà còn chữa bệnh cho dân đã cứu sống được cho rất nhiều người, ông  
đề cao tinh thần trách nhiệm với tính mạng người bệnh, không phân biệt sang hèn;  
bệnh nguy chữa trước, tận tuỵ phục vụ bệnh nhân, không quản ngại khó khăn ông đã  
để lại tấm gương sang cho nền y học nước nhà.  
Dưới đời Trần Dụ Tông (1391) có Chu Văn An là một danh nho nổi tiếng đồng  
thời cũng là một vị danh y. Ông biên soạn cuốn “Y học yếu giải tập chú di biên” thâu  
tóm các nguyên nhân của bệnh, phân tích cơ chế bệnh lý với phương pháp chẩn đoán  
và biện chứng luận trị, trong đó có ý thức tổ chức, lập bệnh án và phổ biến kinh  
nghiệm. Sau khi tổng kết chữa khỏi trên 700 bệnh nhân, ông là người nghiên cứu để  
xây dựng cơ bản cho nền y học của nước ta.  
Tuệ Tĩnh, tên là Nguyễn Bá Tĩnh, quê ở Huyện Cẩm Giàng, Tỉnh Hải Dương.  
Theo DS Trương Xuân Nam thì ông sinh vào năm 1330 mồ côi cha mẹ lúc 6 tuổi được  
các nhà sư nuôi cho ăn học (ở chùa Hắc Triều) Năm 22 tuổi ông thi đậu Thái học (tiến  
sĩ) không ra làm quan, ông ở chùa đi tu với mục đích làm từ thiện và chữa bệnh giúp  
dân. Năm 1385, ông bị bắt đi sang sứ nhà Minh ở Trung Quốc, ông chữa bệnh cho  
Tống Vương Phi ( vợ vua Minh) khỏi bệnh sản hậu nên được phong là đại y thiền sư.  
Ông mất ở Trung Quốc không rõ năm nào. Khi còn ở trong nước, Tuệ Tĩnh nghiên cứu  
cây cỏ Việt nam, sưu tầm những bài thuốc giản dị thường dùng trong dân gian, kết hợp  
kinh nghiệm trị bệnh của Trung y xây dựng sự nghiệp có tính dân tộc sáng tạo trong  
thời kỳ thuốc bắc thịnh hành, ông để lại hai tác phẩm có giá trị là “Hồng nghĩa giác tự  
y thư” và “Nam dược thần hiệu”.  
Tư tưởng chỉ đạo của Tuệ Tĩnh về đường hướng y học là “Nam dược trị nam  
nhân” nghĩa là Dùng thuốc Nam chữa bệnh cho người Nam Việt.  
Tóm lại, Tuệ Tĩnh là một đại danh y đã mở đường xây dựng nền y dược học  
dân tộc của nước ta.  
Dưới thời nhà Minh đô hộ (1400-1427) có chủ trương đồng hoá dân tộc ta nên  
thời kỳ này không có trước tác y học.  
Những thế kỷ sau lại có nhiều danh y xuất hiện,  
5
Thể kỷ 15 có Phan Phù Tiên, Nguyễn Trực.  
Thế kỷ 16 có Hoàng Đơn Hoà  
Thế kỷ 17 có Lê Đức Vọng, Nguyễn Đạo An, Bùi Công Chính, Lý Công Tuân.  
Thế kỷ 18 có Nguyễn Quỳnh, Ngô Lâm Đáp, Trịnh Đình Ngạn,, Hải Thượng  
Lãn Ông trong đó Hải Thượng Lãn Ông là một đại danh y của nước ta.  
Hải Thượng Lãn Ông (1720-1791) tên thực là Lê Hữu Trác sinh ra tại thôn Vân  
Xá, lạng Liên Xá, Phủ Thượng Hồng, Tỉnh Hải Dương. Ông là một người nổi tiếng là  
học giỏi thông minh văn thơ lỗi lạc. Song sống dưới thời vua Lê chúa Trịnh, ông chán  
ghét chiến tranh, viện cớ về Hương Sơn nuôi mẹ. Vốn là người thông minh học rộng,  
đọc sách thuốc ông thấy say mê và thấy làm nghề y là thiết thực lợi cho mình và giúp  
ích cho đời nên ông quyết chí học nghề thuốc. Sau mấy chục năm đúc kết kinh nghiệm  
thực tiễn nghiên cứu sâu rộng kinh điển trung y kết hợp với y học cổ truyền dân tộc,  
ông biên soạn trong 26 năm bộ sách thuốc Việt Nam “Hải Thượng y tôn tâm lĩnh” 28  
tập gồm 66 quyển. Trước tác của ông được dùng để dạy y học và còn dùng phục vụ  
chữa bệnh cho người dân đương thời. Ông đã phát huy chủ trương “Thuốc Nam chữa  
bệnh cho người Nam” của Tuệ Tĩnh; sưu tầm nhiều vị thuốc mới phổ biến cho nhân  
dân để mọi người tự chữa bệnh thông thường với cây nhà lá vườn sẵn có.  
Hải Thượng Lãn Ông đã trở thành nhà y học nổi tiếng của dân tộc ta. Nêu cao  
đạo đức của người thầy thuốc soi sáng cho y học nước nhà với quan điểm nhân đạo và  
thực tế đã được nhân dân coi là “Đại y tôn của Việt Nam”.  
Dưới thời Tây Sơn (1788-1802) vì chiến tranh liên miên, tình hình y dược học  
ít được đổi mới, nổi lên có tiến sĩ Nguyễn Gia Phan biên soạn cuốn “ Liệu dịch  
phương pháp toàn tập”.  
Danh y Nguyễn Quang Tuân biên soạn cuốn “La khê phương dược” gồm 13  
cuốn và cuốn “Kim ngọc quyển” viết bằng chữ Nôm ghi nhiều phương thuốc gia  
truyền.  
