Giáo trình Đường lối quốc quốc phòng an ninh của Đảng Cộng sản Việt Nam (Phần 2)

BÀI 8:  
XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ  
CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ, BIÊN GIỚI QUỐC GIA  
I - MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU  
- Trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản về chủ quyền lãnh thổ, biên  
giới quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; những nội dung chủ  
yếu về xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia của nước ta  
trong tình hình hiện nay.  
- Nâng cao lòng tự hào yêu nước và ý thức trách nhiệm công dân trong việc  
góp phần xây dựng, bảo vệ và giữ gìn toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc  
gia của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.  
II - NỘI DUNG  
Việt Nam là một quốc gia độc lập, có chủ quyền. Lãnh thổ Việt Nam là một  
chỉnh thể thống nhất, bất khả xâm phạm, với diện tích đất liền là 331.689 km2, với  
4.550 km đường biên giới, là nơi sinh sống của trên 84 triệu dân thuộc 54 dân tộc  
anh em đoàn kết trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.  
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, bên cạnh những thuận lợi, Việt  
Nam cũng đang phải đối mặt với những nguy cơ, thách thức. Các thế lực thù địch  
chưa từ bỏ âm mưu can thiệp vào công việc nội bộ, gây mất ổn định chính trị - xã  
hội, xâm phạm chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia nước ta.  
Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là một nhiệm vụ chiến lược của cách mạng  
Việt Nam hiện nay. Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia là một nội dung  
đặc biệt quan trọng của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đại hội đại  
biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng xác định: “Xây dựng nền quốc phòng toàn dân  
và an ninh nhân dân vững mạnh toàn diện; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, độc lập chủ  
quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ  
xã hội chủ nghĩa; bảo vệ an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh tư tưởng văn  
hoá và an ninh xã hội; duy trì trật tự kỉ cương, an toàn xã hội; giữ vững ổn định  
chính trị của đất nước, ngăn ngừa, đẩy lùi và làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động  
chống phá, thù địch, không để bị động, bất ngờ”[24].  
1. Xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia  
a) Chủ quyền lãnh thổ quốc gia  
Quốc gia là thực thể pháp lí bao gồm ba yếu tố cấu thành: lãnh thổ, dân cư và  
quyền lực công cộng. Quốc gia là chủ thể căn bản nhất của luật quốc tế. Chủ quyền  
quốc gia là đặc trưng cơ bản, quan trọng nhất của quốc gia. Theo luật pháp quốc tế  
hiện đại, tất cả các quốc gia đều bình đẳng về chủ quyền.  
Quốc gia có khi được dùng để chỉ một nước hay đất nước. Hai khái niệm đó  
có thể được dùng thay thế cho nhau.  
Lãnh thổ quốc gia là phạm vi không gian được giới hạn bởi biên giới quốc  
gia, thuộc chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ của một quốc gia. Lãnh thổ quốc gia  
Việt Nam bao gồm : vùng đất quốc gia, vùng biển quốc gia (nội thuỷ và lãnh hải),  
vùng trời quốc gia, ngoài ra còn gồm lãnh thổ quốc gia đặc biệt.  
79  
Vùng đất quốc gia (kể cả các đảo và quần đảo) là phần mặt đất và lòng đất  
của đất liền (lục địa), của đảo, quần đảo thuộc chủ quyền một quốc gia ; bộ phận  
quan trọng nhất cấu thành nên lãnh thổ quốc gia, làm cơ sở để xác định vùng trời  
quốc gia, nội thuỷ, lãnh hải. Vùng đất quốc gia có thể gồm những lục địa ở những  
điểm khác nhau (tách rời nhau), nhưng các vùng đất đó đều thuộc lãnh thổ thống  
nhất của quốc gia ; hoặc cũng có thể chỉ bao gồm các đảo, quần đảo ở ngoài biển  
hợp thành quốc gia quần đảo. Việt Nam là một quốc gia nằm trên bán đảo Đông  
Dương, ven biển Thái Bình Dương, có vùng đất quốc gia vừa là đất liền, vừa là  
đảo, vừa là quần đảo, bao gồm từ đỉnh Lũng Cú, Hà Giang đến mũi Cà Mau ; các  
đảo như Phú Quốc, Cái Lân... và quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.  
Việt Nam có ba mặt trông ra biển: Đông, Nam và Tây Nam, với bờ biển dài  
3.260 km, từ Móng Cái đến Hà Tiên. Phần Biển Đông thuộc chủ quyền Việt Nam  
mở rộng về phía Đông và Đông Nam, có thềm lục địa, các đảo và quần đảo lớn  
nhỏ bao bọc. Riêng Vịnh Bắc Bộ đã tập trung một quần thể gần 3.000 hòn đảo  
trong khu vực Vịnh Hạ Long, Bái Tử Long; các đảo Cát Hải, Cát Bà, Bạch Long  
Vĩ; xa hơn là quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; phía Tây Nam và Nam có các  
nhóm đảo Côn Sơn, Phú Quốc và Thổ Chu.  
Nội thuỷ là vùng biển nằm ở phía trong của đường cơ sở để tính chiều rộng  
lãnh hải. Đường cơ sở là đường gãy khúc nối liền các điểm được lựa chọn tại ngấn  
nước thuỷ triều thấp nhất dọc theo bờ biển và các đảo gần bờ do Chính phủ nước  
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam xác định và công bố1. Vùng nước thuộc nội  
thuỷ có chế độ pháp lí như lãnh thổ trên đất liền. Nội thuỷ của Việt Nam bao gồm:  
Các vùng nước phía trong đường cơ sở; vùng nước cảng được giới hạn bởi đường  
nối các điểm nhô ra ngoài khơi xa nhất của các công trình thiết bị thường xuyên là  
bộ phận hữu cơ của hệ thống cảng.  
Lãnh hải là vùng biển có chiều rộng 12 hải lí tính từ đường cơ sở, có chế độ  
pháp lí như lãnh thổ đất liền. Ranh giới ngoài của lãnh hải là biên giới quốc gia  
trên biển. Trong lãnh hải, tàu thuyền của các quốc gia khác được hưởng quyền qua  
lại không gây hại và thường đi theo tuyến phân luồng giao thông biển của nước  
ven biển. Lãnh hải của Việt Nam bao gồm lãnh hải của đất liền, lãnh hải của đảo,  
lãnh hải của quần đảo. Nước ta có thềm lục địa rộng lớn, là vùng đất và lòng đất  
đáy biển kéo dài tự nhiên từ lãnh thổ đất liền ra đến bờ ngoài của rìa lục địa, giới  
hạn 200 hải lí tính từ đường cơ sở lãnh hải. Việt Nam có chủ quyền và quyền tài  
phán quốc gia đối với thềm lục địa; chủ quyền của nước ta đối với thềm lục địa là  
đương nhiên, không phụ thuộc vào việc có tuyên bố hay không.  
Lãnh thổ quốc gia đặc biệt là loại lãnh thổ đặc thù của một quốc gia tồn tại  
hợp pháp trong lãnh thổ một quốc gia khác hoặc trên vùng biển, vùng trời quốc tế.  
Ví dụ như trụ sở làm việc và nơi ở của cơ quan đại diện ngoại giao.  
Vùng trời quốc gia là khoảng không gian phía trên lãnh thổ quốc gia; là bộ  
phận cấu thành lãnh thổ quốc gia và thuộc chủ quyền hoàn toàn của quốc gia đó.  
Việc làm chủ vùng trời quốc gia trên vùng lãnh thổ quốc gia đặc biệt được thực  
hiện theo quy định chung của công ước quốc tế.  
Chủ quyền quốc gia là quyền làm chủ một cách độc lập, toàn vẹn và đầy đủ  
về mọi mặt lập pháp, hành pháp và tư pháp của một quốc gia trong phạm vi lãnh  
80  
thổ của quốc gia đó. Quốc gia thể hiện chủ quyền của mình trên mọi phương diện  
kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao.  
