Giáo trình môn Dược học cổ truyền

GIỚI THIỆU HỌC PHẦN  
DƯỢC HỌC CỔ TRUYỀN  
Đối tượng: Cao đẳng Dược  
- Số tín chỉ:  
- Số giờ tín chỉ:  
+ Lý thuyết:  
3 (2/1)  
30 giờ  
+ Thực hành:  
+ Tự học:  
30 giờ  
75 giờ  
- Thời điểm thực hiện:  
Học kỳ V  
MỤC TIÊU HỌC PHẦN  
1. Hiểu được những lý luận cơ bản của y học cổ truyền và vận dụng được các lý  
luận đó vào chế biến sử dụng thuốc cổ truyền.  
2. Trình bày được các khái niệm cơ bản của thuốc cổ truyền và các phương  
pháp chế biến bào chế thuốc cổ truyền.  
3. Trình bày được công năng chủ trị 60 - 70 vị thuốc hay dùng  
4. Phân tích được các cấu trúc cơ bản của bài thuốc Đông y (quân, thần, tá, sứ)  
và cách xét tác dụng của bài thuốc Đông y.  
5. Thực hiện một số kỹ năng chế biến thuốc cổ truyền theo một số phương pháp  
chế biến cơ bản  
6. Hướng dẫn sơ bộ cấu trúc, nội dung, cách xét tác dụng đơn thuốc  
7. Nhận thức đúng 70 vị thuốc chín  
8. Sinh viên yêu thích và hứng thú với môn học, có thái độ nghiêm túc, cầu tiến  
trong quá trình học tập và nghiên cứu.  
9. Hình thành thói quen vận dụng lý thuyết vào giải quyết các vấn đề trong thực  
tiễn  
NỘI DUNG HỌC PHẦN  
STT  
Tên bài  
Trang  
PHẦN LÝ THUYẾT  
1
2
3
Học thuyết âm dương  
Học thuyết ngũ hành  
Học thuyết tạng tượng  
3
16  
26  
4
5
6
7
Nội dung của phương thuốc cổ truyền  
Chế biến thuốc theo phương pháp cổ truyền  
Đại cương về thuốc cổ truyền  
Thuốc giải biểu  
47  
60  
85  
97  
8
9
10  
11  
12  
Thuốc khứ hàn  
Thuốc thanh nhiệt  
Thuốc trừ thấp  
Thuốc hóa đàm, chỉ khái  
Thuốc về khí, huyết  
114  
122  
154  
176  
192  
1
13  
Thuốc bổ âm dương  
233  
PHẦN THỰC HÀNH  
1
2
3
4
5
6
Chế thuốc phiến  
Sao thuốc  
Sao thuốc qua chất trung gian  
Nhận thức thuốc giải biểu, khứ hàn.  
Chích thuốc với các phụ liệu  
Giới thiệu một số sản phẩm nguồn gốc Đông y và giới thiệu  
cách xét tác dụng của bài thuốc.  
247  
248  
249  
250  
259  
260  
7
8
Nhận thức thuốc hóa đờm, chỉ khái, thanh nhiệt.  
Giới thiệu cấu trúc bài thuốc Đông y và Nhận thức thuốc trừ  
thấp  
266  
277  
9
10  
Phân tích một số bài thuốc Đông y  
Nhận thức thuốc về khí, huyết, thuốc bổ âm dương.  
Tổng số  
285  
288  
298  
TÀI LIỆU THAM KHꢀO.  
1. Bộ Y tế (2006) Dược học cổ truyền NXB Y học.  
2. Bộ môn Dược học cổ truyền, Kꢀ thuật chế biến và bào chế Dược học cổ  
truyền, NXB Y học.  
3. Bộ môn Dược học cổ truyền (2004), Thꢁc tập Dược học cổ truyền,  
TĐHDHN.  
4. Phạm Xuân Sinh (2000), phương pháp chế biến thuốc cổ truyền, NXB Y học.  
5. Trường đại học Y Hà Nội (1994), Y học cổ truyền, NXB Y học.  
6. Bộ y tế (2002), Dược điển Việt Nam III, NXB Y học.  
2
Phần 1. ĐẠI CƯƠNG Y HỌC CỔ TRUYỀN  
Chương 1:  
HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG  
MỤC TIÊU  
1. Trình bày được nội dung cơ bản của học thuyết âm dương  
2. Vận dụng được thuyết âm dương trong chuꢀn đoán Y học cổ truyền.  
3. Trình bày được sự vận dụng thuyết âm dương vào đông dược.  
NỘI DUNG  
1. Xuất xứ  
Thuyết âm dương trong YHCT có nguồn gốc từ học thuyết triết học duy vật cổ  
đại phương Đông, nó thể hiện quá trình nhận thức và nắm vững quy luật phát triển  
của sꢁ vật, được cổ nhân vận dụng từ 3000 năm nay. Thuyết âm dương được vận dụng  
trong nhiều lĩnh vꢁc khoa học khác nhau như thiên văn học, nông học, toán học, hóa  
học, y học cổ truyền. Trong đó y học cổ truyền (YHCT) vận dụng thuyết âm dương  
một cách nhuần nhuyễn và phong phú. Thuyết được hình thành và phát triển rộng rãi ở  
vào thời Xuân Thu Chiến Quốc (Trung Quốc). Nó đã trở thành lý luận cơ bản giải  
thích những quy luật giữa con người với vũ trụ. Coi con người là một vũ trụ thu nhỏ;  
đồng thời trên cơ sở học thuyết này có thể giải thích sꢁ phát sinh phát triển của bệnh  
tật và các phương pháp chẩn trị lâm sàng.  
2. Nội dung  
Nội dung cơ bản của thuyết âm dương chỉ ra trong mỗi vật thể, mỗi sꢁ việc bao  
giờ cũng tồn tại khách quan hai mặt vừa đối lập lại vừa thống nhất, vừa hòa hợp lại  
vừa tương phản. Âm dương mang tính chất hỗ căn nghĩa là nương tꢁa vào nhau, âm  
lấy dương làm gốc và ngược lại dương lấy âm làm nền tảng. Điều đó có nghĩa là  
không có dương thì âm không thể tồn tại và không có âm thì dương không thể thay  
đổi. Nói một cách khác là cả hai mặt đều là quá trình tích cꢁc của sꢁ vật. Âm dương  
tuy trừu tượng về mặt khái niệm nhưng lại có cơ sở vật chất của nó, nó bao quát tất cả,  
phổ cập tất cả. Âm dương nương tꢁa lẫn nhau cùng tồn tại xen kẽ vào trong sꢁ phát  
triển của sꢁ vật, chúng không thể đơn độc phát sinh, phát triển được.  
