Giáo trình Điều dưỡng cơ bản 1

ĐIỀU DƯỠNG CƠ BẢN 1 – TRUNG CẤP  
Bài 1  
LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN NGÀNH ĐIỀU DƯỠNG TRÊN THẾ GIỚI  
VÀ ĐIỀU DƯỠNG Ở VIỆT NAM  
MôC TI£U  
Nêu được sơ lược lch sphát triển ngành Điều dưỡng Vit Nam  
và trên thế giới.  
I. TRÊN THGII  
- Điều dưỡng (Nursing) có nghĩa là chăm sóc, nuôi dưỡng. Nguồn gốc của sự chăm sóc  
là từ những hành động của bà mẹ đối với con kể từ khi chúng mới lọt lòng cho đến khi  
trưởng thành.  
- Từ thời xa xưa do kém hiểu biết, con người tin vào thần linh và thượng đế. Họ cho rằng  
“Thần linh là đấng thiêng liêng có quyền uy”, “Thượng đế ban sự sống cho muôn loài...”.  
Khi có bệnh, họ mời các pháp sư đến cầu kinh để chữa bệnh, khi chết, họ cho rằng đó là  
tại số, tại thượng đế không cho sống. Từ đó hình thành nên các miếu, đền thờ và hình  
thành tự phát các trung tâm chăm sóc, nuôi dưỡng người ốm tại đây. Các pháp sư lo cầu  
kinh chữa bệnh, các nhóm người (phụ nữ) chuyên lo việc chăm sóc bệnh nhân. Từ đó hình  
thành mối liên kết giữa: Y khoa - Điều dưỡng - Tôn giáo.  
- Năm 60, bà Phoebe (Hy Lạp) đã chủ động đến từng nhà có người ốm để chăm sóc. Sau  
này bà được suy tôn là nữ điều dưỡng tại gia đầu tiên trên thế giới.  
- Thế kỷ IV, bà Phabiola (La Mã) đã dành căn nhà sang trọng của mình để đón những  
người nghèo khổ đau ốm về để bà chăm sóc.  
- Thời kỳ chiến tranh (viễn chinh) ở Châu Âu, có nhiều bệnh viện được thành lập để  
chăm sóc những người hành hương bị đau ốm, từ đó nghề điều dưỡng đã tự phát hình  
thành và được nhiều người tôn kính.  
- Đến thế kỷ XVI, chế độ nhà tù ở Anh bị bãi bỏ, các tổ chức tôn giáo bị giải tán, thiếu  
hụt trầm trọng người chăm sóc những người ốm. Những người phụ nữ bị phạm tội thay  
vì đi tù họ đã được lựa chọn là những người chăm sóc người ốm. Do đó những quan  
niệm xấu về nghề điều dưỡng đã hình thành từ đây.  
- Giữa thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, bà Floren Nightingale (1820) là phụ nữ Anh. Bà  
sinh ra và lớn lên trong gia đình giàu có, được học hành, biết ngoại ngữ, song bà có hoài  
bão và ước mơ được giúp đỡ những người nghèo. Vượt qua mọi trở ngại, phản kháng  
1
của gia đình, bà đã học và làm việc tại bệnh viện Kaiser Weth (Đức) năm 1847, Pháp  
năm 1853.  
+ Trong những năm 1854 - 1855 chiến tranh crime nổ ra, bà được phái sang Thổ Nhĩ  
Kỳ cùng 38 phụ nữ khác tham gia chăm sóc thương bệnh binh của quân đội Hoàng gia  
Anh. Tại đây bà đã đưa ra lý thuyết về khoa học vệ sinh tại các cơ sở Y tế và sau 2 năm  
thực hiện, bà đã làm giảm tỷ lệ chết do nhiễm trùng từ 42% xuống còn 2%. Bà đã làm  
việc cần cù chăm chỉ, đêm đêm cầm ngọn đèn đi tua, chăm sóc thương bệnh binh. Và,  
bà đã để lại hình tượng đẹp trong lòng các thương binh. Sau này trở về nước vì điều kiện  
sức khoẻ bà không thể tiếp tục làm việc, nhưng nhân dân và người lính Anh tặng thưởng  
bà 50.000 bảng Anh.  
Song Bà Floren đã dùng toàn bộ số tiền trên để thành lập trường điều dưỡng đầu tiên trên  
thế giới (1860) với chương trình đào tạo 1 năm, đã tạo nền móng cho hệ thống đào tạo điều  
dưỡng ở Anh và nhiều nước trên thế giới,.  
Hình 1. Bà Florence Nightingale (1820-1910)  
Hội Điều dưỡng thế giới đã quyết định lấy ngày sinh của bà (12/5) làm ngày điều dưỡng  
thế giới.  
Và Ngọn đèn dầu đã trở thành biểu tượng của ngành Điều dưỡng (hình 2).  
Hình 2. Hình nh chiếc đèn cầy  
Hiện nay, ngành điều dưỡng trên thế giới đã lớn mạnh, được coi trọng như các ngành  
khoa học khác, có nhiều trình độ và chức danh khác nhau, đạt được nhiều thành tích  
đáng ghi nhận.  
2
Hình 3. Tượng bà Florence  
Nightingale ti bo tàng  
Hi Điu dưỡng Thái Lan  
Hình 4. Bo tàng Florence Nightingale  
ti thủ đô Luân Đôn  
Các nước trên thế giới đã hình thành hai lĩnh vực: Lĩnh vực khám chữa bệnh do y, bác  
sĩ đảm nhiệm và lĩnh vực chăm sóc phục vụ do điều dưỡng viên đảm nhiệm. Mỗi lĩnh  
vực đều đòi hỏi cán bộ có trình độ ở bậc trung học, đại học, sau đại học. Ở các nước tiên  
tiến như Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Úc.... và một số nước phát triển trong khu vực như: Thái  
Lan, Hàn Quốc, Malaixia....việc đào tạo điều dưỡng đã đi vào nề nếp và có hệ thống, ổn  
định về quy mô đào tạo, ổn định về đội ngũ cán bộ giảng dạy đảm bảo đạt chuẩn. Ở  
Philippin có hơn 100 trường điều dưỡng. Ở Thái Lan có 55 trường điều dưỡng, đối tượng  
đào tạo từ sơ cấp đến trên đại học: trợ lý điều dưỡng đào tạo 6 tháng (Nuses aide), điều  
dưỡng đào tạo 1 năm (pratical Nurses), điều dưỡng đào tạo 2 năm (technical Nurses),  
đại học (Bachelor of Nursing Science) đào tạo 4 năm, Thạc sĩ điều dưỡng khoa học  
(master of Nursing Science) đào tạo 2 năm và tiến sĩ điều dưỡng khoa học (PhD of  
Nursing Science) đào tạo 3 năm. Hội đồng quốc gia (Nursing council) cấp chứng chỉ  
hành nghề (Regitered Nurses). Ví dụ cụ thể tại một bệnh viện thực hành của Trường đại  
học Điều dưỡng Chiang Mai Thái Lan có 1673 giường bệnh thì có: 1309 có Regitered  
Nurses có trình độ cử nhân trở lên (gồm 2 TS, 91 ThS, 1216 cử nhân điều dưỡng), 828  
điều dưỡng (paractical nurses) và 365 hộ lý (nurses aide), như vậy tổng có 2514 điều  
dưỡng viên trên tổng số 500 bác sĩ.  