Tất cả các nước, không tính đến quy mô lãnh thổ, dân số, chế độ xã hội, đều  
có chủ quyền quốc gia. Chủ quyền quốc gia là đặc trưng chính trị và pháp lí thiết  
yếu của một quốc gia độc lập, được thể hiện trong hoạt động của các cơ quan nhà  
nước và trong hệ thống pháp luật quốc gia. Tôn trọng chủ quyền quốc gia là một  
nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế. Hiến chương Liên hợp quốc khẳng định  
nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia; không một quốc gia nào  
được can thiệp hoặc khống chế, xâm phạm chủ quyền của một quốc gia khác.  
Chủ quyền lãnh thổ quốc gia là một bộ phận của chủ quyền quốc gia, khẳng  
định quyền làm chủ của quốc gia đó trên vùng lãnh thổ của mình. Mỗi nước có  
toàn quyền định đoạt mọi việc trên lãnh thổ của mình, không được xâm phạm lãnh  
thổ và can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác. Chủ quyền lãnh thổ  
quốc gia dừng lại ở biên giới quốc gia; mọi tư tưởng và hành động thể hiện chủ  
quyền quốc gia vượt quá biên giới quốc gia của mình đều là hành động xâm phạm  
chủ quyền của các quốc gia khác và trái với công ước quốc tế. Chủ quyền lãnh thổ  
quốc gia là tuyệt đối, bất khả xâm phạm; tôn trọng chủ quyền lãnh thổ quốc gia là  
nguyên tắc cơ bản trong quan hệ và luật pháp quốc tế.  
b) Nội dung xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia  
Xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia là thực hiện tổng thể các giải  
pháp, biện pháp trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, đối ngoại và  
quốc phòng, an ninh nhằm thiết lập và bảo đảm quyền làm chủ một cách độc lập,  
toàn vẹn và đầy đủ về mọi mặt lập pháp, hành pháp và tư pháp của quốc gia trong  
phạm vi lãnh thổ, bao gồm vùng đất, vùng trời, nội thuỷ, lãnh hải và lãnh thổ đặc  
biệt của quốc gia. Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia là sử dụng tổng hợp các lực  
lượng và biện pháp chống lại sự xâm phạm, phá hoại dưới mọi hình thức để giữ  
gìn toàn vẹn chủ quyền nhà nước đối với lãnh thổ quốc gia. Xây dựng và bảo vệ  
chủ quyền lãnh thổ quốc gia Việt Nam là yêu cầu tất yếu, là nhiệm vụ quan trọng  
của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nội dung  
của việc xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia Việt Nam gồm :  
- Xây dựng, phát triển mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, đối ngoại và  
quốc phòng, an ninh của đất nước.  
- Xác lập và bảo vệ quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp của Việt Nam trên  
mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong  
phạm vi lãnh thổ của mình.  
- Bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, bao gồm vùng đất, vùng trời, nội  
thuỷ, lãnh hải và lãnh thổ đặc biệt của Việt Nam; đấu tranh làm thất bại mọi âm  
mưu và hành động phá hoại, vi phạm chủ quyền, xâm phạm lãnh thổ của Việt  
Nam.  
- Bảo vệ sự thống nhất lãnh thổ của đất nước, thống nhất về quyền lập pháp,  
hành pháp và tư pháp trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Đấu tranh làm thất bại mọi  
hành động chia cắt lãnh thổ Việt Nam; mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù  
địch cả bên trong lẫn bên ngoài hòng phá hoại quyền lực tối cao của Việt Nam.  
81  
Nội dung xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia gắn bó chặt chẽ và  
đặt trong tổng thể chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Làm tốt nhiệm vụ xây dựng và bảo  
vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia là trực tiếp góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc  
Việt Nam xã hội chủ nghĩa.  
2. Xây dựng và bảo vệ biên giới quốc gia  
a) Biên giới quốc gia  
Luật biên giới quốc gia của Việt Nam năm 2004 xác định: “Biên giới quốc gia  
của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đường và mặt phẳng thẳng đứng  
theo đường đó để xác định giới hạn lãnh thổ đất liền, các đảo, các quần đảo trong  
đó có quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, vùng biển, lòng đất, vùng trời  
của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”1.  
Biên giới quốc gia của Việt Nam được xác định bằng hệ thống các mốc quốc  
giới trên thực địa, được đánh dấu bằng các toạ độ trên hải đồ và thể hiện bằng mặt  
phẳng thẳng đứng theo lãnh thổ Việt Nam. Biên giới quốc gia Việt Nam bao gồm  
biên giới quốc gia trên đất liền, trên biển, trên không, trong lòng đất.  
Biên giới quốc gia trên đất liền là phân định lãnh thổ trên bề mặt đất liền của  
vùng đất quốc gia. Trong thực tế, biên giới quốc gia trên đất liền được xác lập dựa  
vào các yếu tố địa hình (núi, sông, suối, hồ nước, thung lũng...); thiên văn (theo  
kinh tuyến, vĩ tuyến); hình học (đường lối liền các điểm quy ước). Biên giới quốc  
gia trên đất liền được xác lập trên cơ sở thoả thuận giữa các quốc gia có lãnh thổ  
tiếp giáp với nhau và được thể hiện bằng các điều ước hoạch định biên giới giữa  
các quốc gia liên quan. Việt Nam có đường biên giới quốc gia trên đất liền dài  
4.550 km tiếp giáp với Trung Quốc ở phía Bắc, với Lào và Campuchia ở phía Tây,  
phía Đông giáp Biển Đông.  
Biên giới quốc gia trên biển là phân định lãnh thổ trên biển giữa các quốc gia  
có bờ biển liền kề hay đối diện nhau; là ranh giới phía ngoài của lãnh hải. Biên giới  
quốc gia trên biển của quốc gia quần đảo là đường BGQG phân định lãnh thổ quốc  
gia với biển cả. Đối với các đảo của một quốc gia nằm ngoài phạm vi lãnh hải của  
quốc gia, biên giới quốc gia trên biển là đường ranh giới phía ngoài của lãnh hải  
bao quanh đảo.  
Biên giới quốc gia trên biển của Việt Nam được hoạch định và đánh dấu bằng  
các tọa độ trên hải đồ là ranh giới phía ngoài lãnh hải của đất liền, lãnh hải của  
đảo, lãnh hải của quần đảo của Việt Nam, được xác định theo Công ước của Liên  
hợp quốc về Luật Biển năm 1982 và các điều ước quốc tế giữa Cộng hoà xã hội  
chủ nghĩa Việt Nam và các quốc gia hữu quan.  
Biên giới quốc gia trên không là biên giới phân định vùng trời giữa các quốc  
gia liền kề hoặc các vùng trời quốc tế, được xác định bởi mặt phẳng thẳng đứng từ  
biên giới quốc gia trên đất liền và biên giới quốc gia trên biển lên trên vùng trời.  
Trong điều kiện khoa học và công nghệ phát triển, việc xác lập biên giới quốc gia  
trên không có ý nghĩa ngày càng quan trọng trong việc thực hiện chủ quyền đối với  
vùng trời quốc gia. Đến nay chưa có quốc gia nào quy định độ cao cụ thể của biên  
giới quốc gia trên không.  
82  
Biên giới quốc gia trong lòng đất là phân định lãnh thổ quốc gia trong lòng  
đất phía dưới vùng đất quốc gia, nội thuỷ và lãnh hải, được xác định bởi mặt phẳng  
thẳng đứng từ biên giới quốc gia trên đất liền và biên giới quốc gia trên biển xuống  
lòng đất. Độ sâu cụ thể của biên giới trong lòng đất được xác định bằng độ sâu mà  
kĩ thuật khoan có thể thực hiện. Đến nay, chưa có quốc gia nào quy định độ sâu cụ  
thể của biên giới trong lòng đất.  