3
Âm dương còn thể hiện ở sꢁ tiêu trưởng, sꢁ vận động không ngừng và chuyển  
hóa lẫn nhau, qua đó để giữ cho mọi hoạt động của sꢁ việc cân bằng. Nếu không mặt  
này thái quá thì mặt kia sẽ suy yếu và ngược lại. Chính vì vậy hai mặt âm dương của  
sꢁ vật luôn biến động không ngừng. Và chính sꢁ biến động đó đã lập lại thế cân bằng  
tương đối cho sꢁ vật hay cho con người và được biểu hiện ra sꢁ "bình hành âm  
dương". Trong sách Tố Vấn âm dương ứng đại luận có viết: "Âm dương giả, thiên địa  
chi đạo giã, vạn vật chi cương kỷ, biến hóa chi phụ mẫu, sinh sát chi bản thủy". Có  
nghĩa là âm dương là quy luật của vạn vật, cha mẹ của sꢁ biến hóa, nguồn gốc của sꢁ  
sinh sát, trưởng thành, diệt vong.  
Khái niệm âm dương được hình tượng hóa bằng một vòng tròn khép kín (hình  
1). Đường cong hình chữ S ngược chia hình tròn ra hai phần, trong mỗi phần có một  
vòng tròn nhỏ. Ở đây vòng tròn lớn mang ý nghĩa sꢁ thống nhất của một sꢁ vật, hình  
cong S ngược cho phép liên hệ sꢁ tương đối và chuyển hóa âm dương; hai vòng tròn  
nhỏ biểu thị hai thái cꢁc âm và dương (đó là thiếu âm và thiếu dương).  
Thiếu âm  
Thái âm  
Thái dương  
Thiếu dương  
Hình 1.1: Biểu tượng âm dương  
Qua nội dung trên ta thấy nổi bật lên hai thuộc tính cơ bản của âm dương đó là:  
- Tồn tại khách quan (âm dương có sẵn trong mọi vật)  
- Âm dương mang tính tương đối, và tính tương đối đó được thể hiện ngay  
trong từng vật thể và trong từng sꢁ việc, thể hiện ở sꢁ vận động của âm dương và sꢁ  
vận động tới mức nào đó sẽ chuyển hóa sang nhau "Dương cꢁc sinh âm, âm cꢁc sinh  
dương". Ví dụ chính ngọ (giữa trưa) là dương tới cꢁc thì cũng là lúc bắt đầu của âm  
sinh ra (giờ mùi). Âm dương hỗ căn, tiêu tưởng.  
3. Những biểu hiện về âm dương  
3.1. Về trạng thái  
Thuộc dương: trạng thái động, hưng phấn, nhiệt, sáng…  
Thuộc âm: trạng thái tĩnh, hàn, ức chế, tối…  
4
3.2. Về không gian  
Trời thuộc dương, đất thuộc âm: Mặt trời thuộc dương, mặt trăng thuộc âm.  
Trong một không gian cụ thể: phía trên là dương, phía dưới là âm, phía ngoài là  
dương, phía trong là âm (hình 2).  
Phía trên  
Phía trong (-)  
(-) Phía trong  
Phía ngoài  
(+)  
Phía ngoài  
(+)  
( -)  
Phía dưới  
Ghi chú: Âm bằng dấu (-), Dương bằng dấu (+)  
Hình 1.2: Âm dương của không gian  
3.3. Về thời gian  
Ngày thuộc dương, đêm thuộc âm. Trong một ngày đêm thì từ 6 giờ đến 12 giờ  
là dương ở trong dương, 12 giờ đến 18 giờ là âm ở trong dương, 18 giờ đến 24 giờ là  
âm ở trong âm, 24 giờ đến 6 giờ là dương ở trong âm. Và âm dương chuyển hóa liên  
tục như vậy, đó cũng là biểu hiện tính tương đối của âm dương (hình 3).  
Dương trong dương  
Âm trong dương  
12 giờ  
Ngày (+)  
18 giờ  
6 giờ  
Đêm (-)  
24 giờ  
Dương trong âm  
Âm trong âm  
Hình 1.3: Tính tương đối về thời gian theo âm dương.  
3.4. Về phương hướng  
Phía Đông, phía Nam thuộc dương  
Phía Bắc, phía Tây thuộc âm (hình 4).  
5
Phương Nam  
Phương trung ương  
Phương Đông  
Phương Tây  
Phương Bắc  
Hình 1.4: Quy định cách thể hiện phương hướng của thời cổ Trung Quốc (quy định  
này ngược với quy định phương vị hiện nay)  
3.5. Về thời tiết  
Mùa xuân thuộc dương, tăng trưởng tới mùa hạ (cꢁc dương). Mùa thu thuộc  
âm, tăng dần tới mùa đông (cꢁc âm) và cứ luân hồi âm dương như vậy. Tuy nhiên  
trong mỗi một chu kỳ như vậy cũng có những dao động song không thoát khỏi quy  
luật của âm dương (Xuân sinh, hạ trưởng, thu thu, đông tàng). Đó cũng là biểu hiện  
quy luật của thiên nhiên. Sức khỏe và bệnh tật của con người cũng bị phụ thuộc vào  
quy luật đó. Vì âm dương trong bốn mùa là nguồn gốc của muôn vật, cái căn bản của  
vạn vật đều quy tụ ở đó.  
4. Sự vận dụng thuyết âm dương trong YHCT  
Mặc dù thuyết âm dương ra đời khá lâu, cách chúng ta 30 thế kỷ, song cho đến  
nay nó vẫn không ngừng được vận dụng và phát huy trong lĩnh vꢁc YHCT. Vì nó đã  
nêu ra được những quy luật có tính tiên đề. Những quy luật đó đã được các nhà y học  
cổ vận dụng vào lĩnh vꢁc của mình, càng ngày càng làm cho nó sâu sắc thêm, phong  
phú thêm, nó trở thành phương tiện chỉ đạo cho mọi hoạt động của YHCT, về phòng  
và trị bệnh, trong đó kể cả phần Y lẫn phần Dược.  
4.1. Về tổ chức học cơ thể  
- Ngũ tạng: (Tâm, can ,tỳ, phế, thận) thuộc âm  
- Lục phủ: (Vị, đởm, tiểu tràng, đại tràng, bàng quang, tam tiêu) thuộc dương.  