Trường Sydney và trường Đại học Flinder của Nam Úc đào tạo cử nhân điều dưỡng và  
thạc sĩ chuyên khoa điều dưỡng về Hồi sức, sức khỏe tâm thần, Nhi....  
Ở Hà Lan đào tạo 5 trình độ điều dưỡng và đào tạo trên đại học:  
+ Trình độ 4 và 5 (Level 4, 5 - Nurse): đào tạo 4 năm.  
+ Trình độ 3 (Level 3 - Care - worker): đào tạo 3 năm  
+ Trình độ 2 (Level 2 - Care helper): đào tạo 2 năm  
+ Trình độ 1 (Level - Care assistannt): đào tạo 1 năm.  
3
Trong các bệnh viện của Hà Lan sử dụng cả 5 loại hình đối tượng đào tạo trên và  
các điều dưỡng viên có tình độ trên đại học. Ở Anh còn có cả hệ thống điều dưỡng viên  
làm cố vấn điều dưỡng (consultant) thậm chí được quyền khám bệnh và đơn thuốc….  
Số lượng điều dưỡng trên bác sĩ của các nước đạt tỷ lệ cao theo khuyến cáo của  
tổ chức Y tế thế giới (WHO) tỷ lệ này là từ 1:4 đến 1:8 (xem bảng 1)  
Bng 1: So sánh tlbác sỹ và điều dưỡng ca mt số nước khác  
Tên nước  
Thái Lan  
Thụy Điển  
Canada  
Số bác sĩ  
12,713  
21,700  
52,863  
7,012  
Số điều dưng  
153,296  
228,800  
333,675  
32,889  
Tlệ  
1: 12,0  
1: 10,5  
1: 6,3  
1: 4,7  
1: 4,4  
1: 3,7  
1: 3,5  
Malaysia  
Hng Kông  
Nht Bn  
Indonesia  
6,544  
29,062  
203,797  
33,522  
745,291  
115,428  
II. Ở VIỆT NAM  
Vào Thời kỳ Pháp thuộc đã xây nhiều bệnh viện, trước năm 1900 ban hành chế độ học  
việc cho những người muốn làm việc tại các bệnh viện. Việc đào tạo là không chính  
quy, chỉ là cầm tay chỉ việc, họ là những người giúp việc, thạo kỹ thuật vững tay nghề,  
phụ giúp cho bác sĩ.  
- Năm 1901 người Pháp mở lớp Nam y tá đầu tiên tại bệnh viện chợ Quán nơi điều trị  
bệnh tâm thần và bệnh phong.  
- Năm 1923 mở trường đào tạo y tá tại bản xứ, chế độ chính sách không coi trọng người  
bản xứ, coi y tá như là người giúp việc, lương thấp.  
- Năm 1924 hội y tá ái hữu và nữ Hộ sinh Đông dương thành lập do ông Lâm Quang  
Thiêm phụ trách.  
- Ở miền Bắc, sau cách mạng tháng 8 năm 1945 lớp y tá đầu tiên được mở, với thời gian  
học 6 tháng, do GS Đỗ Xuân Hợp làm hiệu trưởng, ở quân khu Việt Bắc sau đó đến liên  
khu III cùng mở lớp đào tạo y tá.  
- Trong những năm 50, do nhu cầu của cuộc chiến tranh, cục quân y mở lớp đào tạo y tá cấp  
tốc 3 tháng. Trong giai đoạn này, cơ sở vật chất rất nghèo nàn, thiếu thuốc men, phương tiện  
thô sơ, lạc hậu. Việc điều trị cho thương bệnh binh chủ yếu dựa vào chăm sóc.  
- Năm 1954, Bộ Y tế đã xây dựng chương trình đào tạo y tá sơ cấp.  
4
- Năm 1956, có trường điều dưỡng riêng với chương trình đào tạo 3 năm.  
- Năm 1960, một số bệnh viện và trường trung học y tế trung cấp 2 năm 6 tháng cho đối  
tượng tốt nghiệp lớp 7 phổ thông, tại Bệnh viện Bạch Mai và các trường trung cấp y tế  
khác.  
- Năm 1968, mở lớp đào tạo y tá 12 tháng (sơ cấp).  
- Năm 1970, Hội điều dưỡng miền Nam Việt Nam thành lập.  
- Năm 1973, mở lớp đào tạo điều dưỡng công cộng 3 năm.  
Sau 1975 Bộ Y tế đã thống nhất chỉ đạo công tác chăm sóc và điều trị bệnh nhân trong  
cả nước, nghề điều dưỡng cũng có tiếng nói chung cho cả 2 miền.  
Về công tác tổ chức, năm 1982, Bộ Y tế ban hành quyết định thành lập phòng điều  
dưỡng trong các bệnh viện có từ 150 giường bệnh trở lên.  
- Năm 1992 thành lập phòng điều dưỡng của bộ Y tế nằm trong vụ điều trị.  
- Tháng 4 - 2002, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ký quyết định phê duyệt kế hoạch hành động  
quốc gia về tăng cường công tác điều dưỡng - hộ sinh giai đoạn 2002 - 2010.  
Về mặt kiện toàn tổ chức năm 2010:  
+ Có: 01 Thạc sỹ Phạm Đức Mục, Phó Cục trưởng Cục Khám chữa bệnh - Bộ Y tế; 02 Phó  
Giám đốc bệnh viện Điều dưỡng; 01 Tiến sỹ điều dưỡng...  
+ Đã có chương trình và đào tạo Thạc sỹ Điều dưỡng ở Việt Nam  
+ Mỗi cơ sở y tế có một điều dưỡng trưởng là phó trưởng phòng nghiệp vụ y phụ trách  
công tác điều dưỡng - hộ sinh.  
+ Bệnh viện trung ương, bệnh viện tỉnh, bệnh viện bộ ngành có phòng điều dưỡng, có  
một phó giám đốc bệnh viện là điều dưỡng - hộ sinh phụ trách công tác chăm sóc, mỗi  
khoa có một phó trưởng khoa là điều dưỡng phụ trách công tác chăm sóc.  
+ Trung tâm y tế quận huyện, thành phố trực thuộc tỉnh có phòng điều dưỡng - hộ sinh  
phụ trách công tác chăm sóc.  
+ Đảm bảo tỷ lệ 1 bác sĩ có 2,5 - 3 điều dưỡng - hộ sinh phụ trách công tác chăm sóc.  
Về công tác đào tạo, phát triển nhân lực:  
- Năm 1985, mở khóa đào tạo đại học điều dưỡng tại tại chức đầu tiên tại trường Đại  
học Y Hà Nội và Y Dược thành phố Hồ Chí Minh.  
- Năm 1993, chuyển đổi mô hình đào tạo y tá trung học thành Cao đẳng điều dưỡng (tại  
Trường Cao đẳng Y tế Nam Định).  
- Năm 1994, mở lớp đào tạo Cao đẳng Điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật viên tại chức tại  
Trường Cao đẳng Y tế Nam Định, trường Đại học Y Hà Nội, Đại học Y - Dược thành  
phố Hồ Chí Minh.  