Dưới triều Nguyễn, có Trần Nguyệt Phương viết cuốn “Nam Bang thảo mộc”,  
trong đó viết nhiều cây thuốc sử dụng theo kinh nghiệm.  
Dưới thời Pháp thuộc (1885-1945) thực dân Pháp tổ chức nền y tế theo lối Tây  
y thay thế Đông y, tuy vậy thời kỳ này có nhiều tập sách có giá trị.  
Ngoài tác giả người Việt, các tác giả người Pháp cũng có biên soạn một số sách  
viết về cây thuốc ở Đông Dương như: A. petolot biên soạn cuốn “Những cây thuốc của  
Campuchia, Lào và Việt Nam”.  
Từ cách mạng tháng 8 năm 1945 cho đến nay Đảng và nhà nước ta rất quan tâm  
đến việc kết hợp giữa y học cổ truyền và y học hiện đại đã có nhiều thành tựu cống  
hiến cho hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Quân và dân ta đã tận dụng  
6
nguồn dược liệu sẵn có ở địa phương để bào chế thuốc men tự túc đáp ứng nhu cầu  
phòng và chữa bệnh. Nhiều tài liệu về cây thuốc được biên soạn, điển hình là cuốn  
“Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” do giáo sư tiến sĩ Đỗ Tất Lợi biên soạn hiện  
nay đã tái bản lần thứ 10 có giá trị trong nước và cả nước ngoài, hiện đã có ấn bản  
bằng tiếng Anh. Do có công đóng góp cho ngành Y tế, năm 1997 GS.TS Đỗ Tất Lợi  
đã được Nhà nước tặng giải thưởng Hồ Chí Minh.  
Nhiều tổ chức y dược học cổ truyền được thành lập như : Viện nghiên cứu  
Đông y, viện y dược học dân tộc, viện dược liệu Việt Nam, hội đông y Việt  
Nam....Nhiều chỉ thị, nghị quyết của Nhà nước nói về phương châm kết hợp y học cổ  
truyền với y học hiện đại, trên cơ sở đó thúc đẩy y học cổ truyền và ngành dược hiện  
đại không ngừng phát triển như ngày nay.  
3. Vị trí của dược liệu trong ngành y tế và nền kinh tế quốc dân  
Thuốc phòng bệnh và chữa bệnh hầu hết được điều chế từ 2 nguồn: dược liệu  
và hoá dược. Riêng dược thảo theo thống kê của tổ chức y tế thế giới con số lên đến  
20.000 loài, không chỉ các nước Á đông mà các nước phương Tây cũng tiêu thụ số  
lượng lớn dược liệu. Ở các nước phát triển, 1/4 số thuốc kê trong đơn đều có chứa hoạt  
chất từ thảo mộc. Trong những năm gần đây, xu hướng trên thế giới dùng thuốc thảo  
mộc tự nhiên (không tách hoạt chất) ngày càng nhiều. Chỉ tính riêng thị trường châu  
Âu cũng lên tới 2,3 tỷ USD. Nhiều biệt dược Đông dược của Trung Quốc được tiêu  
thụ mạnh ở các nước châu Âu, gần đây nước ta cũng có một số mặt hàng Đông dược  
xuất khẩu có tín nhiệm ở thị trường nước ngoài.  
Dược liệu là nguồn cung cấp nguyên liệu cho việc bán tổng hợp một số hoá  
dược. Chỉ riêng nhu cầu bán tổng hợp các thuốc steroid hàng năm thế giới cần khoảng  
100.000 tấn củ mài có chứa diosgenin.  
Nhiều hoạt chất quan trọng như: Quinin, morphin, emetin, strychnin... đều phải  
chiết ra từ dược liệu mà chưa thể đi bằng con đường tổng hợp.  
Dược liệu còn mở đường cho hoá dược phát triển. Ví dụ: Ephedrin là hoạt chất  
có trong cây ma hoàng. Dược liệu này đã được sử dụng cách đây 4000 năm, y học hiện  
đại mới biết cách đây vài thế kỷ, bắt chước thiên nhiên, hoá dược đi bằng con đường  
tổng hợp để có ephedrin.  
Hiện nay người ta vẫn tiếp tục nghiên cứu các chất có cấu trúc mới từ dược liệu  
rồi từ đó bán tổng hợp các dẫn chất có tác dụng điều trị hiệu quả hơn. Ví dụ: Từ năm  
1950 đến 1980, sau khi thử tác dụng chống ung thư của 40.000 loài thảo mộc người ta  
đã phân lập được một số hoạt chất có tác dụng chữa ung thư.  
Đối với nước ta, dược liệu có một vị trí quan trọng. Nước ta nằm trong vùng  
nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình là 250C, độ ẩm cao tạo điều kiện cho cây cối  
7
phát triển. Rừng chiếm 2/30 diện tích, hệ thực vật phong phú , đa dạng. Nước ta có  
khoảng 20.000 loài trong đó có trên 1000 loài làm thuốc. Có một số vùng có độ cao  
trên 1000m như Sapa- Đà Lạt, Tam Đảo...nên thuận lợi cho việc di nhập một số cây  
như: Actiso, dương địa hoàng. Bờ biển nước ta dài trên 3200 km chạy dài từ Bắc vào  
Nam nên có nhiều hải sản quý dùng làm thuốc. Nếu biết tận dụng khai thác, nghiên  
cứu nuôi trồng một cách hợp lý sẽ có nhiều đóng góp cho ngành dược và phát triển  
kinh tế nước nhà.  
Về kinh tế, Nhà nước xếp cây thuốc vào loại cây công nghiệp cao cấp cần được  
phát triển. Hàng năm, các công ty dược liệu cấp I và cấp II, gần đây cả các công ty tư  
nhân đã khai thác nhiều mặt hàng có giá trị để sử dụng trong nước và xuất khẩu như:  
hoa hoè, quế, sa nhân, dừa cạn, các loại tinh dầu như: tinh dầu hồi, tinh dầu tràm, tinh  
dầu bạc hà, tinh dầu sả...  
Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến công tác phát triển, nuôi trồng và khai thác  
dược liệu thể hiện qua báo cáo chính trị của Ban chấp hành TƯ Đảng “ một nhiệm vụ  
cấp bách là khai thác mọi khả năng sẵn có trong nước nhằm tạo cho được các nguồn  
dược liệu, tích cực xây dựng công nghiệp dược phẩm và sản xuất thiết bị y tế tạo mọi  
điều kiện để sớm khắc phục tình trạng thiếu thuốc kể cả con đường xuất để nhập”  
Qua đó càng thấy rõ vai trò quan trọng của dược liệu trong ngành y tế và nền y  
tế quốc dân  
II.THU HÁI, CHẾ BIẾN VÀ BẢO QUẢN DƯỢC LIỆU  
1. Thu hái dược liệu  
Dược liệu có chất lượng tốt hay xấu chủ yếu là do hàm lượng hoạt chất chứa  
trong dược liệu nhiều hay ít. Hoạt chất của dược liệu thay đổi bởi nhiều yếu tố như:  
trồng trọt, thu hái, phơi sấy, bảo quản, đặc biệt là vấn đề thu hái. Nếu thu hái đúng  
nguyên tắc thì hàm lượng hoạt chất có trong dược liệu đạt mức tối đa. Trong mỗi dược  
liệu có thể có nhiều hoạt chất khác nhau, hàm lượng của mỗi hoạt chất có thể tuỳ theo  
mùa, theo chu kỳ phát triển của cây. Nếu ta thu hoạch đúng thời gian thì sẽ nhận được  
dược liệu có chứa hoạt chất tối đa. Ví dụ: Bạc hà, hàm lượng tinh dầu (Menthol) đạt  
tối đa lúc cây bắt đầu ra hoa, thu hoạch lúc trời nắng  
Với cây canhkina, hàm lượng alkaloid trong vỏ cây tăng theo thời gian phát  
triển của cây và đạt tối đa vào năm thứ 7.  
Sau đây là nguyên tắc chung quy định thời kỳ thu hoạch cho từng bộ phận của  
cây.  
1.1. Rễ và thân rễ: nên thu hoạch vào thời kỳ mùa thu hoặc mùa đông. Lúc đó, rễ và  
thân rễ chứa nhiều hoạt chất nhất. Song cũng có trường hợp đặc biệt như rễ bồ công  
8
anh cần thu hái vào giữa mùa hè vì lúc đó ở rễ mới có nhiều hoạt chất cần cho việc  
chữa bệnh.  
Rễ và thân rễ nói chung có thể đào vào lúc ẩm ướt vì sau đó vẫn phải rửa sạch  
đất cát trước khi phơi sấy hoặc chế biến.  
1.2. Vỏ cây: thường thu hoạch vào mùa xuân, thời kỳ này nhựa cây hoạt động mạnh,  
nhiều hoạt chất, vỏ dễ bóc. Đôi khi có thể thu hái vào mùa thu khi cây sắp tàn lụi.  
1.3. Lá và ngọn cây: Thường thu hái cho thời kỳ cây quang hợp mạnh nhất, đặc biệt là  
thời kỳ cây bắt đầu ra hoa, không nên hái khi quả và hạt đã chín.  
1.4. Hoa: Phải hái lúc trời nắng ráo, hái trước hoặc đúng lúc ra hoa, thụ phấn; trừ vài  
trường hợp như hoa hoè hoặc đinh hương (hái khi chưa nở hoa, còn ở trạng thái nụ)  
1.5. Quả: Thu hoạch tuỳ theo từng loại, có loại hái khi quả đã già như tiểu hồi, sà  
sàng; có khi hái trước khi quả chín như quả mở, hồ tiêu; cũng có khi hái quả còn xanh  
thì hoạt chất nhiều, khi chín thì hoạt chất thấp.  
1.6. Hạt: Thu hái khi quả chín già. Riêng đối với loại quả tự mở khi chín, thì thu hái  
vào thời điểm quả bắt đầu chín.  
1.7. Thân cây: Thu hái khi cây bắt đầu ra hoa, cắt từ phía dưới lá tươi cuối cùng của  
các bộ phận của cây trên mặt đất như thân, nhánh mang lá hoa (bỏ phần thân, nhánh  
không còn lá, gốc rễ.  
Trên đây là một số nguyên tắc chung, tuy nhiên người làm công tác dược liệu  
cần chú ý theo dõi sự thay đổi hàm lượng của hoạt chất, định thời gian thu hoạch để  
được kết quả tốt nhất.  
2. Ổn định dược liệu  
Dược liệu có nguồn gốc thảo mộc thường chứa nhiều enzym như: enzym thuỷ  
phân cắt các dây nối osid, enzym oxy hoá, enzym trùng hợp hoá… Người ta đã phân  
lập được hàng trăm enzym khác nhau. Bản chất của enzym là protein hoặc có phần cơ  
bản là protein. Tuy vậy, cấu trúc của chúng chưa được biết đầy đủ. Có thể nói enzym  
là những chất xúc tác hữu cơ của các phản ứng xảy ra trong các tế bào thực vật và  
động vật. Enzym tồn tại trong dược thảo sau khi thu hái sẽ hoạt động mạnh ở nhiệt độ  
25oC đến 50oC, với độ ẩm thích hợp; chúng tác động lên các hoạt chất có tác dụng  
chữa bệnh để chuyển thành các sản phẩm ít hoặc không có tác dụng chữa bệnh.  
Với phương pháp làm khô sẽ trình bày sau đây hoặc làm lạnh hoặc nghiền dược  
liệu tươi với các hoá chất như amoni sulfat, natri clorid thường chỉ ức chế enzym.  
Chúng sẽ hoạt động trở lại khi có điều kiện thích hợp. Để phá huỷ enzym, làm cho  
chúng không hoạt động trở lại người ta đề ra các phương pháp gọi là phương pháp ổn  
định.  