Khu vực biên giới là vùng lãnh thổ tiếp giáp biên giới quốc gia có quy chế,  
quy định đặc biệt do Chính phủ ban hành nhằm bảo vệ an toàn biên giới. Khu vực  
biên giới Việt Nam bao gồm: khu vực biên giới trên đất liền gồm xã, phường, thị  
trấn có một phần địa giới hành chính trùng hợp với biên giới quốc gia Việt Nam  
trên đất liền; khu vực biên giới quốc gia Việt Nam trên biển được tính từ biên giới  
quốc gia trên biển vào hết địa giới hành chính xã, phường, thị trấn giáp biển và  
đảo, quần đảo; khu vực biên giới trên không gồm phần không gian dọc theo biên  
giới quốc gia có chiều rộng mười kilômét tính từ biên giới Việt Nam trở vào.  
b) Nội dung xây dựng và bảo vệ biên giới quốc gia  
Xây dựng và bảo vệ biên giới quốc gia là thực hiện tổng thể các biện pháp để  
bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, bảo vệ tài nguyên, môi sinh, môi trường, lợi ích quốc  
gia trên khu vực biên giới; giữ gìn an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội ở khu  
vực biên giới. Do vị trí địa lí và chính trị, trong lịch sử dựng nước và giữ nước của  
dân tộc Việt Nam, việc xây dựng và bảo vệ biên giới quốc gia luôn là một vấn đề  
đặc biệt quan trọng đối với sự ổn định và phát triển đất nước. Xây dựng và bảo vệ  
biên giới quốc gia là một nội dung của xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ  
quốc gia, là một biện pháp hiệu quả chống lại sự xâm phạm chủ quyền lãnh thổ  
quốc gia.  
Trong hoà bình, bảo vệ biên giới quốc gia là tổng thể các biện pháp mà hệ  
thống chính trị, xã hội, các lực lượng vũ trang khu vực biên giới áp dụng nhằm  
tuần tra, giữ gìn nguyên vẹn, chống lại sự xâm phạm biên giới quốc gia. Bộ đội  
Biên phòng là lực lượng chuyên trách và làm nòng cốt trong bảo vệ biên giới quốc  
gia. Khi có xung đột hoặc chiến tranh, các biện pháp bảo vệ biên giới quốc gia  
được thể hiện rõ qua các trạng thái sẵn sàng chiến đấu: thường xuyên, tăng cường  
và cao.  
Luật biên giới quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm  
2004 xác định: “Xây dựng, quản lí, bảo vệ biên giới quốc gia, khu vực biên giới là  
sự nghiệp của toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lí. Nhà nước và nhân dân  
thực hiện kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh và  
đối ngoại”1. Xây dựng, bảo vệ bao gồm các nội dung sau:  
- Ưu tiên đầu tư xây dựng khu vực biên giới vững mạnh toàn diện về chính  
trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh; có chính sách ưu tiên tạo điều kiện thuận  
lợi cho nhân dân khu vực biên giới định cư ổn định, phát triển và sinh sống lâu dài  
ở khu vực biên giới; điều chỉnh dân cư theo yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và  
củng cố quốc phòng - an ninh khu vực biên giới.  
83  
- Tăng cường, mở rộng quan hệ đối ngoại các cấp trên khu vực biên giới; phát  
triển kinh tế đối ngoại, tăng cường hợp tác nhiều mặt nhằm xây dựng biên giới hoà  
bình, hữu nghị, ổn định lâu dài với các nước láng giềng.  
- Bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Sử dụng tổng hợp các lực lượng và  
biện pháp của Nhà nước chống lại sự xâm phạm, phá hoại dưới mọi hình thức để  
giữ gìn toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ và biên giới quốc gia.  
- Bảo vệ tài nguyên, môi sinh, môi trường. Sử dụng tổng hợp các biện pháp  
đấu tranh ngăn chặn mọi hành động xâm phạm tài nguyên, đặc biệt là xâm phạm  
tài nguyên trong lòng đất, trên biển, trên không, thềm lục địa của Việt Nam. Ngăn  
chặn, đấu tranh với mọi hành động phá hoại, huỷ hoại, gây ô nhiễm môi sinh, môi  
trường khu vực biên giới, bảo đảm cho người Việt Nam, nhân dân khu vực biên  
giới có môi trường sinh sống bền vững, ổn định và phát triển lâu dài.  
- Bảo vệ lợi ích quốc gia trên khu vực biên giới. Thực thi quyền lực chính trị  
tối cao (quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp) của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ  
nghĩa Việt Nam trên khu vực biên giới ; chống lại mọi hành động xâm phạm về lợi  
ích kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước trên khu vực biên giới. Bảo đảm mọi lợi  
ích của người Việt Nam phải được thực hiện ở khu vực biên giới theo luật pháp  
Việt Nam, phù hợp với luật pháp quốc tế và các hiệp định mà Việt Nam kí kết với  
các nước hữu quan.  
- Giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở khu vực biên giới. Đập tan  
mọi âm mưu và hành động gây mất ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội khu  
vực biên giới quốc gia. Đấu tranh chống mọi tư tưởng và hành động chia rẽ đoàn  
kết dân tộc, phá hoại sự ổn định, phát triển khu vực biên giới.  
- Phối hợp với các nước, đấu tranh ngăn chặn mọi hành động phá hoại tình  
đoàn kết, hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước láng giềng.  
Trấn áp mọi hành động khủng bố, tội phạm xuyên biên giới quốc gia.  
3. Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng và bảo vệ chủ quyền  
lãnh thổ, biên giới quốc gia  
a) Quan điểm  
- Xây dựng, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia là một nội dung  
quan trọng của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.  
Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa được hình thành và phát triển trong quá trình  
đấu tranh cách mạng của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt  
Nam; là sự kế thừa và phát triển mới Tổ quốc, đất nước, dân tộc và con người Việt  
Nam suốt chiều dài lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước trong điều kiện  
mới.  
Lãnh thổ và biên giới quốc gia Việt Nam là một bộ phận hợp thành quan  
trọng, không thể tách rời của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Lãnh thổ và biên  
giới quốc gia là yếu tố cơ bản bảo đảm cho sự ổn định, bền chắc của đất nước Việt  
Nam. Chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia là sự khẳng định chủ quyền của Nhà  
nước Việt Nam, bao gồm cả quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trong phạm vi  
lãnh thổ, gồm cả vùng đất, vùng trời, nội thuỷ, lãnh hải và lãnh thổ đặc biệt của  
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vì vậy, xây dựng, bảo vệ chủ quyền  
84  
lãnh thổ, biên giới quốc gia là một nội dung đặc biệt quan trọng của xây dựng và  
bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ  
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa không thể thành công nếu chủ quyền lãnh thổ,  
biên giới quốc gia không được xây dựng và bảo vệ tốt, bị xâm phạm.  
- Chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia là thiêng liêng, bất khả xâm phạm  
của dân tộc Việt Nam.  
Lãnh thổ quốc gia Việt Nam là nơi sinh ra và lưu giữ, phát triển con người và  
những giá trị của dân tộc Việt Nam. Trải qua mấy nghìn năm dựng nước và giữ  
nước, các thế hệ người Việt Nam đã phải đổ biết bao mồ hôi, xương máu mới xây  
dựng nên, mới giữ gìn, bảo vệ được lãnh thổ quốc gia toàn vẹn, thống nhất và tươi  
đẹp như ngày hôm nay. Nhờ đó mà con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam có thể  
tồn tại, sinh sống, vươn lên và phát triển một cách độc lập, bình đẳng với các quốc  
gia, dân tộc khác trong cộng đồng quốc tế; những giá trị, truyền thống, bản sắc văn  
hoá của dân tộc Việt Nam được khẳng định, lưu truyền và phát triển sánh vai với  
các cường quốc năm châu.  
Chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia là kết quả đấu tranh dựng nước và giữ  
nước của dân tộc Việt Nam suốt chiều dài hàng ngàn năm lịch sử. Từ thủa Hùng  
Vương dựng nước đến thời đại Hồ Chí Minh, đứng trước những kẻ thù to lớn và  
hung bạo, dân tộc Việt Nam luôn có ý thức và quyết tâm bảo vệ. Dù phải trải qua  
hàng chục cuộc chiến tranh lớn nhỏ, phải chịu dưới ách đô hộ của các thế lực  
phong kiến, thực dân, đế quốc, người Việt Nam luôn phất cao hào khí anh hùng,  
lòng tự hào, tự tôn dân tộc trong dựng nước và giữ nước, xây dựng và giữ gìn biên  
cương lãnh thổ quốc gia, xây dựng và BVTQ. Tư tưởng “Sông núi nước Nam vua  
Nam ở”, của ông cha ta được tiếp nối, khẳng định và nâng lên tầm cao mới trong  
thời đại Hồ Chí Minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy: “Các vua Hùng đã có công  
dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.  
Chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia Việt Nam là quyền thiêng liêng, bất  
khả xâm phạm của dân tộc Việt Nam. Nhà nước Việt Nam, nhân dân Việt Nam  
quyết tâm giữ gìn và bảo vệ quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm đó. Luật biên  
giới quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định: “Biên  
giới quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thiêng liêng, bất  
khả xâm phạm. Xây dựng, quản lí, bảo vệ biên giới quốc gia có ý nghĩa đặc biệt  
quan trọng đối với sự toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền quốc gia, góp phần giữ vững ổn  
định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường quốc phòng và an ninh của  
đất nước”1.  
- Xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị, ổn định ; giải quyết các vấn đề tranh  
chấp thông qua đàm phán hoà bình, tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh  
thổ và lợi ích chính đáng của nhau.  
Xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị, ổn định là vấn đề đặc biệt quan trọng  
của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó là quan điểm nhất quán của Đảng  
và Nhà nước ta. Quan điểm này phù hợp với lợi ích và luật pháp của Việt Nam,  
phù hợp với công ước và luật pháp quốc tế, cũng như lợi ích của các quốc gia có  
liên quan. Đảng và Nhà nước ta coi việc giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để  
85  
phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng  
xã hội chủ nghĩa là lợi ích cao nhất của đất nước.  
Trong giải quyết các vấn đề tranh chấp lãnh thổ, biên giới, Đảng và Nhà nước  
ta luôn nhất quán thực hiện quan điểm giải quyết các tranh chấp bằng thương  
lượng hoà bình, tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích chính  
đáng của nhau.  
Về những vấn đề tranh chấp chủ quyền lãnh thổ trên bộ, trên biển do lịch sử  
để lại hoặc mới nẩy sinh, Đảng và Nhà nước ta khẳng định: “Việt Nam luôn sẵn  
sàng thương lượng hoà bình để giải quyết một cách có lí, có tình”1. Việt Nam ủng  
hộ việc giải quyết các mâu thuẫn, bất đồng trong khu vực thông qua đối thoại,  
thương lượng hoà bình, không sử dụng vũ lực hay đe doạ sử dụng vũ lực. Nhưng  
Việt Nam cũng sẵn sàng tự vệ chống lại mọi hành động xâm phạm lãnh thổ đất  
liền, vùng trời, vùng biển và lợi ích quốc gia của Việt Nam.  
Về vấn đề tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông, quan điểm nhất quán của Việt  
Nam là: Việt Nam khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi đối với vùng biển,  
đảo của Việt Nam trên Biển Đông, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường  
Sa. Việt Nam có đầy đủ chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lí về vấn đề này. Tuy  
nhiên, vì lợi ích an ninh chung của các bên hữu quan, Việt Nam sẵn sàng đàm phán  
hoà bình để giải quyết, trước mắt là đạt tới sự thoả thuận về “Bộ quy tắc ứng xử”  
trong khi tiếp tục tìm kiếm giải pháp lâu dài cho vấn đề Biển Đông.  
- Xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia là sự nghiệp của  
toàn dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lí thống nhất của Nhà nước, lực  
lượng vũ trang là nòng cốt.  
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã  
hội chủ nghĩa. Nhà nước thống nhất quản lí việc xây dựng, quản lí, bảo vệ chủ  
quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia; có chính sách ưu tiên đặc biệt xây dựng khu  
vực biên giới vững mạnh về mọi mặt. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức  
thành viên trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách  
nhiệm tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân nghiêm chỉnh chấp hành  
đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là Nghị quyết về Chiến lược  
bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới…  
Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt trong nhiệm vụ bảo vệ  
toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia. Bộ  
đội Biên phòng là lực lượng nòng cốt, chuyên trách, phối hợp với lực lượng Công  
an nhân dân, các ngành hữu quan và chính quyền địa phương trong hoạt động quản  
lí, bảo vệ biên giới quốc gia, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở khu vực biên  
giới theo quy định của pháp luật.  
b) Trách nhiệm công dân trong xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên  
giới quốc gia. Mọi công dân Việt Nam đều có nghĩa vụ, trách nhiệm xây dựng và  
bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia Việt Nam.  
Trách nhiệm của công dân Việt Nam đối với xây dựng và bảo vệ chủ quyền  
lãnh thổ, biên giới quốc gia Việt Nam được Nhà nước ban hành cụ thể trong Hiến  
pháp và luật. Điều 44, Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm  
86  
1992 (sửa đổi) quy định: “Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, giữ vững an  
ninh quốc gia là sự nghiệp của toàn dân. Công dân phải làm đầy đủ nhiệm vụ quốc  
phòng và an ninh do pháp luật quy định”1. Điều 1, Luật nghĩa vụ quân sự chỉ rõ:  
“Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và cao quý của công dân. Công dân phải  
làm nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng quốc phòng toàn dân”2. Điều 10, Luật  
biên giới quốc gia cũng xác định: “Xây dựng, quản lí, bảo vệ biên giới quốc gia,  
khu vực biên giới là sự nghiệp của toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lí”.  
Thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên  
giới quốc gia, mọi công dân Việt Nam phải :  
- Mọi công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam không phân biệt  
thành phần xã hội, dân tộc, tín ngưỡng tôn giáo, trình độ văn hoá, nơi cư trú đều có  
nghĩa vụ và trách nhiệm xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc  
gia. Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (sửa đổi) nêu  
rõ: “Mọi âm mưu và hành động chống lại độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn  
vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, chống lại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt  
Nam xã hội chủ nghĩa đều bị nghiêm trị theo pháp luật”1. Đồng thời phải luôn nâng  
cao ý thức quốc phòng, an ninh, xây dựng ý thức, thái độ và trách nhiệm bảo vệ Tổ  
quốc; có những hành động thiết thực góp phần vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt  
Nam xã hội chủ nghĩa.  
- Chấp hành nghiêm chỉnh Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước, trước hết thực  
hiện nghiêm và đầy đủ Luật Quốc phòng, Luật nghĩa vụ quân sự, Luật biên giới  
quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.  
- Tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quân sự, thực hiện  
nghiêm chỉnh các nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi  
nhiệm vụ được giao. “Công dân phải trung thành với Tổ quốc, làm nghĩa vụ quân  
sự, được giáo dục về quốc phòng và huấn luyện về quân sự; tham gia dân quân tự  
vệ, phòng thủ dân sự ; chấp hành nghiêm chỉnh các biện pháp của Nhà nước và  
người có thẩm quyền khi đất nước có tình trạng chiến tranh hoặc tình trạng khẩn  
cấp về quốc phòng”2.  
Trách nhiệm của học sinh trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới  
quốc gia  
- Học sinh phải không ngừng học tập, nâng cao trình độ nhận thức về mọi  
mặt, hiểu biết sâu sắc về truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc, truyền  
thống đấu tranh cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản  
Việt Nam; từ đó xây dựng, củng cố lòng yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, ý  
chí tự chủ, tự lập, tự cường, nâng cao ý thức bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.  
- Thấy rõ ý nghĩa thiêng liêng, cao quý và bất khả xâm phạm về chủ quyền  
lãnh thổ, biên giới quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; xác  
định rõ vinh dự và trách nhiệm của công dân trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, xây  
dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia của nước Cộng hoà xã hội  
chủ nghĩa Việt Nam.  