- Năm 1995, tại trường Đại học Y Hà Nội, Y - Dược thành phố Hồ Chí Minh đã mở hệ  
đào tạo Cao đẳng Điều dưỡng chính quy.  
5
- Năm 2002, đào tạo cử nhân điều dưỡng tại chức tại Trường Đại học Y Hà Nội, đại học  
Y Huế và đại học Y - Dược thành phố Hồ Chí Minh.  
- Ngày 26/2/2004, Trường Cao đẳng Y tế Nam Định được Thủ tướng Chính phủ ký  
quyết định nâng cấp lên Trường Đại học, đây là trường Đại học chuyên ngành Điều  
dưỡng đầu tiên ở Việt Nam.  
Về công tác phát triển hội nghề nghiệp:  
- Năm 1986, hội Điều dưỡng thành phố Hồ Chí Minh thành lập, 1989 ở Hà Nội, Quảng  
Ninh, cho đến năm 2003 trong cả nước đã có 56/61 tỉnh thành hội, 01 ngành hội (chiếm  
87% tổng số tỉnh thành) với tổng số 45.000 hội viên.  
- Đại hội I vào ngày 26/10/1990 Hội Y tá điều dưỡng Việt Nam thành lập, tại Hà Nội,  
có 31 UVBCH và 15.000 hội viên.  
+ Đại hội II là đại hội thành lập hội được tiến hành vào ngày 26/3/ 1993 tại Hà Nội, có  
45 UVBCH và 20.000 hội viên.  
+ Đại hội III được mở ra vào ngày 17/5/1997 tại thành phố Hồ Chí Minh, có 65 UVBCH  
và 23.000 hội viên.  
+ Đại hội lần thứ IV hội điều dưỡng Việt Nam đã được long trọng tiến hành tại thủ  
đô Hà Nội vào ngày 11/5/2002, có 83 UVBCH và 45.000 hội viên.  
+ Đại hội lần thứ V: 25/10/2007 tại Hà Nội, có 99 UVBCH và 50.000 hội viên.  
Chủ tịch Hội điều dưỡng Việt Nam qua 5 lần đại hội là Bà Vi Nguyệt Hồ  
+ Đại hội lần thứ VI: 26/10/2012 tại Hà Nội, có 104 UVBCH và 75357 hội viên.  
Chủ tịch Hội điều dưỡng Việt Nam là ông Phạm Đức Mục.  
Hình 5. Ảnh biểu tượng Hội điều dưỡng  
- Sự ra đời và hoạt động thường xuyên của hội đã góp phần động viên đội ngũ y tá điều  
dưỡng trong cả nước thêm yêu nghề và nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh tại  
các cơ sở khám chữa bệnh.  
6
Về quan hệ hợp tác quốc tế, trong quá trình phát triển ngành Điều dưỡng Việt Nam đã nhận  
được sự giúp đỡ của các tổ chức và cá nhân trên toàn thế giới: Hội điều dưỡng của Thụy  
Điển, Canada, Mỹ, Nhật Bản, Thái Lan….  
CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM  
Hoàn thiện các câu sau bằng cách chọn từ, cụm từ thích hợp điền vào chỗ trống.  
1. Vào năm 60 bà ……………A ……….đã chủ động đến từng nhà có người ốm để  
chăm sóc.  
2. Vào thế kỷ IV bà …………...A …..…đã dành căn nhà sang trọng của mình làm nơi  
chăm sóc người ốm.  
3. Nhờ có lí luận về khoa học vệ sinh trong chăm sóc bà Floren đã làm giảm tỷ lệ tử  
vong từ ……….…A………...xuống còn 2%.  
4. Lớp điều dưỡng trưởng đầu tiên được đào tạo vào năm ……………..A……..…  
Chọn ý đúng nhất để trả lời cho các câu hỏi sau:  
5. Những quan niệm xấu về nghề điều dưỡng được hình thành vào thế kỷ thứ:  
A. XIV  
B. XV  
C. XVI  
D. XVII  
6. Trường điều dưỡng đầu tiên trên thế giới được thành lập ở nước Anh vào năm:  
A. 1858  
B. 1859  
C. 1860  
D. 1861  
7. Hội điều dưỡng Việt Nam được thành lập vào ngày 26 tháng 10 năm:  
A. 1990  
B. 1991  
C. 1992  
D. 1993  
7
Phân biệt đúng, sai các câu sau bằng cách điền dấu (V) vào cột A cho câu đúng, cột  
B cho câu sai.  
TT  
Ni dung  
A
B
8
Đến năm 2003 cả nước đã có 58 tỉnh thành lp hi  
điều dưỡng  
9
Mô hình điều dưỡng trung học được đào tạo khóa đầu  
tiên vào năm 1993  
10  
Ngày 13 tháng 5 hàng năm là ngày điều dưỡng thế  
gii  
8
Bài 2  
CHỨC NĂNG ĐIỀU DƯỠNG  
MỤC TIÊU  
1. Nêu được định nghĩa, các định hướng của nghề điều dưỡng.  
2. Trình bày được chức năng của người điều dưỡng trong chăm sóc người bệnh.  
I. ĐỊNH NGHĨA ĐIỀU DƯỠNG  
Con người là tài sản vô giá của xã hội, của toàn nhân loại. Để tồn tại và phát triển được  
con người cần có những nhu cầu cơ bản: thể chất, tinh thần, xã hội. Bình thường con  
người tự đáp ứng được các nhu cầu đó cho bản thân mình.  
Khi con người không khỏe (ốm đau, bệnh tật….) không tự đáp ứng được nhu cầu cho  
bản thân, họ cần có sự chăm sóc y tế. Chăm sóc y tế thực chất là sự chăm sóc, nuôi  
dưỡng, điều trị bệnh của người thầy thuốc, người điều dưỡng và sự cung cấp đầy đủ,  
tiện lợi các dịch vụ y tế cho cộng đồng, trong đó nghề điều dưỡng có vai trò hết sức  
quan trọng.  
Do vị trí xã hội, trình độ và sự phát triển của ngành điều dưỡng ở các nước rất khác  
nhau, cho đến nay chưa có sự thống nhất về một định nghĩa chung cho ngành điều dưỡng.  
Dưới đây là một số định nghĩa đã được đa số các nước công nhận:  
- Theo quan điểm của bà Florence Nightingale đưa ra năm 1860: Điều dưỡng là một  
nghệ thuật sử dụng môi trường của người bệnh để hỗ trợ sự phục hồi của họ.  
Định nghĩa của Florence Nightingale về điều dưỡng phản ánh mối quan tâm của thời đại  
mà bà đang sống. bà đạt vai trò trọng tâm của người điều dưỡng là giải quyết các yếu tố  
môi trường xung quanh nơi người bệnh để người bệnh được phục hồi một cách tự nhiên.  
Bà đã xây dựng chương trình đào tạo và mở trường điều dưỡng đầu tiên trên thế giới tại  
bệnh viện Thomas Anh quốc và từ đó đặt nền tảng cho điều dưỡng sau này.  