9
2.1. Phương pháp phá hủy enzym bằng cồn sôi:  
Cách làm như sau: Cắt nhỏ dược liệu tươi thả từng ít một vào cồn 95o đang sôi.  
Lượng cồn dùng thường gấp 5 lần lượng dược liệu. Sau khi đã cho hết dược liệu lắp  
ống sinh hàn đứng và giữ cho cồn sôi 30-40 phút, để nguội gạn lấy cồn. Dược liệu đem  
giã nhỏ và chiết kiệt lần 2. Như vậy ta có một dung dịch cồn hoặc cao sau khi bốc hơi  
cồn chứa các hoạt chất của cây tươi.  
2.2. Phương pháp dùng nhiệt ẩm:  
- Hơi cồn:  
Dùng nồi hấp cho vào ít cồn 95o xếp dược liệu trên các vỉ chồng lên nhau, vỉ  
dưới cùng nằm trên mặt cồn, vỉ trên cùng được đậy bằng nón kín sao cho cồn khi đọng  
lại không nhỏ lên dược liệu. Đậy nồi vòi thoát để ngỏ. Đun nhanh và dẫn hơi cồn ra xa  
lửa bằng một ống dẫn. Sau khi đã xả hết không khí, đóng vòi lại làm tăng áp suất và  
giữ vài phút ở 1,25 atmophe. Để nguội mở nồi lấy dược liệu ra làm khô. Phương pháp  
này cho ta dược liệu có màu sắc đẹp, thành phần hoá học giống dược liệu tươi.  
- Hơi nước:  
Cách tiến hành như trên nhưng thay cồn bằng hơi nước và giữ ở nhiệt độ 105-  
110oC trong vài phút. Phương pháp này hay dùng với dược liệu dày, cứng như rễ, vỏ,  
thân, hạt; nhưng có nhược điểm tinh bột biến thành hồ, protein bị đông lại do đó sau  
khi làm khô dược liệu có trạng thái sừng làm cho việc chiết xuất hoạt chất khó khăn.  
2.3. Phương pháp dùng nhiệt khô:  
Phương pháp này được sử dụng từ lâu để chế biến chè xanh bằng cách sao để  
phá huỷ enzym, ngược lại muốn chế chè đen thì để cho enzym hoạt động. Ở quy mô  
công nghiệp, người ta ổn định bằng cách thổi một luồng gió nóng 80-110oC có khi còn  
nóng đến 300oC trong một thời gian ngắn đi qua dược liệu. Phương pháp này không  
hoàn hảo vì trong môi trường khô enzym khó bị phân huỷ. Ngoài ra vì do làm nóng  
nhanh nên tạo ra xung quanh dược liệu một lớp mỏng khô phía ngoài làm cho việc làm  
khô dược liệu bị khó khăn, hơn nữa một vài chất trong dược liệu cũng bị biến đổi như  
protein bị vón, tinh dầu bị bay hơi, đường bị caramen.  
Đó là một số phương pháp chính để phá huỷ enzym đảm bảo cho hoạt chất trong  
dược liệu sau khi làm khô được giữ nguyên vẹn như khi còn tươi.  
Tuy nhiên cũng có trường hợp người ta cứ để enzym tồn tại hoạt động để làm  
tăng lượng hoạt chất mong muốn để chữa bệnh. Ví dụ: muốn làm tăng lượng diosgenin  
trong nguyên liệu người ta ủ nguyên liệu tươi trong nước.  
3. Làm khô dược liệu  
Làm khô dược liệu nhằm mục đích để bảo quản dược liệu khỏi bị nhiễm nấm  
mốc, nhiễm vi khuẩn, khỏi bị tác động của enzym, hạn chế các biến đổi hoá học có thể  
10  
xảy ra trong dược liệu, như: thuỷ phân, oxy hoá, đồng phân hóa, trùng hợp hóa... Dược  
liệu khô sẽ dễ xay nghiền và vận chuyển thuận lợi. Làm khô liên quan đến 2 yếu tố là  
nhiệt độ và thông hơi. Tuỳ theo yêu cầu của mỗi dược liệu mà nhiệt độ và thời gian  
phơi sấy được khống chế.  
3.1. Phơi: Có hai cách phơi:  
- Phơi dưới ánh nắng mặt trời: thông thường dược liệu được trải trên các tấm  
liếp đặt cao khỏi mặt đất vừa để tránh lẫn đất cát vừa để thoáng khí cả 2 mặt. Trong  
quá trình phơi thường xuyên đảo, thời gian phơi có thể kéo dài từ vài giờ đến vài ngày  
tuỳ theo lượng nước chứa trong dược liệu và tuỳ theo thời tiết.  
Cách phơi này đơn giản ít tốn kém nhưng có một số nhược điểm như bị động  
bởi thời tiết, nhiễm bụi, thu hút ruồi nhặng với dược liệu có đường, một số hoạt chất  
trong dược liệu có thể bị biến đổi bởi tia tử ngoại  
- Phơi trong bóng râm: Dược liệu trải mỏng trên các liếp hoặc buộc thành bó  
nhỏ rồi treo hay vắt theo hình chữ X trên các sợi dây thép. Việc làm khô được để  
trong nhà xung quanh không có vách. Phơi trong râm thường áp dụng với dược liệu là  
hoa để bảo vệ màu sắc hoặc các dược liệu chứa tinh dầu.  
3.2. Sấy: là biện pháp tuy tốn kém song có lợi ở chỗ không bị động bởi thời tiết, rút  
ngắn thời gian làm khô, bảo vệ dược liệu khỏi bị ảnh hưởng bởi tia tử ngoại, làm khô  
nhanh làm giảm tác động của enzym tới hoạt chất có trong dược liệu.  