Trong mỗi tạng phủ, đều có phần âm phần dương. Can có can âm, can dương;  
tâm có tâm âm, tâm dương; tỳ có tỳ âm, tỳ dương; thận có thận âm, thận dương…  
Tính chất tương đối của âm dương được thể hiện ở tạng như tâm là tạng thuộc âm  
6
trong dương (tâm nằm ở ngꢁc thuộc phần dương); can tạng âm trong âm (can âm nằm  
ở trung tiêu-phần bụng-thuộc dương).  
- Lưng thuộc dương; bụng thuộc âm; phần bụng dưới thuộc âm trong âm, phần  
ngꢁc thuộc dương trong dương.  
- Cũng theo khái niệm âm dương như vậy, các đường kinh dương trên cơ thể  
được phân bố ở phía sau lưng, mé ngoài của chân, tay và mạng sườn. Còn các đường  
kính âm được phân bố ở phía bụng, phía trong cánh tay và chân…  
- Khí, trạng thái năng lượng của cơ thể đưa lại công năng của cơ nhục, hoạt  
động của tạng phủ… thuộc dương; huyết, tinh, tân dịch, thuộc âm; da lông thuộc  
dương; xương tủy thuộc âm.  
4.2. Về sinh lý học  
Khi phần âm và phần dương trong cơ thể cân bằng thì cơ thể khỏe mạnh. Bản  
thân cơ thể luôn có sꢁ điều chỉnh để âm dương cân bằng. Sꢁ mất thăng bằng giữa hai  
mặt âm dương là cơ sở cho sꢁ phát sinh ra bệnh tật.  
Ví dụ: Âm thắng thì dương bệnh và ngược lại dương thắng thì âm bệnh, chẳng  
hạn âm thắng (âm thịnh) dẫn đến nội bàn (bụng đầy, tiết tả-phủ đại tràng (dương) sẽ bị  
bệnh). Hoặc âm hư dẫn đến nội nhiệt. Chân âm trong cơ thể (tinh huyết, tân dịch) thiếu  
kém, phần dương hỏa lấn át làm cho cơ thể phát nhiệt, nóng sốt, triều nhiệt… Hoặc  
phần dương của cơ thể bị hư (đó là tâm dương hư hoặc thận dương hư) sẽ dẫn đến  
ngoại hàn, chân tay giá lạnh, đau lưng, mỏi gối, người có cảm giác sợ lạnh, sợ gió,  
bụng hay sôi, tiết tả, nặng thì mắc chứng ngũ canh tả.  
Bởi vậy về nguyên tắc để giữ gìn sức khỏe thì phải luôn giữ cho âm dương  
trong cơ thể được cân bằng. Một khi cơ thể không tꢁ điều chỉnh được, con người phải  
chủ động điều tiết để giữ cho "âm bình dương bế". Để giữ cho cơ thể âm dương cân  
bằng, Ông cha ta đã chỉ ra phương châm rèn luyện sức khỏe như sau:  
"Bế tinh dưỡng khí tồn thần  
Thanh tâm quả dục thủ chân, luyện hình"  
Có thể tóm tắt sꢁ thay đổi các trạng thái qua sꢁ biểu hiện của âm dương ở bảng 1.  
Âm dương  
Âm dương  
Âm dương  
Âm  
Trạng thái  
Cân bằng  
Thay đổi  
Thắng  
Biểu hiện của cơ thể  
Cơ thể khỏe mạnh  
Cơ thể mắc bệnh  
Dương bệnh  
7
Âm  
Thắng  
Hư  
Nội hàn (lạnh trong tạng phủ: tiết tả…)  
Nội nhiệt (nóng trong tạng phủ…)  
Âm bệnh  
Âm  
Dương  
Dương  
Dương  
Thắng  
Thắng  
Hư  
Ngoại nhiệt (nóng ngoài da cơ)  
Ngoại hàn (lạnh ngoài da, đau lưng, liệt dương…)  
Bảng 1.1: Sự biểu hiện của âm dương  
4.3. Về bệnh lý  
Một khi phần âm dương trong cơ thể không tꢁ điều chỉnh được, dẫn đến sꢁ rối  
loạn và mất thăng bằng về hoạt động của tạng phủ. Ví dụ can khí phạm vị; khí của can  
đã ảnh hưởng tới vị (dạ dày) gây chứng vị quản thống (đau dạ dày). Can đởm thấp  
nhiệt gây ra các bệnh hoàng đản (âm hoàng hoặc dương hoàng), các bệnh viêm gan,  
vàng da…  
Hoặc các yếu tố "Lục dâm" gây ra từ lục khí (phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa)  
thâm nhập vào cơ thể gây ra mất thăng bằng âm dương mà gây ra bệnh tật. Ví dụ  
phong hàn phạm biểu gây ra chứng cảm mạo phong hàn hoặc phong nhiệt phạm biểu  
gây ra chứng cảm mạo phong nhiệt…Như vậy tùy theo tác nhân gây bệnh như thế nào  
sẽ đưa lại những chứng bệnh tương ứng cho cơ thể, những tác nhân đó có khi là một  
như: hàn, nhiệt, phong; cũng có khi phối hợp lại như cả phong lẫn hàn, cả phong lẫn  
thấp… cũng tùy theo tác nhân gây bệnh ở bộ phận nào mà có những chứng bệnh tương  
ứng. Ví dụ thấp ở thượng tiêu, thấp hạ tiêu, hàn nhập phế, nhập tỳ vị…  
Tóm lại, về bệnh lý học theo âm dương cũng rất phức tạp. Mặc dù vậy cũng cần  
phải phân biệt thật rõ âm và dương trong từng trường hợp cụ thể. Đồng thời phải  
không ngừng theo dõi sꢁ chuyển biến của nó. Ví dụ bệnh đang ở trạng thái hàn (bệnh  
nhân sốt lạnh, rét run do sốt cao) đột ngột chuyển sang trạng thái phong co giật (nhiệt  
cꢁc sinh phong). Thêm vào đó do bệnh lý diễn biến không ngừng (sꢁ chuyển hóa của  
âm dương) cho nên cần căn cứ vào các dấu hiệu lâm sàng đó của bệnh nhân để điều  
chỉnh phương pháp cũng như phương dược cho kịp thời, phù hợp với phương châm  
của "Biện chứng luận trị". Trên cơ sở diễn biến của bệnh, việc chế biến thuốc cũng  
phải phù hợp. Việc sử dụng các vị thuốc cũng phải gia giảm về số lượng và khối lượng  
cho phù hợp với bệnh lý đó.  