- Theo quan điểm của Viginia Handerson năm 1960: Chức năng nghề nghiệp cơ bản  
của người điều dưỡng là hỗ trợ các hoạt động nâng cao hoặc phục hồi sức khỏe của  
người bệnh hoặc người khỏe hoặc cho cái chết được thanh thản mà mỗi cá nhân có thể  
thực hiện nếu như họ có đủ sức khỏe, ý chí và kiến thức. Giúp đỡ các cá thể sao cho họ  
đạt được sự độc lập càng sớm càng tốt….  
Định nghĩa của Viginia Handerson đã được Hội đồng điều dưỡng Quốc tế chấp nhận vào  
năm 1973 và đa số các nhà học thuyết điều dưỡng cũng có sự thống nhất. Theo handerson  
chức năng nghề nghiệp của người điều dưỡng là chăm sóc và hỗ trợ người bệnh thực hiện  
các hoạt động hàng ngày.  
- Theo quan điểm của Hội điều dưỡng Mỹ (năm 1965): Điều dưỡng là một nghề hỗ trợ  
cung cấp các dịch vụ chăm sóc đóng góp vào việc hồi phục và nâng cao sức khỏe.  
9
Năm 1980, định nghĩa về điều dưỡng của Mỹ đã được sửa đổi để phản ánh rõ bản chất  
nghề nghiệp, các khía cạnh luật pháp về phạm vi thực hành của người điều dưỡng và thể  
hiện xu hướng của ngành điều dưỡng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe: điều dưỡng là  
chẩn đoán và điều trị những phản ứng của con người đối với bệnh hiện tại hoặc bệnh có  
tiềm năng xảy ra.  
Định nghĩa trên là cơ sở để đưa ra quy trình điều dưỡng mà hiện nay được áp dụng tại  
rất nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên cũng có một số ý kiến cho rằng, định nghĩa trên  
thiên về kỹ thuật và giảm đi thiên chức của nghề đó là chăm sóc.  
- Theo quan điểm của các nhà khoa học Việt Nam.  
Mãi tới cuối thế kỷ XIX, khi các bệnh viện đầu tiên của Việt Nam được người Pháp  
thành lập thì thì điều dưỡng Việt Nam mới chính thức được hình thành. Lúc đầu, những  
người điều dưỡng được đào tạo tại các bệnh viện theo cách cầm tay chỉ việc để làm công  
tác phục vụ trong các bệnh viện và cứu thương. Đến năm 1946, các khóa đào tạo y tá,  
hộ sinh nông thôn được mở ra và sau đó tăng lên trình độ trung học vào cuối những năm  
1960 và đào tạo cao đẳng và đại học điều dưỡng được bắt đầu vào cuối thế kỷ XX. Mặc  
dù trình độ đào tạo và phạm vi thực hành của điều dưỡng Việt Nam hiện nay đã có nhiều  
thay đổi song trong nhận thức chung về vai trò của người điều dưỡng chưa được cập  
nhật cho phù hợp thực tế.  
Y tá (điều dưỡng) là người có trình độ trung cấp trở xuống và chăm sóc người bệnh theo  
*
y lệnh của bác sĩ. Chúng ta cần có định nghĩa mới về điều dưỡng và nghề điều dưỡng  
trong sự nghiệp chăm sóc sức khỏe hiện nay.  
II. ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ ĐIỀU DƯỠNG  
Điều dưỡng là một nghề dịch vụ sức khỏe cộng đồng. Tổ chức Y tế Thế giới đánh giá  
dịch vụ chăm sóc sức khỏe do điều dưỡng - hộ sinh cung cấp là một trong những trụ  
cột của hệ thống dịch vụ y tế nên đã đưa ra nhiều nghị quyết về củng cố và tăng cường  
dịch vụ điều dưỡng - hộ sinh toàn cầu phát triển nguồn nhân lực điều dưỡng có trình  
độ được coi là một chiến lược quan trọng để tăng cường sự tiếp cận của người nghèo  
với các dịch vụ y tế, cũng như đảm bảo công bằng xã hội trong y tế. Tổ chức y tế thế  
giới khuyến cáo các nước xây dựng và củng cố ngành Điều dưỡng theo các định hướng  
cơ bản sau:  
- Y học ngày càng phát triển đòi hỏi phải nâng cao kiến thức và trình độ chuyên nghiệp  
của điều dưỡng. Việc nâng cao trình độ chuyên nghiệp của điều dưỡng ở bậc đại học và  
sau đại học đã tạo ra sự thay đổi về mối quan hệ giữa người thầy thuốc và người điều  
dưỡng, người điều dưỡng trở thành người cộng sự của thầy thuốc, một thành viên của  
nhóm chăm sóc thay vì chỉ là người thực hiện y lệnh.  
* Tdin Tiếng Vit, Nhà xut bnKhao hc và Xã hi 1999.  
10  
- Nghề điều dưỡng với bản chất nghề nghiệp là chăm sóc, nuôi dưỡng, đáp ứng nhu cầu  
cơ bản cho người bệnh, giúp họ nhanh chóng trở về trạng thái bình thường khỏe mạnh.  
- Đối tượng phục vụ của người điều dưỡng là con người. Đối tượng phục vụ này đòi hỏi  
người điều dưỡng phải có kiến thức, kỹ năng, thái độ thích hợp để đảm đương công việc  
hết sức nặng nề và vinh quang mà Đảng, Nhà nước giao phó: duy trì, bảo vệ và nâng cao  
tình trạng sức khỏe cho nhân dân.  
1. Điều dưỡng là một khoa học về chăm sóc người bệnh  
- Người điều dưỡng không phải là bác sĩ thu nhỏ về phương diện kiến thức và kỹ năng, nói  
một cách khác kiến thức và kỹ năng của người thày thuốc sẽ vừa thừa và vừa thiếu đối với  
người điều dưỡng. Do bởi hai nghề có định hướng khác nhau về vai trò nghiệp vụ. Vai trò  
chính của bác sĩ là chẩn đoán và điều trị, vai trò chính của người điều dưỡng là chăm sóc  
và đáp ứng những nhu cầu cơ bản của người bệnh về thể chất và tinh thần. Vì vậy, đào tạo  
một đội ngũ giảng viên là điều dưỡng để giảng dạy điều dưỡng trong tương lai là một trong  
những chính sách thiết yếu để phát triển nghề điều dưỡng ở Việt Nam.  
- Người làm công tác điều dưỡng phải trải qua một quá trình đào tạo thích đáng về nghề  
nghiệp, trong các trường đào tạo tin cậy để được trang bị các kiến thức khoa học y học  
và điều dưỡng.  
2. Điều dưỡng là một ngành học  
- Do đặc thù của người điều dưỡng là làm công việc chăm sóc từ đơn giản nhất đến  
những công việc phức tạp. Từ việc thay ga trải giường tới các công việc nghiên cứu,  
quản lý, đào tạo và trở thành những chuyên gia điều dưỡng lâm sàng có trình độ nên các  
nước đã đào tạo điều dưỡng ở các trình độ từ sơ học đến trung học, đại học và sau đại  
học để đáp ứng nhu cầu hành nghề. Ngày nay, điều dưỡng không chỉ là một ngành học  
có nhiều chuyên khoa như điều dưỡng nhi, điều dưỡng phòng mổ, điều dưỡng cộng  
đồng, điều dưỡng tâm thần và nhiều nước còn áp dụng đào tạo hộ sinh là một chuyên  
khoa của điều dưỡng.  