Khác với phơi, sấy phải thực hiện trong buồng kín có lỗ thông hơi, nhiệt độ của  
lò sấy có thể điều chỉnh thay đổi từ 30-80oC lúc khởi đầu không nên để nhiệt độ quá  
cao vì sẽ tạo ra lớp mỏng khô bao ngoài dược liệu ngăn cản sự bốc hơi nước của lớp  
bên trong. Điều kiện thông hơi thường dùng quạt hút cũng phải theo dõi để vừa đủ đẩy  
hết không khí bão hoà hơi nước khỏ buồng sấy, đối với các loại củ, rễ hoặc thân rễ  
thường thái mỏng hay đập dập để dễ khô.  
Hiện nay với dược liệu người ta hay thiết kế buồng sấy kiểu hầm thông: thiết bị  
cung cấp nhiệt được đặt ở một đầu buồng sấy và ở dưới thấp, quạt gió hút ở đầu đối  
diện và phía trên cao. Trong hầm thông có các đường ray để các xe mang các khay sấy  
chứa dược liệu di chuyển dễ dàng. Các khay xếp chồng lên nhau có khoảng cách ở  
giữa vừa đủ để không khí lưu thông dễ dàng. Lúc bắt đầu sấy người ta đặt xe ở đầu lối  
vao đối diện với nguồn cung cấp nhiệt sau đó đẩy xe thứ 1 lên rồi xe thứ 2 và cứ tiếp  
tục tiến hành như vậy. Điều chỉnh nhiệt độ và để thời gian khi xe tới gần lò nhiệt thì  
dược liệu đã khô và cho ra khỏi lò sấy.  
3.3. Làm khô trong tủ sấy ở áp suất giảm:  
Dược liệu được đặt trong tủ sấy có cửa đóng kín có nhiệt kế để theo dõi nhiệt  
độ và đồng hồ đo áp suất. Tủ được nối với máy hút chân không. Nhờ sấy ở điều kiện  
11  
áp suất giảm nên thời gian sấy nhanh và có thể sấy ở nhiệt độ thấp (25-40oC) Phương  
pháp này không thực hiện được với khối lượng dược liệu lớn, thường dùng làm khô  
một số cao thuốc hoặc sấy dược liệu quý mà hoạt chất dễ bị hỏng bởi nhiệt độ.  
3.4. Đông khô:  
Đây là phương pháp làm khô bằng cách cho tinh thể nước đá thăng hoa. Muốn  
vậy trước hết cho nguyên liệu được làm lạnh thật nhanh ở nhiệt độ rất thấp (-80oC) để  
nước chứa bên trong nguyên liệu kết tinh nhanh ở dạng tinh thể nhỏ. Nguyên liệu được  
giữ ở nhiệt độ thấp trong quá trình đông khô và được đặt trong buồng kín có nối với  
máy hút chân không. Nước ở thể rắn trong nguyên liệu sẽ thăng hoa trong điều kiện áp  
suất rất giảm (10-5mmHg). Với phương pháp đông khô nguyên liệu có thể làm khô  
tuyệt đối, các hoạt chất không bị bay hơi cũng được bảo vệ nguyên vẹn, các enzym bị  
ức chế nhưng có thể hoạt động trở lại ở điều kiện bình thường, cấu trúc của các mô  
cũng không bị biến đổi. Phương pháp đông khô thường chỉ dùng để làm khô một số  
dược liệu quý như nọc rắn, sữa ong chúa hoặc trong phòng thí nghiệm để nghiên cứu  
dược liệu chứa những chất dễ bị biến đổi.  
4. Chọn lựa đóng gói và bảo quản dược liệu  
4.1. Chọn lựa:  
Việc chọn lựa mặc dầu đã được thực hiện trong quá trình thu hái. Tuy nhiên sau  
khi sấy khô nhất thiết phải chọn lại dược liệu trước khi đóng gói đưa ra thị trường để  
đảm bảo dược liệu đạt tiêu chuẩn quy định. Một số quy định thường được đề ra là:  
- Tạp chất bao gồm các tạp chất hữu cơ (Rơm, rác, vật lạ khác...) hoặc vô cơ  
(đất, cát...)  
- Các bộ phận khác không phải bộ phận quy định được dùng (lá lẫn với cành, rễ  
lẫn với thân....)  
- Màu sắc, mùi vị  
- Tỷ lệ vụn nát  
- Nhiều mối mọt  
Công việc chọn lựa chủ yếu bằng tay, có thể dùng dụng cụ hoặc máy móc đơn  
giản như rây có các cỡ mắt khác nhau, quạt gió...  
4.2. Đóng gói:  
Mục đích của đóng gói là bảo vệ dược liệu về mọi mặt trong thời gian vận  
chuyển hay bảo quản.  
Khi đóng gói cần theo đúng tiêu chuẩn về loại bao bì, kích thước, khối lượng,  
hình dáng. Phải có nhãn ghi rõ: Tên dược liệu, khối lượng nguyên, khối lượng cả bì,  
nơi sản xuất, số kiểm soát. Nếu đóng gói nhỏ có thể dùng ngay thì trên nhãn ghi rõ cả  
công dụng, cách dùng, liều dùng, hạn dùng.  
12  
4.3. Bảo quản:  
Bảo quản dược liệu nhằm giữ hình thức và phẩm chất của dược liệu không bị  
giảm sút.  
Trong thời gian bảo quản, dược liệu chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố: Nhiệt độ,  
ánh sáng, độ ẩm, đặc biệt ẩm ướt là nguyên nhân chính làm giảm chất lượng dược  
liệu. Nếu dược liệu dễ hút ẩm phải đựng trong bao bì bằng nhựa tổng hợp hay bằng  
sắt, đáy có để chất hút ẩm.  
Muốn bảo vệ dược liệu tốt phải xây dựng kho chứa đúng quy cách. Xây dựng  
bằng nguyên liệu chống cháy, kho phải mát, thoáng gió, khô ráo (có hệ thống thông  
gió) giữa các giá phải có lối đi lại. Các dược liệu xếp theo từng khu vực để dễ tìm, dễ  
kiểm soát. Dược liệu độc như cà độc dược, ô đầu, mã tiền... và các dược liệu có tinh  
dầu như: hồi, quế, bạc hà... phải để riêng, định kỳ theo dõi nấm mốc, sâu bọ.  