- Thực hiện tốt những quy định về chương trình giáo dục, bồi dưỡng kiến thức  
quốc phòng - an ninh đối với học sinh các trường trung cấp chuyên nghiệp, đại  
87  
học; hoàn thành tốt các nhiệm vụ quân sự, quốc phòng trong thời gian học tập tại  
trường.  
- Sẵn sàng tham gia các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh khi Nhà nước và người  
có thẩm quyền huy động, động viên. Sau khi tốt nghiệp, sẵn sàng tự nguyện, tự  
giác tham gia quân đội nhân dân, công an nhân dân khi Nhà nước yêu cầu. Tích  
cực, tự giác, tình nguyện tham gia xây dựng và phục vụ lâu dài tại các khu kinh tế -  
quốc phòng, góp phần xây dựng khu vực biên giới, hải đảo vững mạnh, phát triển  
kinh tế, xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ  
quốc, thực hiện nghiêm chỉnh Luật biên giới quốc gia của nước Cộng hoà xã hội  
chủ nghĩa Việt Nam.  
Xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia là sự nghiệp của  
toàn dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lí thống nhất của Nhà nước, lực  
lượng vũ trang là nòng cốt. Mọi công dân Việt Nam đều có nghĩa vụ, trách nhiệm  
xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia.  
Học sinh đang học tại các trường trung học chuyên nghiệp cần nhận thức sâu  
sắc ý nghĩa, tầm quan trọng của chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia đối với sự  
toàn vẹn, thống nhất lãnh thổ; quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà  
nước đối với việc xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia. Trên  
cơ sở đó, nâng cao ý thức, trách nhiệm công dân, học tập tốt, thực hiện tốt các  
nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ bảo vệ  
Tổ quốc.  
CÂU HỎI ÔN TẬP  
1.Chủ quyền lãnh thổ quốc gia là gì ? Nội dung xây dựng và bảo vệ chủ  
quyền quốc gia như thế nào ?  
2. Biên giới quốc gia là gì? Nội dung xây dựng và bảo vệ biên giới quốc gia là  
như thế nào ?  
3. Trình bày quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng và bảo vệ chủ  
quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia ? Liên hệ trách nhiệm của công dân ?  
88  
BÀI 9:  
XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG DÂN QUÂN TỰ VỆ, LỰC LƯỢNG DỰ BỊ  
ĐỘNG VIÊN VÀ ĐỘNG VIÊN CÔNG NGHIỆP QUỐC PHÒNG  
I - MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU  
- Nhằm trang bị cho học sinh những nội dung cơ bản về xây dựng lực  
lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên và động viên công nghiệp quốc phòng.  
- Làm chuyển biến nhận thức, nâng cao trách nhiệm công dân trong xây  
dựng dân quân tự vệ, lực lượng dự bị động viên và động viên công nghiệp quốc  
phòng, nâng cao trách nhiệm đạt kết quả tôt trong học tập.  
II - NỘI DUNG  
1. Xây dựng lực lượng DQTV  
a) Khái niệm, vị trí vai trò và nhiệm vụ của lực lượng dân quân tự vệ  
- Khái niệm  
Dân quân tự vệ là lực lượng vũ trang quần chúng không thoát li sản xuất,  
công tác, là một bộ phận của lực lượng vũ trang nhân dân của nhà nước Cộng hoà  
Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự  
quản lí, điều hành của Chính phủ và của uỷ ban nhân dân các cấp, sự chỉ đạo, chỉ  
huy thống nhất của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và sự chỉ đạo, chỉ huy trực tiếp của  
cơ quan quân sự địa phương.  
Lực lượng này được tổ chức ở xã, phường, thị trấn gọi là dân quân; được tổ  
chức ở cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ  
chức chính trị xã hội (gọi chung là cơ quan, tổ chức) gọi là tự vệ.  
- Vai trò của dân quân tự vệ  
Dân quân tự vệ là một lực lượng chiến lược trong sự nghiệp xây dựng và bảo  
vệ Tổ quốc. Là lực lượng nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân và  
phong trào toàn dân đánh giặc trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và trong thời bình  
tại địa phương. Trong tình hình hiện nay, chúng ta phải đối phó với chiến lược  
“diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ và sẵn sàng chiến đấu chống mọi tình huống  
chiến tranh xâm lược của các thế lực thù địch thì vai trò của dân quân tự vệ càng  
được coi trọng.  
Lực lượng dân quân tự vệ là một trong những công cụ chủ yếu để bảo vệ chủ  
quyền, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, trực tiếp ở từng địa phương bảo vệ Đảng,  
bảo vệ chính quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản của nhà nước ở  
cơ sở.  
Đánh giá vai trò dân quân tự vệ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói “Dân quân  
tự vệ và du kích là lực lượng của toàn dân tộc, là lực lượng vô địch, là bức tường  
sắt của Tổ quốc. Vô luận kẻ thù nào dù hung bạo đến đâu hễ đụng vào lực lượng  
đó, bức tường đó thì địch nào cũng phải tan rã”.  
Trong thời bình, dân quân tự vệ là lực lượng đông đảo tham gia xây dựng  
kinh tế, phát triển địa phương và cả nước. Là lực lượng nòng cốt cùng toàn dân xây  
dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân, phối hợp với các lực  
89  
lượng khác đấu tranh làm thất bại chiến lược “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ,  
phòng chống các tệ nạn xã hội, phòng chống thiên tai, địch hoạ bảo đảm an toàn  
cho nhân dân.  
Trong thời chiến, dân quân tự vệ làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc, chiến  
đấu, tiêu hao, tiêu diệt lực lượng, phương tiện của địch, căng kéo, kìm chân, buộc  
địch phải sa lầy tại địa phương ; vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật, các  
thủ đoạn chiến đấu, tạo thế, tạo lực cho bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương chiến  
đấu, tham gia phục vụ chiến đấu giữ vững thế trận chiến tranh nhân dân.  
- Nhiệm vụ của lực lượng dân quân tự vệ  
Điều 7 của Pháp lệnh Dân quân tự vệ năm 2004 xác định có 5 nhiệm vụ  
+ Sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu, phục vụ chiến đấu, làm nòng cốt cùng toàn  
dân đánh giặc bảo vệ địa phương, cơ sở.  
+ Phối hợp với quân đội, công an và các lực lượng khác bảo vệ độc lập, chủ  
quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo  
vệ Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa, chính quyền, tính mạng và tài sản của nhân dân,  
tài sản của nhà nước, của tổ chức ở cơ sở, tính mạng và tài sản của cá nhân, tổ  
chức người nước ngoài, các mục tiêu, các công trình quốc phòng, an ninh trên địa  
bàn.  
+ Xung kích trong bảo vệ sản xuất, phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai,  
địch hoạ và các sự cố nghiêm trọng khác.  
+ Vận động nhân dân thực hiện mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính  
sách pháp luật của Nhà nước ; tích cực thực hiện các chương trình phát triển kinh  
tế - xã hội ở địa phương, góp phần xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện.  
+ Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.  
Những nhiệm vụ trên được quy định trong Pháp lệnh Dân quân tự vệ. Đó là  
những nhiệm vụ cơ bản, thường xuyên trong mọi giai đoạn cách mạng, đối với mọi  
tổ chức dân quân tự vệ. Đồng thời là phương hướng, mục tiêu cơ bản chỉ đạo xây  
dựng và hoạt động của lực lượng dân quân tự vệ.  
b) Nội dung xây dựng dân quân tự vệ  
- Phương châm xây dựng: Xây dựng dân quân tự vệ theo hướng “vững  
mạnh, rộng khắp, coi trọng chất lượng là chính”.  
+ Vững mạnh : Được thể hiện là chất lượng phải toàn diện cả về chính trị tư  
tưởng, tổ chức, trình độ chính trị, quân sự và chuyên môn nghiệp vụ, biên chế  
trang bị hợp lí, thống nhất, có kỉ luật nghiêm, cơ động nhanh sẵn sàng chiến đấu  
tốt. Mỗi tổ chức dân quân tự vệ phải luôn vững vàng.  