3. Hành lang pháp lý về phạm vi hành nghề của điều dưỡng được pháp luật quy  
định  
- Bao gồm luật về phạm vi hành nghề và đạo đức nghề điều dưỡng. Những quy định này  
là rất cần thiết để người điều dưỡng thực hiện đúng nghĩa vụ nghề nghiệp của mình đối  
với xã hội, đồng thời người điều dưỡng cũng được pháp luật bảo vệ trong quá trình hành  
nghề.  
- Nước ta, trước đây do hoàn cảnh chiến tranh kéo dài nên mãi tới những năm 1900  
ngành điều dưỡng mới có cơ hội để tiếp cận với ngành điều dưỡng thế giới và khu vực.  
Trong thập kỷ vừa qua, chính phủ và Bộ y tế đã quan tâm xây dựng ngành điều dưỡng  
và đã tạo điều kiện cho ngành điều dưỡng rút ngắn được sự tụt hậu so với các nước khu  
vực như:  
11  
+ Đã hình thành mạng lưới quản lý và chỉ đạo điều dưỡng từ Bộ đến các sở y tế, các  
bệnh viện và các khoa.  
+ Đã có hệ thống Trường đào tạo ở các bậc. Quyết định mới đây của Chính phủ về việc  
thành lập trường đại học điều dưỡng Nam Định là một chính sách rất quan trọng đặt nền  
móng cho ngành điều dưỡng Việt Nam phát triển và hội nhập.  
+ Hội điều dưỡng Việt Nam đã được nhiều nước cho phép thành lập từ năm 1990. Đã  
tập hợp được những người cùng nghề và là một trong những hội chuyên ngành được  
đánh giá là hoạt động có hiệu quả trong các hội nghề nghiệp của ngành Y tế.  
+ Các mô hình chăm sóc toàn diện đang được thực hiện đã góp phần làm tăng chất lượng  
dịch vụ điều dưỡng và qua đó động viên toàn xã hội có sự nhìn nhận về vai trò của người  
điều dưỡng và ngành điều dưỡng ngày càng rõ nét.  
+ Kế hoạch hành động quốc gia về tăng cường công tác điều dưỡng - hộ sinh đến năm  
2010 đã được Bộ Y tế phê duyệt (5/2002) sẽ là cơ sở cho việc xây dựng những chính  
sách phát triển nguồn nhân lực điều dưỡng cũng như đầu tư phát triển ngành Điều dưỡng.  
III. CHỨC NĂNG CỦA NGƯỜI ĐIỀU DƯỠNG  
1. Theo tổ chức Y tế Thế giới (WTO)  
1.1. Chức năng chủ động (chức năng độc lập)  
Chức năng chủ động của người điều dưỡng bao gồm những nhiệm vụ chăm sóc cơ bản  
thuộc phạm vi kiến thức mà người điều dưỡng đã được học và họ có thể thực hiện được  
một cách chủ động.  
Thực hiện chức năng chủ động là nhằm đáp ứng các nhu cầu cơ bản cho người bệnh.  
Các nhu cầu cơ bản đó bao gồm: các nhu cầu của người bệnh về: hô hấp, ăn uống, bài  
tiết, vận động, duy trì thân nhiệt, vệ sinh cá nhân, thay mặc quần áo ngủ và nghỉ, an  
toàn, giao tiếp, tín ngưỡng, lao động, học tập, hỗ trợ tinh thần.  
1.2. Chức năng phối hợp  
Chức năng này liên quan tới việc thực hành các y lệnh của thầy thuốc và việc báo cáo  
tình trạng người bệnh cho thầy thuốc. Trong khi thực hiện chức năng này người điều  
dưỡng phải hiểu được mình là người cộng tác với thầy thuốc chứ không phải là người  
trợ giúp cho thầy thuốc. Chức năng phối hợp của người điều dưỡng bao hàm cả việc  
người điều dưỡng cần có sự phối hợp với bạn bè đồng nghiệp (điều dưỡng, hộ sinh, kỹ  
thuật viên khác) để hoàn thành công việc của mình.  
2. Theo quy chế bệnh viện Nhà xuất bản Y học 1997  
- Nghiêm chỉnh thực hiện quy chế bệnh viện, đặc biệt thực hiện quy chế chăm sóc người  
bệnh toàn diện, quy chế quản lý buồng bệnh, buồng thủ thuật.  
- Nghiêm chỉnh thực hiện đầy đủ y lệnh của thầy thuốc.  
12  
- Thực hiện chăm sóc người bệnh theo đúng quy định kỹ thuật bệnh viện:  
+ Điều dưỡng trung cấp thực hiện được các kỹ thuật cơ bản như: lập kế hoạch chăm sóc  
cho người bệnh, uống thuốc, kỹ thuật tiêm thuốc, truyền dịch, thay băng, đặt ống thông,  
kỹ thuật cấp cứu theo quy định và vận hành bảo quản các thiết bị y tế trong khoa theo sự  
phân công.  
+ Điều dưỡng cao cấp ngoài việc thực hiện như điều dưỡng chính còn phải thực hiện  
các kỹ thuật chăm sóc phức tạp khi điều dưỡng chính không thực hiện được, tham gia  
Đào tạo, quản lý và sử dụng thành thạo các thiết bị y tế trong khoa.  
- Đối với người bệnh nặng nguy kịch phải chăm sóc theo y lệnh và báo cáo kịp thời những  
diễn biến bất thường cho bác sĩ điều trị xử trí kịp thời.  
- Ghi những thông số dấu hiệu, triệu chứng bất thường của người bệnh và cách xử trí  
vào phiếu theo dõi, chăm sóc theo quy định.  
- Hàng ngày, cuối giờ làm việc phải bàn giao đầy đủ tình hình người bệnh cho điều  
dưỡng trực và ghi vào sổ những y lệnh còn lại trong ngày, những yêu cầu theo dõi, chăm  
sóc đối với từng người bệnh đặc biệt và người bệnh nặng.  
- Bảo quản tài sản, thuốc, dụng cụ y tế, trật tự và vệ sinh buồng bệnh, buồng thủ thuật  
trong phạm vi được phân công.  
- Tham gia nghiên cứu điều dưỡng và hướng dẫn thực hành về công tác chăm sóc người  
bệnh cho học sinh - sinh viên khi được điều dưỡng trưởng phân công.  
- Tham gia thường trực theo sự phân công của điều dưỡng trưởng khoa.  
- Động viên người bệnh an tâm điều trị. Phải thực hiện tốt quy định y đức.  
- Thường xuyên học tập, cập nhật kiến thức.  
CÂU HI TRC NGHIM  
1. Hoàn thiện các câu sau bằng cách chọn từ, cụm từ thích hợp điền vào chỗ trống:  
1. Theo quan điểm của Hội điều dưỡng Mỹ (1965): điều dưỡng là …..A ….. hỗ trợ cung  
cấp dịch vụ …..B…. đóng góp vào việc hồi phục và nâng cao sức khỏe.  
2. Theo quan điểm của Hội điều dưỡng Mỹ (1890): điều dưỡng là chẩn đoán và điều trị  
những ….A ….. của con người đối với bệnh…B …. hoặc bệnh có tiềm năng xảy ra.  
3. Liệt kê hai chức năng của người điều dưỡng:  
A………………………………………  
B …………………………………….  