Khi dược liệu bị nấm mốc thì phải xử lý như rửa, lau nước hoặc lau cồn rồi  
phơi sấy lại. Nếu nhiễm nặng thì loại bỏ.  
Nếu dược liệu bị sâu mọt thì phương pháp tốt nhất là sấy ở 65oC. Dược liệu với  
số lượng ít và dễ bị sâu mọt thường đựng trong hộp hay thùng sắt kín và nhỏ xuống  
đáy thùng một vài giọt chloroform.  
III. CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ DƯỢC LIỆU  
Đánh giá một dược liệu nghĩa là: Xác định dược liệu đó có đúng tiêu chuẩn quy  
định không. Khi đánh giá dựa vào tiêu chuẩn nhà nước ghi trong Dược điển hoặc tiêu  
chuẩn nghành.  
Tiêu chuẩn của một dược liệu được quy định: đặc điểm bên ngoài, đặc điểm vi  
học, thành phẩm và hàm lượng hoạt chất, tỷ lệ hoạt chất, độ tro, độ ẩm. Những tiêu  
chuẩn đó được đề ra để đảm bảo chất lượng của dược liệu và có căn cứ để giao dịch  
trên thị trường.  
Có thể xếp các phương pháp đánh giá như sau:  
1. Cảm quan  
Phương pháp cảm quan là dùng giác quan của con người để đánh giá như nhìn  
bên ngoài về hình dáng, kích thước, màu sắc, đối với một vài dược liệu phải bẻ ra để  
quan sát bên trong. Mùi là đặc điểm của nhiều dược liệu chứa tinh dầu, nhựa. Vị có thể  
ngọt như cam thảo, cỏ ngọt, long nhãn. Chua với dược liệu chứa acid hữu cơ. Đắng  
với dược liệu chứa alcaloid, glycosid. Cay như ớt, gừng, hạt tiêu....  
2. Sử dụng kính hiển vi  
Phương pháp này bao gồm soi vi phẫu và soi bột. Đây là phương pháp hay  
dùng nhất để kiểm nghiệm dược liệu. Trong một vài trường hợp, phương pháp này lợi  
hơn phương pháp hoá học. Ví dụ: phân biệt các loại tinh bột. Một vài mảnh lá trúc đào  
13  
trong dạ dày tử thi được xác định dễ dàng bằng soi vi phẫu hơn là làm phản ứng tìm  
oleandrosid.  
Dùng kính hiển vi không chỉ xác định sự giả mạo mà còn có thể ước lượng tỷ lệ  
chất giả mạo căn cứ vào số lượng các đặc điểm nào đó của màu dược liệu so sánh với  
màu đối chứng.  
3. Phương pháp hoá học  
Phần lớn các dược liệu đều có thành phần hoạt chất xác định, các hoạt chất này  
có thể cho các phản ứng màu đặc trưng. Người ta dựa vào đó để định tính và định  
lượng. Đôi khi người ta dựa vào thành phần hoá học không phải là hoạt chất chữa bệnh  
nhưng lại đặc trưng cho dược liệu đó để đánh giá. ( Ta tìm hiểu trong các chương cụ  
thể về sau)  
4. Phương pháp vật lý  
Trong nhiều trường hợp có thể phát hiện bị pha lẫn hay giả mạo bằng cách soi  
mặt cắt dược liệu hay bột dược liệu dưới đèn phân tích tử ngoại. Có khi trước khi soi,  
nhỏ lên bột dược liệu một vài loại thuốc thử (kiềm, acid...) Một số cao dược liệu cũng  
cho màu sắc khác nhau các hoạt chất cũng vậy.  
Ví dụ: Aconitin (lơ sáng), Berberin (vàng), Emetin (đỏ cam)...  
Trong dung dịch oxy acid ngay dưới ánh sáng thường và rất rõ dưới ánh sáng tử  
ngoại.  
Việc ứng dụng các hằng số vật lý để đánh giá thường hay tiến hành đối với tinh  
dầu, dầu béo và các hoạt chất.  
Tỷ trọng: (đặc biệt với tinh dầu và dầu béo)  
Vi dụ: Tỷ trọng tinh dầu bạc hà ở 20oC là 0.890-0.922. Tỷ trọng của mật ong ở  
20oC là không dưới 1.380.  
α
Góc quay cực riêng:  
25  
Đối với chất lỏng như tinh dầu, dầu béo thì: [α]D  
=
ld  
α x 100  
25  
Đối với hoạt chất rắn: [α]D  
α = góc quay cực đo được  
=
l x c  
l = bề dày lớp chất tính bằng decimet  
d = tỉ trọng chất  
c = nồng độ phần trăm của chất trong dung dịch  
đo góc quay cực và tỷ trọng ở cùng nhiệt độ ví dụ ở đây là 25oC.  
14  
Chỉ số khúc xạ:  
đặc biệt với tinh dầu và dầu béo.  
Ví dụ: chỉ số khúc xạ của tinh dầu hương nhu trắng ở 20oC = 1.510 – 1.528  
Nhiệt độ đông đặc: Với tinh dầu và dầu béo.  
Ví dụ: nhiệt độ đông đặc của tinh dầu hồi phải trên +15oC.  
Nhiệt độ nóng chảy:  
Với sáp ong hoặc alcaloid, glycosid....  
Ví dụ: nhiệt độ nóng chảy của sáp ong vàng là 62 – 66oC.  
5. Xác định độ ẩm  
Mỗi dược liệu thường được quy định một giới hạn độ ẩm nhất định: như Dược  
điển II tập 3 quy định độ ẩm của lá thanh cao hoa vàng không quá 13%, quá độ ẩm đó  
thì dược liệu dễ bị mốc. Song với việc định lượng hoạt chất cũng cần phải xác định độ  
ẩm để quy hàm lượng so với dược liệu khô tuyệt đối.  