4.4. Chẩn đoán  
Triệu trứng cũng chia ra âm và dương:  
8
- Hội chứng dương: Có thể có thân nhiệt lớn hơn 37°c hoặc sốt cao, hoặc không  
sốt nhưng hoạt động của các tạng phủ nhiệt (tâm huyết nhiệt, can nhiệt…) hoặc thể  
hiện ra ngoài mặt đỏ, mắt đỏ, vàng… người có cảm giác nóng bừng, háo khát thích  
uống nước mát, thích ăn đồ mát, môi khô nứt nẻ, bụng trướng đau sợ ấn, táo kết đại  
tràng, nước tiểu vàng đỏ, lượng ít, rêu lưỡi vàng khô, chất lưỡi đỏ, nếu ho thì đờm đặc  
mùi hôi, mạch thuộc loại hồng, sác hay huyền, phù, thꢁc…  
- Hội chứng âm: Cơ thể thường biểu hiện lạnh, chân tay lạnh, sợ rét, da xanh,  
nhợt nhạt, mắt trắng môi nhợt, thích uống nước nóng, bụng đau sôi, tiết tả, nước tiểu  
trong, dài; rêu lưỡi trắng mỏng, lưỡi nhợt nhạt, tiếng nói trầm khàn yếu ớt, nằm co sợ  
ánh sáng nên quay phía trong, nếu ho thì đờm loãng trắng, mạch trầm, phục, trì, vi,  
nhược…  
Hai hội chứng âm dương rất quan trọng trong việc chuẩn đoán. Vì đó là những  
căn cứ để người thầy thuốc đưa ra những phương pháp điều trị thích hợp, phương  
dược thích hợp cho người bệnh.  
4.5. Điều trị  
Thuyết âm dương được vận dụng trong điều trị hết sức phong phú. Nó được  
tuân theo một nguyên tắc cơ bản sau đây: Nếu bệnh thuộc chứng dương thì dùng âm  
dược và ngược lại nếu bệnh thuộc chứng âm thì dùng dương dược. Phương pháp đối  
nghịch đó được YHCT mô tả là phương thuốc chính trị (sẽ giới thiệu kꢀ ở phần phép  
tắc điều trị). Như vậy về nguyên tắc cơ bản của phương pháp này là chiều hướng tác  
dụng của thuốc luôn đối nghịch với chiều của bệnh (hình 5).  
Chiều hướng của bệnh  
Chiều hướng của bệnh  
Chiều hướng tác dụng của thuốc  
Chiều hướng tác dụng của thuốc  
Hình 1.5: Chiều hướng của bệnh và thuốc.  
Ví dụ: Chứng cảm mạo phong hàn, bệnh thể hiện sốt cao, rét run, đau đầu, ho phải  
dùng thuốc tân ôn giải biểu. Bệnh cảm mạo phong nhiệt sốt cao, đau đầu phải dùng  
9
thuốc tân lương giải biểu. Hoặc các bệnh ho hen khí suyễn phải dùng thuốc chống ho,  
hạ khí bình suyễn. Bệnh nôn và buồn nôn do vị khí thượng nghịch phải dùng thuốc  
giáng khí chỉ nôn…, bệnh sốt cao mê sảng do nhiệt tà đã nhập vào phần dinh, phần  
huyết, phần tâm bào thì phải dùng thuốc thanh nhiệt tả hỏa, thanh nhiệt lương huyết...  
Trên thꢁc tế lâm sàng, nếu không nắm vững nguyên tắc này sẽ làm cho bệnh nặng lên,  
hoặc bệnh trở thành mãn tính. Ví dụ bệnh cảm mạo phong hàn lại dùng thuốc tân  
lương, bệnh sốt cao vật vã lại dùng thuốc ôn trung thì kết quả sẽ ngược lại, đôi khi  
nguy hiểm đến tính mệnh của người bệnh. Do vậy, cần phải hiểu ý nghĩa của vấn đề,  
chiều hướng bệnh và chiều hướng của thuốc để tránh gặp phải điều đáng tiếc "Hàn ngộ  
hàn tắc tử" "Nhiệt ngộ nhiệt tắc cưồng". Điều đó có nghĩa là bệnh hàn gặp thuốc hàn  
sẽ chết, bệnh nhiệt mà dùng thuốc nhiệt sẽ làm cho bệnh nhân phát cuồng. Để ghi nhớ  
điều này, cần được nhắc nhở một câu mà cổ nhân đã dạy:  
"Phúc thống phục nhân sâm tắc tử", tức là đau bụng (thể hàn, tiết tả) uống nhân sâm sẽ chết.  
4.6. Phòng bệnh  
Mùa đông, khí hậu thường lạnh, thuộc âm, cơ thể dễ nhiễm bệnh cảm mạo  
phong hàn, bệnh hàn thấp. Cần phòng bệnh bằng cách mặc ấm, ăn các thức ăn có vị  
cay nóng, hoặc uống các thuốc có vị tân ôn như sinh khương, đinh hương, quế nhục.  
Mùa hè, khí hậu thường nóng nꢁc, thuộc dương cơ thể dễ nhiễm bệnh chúng  
thử hoặc cảm nhiệt, cần phòng bệnh bằng cách ăn mặc quần áo thoáng mát, ăn uống  
thức ăn mát. Uống các thuốc có tính mát để phòng mụn nhọt, ngứa lở như kim ngân,  
sải đất; hoặc uống nước rau má để phòng say nắng.  
4.7. Đông dược  
4.7.1. Tính vị  
Trong đông dược tính vị được coi là vấn đề coi trọng hàng đầu, vị thuộc phạm  
trù hữu hình, khí (tính) thuộc phạm trù công năng. Điều đó có nghĩa là có vị rồi mới có  
tính của thuốc.  
Vị của thuốc thuộc âm, khí của thuốc thuộc dương. Trong vị lại có âm dương,  
vị cay ngọt thuộc dương, vị đắng mặn thuộc âm, vị chua mang tính chất lưỡng tính.  
Với lượng ít làm cho cơ thể mát mẻ lúc đó thiên về âm, lượng lớn dùng lâu sẽ thiên về  
nhiệt, tuy nhiên vị chua nói chung mang tính âm.  
Khí của thuốc cũng có âm và dương, khí hàn lương thuộc âm, khí ôn nhiệt  
thuộc dương; điều đó phản ánh tính tương đối về âm dương của thuốc.  