4. Chức năng chủ động của người điều dưỡng là nhằm đáp ứng các  
……………………...A…………….…cơ bản cho người bệnh  
5. Nghề điều dưỡng phát triển theo 4 định hướng:  
A.………………………………..  
13  
B. Khoa học về chăm sóc người bệnh  
C.………………………………  
D. Pháp luật bảo vệ  
2. Chọn ý đúng nhất để trả lời cho các câu hỏi sau:  
6. Chức năng phối hợp của người điều dưỡng là sự phối hợp công tác giữa người điều  
dưỡng với:  
A. Bác sĩ  
B. Điều dưỡng  
C. Nhân viên y tế khác  
D. Hộ sinh  
7. Nhiệm vụ cơ bản nhất của điều dưỡng trung cấp là:  
A. Chăm sóc người bệnh  
B. Quản lí tài sản trong khoa  
C. Quản lí buống bệnh  
D. Tham gia đào tạo  
Phân biệt đúng, sai các câu sau bằng cách điền dấu (V) vào cột A cho câu đúng, cột  
B cho câu sai.  
STT Ni dung  
A
B
Thc hin y lnh thuc là thhin chức năng chủ động  
8
của người điều dưỡng  
Hàng ngày hết gilàm việc điều dưỡng phải bàn giao đầy  
đủ tình hình người bệnh cho bác sĩ trực  
9
Ngoài các nhim vụ chăm sóc người bệnh, người điều  
dưỡng còn phải tham gia công tác đào tạo.  
10  
14  
Bài 3  
ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGÀNH ĐIỀU DƯỠNG  
MỤC TIÊU  
1. Trình bày được nhng thành tu, nhng tn tại cơ bản của Ngành điều dưỡng  
trong thi gian qua.  
2. Trình bày được những định hướng cơ bản phát trin của Ngành điều dưỡng  
trong giai đoạn từ năm 2002 đến năm 2010.  
I. NHỮNG THÀNH TỰU CƠ BẢN  
1. Thay đổi quan niệm về chức năng điều dưỡng  
Quan niệm về chức năng hoàn toàn phụ thuộc trước đây của điều dưỡng nay đã được  
thay đổi thành chức năng chủ động chăm sóc và chịu trách nhiệm về chăm sóc, chức  
năng phụ thuộc thực hiện y lệnh và chức năng phối hợp cùng thầy thuốc và các nhân  
viên khác, chăm sóc người bệnh trong bệnh viện và sức khoẻ cộng đồng.  
Sự thay đổi chức năng đã tăng thêm nhiệm vụ, trách nhiệm cho điều dưỡng, hộ sinh và  
tăng thêm vai trò, vị trí của người điều dưỡng trong xã hội và trong ngành y tế. Bệnh  
viện đã giao phần trách nhiệm và dịch vụ chăm sóc cho điều dưỡng và các cơ sở Y tế  
khác giao cho các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cộng đồng.  
2. Xây dựng điều dưỡng thành hệ thống  
- Tổ chức điều dưỡng đã được hình thành theo một hệ thống từ Trung ương đến địa  
phương.  
+ Tại Bộ Y tế có phòng điều dưỡng trong cục quản lý khám chữa bệnh.  
+ Tại sở y tế, thành phố trực thuộc trung ương có phòng điều dưỡng trong phòng nghiệp  
vụ y.  
+ Tại các bệnh viện, các trung tâm y tế có phòng điều dưỡng.  
3. Thành lập Hội điều dưỡng Việt Nam  
Hội Y tá - điều dưỡng trước đây và hội điều dưỡng Việt Nam ngày nay đã được thành lập,  
tổ chức theo ba cấp (trung ương hội, tỉnh hội, chi hội), tập hợp đông đảo hội viên, kết hợp  
công tác với Bộ Y tế thúc đẩy phát triển hệ thống điều dưỡng và thực hành chăm sóc và  
bảo vệ sức khoẻ cộng đồng.  
Hội đã tranh thủ được nhiều sự giúp đỡ vật chất và kỹ thuật của các tổ chức trong nước  
và Quốc tế, được đánh giá là một trong những hội hoạt động có hiệu quả.  
4. Đổi mới phương thức chăm sóc và lập kế hoạch chăm sóc  
Trước đây phương thức phân công thực hành chăm sóc người bệnh là theo dịch vụ tiêm,  
băng, uống thuốc, xét nghiệm, nay là phân công theo người bệnh và nhóm người bệnh  
hay cộng đồng.  
15  
Sự chăm sóc không bị xé lẻ thành dịch vụ và người điều dưỡng phải chịu trách nhiệm  
toàn bộ công tác chăm sóc cho một người hay một nhóm người, do đó chất lượng thực  
hành được nâng cao và người bệnh hay cộng đồng biết rõ ai là người chăm sóc đem lại  
lợi ích cho mình.  
Lập kế hoạch chăm sóc và chủ động thực hành chăm sóc là công việc bắt buộc hàng  
ngày của điều dưỡng trong các bệnh viện. Kế hoạch chăm sóc thiết lập từ hỏi bệnh, quan  
sát, đo lường và đánh giá các dấu hiệu đã giúp người điều dưỡng thực hiện công tác  
chăm sóc một cách khoa học và hiệu quả hơn, đáp ứng nhu cầu vật chất, tinh thần của  
người bệnh và giúp được nhiều hơn cho công tác chẩn đoán và điều trị của thầy thuốc.  
5. Đóng góp vào việc thực hiện kế hoạch y tế quốc gia  
Các thống kê hiện nay không cho phép tính toán được số lượng, chất lượng dịch vụ mà  
người điều dưỡng đã thực hiện. Song tất cả đều thừa nhận sự đóng góp to lớn của lực  
lượng đông đảo điều dưỡng về khối lượng, các dịch vụ chăm sóc cơ bản và kỹ thuật, đặc  
biệt là trong những năm gần đây có sự phát triển của các dịch vụ kỹ thuật chăm sóc và  
điều trị phức tạp.  
Công việc điều dưỡng đã đóng góp có hiệu quả vào các lĩnh vực chủ yếu sau:  
+ Hộ sinh: thăm khám thai, sinh đẻ an toàn, chăm sóc trẻ đẻ non, phòng uốn ván rốn, kế  
hoạch hoá gia đình.  
+ Điều dưỡng: trong cộng đồng: tiêm chủng mở rộng, phòng chống dịch, chăm sóc bà  
mẹ trẻ em, lao, phong, tâm thần, phục hồi chức năng, vệ sinh môi trường và giáo dục  
sức khoẻ. Trong bệnh viện các dịch vụ chăm sóc cơ bản và kỹ thuật cho người bệnh, các  
dịch vụ chuyên khoa và phức tạp, các dịch vụ hỗ trợ chẩn đoán điều trị của thầy thuốc.  
6. Đổi mới chương trình đào tạo  
Bậc học đã có nhiều thay đổi, ngoài đào tạo nhân viên y tế điều dưỡng sơ học và trung  
học, đã có đào tạo các bậc cao đẳng, đại học và sau đại học ở trong nước.  