Có thể xác định độ ẩm bằng cách sau:  
- Sấy trong tủ sấy ở áp suất bình thường  
- Sấy trong tủ sấy ở áp suất giảm (có máy hút chân không)  
- Làm khô trong bình hút ẩm với những chất hút nước mạnh như acid sulfuric  
đậm đặc và áp suất giảm có máy hút chân không.  
Hai cách sau thường áp dụng với dược liệu quý dễ bị hỏng bởi nhiệt độ và ta  
cần thu hồi như sữa ong chúa, nọc rắn.  
Với dược liệu chứa tinh dầu thì xác định độ ẩm bằng phương pháp cất lôi cuốn  
đẳng phí, nghĩa là lôi cuốn nước bằng cách cất với một dung môi hữu cơ không trộn  
lẫn được với nước nhưng lại cho với nước một hỗn hợp đẳng phí có nhiệt độ sôi ổn  
định. Sau khi ngưng tụ và để nguội, nước được tách ra và đọc thể tích. Dung môi hữu  
cơ có thể dùng là xylen, toluen...  
6. Định lượng tro  
Tro toàn phần:  
Tro toàn phần là khối lượng cắn còn lại sau khi nung cháy hoàn toàn một dược  
liệu. Để có thể so sánh được kết quả cần tiến hành trong điều kiện nhất định.  
Ví dụ: Trong chén nung bằng sứ đường kính 35mm, sơ bộ đã đem nung đỏ, để  
nguội và cân bì, đặt mẫu dược liệu đã cắt hoặc tán nhỏ (1-5gram) đã cân chính xác;  
lúc đầu đốt nhẹ rồi tăng dần nhiệt độ để dược liệu cháy hết, cần theo dõi và điều chỉnh  
nhiệt độ để tránh than không bị thoát ra khỏi miệng chén, đốt xong cho chén vào lò  
nung ở nhiệt độ 500oC cho đến khi thu được khối lượng không đổi. Để tránh các dược  
liệu hoá gỗ tạo than khó đốt cháy, có thể ngừng nung rồi làm ẩm bằng nước cất hoặc  
15  
acid nitric đậm đặc rồi đem nung lại. Sau khi tro không còn màu đen, người ta để  
nguội trong bình hút ẩm rồi đem cân khối lượng.  
Tro không tan trong acid hydrocloric:  
Thêm vào tro toàn phần 5ml HCl 10% đậy chén nung bằng một mặt kính đồng  
hồ và đem đun cách thuỷ trong 10 phút. Dùng 5ml nước cất rửa mặt kính đồng hồ.  
Dùng nước rửa này pha loãng dung dịch còn lại trong chén, lọc dung dịch qua giấy  
lọc không tro, Rửa cắn và giấy lọc bằng nước cất nóng cho đến khi nước rửa không  
còn phản ứng của ion cloid nữa, chuyển giấy lọc có chứa cắn vào chén nung ở trên  
sấy khô, đốt rồi nung ở nhiệt độ 500oC cho đến khối lượng không đổi. Trừ trường hợp  
đặc biệt như mộc tặc cho biểu thị chủ yếu là các cấu tạo bởi silicoxyd, do dược liệu  
không làm sạch kĩ.  
Tro sulfat:  
Tro sulfat là tro còn lại khi nhỏ acid sulfuric lên dược liệu và đem nung.  
Phương pháp này cho kết quả ổn định hơn phương pháp tro toàn phần vì các carbonat  
và oxyd được chuyển thành sulfat.  
7. Phương pháp sắc ký  
Đây là phương pháp rất hữu hiệu áp dụng để định tính, định lượng và chiết tách  
các thành phần hoá học của dược liệu. Về cơ sở lý thuyết sắc ký sinh viên đã học ở  
môn phân tích ở đây chỉ nhắc lại một số sắc ký hay áp dụng cho dược liệu là: sắc ký  
cột, sắc ký giấy, sắc ký lớp mỏng và sắc ký khí.  
LƯỢNG GIÁ:  
Trả lời các câu hỏi sau:  
1. Môn học dược liệu ra đời từ khi nào? Ai được coi là ông tổ ngành dược Việt Nam?  
2. Dược liệu có vai trò như thế nào đối với nền kinh tế quốc dân? Chúng ta nên có định  
hướng như thế nào đối với sự phát triển dược liệu trong giai đoạn hiện nay?  
3. Vì sao phải thu hái, chế biến, bảo quản dược liệu? Có những cách thu hái, chế biến  
và bảo quản dược liệu nào?  
4. Tại sao phải đánh giá dược liệu? Có những phương pháp đánh giá dược liệu nào?  
Trả lời các câu sau bằng cách điền từ, cụm từ thích hợp vào chỗ trống (…):  
5. Dược liệu học là môn học nghiên cứu về …. và ….. những nguyên liệu dùng làm  
thuốc có nguồn gốc từ động vật và thực vật.  
6. Kể tên bốn phương pháp đánh giá dược liệu:  
A. …  
B. …  
16  
C. …  
D. …  
Phân biệt đúng sai các câu sau bằng cách đánh dấu vào chữ A (cho câu đúng) và  
chữ B (cho câu sai):  
A – B  
7. Người Ai Cập thời đại xưa đã có trình độ cao về ướp xác từ năm  
1550 trước công nguyên.  
8. Morphin được chiết suất ra từ dược liệu mà chưa thể đi bằng con  
đường tổng hợp.  
A – B  
A – B  
A – B  
A – B  
A – B  
9. Rễ cây được thu hoạch vào thời kỳ thu hoặc đông.  
10. Thân rễ được thu hoạch vào thời kỳ mùa xuân.  
11. Rễ cây Bồ công anh được thu hái vào mùa thu.  
12. Hoa sau khi thu hoạch phải phơi ngay dưới trời nắng để hoa  
không bị thâm.  