+ Rộng khắp: Lực lượng dân quân tự vệ được xây dựng ở hầu hết các làng,  
bản, xóm, ấp xã, phường, các tổ chức kinh tế, chính trị xã hội, ở đâu có tổ chức  
Đảng, chính quyền và có dân, dều phải tổ chức dân quân tự vệ, kể cả các doanh  
nghiệp ngoài quốc doanh. Trường hợp các doanh nghiệp ngoài quốc doanh không  
đủ điều kiện (không có tổ chức Đảng) tổ chức dân quân tự vệ nếu có yêu cầu thì  
giám đốc doanh nghiệp đề nghị và được Bộ chỉ huy quân sự tỉnh (thành phố trực  
thuộc trung ương) đồng ý thì công dân được tham gia dân quân tự vệ ở địa phương  
90  
(nơi cư trú). Giám đốc doanh nghiệp phải bảo đảm thời gian và tạo điều kiện cho  
công nhân tham gia dân quân tự vệ hoạt động.  
+ Coi trọng chất lượng là chính: Chỉ tuyển chọn đưa vào đội ngũ những  
công dân có lí lịch rõ ràng, có hộ khẩu thường trú tại địa phương, có phẩm chất  
chính trị, đạo đức tốt, chấp hành đúng các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp  
luật Nhà nước, các quy định ở địa phương, có sức khoẻ phù hợp.  
- Tổ chức, biên chế, trang bị của lực lượng dân quân tự vệ:  
Tổ chức, biên chế, vũ khí, trang bị của lực lượng dân quân tự vệ phải phù hợp  
với tính chất, yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng - an ninh thời bình, thời chiến, đặc  
điểm chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và điều kiện cụ thể của từng bộ, ngành, địa  
phương và cơ sở.  
+ Về tổ chức:  
Dân quân tự vệ được tổ chức thành 2 lực lượng: lực lượng nòng cốt (lực  
lượng chiến đấu) và lực lượng rộng rãi (lực lượng phục vụ chiến đấu).  
Lực lượng DQTV nòng cốt : Bao gồm dân quân tự vệ bộ binh, binh chủng và  
dân quân tự vệ biển (đối với vùng biển), được tổ chức thành lực lượng cơ động và  
lực lượng tại chỗ. Đối với xã (phường) thuộc địa bàn trọng điểm về quốc phòng an  
ninh, biên giới ven biển, hải đảo có yêu cầu chiến đấu cao thì được xem xét tổ chức  
lực lượng dân quân thường trực.  
Nhiệm vụ của lực lượng cơ động là chiến đấu, tiêu hao, tiêu diệt, chi viện cho  
lực lượng chiến đấu tại chỗ, khi cần thiết có thể cơ động chiến đấu trên địa bàn địa  
phương khác. Nhiệm vụ của lực lượng chiến đấu tại chỗ là chiến đấu, sẵn sàng  
chiến đấu trên địa bàn địa phương theo kế hoạch, phương án, khi cần có thể tăng  
cường cho lực lượng chiến đấu cơ động.  
Lực lượng dân quân tự vệ rộng rãi: Gồm cán bộ, chiến sĩ dân quân tự vệ  
nòng cốt đã hoàn thành nghĩa vụ dân quân tự vệ và công dân trong độ tuổi quy  
định (nam từ đủ 18 đến hết 45 nữ từ đủ 18 đến hết 40 tuổi).  
Nhiệm vụ phục vụ chiến đấu, vận chuyển tiếp tế, khắc phục hậu quả chiến  
đấu, bảo vệ và sơ tán nhân dân.  
Về quy mô: Tổ chức từ cấp tổ, tiểu đội, trung đội, đại đội, tiểu đoàn (cấp  
đại đội ở xã, phường lớn; cấp cấp tiểu đoàn ở các doanh nghiệp nhà nước do quân  
khu trở lên quy định).  
+ Biên chế : Biên chế dân quân tự vệ được thống nhất trong toàn quốc. Số  
lượng cán bộ cán bộ chiến sĩ từng đơn vị do Bộ Quốc phòng quy định  
+ Về cơ cấu và chức năng của cán bộ quân sự cơ sở, phân đội:  
Cơ cấu biên chế ban chỉ huy quân sự được tổ chức ở xã, phường, thị trấn, các  
doanh nghiệp của địa phương và các ngành của nhà nước gồm 3 người: chỉ huy  
trưởng, chính trị viên và phó chỉ huy trưởng. Ban chỉ huy quân sự cơ sở chịu trách  
nhiệm làm tham mưu giúp cấp uỷ, chính quyền cấp mình tổ chức triển khai công  
tác hoạt động dân quân tự vệ. Cấp xã, phường, thị trấn chỉ huy trưởng là thành viên  
uỷ ban nhân dân, là đảng viên, thường nằm trong cơ cấu cấp uỷ địa phương. Các  
cơ sở khác, chỉ huy trưởng có thể kiêm nhiệm hoặc không kiêm nhiệm. Bí thư  
91  
đảng uỷ, Bí thư chi bộ các cơ sở kiêm chính trị viên chịu trách nhiệm về công tác  
đảng, công tác chính trị trong dân quân tự vệ. Phó chỉ huy trưởng ở xã phường là  
cán bộ chuyên trách, các phó chỉ huy cơ sở còn lại là chuyên trách hoặc kiêm  
nhiệm. Xã đội trưởng, chính trị viên xã đội, xã đội phó và tương đương do chủ tịch  
uỷ ban nhân dân cấp huyện bổ nhiệm theo đề nghị của uỷ ban nhân dân cấp xã sau  
khi đã thống nhất với huyện đội trưởng. Thôn đội trưởng, trung đội trưởng, tiểu đội  
trưởng và khẩu đội trưởng dân quân tự vệ do Huyện đội trưởng bổ nhiệm theo đề  
nghị của của xã đội trưởng. Cơ cấu cán bộ tiểu đoàn, đại đội, gồm chỉ huy trưởng,  
chính trị viên, phó chỉ huy trưởng. Cấp trung đội, tiểu đội và tương đương có một  
cấp trưởng, một cấp phó.  
+ Về vũ khí, trang bị của dân quân tự vệ:  
Vũ khí, trang bị cho dân quân tự vệ từ các nguồn do Bộ Quốc phòng cấp, các  
địa phương tự chế tạo hoặc thu được của địch. Song, dù từ nguồn nào, vũ khí trang  
bị đó cũng đều là tài sản của nhà nước giao cho dân quân tự vệ quản lí. Do vậy,  
phải được đăng kí, quản lí, bảo quản chặt chẽ ; sử dụng đúng mục đích và đúng  
quy định của pháp luật.  
- Giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự đối với dân quân tự vệ  
+ Giáo dục chính trị: Giáo dục chính trị cho lực lượng dân quân tự vệ là một  
nội dung quan trọng hàng đầu, nhằm làm cho dân quân tự vệ nâng cao nhận thức  
về chính trị, lập trường tư tưởng vững vàng, đạo đức cách mạng trong sáng. Trên  
cơ sở đó phát huy tinh thần trách nhiệm, sẵn sàng hoàn thành nhiệm vụ, bảo vệ quê  
hương, làng xóm, địa phương, đơn vị mình.  
Nội dung giáo dục cần tập trung không ngừng tăng cường bản chất cách mạng  
và ý thức giác ngộ giai cấp cho cán bộ, chiến sĩ dân quân tự vệ, trên cơ sở đó,  
thường xuyên nâng cao cảnh giác cách mạng, nhận rõ bản chất, âm mưu thủ đoạn  
của kẻ thù. Giáo dục truyền thống dân tộc, tinh thần yêu nước, yêu chế độ xã hội  
chủ nghĩa ; mục tiêu lí tưởng của Đảng; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà  
đảng và nhân dân ta lựa chọn; quán triệt hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo  
vệ Tổ quốc, nhiệm vụ củng cố quốc phòng - an ninh, chống “Diễn biến hoà bình”  
bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch : công tác quốc phòng địa phương, xây  
dựng lực lượng nhân dân. Một số nội dung cơ bản về Hiến pháp, pháp luật, Pháp  
lệnh về dân quân tự vệ, nội dung phương pháp tiến hành vận động quần chúng,...  