Chương trình đào tạo đã được biên soạn lại chuẩn hoá theo quy trình của Bộ Giáo dục  
và Bộ Y tế. Giáo trình các cấp đã được in ấn, phát hành. Công tác đào tạo lại và tập  
huấn, cơ sở vật chất và thực hành đào tạo đã có nhiều đầu tư, nâng cấp. Chất lượng đào  
tạo được nâng cao một bước, đáp ứng nhu cầu sử dụng hiện tại. Một số điều dưỡng, hộ  
sinh có kinh nghiệm đã tham gia giảng dạy đào tạo về phần chăm sóc trong các trường.  
7. Đóng góp vào Nghiên cứu khoa học (NCKH)  
Từ năm 1990 phương pháp NCKH đã được đưa vào các lớp tập huấn, đào tạo lại nên đã  
có một số công trình nghiên cứu nhỏ, bằng phương pháp điều tra về một số lĩnh vực  
quản lý, nhân lực, kỹ thuật chăm sóc, chống nhiễm khuẩn và vật tư tiêu hao. Hội điều  
dưỡng Việt Nam phối hợp với cục Quản lý khám chữa bệnh Bộ Y tế duy trì tổ chức Hội  
nghị Khoa học Điều dưỡng toàn quốc cứ 2 năm/1 lần. Năm 2010 tổ chức Hội nghị Khoa  
học Điều dưỡng lần 4 và hội nghị lần thứ 5 đã được tổ chức vào ngày 25/10/2012. Có  
16  
hàng trăm đề tài NCKH cấp cơ sở và cấp ngành có giá trị đã được trình bày trong hội  
nghị.  
8. Chính sách điều dưỡng có nhiều thay đổi  
Những chính sách về viện phí, bảo hiểm y tế đã có tác động đến toàn xã hội và tác động  
tăng thu nhập cho cán bộ ngành Y tế trong đó có điều dưỡng.  
Chính sách hành nghề y được tư nhân đã cho phép điều dưỡng, hộ sinh mở các phòng  
dịch vụ y tế tư nhân, nhà hộ sinh tư nhân và dịch vụ KHHGĐ.  
Chính sách về đào tạo đã thúc đẩy điều dưỡng, hộ sinh tích cực học tập nâng cao nghiệp  
vụ quản lý và thực hành chăm sóc, tham gia nhiều hơn vào công tác giảng dạy tại các  
trường, có cơ hội phấn đấu chức danh, học hàm, học vị như các bác sĩ và cán bộ khác.  
Chính sách về lương và xếp ngạch công chức điều dưỡng đã tạo điều kiện cho Ngành  
điều dưỡng phát trin.  
II. NHỮNG TỒN TẠI VÀ THÁCH THỨC  
1. Sự thiếu hụt về số lượng và yếu về chất lượng, đồng thời chưa cân đối về cơ cấu  
Theo Niên giám thống kê năm 2003 do Bộ Y tế xuất bản, Việt Nam có 47.587 bác sĩ;  
64.397 điều dưỡng và hộ sinh trong đó có 2128 điều dưỡng đại học, cao đẳng (chiếm  
3,3%), 45.762 điều dưỡng trung học (71,0%) và 16.535 điều dưỡng sơ cấp (25,69%); tỷ  
lệ điều dưỡng trên 10.000 dân là 5,95, tỷ lệ hộ sinh trên 10.000 dân là 2,0, tỷ lệ bác sĩ  
trên 10.000 dân là 5,88, tỷ lệ bác sĩ/điều dưỡng là 1/1,3. So sánh với các nước trên thế  
giới và trong khu vực, tỷ lệ này ở Việt Nam là rất thấp. WHO khuyến cáo tỷ lệ này là từ  
1:4 đến 1:8. Như vậy, đến năm 2010, Việt Nam cần thêm khoảng 78.000 điều dưỡng.  
trong đó nhân lực điều dưỡng chuyên nghiệp được đào tạo tại các trường đại học và cao  
đẳng là trên 31.000 (khoảng 40%).  
Thêm vào đó, đội ngũ điều dưỡng cũng cần phải được nâng cao kiến thức, kỹ năng và  
kỹ thuật để đáp ứng được những thay đổi đang diễn ra trong thực tế. Đội ngũ này cũng  
cần phải phát triển các kỹ năng chăm sóc dựa vào cộng đồng, đặc biệt là việc chăm sóc  
sức khoẻ tại các vùng chưa phát triển, chăm sóc sức khoẻ cho người nghèo và những  
người cần có sự quan tâm đặc biệt của xã hội, góp phần làm giảm tỷ lệ người mắc bệnh,  
tỷ lệ chết, tỷ lệ người tàn tật và đảm bảo sự công bằng trong chăm sóc sức khoẻ ngày  
càng tăng. Tuy nhiên, hiện cũng có nhiều rào chắn ngăn cản và giới hạn mức độ đóng  
góp của điều dưỡng vào lĩnh vực đào tạo điều dưỡng, qua đó góp phần loại trừ các rào  
cản này.  
Hiện nay 90% nhân lực điều dưỡng là nữ. Thúc đẩy nghề điều dưỡng phát triển dựa trên  
nền tảng kiến thức và khoa học sẽ tạo ra những tiến bộ về công bằng giới tính trong lĩnh  
vực y tế. Cần có những chính sách và biện pháp thúc đẩy vai trò kinh tế - xã hội của nữ  
điều dưỡng trong Ngành Y tế cũng như trong xã hội. Đối với việc ngăn ngừa sự phát  
triển, phổ biến của HIV/AIDS và sự thiếu hụt của công tác chăm sóc sức khoẻ tại gia  
đình, công tác chăm sóc điều dưỡng đang ngày càng trở thành mẫu hình thích hợp cho  
17  
việc phòng ngừa căn bệnh này, cũng như việc chăm sóc có hiệu quả đầy tinh thần trách  
nhiệm đối với những người và cộng đồng sống chung, chịu ảnh hưởng của HIV/AIDS.  
- Chất lượng điều dưỡng còn nhiều tồn tại:  
+ Các kỹ thuật thực hành chăm sóc chưa được chuẩn hoá thành những quy trình thực  
hiện cho người điều dưỡng và hộ sinh.  
+ Chăm sóc toàn diện mới bắt đầu còn ở mức thấp, các chăm sóc cơ bản như vệ sinh, ăn  
uống, thay đổi tư thế còn giao phó nhiều cho người nhà. Quy trình thực hiện một số dịch  
vụ kỹ thuật bị cắt xén, sự phân công nhiệm vụ theo người bệnh tại một số bệnh viện và  
chức năng độc lập bị bỏ quên. Tinh thần, thái độ, trách nhiệm, y đức yếu kém và biểu  
hiện tiêu cực của một số điều dưỡng và hộ sinh đã làm mất uy tín của Ngành y tế và  
nghề điều dưỡng. Kỹ năng giao tiếp của điều dưỡng còn hạn chế: 41% giải thích qua loa  
với người bệnh, 36% không giải thích hoặc còn quát mắng người bệnh là kết quả phỏng  
vấn 202 người bệnh của hội điều dưỡng Việt Nam năm 1997 tại các bệnh viện.  
- Công tác điều dưỡng, hộ sinh nông thôn và thăm gia đình chưa được quan tâm, thống  
kê đánh giá năm 1995 của vụ điều trị cho biết phân bố nhân lực tại bệnh viện là 63,5%  
tại cộng đồng là 36,5%.  