10  
4.7.2. Âm dược  
Những vị thuốc được gọi là âm dược trên thꢁc tế lâm sàng có thể dùng để điều  
trị các bệnh thuộc chứng ôn nhiệt. Ví dụ: kim ngân hoa, liên kiều, huyền sâm… Có thể  
dùng chữa các bệnh mụn nhọt mẩn ngứa do huyết nhiệt. Hoàng liên dùng điều trị các  
bệnh tâm nhiệt, hoàng cầm dùng điều trị các bệnh do phế nhiệt… Như vậy các vị âm  
dược thường có vị đắng hoặc mặn, chua và tính lương hoặc hàn, về công năng mang  
tính giải biểu nhiệt, thanh nhiệt, bổ âm, phần lớn mang tính ức chế.  
4.7.3. Dương dược  
Những vị thuốc được gọi là dương dược trên thꢁc tế lâm sàng có thể dùng để  
điều trị các bệnh thuộc chứng hàn. Ví dụ sinh khương, bạch chỉ, tế tân… dùng để điều  
trị các bệnh cảm mạo phong hàn. Quế nhục, phụ tử dùng để chữa các chứng thoát  
dương, vong dương hoặc chân dương suy giảm do tâm thận dương hư… Về công năng  
nói chung dương dược mang tính giải biểu, phát hãn, ôn trung tán hàn. Nói cách khác  
là mang tính kích thích, hưng phấn cục bộ hay toàn bộ cơ thể.  
4.7.4. Tính tương đối của âm dương được thể hiện đối với đông dược  
Những vị thuốc mang tính âm trong âm, đó là những vị thuốc, có vị thuộc âm,  
tính thuộc âm, đó là những vị thuốc thể hiện vị đắng mặn, tính hàn như ngư tinh thảo,  
bồ công anh, hạ khô thảo, hoàng liên, hoàng bá…  
Những vị thuốc mang tính âm trong dương, đó là những vị thuốc có vị thuộc  
âm, tính thuộc dương. Những vị thuốc có vị đắng hoặc mặn, tính ôn như cẩu tích, tắc  
kè, cốt toái bổ…  
Những vị thuốc mang tính dương trong dương; đó là những vị thuộc dương, tính  
cũng thuộc dương; nhưng vị thuốc có vị cay tính ôn nhiệt như quế chi, bạch chỉ, phụ tử…  
Những vị thuốc mang tính dương trong âm; đó là những vị thuốc có vị thuộc dương,  
tính thuộc âm. Những vị thuộc có vị cay tính hàn lương như bạc hà, cúc hoa, cát căn…  
Qua đó nói lên tính chất tương đối của âm dương cũng được thể hiện rõ trong  
khí vị của các vị thuốc trong y học cổ truyền.  
4.7.5. Tính tương đối của âm dương được thể hiện trong các phương dược  
Trong phương thuốc có thể mang nhiều vị thuốc có tính, vị khác nhau, song các  
tính (khí) chung của phương thuốc phải thỏa mãn được yêu cầu chính cho việc trị liệu.  
Hoặc là mang tính dương, thuần dương (tức dương ở trong dương) như phương  
khương phụ hoặc phương lý trung thang (đảng sâm, bạch truật, can khương, cam thảo)  
tác dụng ôn trung tán hàn. Phụ tử lý trung thang (phụ tử + lý trung thang) tăng sức ôn  
11  
trung hồi dương cho cơ thể. Hoặc ma hoàng quế chi thang (ma hoàng, quế chi, hạnh  
nhân, cam thảo) cũng là phương mang tính chất trên, có tác dụng giải cảm hàn, bình  
suyễn chỉ ho.  
- Những phương mang tính âm ở trong âm đó là những phương mà vị của  
chúng có vị đắng, tính hàn công năng thường thanh nhiệt. Ví dụ phương bạch hổ thang  
(thạch cao, tri mẫu, đại mễ, cam thảo) dùng cho sốt cao mê sảng; hoặc tam hoàng  
thang (hoàng liên, hoàng bá, hoàng cầm) cũng dùng trong sốt cao, nhiệt độc nhập vào  
phần dinh phần huyết gây sốt cao, phát cuồng. Thang tê giác địa hoàng thang (tê giác,  
địa hoàng, xích thược, mẫu đơn bì) cũng dùng trị chứng huyết nhiệt, sốt cao, hôn mê…  
Phương thuốc mang tính âm trong âm còn mang tính chất bổ như phương lục vị dùng  
bổ thận âm (thục địa, mẫu đơn bì, sơn thù, hoài sơn, trạch tả, bạch linh) hoặc phương  
bổ thận âm phương tri bá bát vị hoàn (tri mẫu, hoàng bá + lục vị) dùng trong phế âm  
hư, âm hư sốt cao.  
- Những phương mang tính âm ở trong dương như sinh mạch tán (nhân sâm,  
mạch môn, ngũ vị) vị đắng tính ấm dùng bổ khí, bổ tâm khí liễm hãn, sinh tân. Hoặc  
hoắc hương chính khí tán (hoắc hương, tô diệp, bạch chỉ, bạch truật, phục linh, đại  
phúc bì, hậu phác, bán hạ, cát cánh, cam thảo) vị của phương đắng, tính ấm dùng trong  
bệnh tỳ vị, lạnh bụng đầy trướng, thổ, tả, kiêm phong hàn, kiêm phong hàn biểu  
chứng. Phương bình vị tán, vị đắng tính ôn (thương truật, hậu phác, trần bì, cam thảo)  
trị thấp khuẩn tỳ vị đau bụng buồn nôn. Phương kinh phòng bại độc tán (kinh giới,  
phòng phong, khương hoạt, độc hoạt, sài hồ, tiền hồ, chỉ xác, cát cánh, phục linh,  
xuyên khung…) vị đắng tính ôn, tác dụng phát hãn giải biểu trị ngoại cảm phong hàn  
sốt cao, rét run.  
- Những phương mang tính dương ở trong âm là những phương, vị thương cay  
tính mát dùng trong các bệnh cảm mạo phong nhiệt như tang cúc ẩm (tang diệp, cúc  
hoa, liên kiều, bạc hà, cát cánh, cam thảo, lô căn) dùng để trị cảm mạo phong nhiệt đau  
đầu, sốt cao. Phương ngân kiều tán (kim ngân, liên kiều, bạc hà, kinh giới, ngưu bàng  
tử) vị cay tính mát dùng trong bệnh mụn nhọt, mẩn ngứa và cảm mạo phong nhiệt.  
Phương ma hạnh cam cao thang cũng mang tính chất trên vị cay tính mát dùng trong  
bệnh sốt cao, ho do phế nhiệt. Qua những ví dụ trên, thấy rằng từ những vị thuốc và  
phương thuốc đều thể hiện tính chất tương đối của âm dương.  