+ Huấn luyện quân sự: Hằng năm, lực lượng dân quân tự vệ được  
huấn luyện theo nội dung, chương trình do Bộ Quốc phòng quy định, nội dung  
huấn luyện phải phù hợp và sát với cơ sở do chỉ huy quân sự địa phương các cấp  
xác định cụ thể. Huấn luyện toàn diện cả chiến thuật, kĩ thuật, cả bộ binh và các  
binh chủng, chuyên môn kĩ thuật,... Thời gian huấn luyện theo quy định của pháp  
lệnh.  
c) Một số biện pháp xây dựng dân quân tự vệ trong giai đoạn hiện nay  
- Thường xuyên giáo dục, quán triệt sâu rộng các quan điểm, chủ trương  
chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác dân quân tự vệ.  
- Phát huy sức mạnh tổng hợp trên địa bàn để xây dựng lực lượng dân quân  
tự vệ.  
92  
- Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ gắn với xây dựng cơ sở vững mạnh toàn  
- Thực hiện nghiêm túc, đầy đủ các chế độ chính sách của Đảng và Nhà nước  
diện.  
đối với lực lượng dân quân tự vệ.  
Tóm lại: Dân quân tự vệ là lực lượng chiến đấu tại chỗ ở địa phương, bảo vệ  
Đảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ tính mạng và tài  
sản của nhân dân ở cơ sở, là thành phần không thể thiếu của lực lượng vũ trang  
nhân dân Việt Nam. Việc xây dựng lực lượng dân quân tự vệ là nhiệm vụ của toàn  
Đảng, toàn dân, toàn quân và của cả hệ thống chính trị trong sự nghiệp bảo vệ Tổ  
quốc.  
2. Xây dựng lực lượng dự bị động viên  
a) Khái niệm, vị trí vai trò, những quan điểm nguyên tắc  
- Khái niệm: Lực lượng dự bị dự bị động viên gồm quân nhân dự bị và  
phương tiện kĩ thuật đã xếp trong kế hoạch bổ sung cho lực lượng thường trực của  
quân đội nhằm duy trì tiềm lực quân sự, là yếu tố góp phần quyết định sự thắng lợi  
trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.  
Quân nhân dự bị gồm sĩ quan dự bị, quân nhân chuyên nghiệp dự bị và hạ sĩ  
quan, binh sĩ dự bị. Phương tiện kĩ thuật gồm phương tiện vận tải, làm đường, xếp  
dỡ, thông tin liên lạc, y tế và một số phương tiện khác. Danh mục phương tiện kĩ  
thuật do Chính phủ quy định (Pháp lệnh về Lực lượngĐự bị động viên năm 1996).  
Quân nhân dự bị, phương tiện kĩ thuật trong kế hoạch biên chế cho lực lượng  
thường trực của quân đội, thông qua các đơn vị dự bị động viên. Trong thời bình,  
lực lượng dự bị động viên được đăng kí, quản lí, huấn luyện theo chương trình quy  
định và sẵn sàng hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.  
- Vị trí, vai trò công tác xây dựng lực lượng dự bị động viên:  
Công tác xây dựng và huy động lực lượng dự bị động viên giữ vị trí rất quan  
trọng trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; là một trong những nhiệm  
vụ cơ bản nhất góp phần xây dựng tiềm lực quốc phòng toàn dân, thế trận quốc  
phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân, bảo đảm nguồn nhân lực bổ sung,  
mở rộng lực lượng quân đội khi chuyển đất nước sang trạng thái chiến tranh.  
Lực lượng dự bị động viên phối hợp chặt chẽ với dân quân tự vệ, công an...  
làm tăng thêm sức mạnh chiến đấu trên các địa bàn trong khu vực phòng thủ, bảo  
đảm sự vững chắc của thế trận quốc phòng ở địa phương, cơ sở.  
Công tác xây dựng lực lượng dự bị động viên là biểu hiện quán triệt quan  
điểm về sự kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược trong xây dựng và bảo vệ Tổ  
quốc, sự kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh tế với nhiệm vụ  
xây dựng và củng cố quốc phòng, quốc phòng với kinh tế.  
Lực lượng dự bị động viên được xây dựng để bổ sung cho lực lượng thường  
trực của quân đội. Lực lượng dự bị động viên được xây dựng tốt sẽ làm nòng cốt  
cho cả xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội và cả trong thực hiện chiến lược quốc  
phòng - an ninh, bảo vệ Tổ quốc.  
b) Những quan điểm, nguyên tắc xây dựng lực lượng dự bị động viên  
93  
- Xây dựng lực lượng dự bị động viên bảo đảm số lượng đủ, chất lượng cao,  
xây dựng toàn diện nhưng có trọng tâm, trọng điểm  
Việc tổ chức xây dựng lực lượng dự bị động viên ở nước ta là một vấn đề hệ  
trọng, quan hệ đến vận mệnh của quốc gia, đặc biệt khi phải đối phó với chiến  
tranh quy mô lớn. Do đó, ngay từ thời bình, phải xây dựng lực lượng dự bị động  
viên hùng hậu theo kế hoạch đã xác định mới có khả năng giành thắng lợi khi có  
lệnh động viên.  
Xây dựng lực lượng dự bị động viên phải có chất lượng cao. Chất lượng cao  
được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, tinh thần, tổ chức, lãnh đạo, chỉ  
huy, trình độ kĩ thuật, chiến thuật, chuyên môn nghiệp vụ, trang bị, khả năng bảo  
đảm hậu cần kĩ thuật. Vì vậy, để có chất lượng cao, yêu cầu đầu tiên là phải xây  
dựng lực lượng dự bị động viên vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, có bản  
lĩnh chính trị vững vàng, có năng lực hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ, trong đó  
tập trung vào khâu quản lí, giáo dục, tạo nguồn.  
Cùng với xây dựng lực lượng dự bị động viên vững mạnh về chính trị, tư  
tưởng và tổ chức, phải nâng cao trình độ toàn diện cho cán bộ, chiến sĩ. Việc huấn  
luyện quân sự cho lực lượng dự bị động viên phải được tiến hành nghiêm túc theo  
chương trình quy định của Bộ Quốc phòng.  
- Xây dựng lực lượng dự bị động viên phải phát huy sức mạnh tổng hợp của  
cả hệ thống chính trị  
Xây dựng lực lượng dự bị động viên là nhiệm vụ chính trị thường xuyên của  
toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, là cuộc vận động chính trị sâu sắc trong quần  
chúng để thực hiện nghĩa vụ bảo vệ chế độ, bảo vệ chế độ. Sự lãnh đạo trực tiếp,  
tuyệt đối, về mọi mặt của Đảng từ Trung ương đến cơ sở, được thể chế hoá bằng  
các văn bản pháp luật của cơ quan lập pháp, sự điều hành của Chính phủ, chính  
quyền địa phương các cấp, sự hiệp đồng thực hiện giữa các đơn vị quân đội, cơ  
quan quân sự với các cơ quan trong hệ thống chính quyền, các tổ chức chính trị,  
kinh tế, xã hội,... và sự chăm lo xây dựng của toàn xã hội. Sự lãnh đạo của Đảng  
đối với lực lượng dự bị động viên là từ Trung ương đến cơ sở, được thể hiện trên  
tất cả các mặt công tác, từ bước chuẩn bị đến thực hành nhiệm vụ động viên.  
Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị,của toàn xã hội và của  
mọi công dân để xây dựng lực lượng dự bị động viên vững mạnh. Đó là yếu tố cơ  
bản nhất luôn bảo đảm cho lực lượng dự bị động viên có số lượng hợp lí,chất l-  
ượng cao,đáp ứng được yêu cầu trong mọi tình huống.  