A – B  
13. Để chế biến chè xanh người ta phải sao để cho Enzym hoạt động.  
Chọn giải pháp đúng nhất cho các câu sau bằng cách đánh dấu vào đầu giải pháp  
mà bạn lựa chọn:  
14. Ai được coi là ông tổ của ngành dược cổ đại:  
A. Tuệ Tĩnh  
B. A. Petolot  
C. Hippocrat  
D. Hải Thượng Lãn Ông  
15. Ai được nhân dân Việt Nam coi là “Đại y tôn của Việt Nam”:  
A. Hải Thượng Lãn Ông  
B. Tuệ Tĩnh  
C. Đỗ Tất Lợi  
D. Chu Văn An  
16. Ephedrin được chiết xuất ra từ cây:  
A. Dương địa hoàng  
B. Ma hoàng  
C. Cúc hoa vàng  
D. Sừng dê hoa vàng  
17. Bộ phận nào của cây được thu hái vào mùa xuân:  
A. Quả  
B. Thân rễ  
C. Rễ  
17  
D. Vỏ cây  
18. Thân cây thu hái vào thời kỳ:  
A. Cây bắt đầu ra hoa  
B. Khi quả chín  
C. Lúc cây rụng lá  
D. Cây bắt đầu nảy lộc  
19. Phương pháp làm khô bằng cách cho tinh thể nước đá thăng hoa là:  
A. Phơi  
B. Làm khô trong tủ ở áp suất giảm  
C. Sấy  
D. Đông khô  
20. Để ổn định dược liệu, người ta dùng:  
A. 2 phương pháp  
B. 3 phương pháp  
C. 4 phương pháp  
D. 5 phương pháp  
18  
CHƯƠNG II  
DƯỢC LIỆU CHỨA NHỮNG HỢP CHẤT  
ANTHRANOID  
MỤC TIÊU  
1. Trình bày được tính chất, đặc điểm cấu trúc của 3 nhóm anthranoid: nhóm  
phẩm nhuộm, nhóm nhuận tẩy, nhóm dimer.  
2. Trình bày được tính chất của anthranoid và định tính được anthranoid trong  
dược liệu.  
3. Trình bày được nguyên tắc chiết xuất anthranoid từ dược liệu, tác dụng sinh  
học và công dụng của anthranoid.  
4. Trình bày được nguồn gốc, thành phần hóa học, công dụng chính của các  
dược liệu chứa anthranoid và hướng dẫn sử dụng được các dược liệu chứa  
anthranoid..  
NỘI DUNG  
1. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ ANTHRANOID  
Những hợp chất anthranoid nằm trong nhóm lớn hydroxyquinon. Những hợp  
chất quinon cũng là những sắc tố, được tìm thấy chủ yếu trong ngành nấm, địa y, thực  
vật bậc cao nhưng cũng còn tìm thấy trong động vật.  
Căn cứ vào số vòng thơm đính thêm vào nhân quinon mà người ta sắp xếp  
thành benzoquinon, naphtoquinon, anthraquinon và naphtacenquinon hay còn gọi là  
anthracyclinon (4 vòng). Ở đây, chúng ta chỉ đề cập đến nhóm anthraquinon hay  
anthranoid. Khi tồn tại dưới dạng glycosid thì được gọi là anthraglycosid hay  
anthracenosid. Cũng như các loại glycosid khác, anthraglycosid khi bị thuỷ phân thì  
giải phóng ra phần aglycon và phần đường. Phần aglycon là dẫn chất 9, 10-  
anthracendion. Vì trong tự nhiên hầu như chưa gặp các dẫn chất 1,2 hoặc 1,4-  
anthracendion nên khi nói đến các dẫn chất anthraquinon trong tự nhiên thì người ta  
hiểu rằng đó là những dẫn chất 9,10-anthracendion.  
2. PHÂN NHÓM  
2.1. Nhóm phẩm nhuộm  
Những dẫn chất thuộc nhóm này có màu từ đỏ cam đến tía; trong cấu trúc có 2  
nhóm OH kế cận ở vị trí và hay gặp trong một số chi thuộc họ Cà phê -  
Rubiaceae. Ví dụ: alizarin = 1,2- dihydroxy anthraquinon; acid ruberythric = 2-  
primeverosid của alizarin; Purpurin = 1,2,4- trihydroxyanthraquinon.  
19  
Purpurin  
Alizarin  
2.2. Nhóm nhuận tẩy  
Những dẫn chất thuộc nhóm này thường có 2 nhóm OH đính ở vị trí 1,8 và ở vị  
trí 3 thường là nhóm CH3, CH2OH, CHO hoặc COOH nên còn được gọi là nhóm  
oxymethyl-anthraquinon. Người ta hay gặp các dẫn chất có cùng cấu trúc, chỉ khác  
nhau ở mức độ oxy hoá ở C3, trong cùng một loài. Ví dụ trong đại hoàng, chút chít,  
thảo quyết minh thì có mặt cả 3 chất chrysophanol, aloe emodin, rhein.  
Chrysophanol: R=CH3  
Aloe emodin R=CH2OH  
Rhein R=COOH  
Những dẫn chất anthranoid khi ở trong thực vật có thể tồn tại dưới dạng oxy  
hoá (anthraquinon) hoặc dạng khử (anthron, anthranol). Nếu khử một trong 2 nhóm  
chức aceton của anthraquinon sẽ cho dẫn chất anthron hoặc đồng phân hổ biến của  
chất này là anthranol (dạng enol). Nếu khử tiếp thì dẫn đến dẫn chất dihydroanthranol.  
Dạng khử có tác dụng xổ mạnh nhưng hay gây đau bụng, vì vậy một số dược  
liệu chứa anthranoid phải để một năm sau khi thu hái mới dùng để dạng khử chuyển  
thành dạng oxy hoá.  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 286 trang Thùy Anh 13800 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Dược liệu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_duoc_lieu.pdf