12  
4.8. Chế biến thuốc y học cổ truyền  
Thông qua việc chế biến làm thay đổi tính vị của thuốc, nhằm mục đích tăng sꢁ  
quy kinh của thuốc hoặc giảm tác dụng phụ (tính háo, tính nhiệt, tính độc)  
- Làm giảm tính dương (tính nhiệt) của thuốc: sinh phụ tử ngâm với nước đảm  
ba (magne clorid) hoặc nước ót (nước sau khi còn lại của việc kết tinh muối ăn). Hà  
thủ ô đỏ, xương bồ ngâm nước vo gạo cũng nhằm mục đích đó.  
- Làm tăng tính dương của thuốc bằng cách dùng các phụ liệu gừng, sa nhân,  
mật ong, rượu, những phụ liệu mang tính ôn nhiệt để trích tẩm với thuốc, như cát cánh,  
nhân sâm trích gừng, cam thảo trích mật ong, dâm dương hoắc trích mỡ dê…  
- Tăng tính âm cho vị thuốc: sài hồ trích miết huyết (máu ba ba) diên hồ (huyền  
hồ) trích dấm thanh.  
- Giảm tính âm của vị thuốc như sinh địa nấu với sa nhân, gừng, rượu.  
5. Vài nhận xét về học thuyết âm dương  
5.1. Ưu điểm  
Là thuyết triết học duy vật biện chứng song ở mức độ thô sơ. Duy vật ở chỗ đề  
cập đến sꢁ vật, sꢁ việc cụ thể; nói tới bản chất của sꢁ vật; đó là thuộc tính khách quan  
và tương đối đã được vận dụng vào nhiều lĩnh vꢁc. Có sức sống mãnh liệt qua thời  
gian hàng ngàn năm. Được vận dụng vào YHCT một cách nhuần nhuyễn về mọi  
phương diện từ phòng bệnh, chuẩn đoán, điều trị, chế biến thuốc men.  
5.2. Nhược điểm  
Sꢁ vận dụng thuyết âm dương đôi khi còn máy móc nhất là khi vận dụng giải  
thích tính âm dương của một số tạng phủ. Tuy nhiên thuyết âm dương vẫn là thuyết có  
ý nghĩa rất sâu sắc với YHCT.  
LƯỢNG GIÁ:  
Trả lời các câu hỏi sau:  
1. Trình bày được nội dung cơ bản của học thuyết âm dương.  
2. Vận dụng được thuyết âm dương trong chuẩn đoán Y học cổ truyền.  
3. Trình bày được sự vận dụng thuyết âm dương vào đông dược.  
4. Trình bày được ưu, nhược điểm của học thuyết âm dương  
Trả lời các câu sau bằng cách điền từ, cụm từ thích hợp vào chỗ trống (…):  
1. Nguyên tắc điều hòa âm dương theo y học cổ truyền: Bệnh thuộc chứng âm thì dùng  
....  
2. Điều hòa âm dương trong cơ thể bằng thuốc và châm cứu dꢁa vào 2 nguyên tắc sau:  
hư thì bổ, thꢁc .....  
13  
3. Sꢁ vận động âm dương tới mức độ nào đó sẽ chuyển hóa sang nhau: âm cꢁc sinh ...  
4. Kể tên ngũ tạng trong cơ thể theo quy luật tương sinh: tỳ sinh ...  
Phân biệt đúng sai các câu sau bằng cách đánh dấu vào chữ A (cho câu đúng) và  
chữ B (cho câu sai):  
1. Hội chứng âm có các triệu chứng: Ho đờm vàng loãng, mạch trầm xác,  
A – B  
chân tay nóng.  
2. Hội chứng dương có các triệu chứng: Ho đờm loãng, mùi hôi, phân lỏng  
A – B  
nát.  
3. Nguyên tắc khi dùng thuốc điều hòa âm dương theo y học cổ truyền:  
A – B  
Nếu phần dương thắng dùng thuốc có tính ôn lương.  
4. Hội chứng dương có triệu chứng: sợ lạnh, chân tay lạnh, da xanh, nhợt  
nhạt  
A – B  
Chọn giải pháp đúng nhất cho các câu sau bằng cách đánh dấu vào đầu giải pháp  
mà bạn lựa chọn:  
1. Đặc điểm của âm dương trong thuyết âm dương:  
A. Âm dương mang tính tuyệt đối  
B. Âm dương mang tính bất biến  
C. Âm dương có các mặt đối lập trong sꢁ vật  
D. Âm dương tồn tại khách quan trong sꢁ vật  
2. Trạng thái nào dưới đây thuộc dương:  
A. Nghỉ  
B. Tĩnh  
C. Nhiệt  
D. Hàn  
3. Trạng thái nào dưới đây thuộc âm:  
A. Động  
B. Ánh sáng  
C. Nghỉ  
D. Hưng phấn  
4. Các triệu chứng thuộc âm:  
A. Sốt cao, thích uống nước mát, đờm đặc  
B. Chân tay lạnh, sợ lạnh, tiểu nhiều, phân lỏng  
C. Sốt, tiểu đỏ, đại tiện táo kết  
D. Đau đầu, khớp sưng đỏ, đại tiện táo  
14  
5. Học thuyết âm dương không được vận dụng vào y học cổ truyền ở mục nào dưới  
đây:  