2. Năng lực điều hành của hệ thống điều dưỡng trưởng còn nhiều hạn chế, đa số  
chưa được đào tạo về quản lý chăm sóc người bệnh  
Hiện nay cả nước có khoảng 6.800 điều dưỡng và hộ sinh trưởng, trong đó có trình độ  
đại học là 8,4%, trình độ trung học 88,4% nhưng chỉ có 30% được tập huấn về quản lý  
đã tạo những khó khăn nhất định cho việc điều hành công tác điều dưỡng hàng ngày tại  
khoa phòng, đặc biệt là quan hệ với các phòng chức năng chủ chốt của bệnh viện.  
3. Chưa có một hệ thống chính sách đầy đủ  
- Điều dưỡng là một nghề và phải được đăng ký hành nghề nhằm đảm bảo an toàn người  
bệnh bà cộng đồng, kiểm tra được chất lượng chăm sóc.  
- Trong nước ta Bác Hồ đã nói: “Y tá là một nghề” nhưng đến nay chưa triển khai đăng  
ký.  
- Chưa có quy định về tài chính cho các hoạt động về điều dưỡng và hộ sinh là những  
động lực phát triển điều dưỡng.  
4. Số lượng đào tạo chưa đáp ứng nhu cầu  
- Số lượng chiêu sinh điều dưỡng cộng đồng hàng năm thấp không đáp ứng nhu cầu sử  
dụng của các cơ sở y tế và cộng đồng.  
- Không có đào tạo chuyên khoa mà chỉ có điều dưỡng đa khoa trong khi các bệnh viện  
lại sử dụng chuyên khoa.  
18  
- Đào tạo các cấp bậc điều dưỡng, hộ sinh chưa kết hợp với nhu cầu sử dụng và chưa có  
một tỷ lệ cấp bậc hợp lý mong muốn giữa đào tạo và sử dụng các nhân viên y tế sơ học,  
trung học, cao đẳng, đại học và trên đại học.  
- Các giáo viên về bộ môn chăm sóc và thực hành là các điều dưỡng và hộ sinh có trình  
độ kiến thức còn khan hiếm, giáo trình chưa theo kịp các kiến thức mới.  
- Đầu tư các trường đào tạo điều dưỡng không nhiều, đặc biệt là cơ sở thực hành.  
5. Những thách thức  
- Sự phát triển kinh tế - xã hội làm tăng nhu cầu chăm sóc trong bệnh viện và cộng đồng.  
- Sự chuyển dịch mô hình bệnh tật hiện nay từ nhiễm trùng, suy dinh dưỡng sang không  
nhiễm trùng và người già như: tim mạch, ung thư đòi hỏi người điều dưỡng, hộ sinh  
phải nâng cao trình độ, kỹ năng, kỹ xảo.  
- Phát triển các dịch vụ chăm sóc hướng về cộng đồng đặc biệt là chăm sóc tại nhà, tại các  
vùng khó khăn với người nghèo và diện chính sách xã hội góp phần làm giảm tỷ lệ mắc,  
chết, tàn tật và làm tăng công bằng y tế.  
III. MỤC TIÊU CỦNG CỐ VÀ PHÁT TRIỂN ĐIỀU DƯỠNG  
- Mục tiêu tổng quát  
+ Mục tiêu năm 2010 là phát triển số lượng điều dưỡng, nâng cao chất lượng chăm sóc  
người bệnh và cộng đồng, đáp ứng nhu cầu sức khoẻ nhân dân, đóng góp nhiều hơn vào  
hoàn thành mục tiêu y tế Quốc gia và hội nhập với phát triển điều dưỡng thế giới.  
+ Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các tiêu chuẩn quốc gia về chất lượng chăm  
sóc người bệnh và cộng đồng, làm cơ sở cho đánh giá, kiểm tra giám sát.  
+ Xác định nhiệm vụ và chức năng của điều dưỡng các cấp làm cơ sở cho đào tạo và sử  
dụng.  
IV. NHỮNG GIẢI PHÁP VÀ CHÍNH SÁCH CHỦ YẾU ĐẾN 2010  
1. Phát triển số lượng điều dưỡng và hộ sinh đáp ứng nhu cầu chăm sóc tại bệnh  
viện và cộng đồng  
Thực hiện các mục tiêu cụ thể theo Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23-02-2005 của Bộ  
Chính trị về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình  
mới:  
- Tuổi thọ trung bình tăng lên trên 72 tuổi.  
- Tỷ lệ chết trẻ em dưới 1 tuổi giảm xuống dưới 16%o trẻ em đẻ sống.  
- Tỷ lệ chết trẻ em dưới 5 tuổi giảm xuống dưới 25%o trẻ đẻ sống.  
- Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng giảm xuống dưới 20%o.  
- Tỷ lệ bác sỹ: 7, dược sỹ: 01 trên 10.000 dân.  
- Đảm bảo cơ cấu 3,5 điều dưỡng trên 01 bác sỹ.  
19  
- Đạt chỉ tiêu 20,5 giường bệnh /10.000 dân (trong đó 10% là giường bệnh tư nhân).  
- Đảm bảo 80% số xã có bác sỹ.  
- Đảm bảo có 60% số thuốc chữa bệnh sản xuất trong nước.  
Bng 1. Kế hoạch hành động quc gia về tăng cường công tác điều dưỡng,  
hộ sinh giai đoạn 2002 - 2010  
(Quyết định số 1613/2002/QĐ - BYT ngày 3/5/2002 ca Bộ trưởng By tế)  
Các chsvề đào tạo  
Các chsố  
2002 - 2005  
2010  
1. Thành lập trường Đại học điều  
dưỡng  
01  
02  
2. Thành lập khoa đào tạo điều dưỡng  
trong các trường đại hc  
07  
07  
3. Nâng cấp các trường trung hc lên 50% trường TW và 100% trường TW  
10% trường địa và 20% trường địa  
phương phương  
trường cao đng  
4. Đào tạo thạc sĩ chuyên ngành điều  
dưỡng  
50  
150  
5. Đào tạo tiến sĩ chuyên Ngành điều  
dưỡng  
10  
30  
6. Đào tạo giáo viên điều dưỡng, hộ 50% trình độ cao 50% trình độ đại  
đẳng và 50% trình  
độ đại hc  
sinh  
hc và 30% cao hc  
7. Đào tạo điều dưỡng trưởng  
50% trình độ cao 100% trình độ đại  
đẳng và 50% trình  
độ đại hc  
hc 15% cao hc  
90% hoàn thành  
khoá hc qun lý  
8. Đào tạo chuyên khoa  
5% nhân lực được 10% nhân lực được  
đào tạo điều dưỡng đào tạo điều dưỡng  
chuyên khoa  
chuyên khoa  
2. Xây dựng và ban hành hệ thống pháp quy về hành nghề điều dưỡng  
- Điều dưỡng là một nghề quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sự an toàn của người bệnh  
và cộng đồng, cần phải xây dựng và ban hành tiêu chuẩn quốc gia về chăm sóc.  
- Các giải pháp chủ yếu:  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 164 trang Thùy Anh 15220
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Điều dưỡng cơ bản 1", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_dieu_duong_co_ban_1.pdf