A. Tổ chức học cơ thể, sinh lý học cơ thể  
B. Bệnh lý, chuẩn đoán, điều trị  
C. Phòng bệnh, đông dược  
D. Giải phẫu bệnh lý  
6. Biểu hiện nào dưới đây KHÔNG ĐÚNG với thuộc tính âm dương:  
A. Hưng phấn thuộc dương, ức chế thuộc âm  
B. Đất thuộc dương, trời thuộc âm  
C. Ngày thuộc dương, đất thuộc âm  
D. Phía nam thuộc dương, phía tây thuộc âm  
7. Hội chứng âm KHÔNG CÓ triệu chứng nào dưới đây:  
A. Sợ lạnh, chân tay lạnh, da xanh, nhợt nhạt  
B. Nước tiểu trong, rêu lưỡi trắng mỏng, lưỡi nhạt  
C. Sợ ánh sáng, nằm co, quay mặt vào phía trong  
D. Ho đờm vàng loãng, mạch trầm xác, chân tay nóng  
8. Những vị thuốc được gọi là âm dược KHÔNG CÓ đặc điểm nào sau đây:  
A. Điều trị các bệnh thuộc chứng ôn nhiệt  
B. Có vị đắng, mặn hoặc chua  
C. Tính hàn lương, phần lớn mang tính hưng phấn  
D. Công năng mang tính giải biểu nhiệt, thanh nhiệt, bổ âm.  
9. Những vị thuốc được gọi là dương dược KHÔNG CÓ đặc điểm nào dưới đây:  
A. Điều trị các bện thuộc âm hư  
B. Có vị cay, ngọt, nhạt  
C. Tính ôn nhiệt, phần lớn mang kích thích, hưng phấn  
D. Công năng mang tính giải biểu phát hãn, ôn trung tán hàn  
10. Những vị thuốc mang tính âm trong âm có các đặc điểm sau, Ngoại trừ:  
A. Vị thuộc âm  
B. Tính thuộc âm  
C. Vị cay ngọt  
D. Tính hàn  
15  
Chương 2:  
HỌC THUYẾT NGŨ HÀNH  
MỤC TIÊU  
1. Trình bày được các quy luật hoạt động của thuyết ngũ hành.  
2. Trình bày được ý nghĩa của thuyết ngũ hành trong điều trị.  
3. Phân tích được sự vận dụng của thuyết ngũ hành vào bào chế Thuốc cổ  
truyền.  
NỘI DUNG  
1. Giới thiệu  
Học thuyết ngũ hành cũng là học thuyết về triết học cổ, ra đời sau thuyết âm  
dương, nhằm bổ sung vào những chỗ khiếm khuyết của thuyết âm dương. Thuốc được  
tác giả Trâu Diễn thời Chiến Quốc (Trung Quốc) nghiên cứu đề xuất. Thuyết ngũ hành  
dùng 5 vật thể gần gũi trong cuộc sống, tượng trưng cho vạn vật trong thiên nhiên, đó  
là kim (kim loại), mộc (gỗ), thủy (nước), hỏa (lửa), thổ (đất) và gọi đó là ngũ hành.  
Thuyết ngũ hành đã đề cập được các mối quan hệ mật thiết, hữu cơ giữa ngũ hành với  
nhau thông qua một số quy luật hoạt động của chúng. Đó là những quy luật tương  
sinh, tương khắc, tương thừa, tương vũ…  
2. Những quy luật hoạt động của ngũ hành  
2.1. Trong điều kiện bình thường  
Ngũ hành hoạt động theo quy luật tương sinh, tương khắc.  
2.1.1. Quy luật tương sinh  
Hành này hỗ trợ, thúc đẩy hành kia, theo quy luật hành đứng sau, sinh ra, thúc  
đẩy hành đứng trước: mộc sinh hỏa, hỏa sinh thổ, thổ sinh kim, kim sinh thủy, thủy lại  
sinh mộc, cứ thế phát triển luân hồi. Có thể biểu diễn theo sơ đồ sau:  
Mộc →Hỏa → Thổ→ Kim→ Thủy→ Mộc  
Nếu ta hình dung cuộn tròn chuỗi tương sinh Mộc… Thủy, ta sẽ có hình 6, biểu  
diễn trên một vòng tròn.  
16  
Hình 2.1: Quy luật tương sinh  
2.1.2. Quy luật tương khắc  
Hành này ức chế, kìm hãm hành kia. Hành kim khắc mộc, mộc khắc thổ, thổ  
khắc thủy, thủy khắc hỏa, hỏa khắc kim. Có thể theo dõi ở sơ đồ sau:  
Kim  
Mộc  
Thổ  
Thủy  
Hỏa  
Nếu biểu diễn theo vòng tròn ở hình 6, kết hợp với quy luật tương khắc ta sẽ có  
hình 7, biểu thị sꢁ tương khắc (cùng với tương sinh).  
Mộc  
Hỏa  
Thủy  
Thổ  
Kim  
Hình 2.2: Biểu thị tương khắc (cùng tương sinh)  
2.2. Điều kiện không bình thường  
Ngũ hành hoạt động theo 2 quy luật tương thừa, tương vũ.  
2.2.1. Tương thừa  
Hành đi khắc mạnh hơn hành được khắc, kim khắc mộc, kim mạnh hơn mộc,  
mộc khắc thổ nhưng mộc mạnh hơn thủy, thủy mạnh hơn kim. Có thể thể hiện quy luật  
tương thừa theo sơ đồ sau:  
Kim  
Mộc  
Thổ  
Thủy  
Hỏa  
17  
2.2.2. Tương vũ  
Hành bị khắc mạnh hơn hành đến khắc. Hành mộc mạnh hơn kim, thổ mạnh  
hơn mộc, thủy mạnh hơn thổ, hỏa mạnh hơn thủy, kim mạnh hơn hỏa. Có thể thể hiện  
quy luật tương vũ theo sơ đồ sau:  
Kim  
Mộc  
Thổ  
Thủy  
Hỏa  
Kim  
2.3. Quy luật chế hóa (chế ước) ngũ hành  
Trên thꢁc tế các quy luật hoạt động của ngũ hành rất phức tạp, đen xen vào  
nhau bị ràng buộc và ảnh hưởng lẫn nhau giữa các quy luật. Mỗi một hành đều bị ảnh  
hưởng tương sinh hoặc tương khắc của các hành khác và được thể hiện ra ở quy luật  
tổng hợp chế hóa hay chế ước ngũ hành. Có thể thể hiện ở hình 8.  
Tóm lại các quy luật của ngũ hành nói lên sꢁ vận động chuyển hóa chế ước lẫn  
nhau. Một hành bị ràng buộc và quan hệ với 4 hành đứng cạnh. Mỗi hành đều tꢁ vận  
động bên cạnh sꢁ hoạt động của bốn hành khác; càng làm cho các quy luật hoạt động  
của ngũ hành phức tạp và phong phú thêm.  
Mộc  
Kim  
Thổ  
Hỏa  
Thủy  
Thủy  
Hỏa  
Mộc  
Thổ  
Kim  
Hình 2.3: Quy luật chế hóa ngũ hành  
3. Sự vận dụng thuyết ngũ hành  
3.1. Vận dụng vào thế giới tự nhiên (xem bảng 2)  
Ngũ hành  
Sꢁ vật  
Mộc  
Hỏa  
Thổ  
Kim  
Thủy  
Phương hướng  
Đông  
Nam  
Trung ương  
Trưởng hạ  
Tây  
Thu  
Bắc  
Mùa  
Xuân  
Hạ  
Đông  
18  
Khí hậu  
Ngũ sắc  
Ngũ cốc  
Ngũ cầm  
Ngũ vị  
Phong  
Xanh  
Lúa mì  
Gà  
Nhiệt  
Đỏ  
Thấp  
Vàng  
Lúa tẻ  
Bò  
Táo  
Trắng  
Lúa nếp  
Ngꢁa  
Cay  
Hàn  
Đen  
Đậu  
Lợn  
Mặn  
Thối  
Ngô  
Dê  
Chua  
Tanh  
Đắng  
Khét  
Ngọt  
Thơm  
Ngũ mùi  
Hôi  
Bảng 2.1: Vận dụng vào thế giới tự nhiên  
3.2. Vận dụng vào y học  
3.2.1. Tổ chức học cơ thể  
Trước hết người ta ghép phủ tạng lục phủ vào các bộ phận trong cơ thể vào các  
hành tương ứng, xem bảng 3.  
Ngũ  
hành  
Mộc  
Hỏa  
Thổ  
Kim  
Thủy  
Sự vật  
Phủ tạng  
Can  
Đởm  
Gân  
Tâm  
Tiểu tràng  
Mạch  
Tỳ  
Vị  
Phế  
Đại tràng  
Da lông  
Mùi  
Thận  
Bàng quang  
Xương  
Tai  
Lục phủ  
Ngũ thể  
Thịt  
Ngũ quan  
Ngũ chí  
Mắt  
Lưỡi  
Miệng  
Nghĩ  
Giận  
Mừng  
Lo  
Sợ  
Ngũ âm  
La hét  
Co quắp  
Cười  
Hát  
Khóc  
Rên rỉ  
Bạch biến  
Hồi hộp  
Ngꢁc sườn  
Nôn ọe  
Sống lưng  
Ho  
Run rẩy  
Eo lưng đùi  
Chỗ bị bệnh Cổ gáy  
Vai lưng  
Bảng 2.2: Vận dụng ngũ hành vào cơ thể  
3.2.2. Vận dụng vào quy kinh và chế biến thuốc YHCT  
Thuyết ngũ hành được vận dụng vào chế biến thuốc khá phong phú. Hiện nay  
rất nhiều vị thuốc được chế biến vận dụng theo nguyên tắc ngũ hành. Để hiểu rõ sꢁ  
vận dụng này ta cần nắm chắc các quy luật tạng phủ…, vào ngũ hành ở bảng 3 và sꢁ  
quy nạp các màu sắc, mùi vị ở bảng 2. Trên cơ sở tổng hợp màu sắc, mùi vị của thuốc  
đối chiếu với các tạng phủ và ngũ hành biết được vị thuốc sẽ trích tẩm với phụ liệu gì?  
Màu sắc ra sao và sẽ quy nạp vào tạng phủ nào? Kinh nào? Mặc dù vậy sꢁ quy nạp đó  
cũng mang tính chất tương đối.  
19  
- Màu sắc và mùi vị thuốc cho phép ta biết hướng quy nạp của chúng vào tạng  
phủ nào? Ví dụ: Phần lớn các vị thuốc có màu đỏ vị đắng được quy nạp vào tạng tâm  
và tiểu tràng (hành hỏa) như: huyết giác, thần sa, chu sa, mã xỉ hiện… để tăng thêm sꢁ  
quy kinh của thuốc vào tạng tâm có thể tẩm hoặc trích với các chất có màu đỏ. Ví dụ:  
tẩm thần sa vào xương bồ để tăng tác dụng trấn tâm của xương bồ; hầu hết các vị  
thuốc có vị đắng đều tác dụng vào tâm, tiểu tràng; vào tâm: liêm tâm, táo nhâ, lạc tiên,  
ngải tượng… tác dụng an thần trấn tĩnh. Những vị đắng: hoàng liên, hoàng đằng, kim  
ngân, xuyên tâm liên… đều tác dụng vào tiểu tràng.  
- Những vị thuốc có màu vàng vị ngọt phần lớn quy nạp vào tạng tỳ, phủ vị (  
hành thổ) như cam thảo, hoàng kỳ, bạch truật, hoài sơn… để tăng tác dụng vào hành  
thổ có thể sao vàng, sao cám cho thơm, vị thơm thuộc hành thổ, trích mật ong, đường  
(hoàng kỳ, cam thảo, bạch truật) trích hoàng thổ.  
- Một số vị thuốc có màu trắng vị cay tác dụng vào tạng phế , đại tràng (hành  
kim) như tang bạch bì, bối mẫu, cát cánh, bách hợp, sa nhân, bố chính sâm, đẳng  
sâm…đề có màu trắng nên tác dụng vào phế, sinh khương, bạc hà, húng chanh, xạ can,  
tô tử, bạch giới tử, lai phục tử…có vị cay cũng tác dụng vào phế để chữa ho, long  
đờm. Các vị tiểu hồi, can khương, sa nhân, đinh hương, quế nhục …cũng cay có tác  
dụng vào đại tràng với công năng ôn tràng, chỉ thống, chỉ tả.  
- Để tăng tác dụng vào phế người ta có thể tẩm trích thuốc với dịch sinh khương  
như đẳng sâm, cát cánh…  
- Một số thuốc có vị mặn, sắc đen có tác dụng vào tạng thận, bàng quang (hành  
thủy) như huyền sâm, côn bố, địa long. xuyên sơn giáp, hổ cốt… Để tăng tác dụng vào  
thận có thể trích với muối ăn như cẩu tích, tục đoạn, đỗ trọng, trạch tả… Để có màu  
đen có thể sao sém cạnh, sao cháy như hà diệp, trắc bách diệp, ngải diệp…  
- Một số loại thuốc có vị chua màu xanh có tác dụng vào can đởm (hành mộc)  
như ngưu tất, ngũ vị tử, sơn tra, mộc qua…Cần tăng vị chua có thể trích giấm như nga  
truật, hưng phụ… Để có màu xanh có thể trích mật bò, mật lợn như thiên nam tinh sau  
khi trích mật bò thành đởm nam tinh (đởm là mật ).  
3.2.3. Thuốc YHCT mang tính chất tương sinh  
Thuốc kiện tỳ bổ phế khí: thuốc dùng tính chất kiện tỳ song lại được chữa các  
bệnh phế hư như đẳng sâm, hòang kỳ, cam thảo, hoài sơn…  
Thuốc dùng với tính chất bổ thận thủy song lại ức chế can hỏa vượng như:  
hoàng tinh, thục địa hoặc phương lục vị, phương bổ âm…  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 298 trang Thùy Anh 19160 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình môn Dược học cổ truyền", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_mon_duoc_hoc_co_truyen.pdf