- Xây dựng lực lượngdự bị động viên đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng các cấp  
ở địa phương, bộ, ngành  
Xuất phát từ vị trí, tầm quan trọng của việc xây dựng lực lượngdự bị động  
viên như trên nên xây dựng lực lượngdự bị động viên phải đặt dưới sự lãnh đạo  
trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng. Đây là nguyên tắc cơ bản nhằm bảo đảm  
cho lực lượng này luôn có nội dung, phương hướng, mục tiêu xây dựng đúng đắn,  
nhằm bảo đảm sức mạnh của quân đội đáp ứng yêu cầu bảo vệ vững chắc Tổ quốc  
Việt Nam xã hội chủ nghĩa.  
94  
Sự lãnh đạo của Đảng trong xây dựng lực lượng dự bị động viên được thể  
hiện trên tất cả các khâu, các bước, từ chuẩn bị đến thực hành động viên lực lượng.  
c) Nội dung xây dựng lực lượng dự bị động viên  
- Phương thức xây dựng lực lượng dự bị động viên  
+ Phương thức chung: Phát huy khả năng trách nhiệm cao nhất của địa  
phương, các ngành kinh tế, kết hợp chặt chẽ với khả năng, trách nhiệm đầy đủ của  
các đơn vị quân đội để tổ chức xây dựng lực lượngdự bị động viên.Với phương  
thức địa phương chuyển việc giao nguồn cho các đơn vị chủ lực sang tổ chức hình  
thành các đơn vị dự bị động viên theo nhiệm vụ trên giao. Trong đó địa phương  
thực hiện là chính (trừ vũ khí trang bị và huấn luyện), các đơn vị chủ lực nhận  
nguồn cung cấp biểu biên chế, phối hợp cùng địa phương tổ chức thực hiện.  
+ Phương thức tổ chức các đơn vịdự bị động viên: Đơn vị biên chế khung  
thường trực và đơn vị không biên chế khung thường trực.  
- Nội dung xây dựng  
+ Tạo nguồn, đăng kí, quản lí lực lượng dự bị động viên  
Tạo nguồn: Là cơ sở quan trọng nhất để lập kế hoạch xây dựng và huy động  
lực lượng dự bị động viên.  
Biện pháp tạo nguồn đối với sĩ quan dự bị, cơ quan quân sự địa phương quản  
lí chắc số sĩ quan phục viên, xuất ngũ. Hàng năm, lựa chọn những đồng chí tuổi  
đời còn trẻ, có sức khoẻ, phẩm chất năng lực tốt đưa họ vào tạo nguồn. Số cán bộ  
chuyên môn kĩ thuật của nền kinh tế quốc dân (y tế, bưu chính viễn thông, giao  
thông vận tải...) có thể phục vụ lợi ích quốc phòng khi có chiến tranh. Hằng năm,  
tuyển chọn số hạ sĩ quan có phẩm chất năng lực tốt trước khi xuất ngũ cho đi huấn  
luyện, đào tạo họ thành sĩ quan dự bị.Học sinh viên từ các trường đại học, sau khi  
tốt nghiệp được đào tạo thành sĩ quan dự bị.Bộ Quốc phòng phối hợp với Bộ Giáo  
dục và Đào tạo thực hiện liên kết đào tạo theo nhu cầu chuyên môn kĩ thuật. Đào  
tạo xong có thể chuyển một số sang quân đội, số còn lại đưa vào ngạch lực lượng  
dự bị động viên. Đối với hạ sĩ quan, chiến sĩ sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ quân  
sự phục viên xuất ngũ, có đủ điều kiện về phẩm chất năng lực, sức khoẻ đưa họ  
vào nguồn. Ngoài ra, đưa cả số thanh niên đã được tuyển chọn xếp vào diện sẵn  
sàng nhập ngũ, nhưng chưa nhập ngũ vào nguồn quân nhân dự bị. Đối với phương  
tiện kĩ thuật (theo Điều 4, 24, 26 Pháp lệnh dự bị động viên ).  
Đăng kí quản lí nguồn: Việc đăng kí, quản lí lực lượng dự bị động viên phải  
có kế hoạch thường xuyên, chặt chẽ và chính xác, đăng kí quản lí cả con người và  
phương tiện kĩ thuật.  
Đối với quân nhân dự bị, được tiến hành đăng kí, quản lí tại nơi cư trú, do  
Ban chỉ huy quân sự xã (phường), ban chỉ huy quân sự huyện (quận, thị xã, thành  
phố trực thuộc tỉnh) thực hiện. Đăng kí quản lí phải chính xác theo từng chuyên  
ngành quân sự, độ tuổi, loại sức khoẻ, hoàn cảnh gia đình, trình độ văn hoá, nhận  
thức về chính trị, trình độ hiểu biết về quân sự, chuyên môn, nghiệp vụ. Đối với  
phương tiện kĩ thuật, phải đăng kí, quản lí chính xác thường xuyên cả số lượng,  
chất lượng, tình trạng kĩ thuật của từng phương tiện.  
95  
+ Tổ chức, biên chế đơn vị dự bị động viên: Tổ chức, biên chế lực lượng dự  
bị động viên là tổ chức sắp xếp quân nhân dự bị, phương tiện kĩ thuật thành từng  
đơn vịđự bị động viên theo kế hoạch để quản lí, huấn luyện nâng cao khả năng sẵn  
sàng động viên, sẵn sàng chiến đấu. Các đơn vị dự bị động viên phải duy trì đủ  
quân số, trang bị và phương tiện kĩ thuật. Hiện nay, đơn vị dự bị động viên được tổ  
chức theo các loại hình: đơn vị biên chế thiếu, đơn vị biên chế khung thường trực,  
đơn vị không có khung thường trực, đơn vị biên chế đủ nhân đôi và đơn vị chuyên  
môn thời chiến. Khi sắp xếp quân nhân dự bị vào các đơn vịđự bị động viên phải  
theo nguyên tắc:  
Sắp xếp người có trình độ chuyên nghiệp quân sự, chuyên môn kĩ thuật phù  
hợp với chức danh biên chế, nếu thiếu thì sắp xếp người có trình độ chuyên nghiệp  
quân sự, chuyên môn kĩ thuật tương ứng.  
Sắp xếp quân nhân dự bị hạng một trước, nếu thiếu thì sắp xếp quân nhân dự  
bi hạng hai. Sắp xếp những quân nhân dự bị cư trú gần nhau vào từng đơn vị.  
+ Giáo dục chính trị, huấn luyện diễn tập, kiểm tra đơn v ị dự bị động viên  
Giáo dục chính trị: Giáo dục chính trị là nhiệm vụ hàng đầu trong xây dựng  
lực lượng dự bị động viên, làm cho cán bộ chiến sĩ nâng cao nhận thức về chính trị,  
có lập trường tư tưởng vững vàng, kiên định mục tiêu, lí tưởng.  
Nội dung giáo dục: Cần tập trung vào đường lối, chủ trương, chính sách của  
Đảng, pháp luật của Nhà nước, quan điểm quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân  
dân, xây dựng lực lượng dự bị động viên, âm mưu thủ đoạn của kẻ thù đối với cách  
mạng, truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc ta. Giáo dục chính trị phải thư-  
ờng xuyên liên tục cho tất cả các đối tượng; được thực hiện xen kẽ trong từng giai  
đoạn, từng đợt huấn luyện, diễn tập.  
Công tác huấn luyện : Phương châm huấn luyện: “Chất lượng, thiết thực,  
hiệu quả, tập trung có trọng tâm, trọng điểm”. Nội dung huấn luyện gồm kĩ thuật  
bộ binh, binh chủng; chiến thuật từng người đến cấp đại đội, công tác hậu cần,  
băng bó cứu thương và hoạt động chống “Diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ. Có  
thể huấn luyện tập trung tại các đơn vị dự bị động viên hoặc phân tán tại các địa  
phương, cơ sở. Cần vận dụng sáng tạo, linh hoạt những phương pháp huấn luyện  
thích hợp sát đối tượng, sát thực tế.  
Hàng năm, sau khoá huấn luyện, lực lượng dự bị động viên sẽ tham gia hợp  
luyện, diễn tập. Kết thúc diễn tập, tổ chức rút kinh nghiệm để kịp thời bổ sung,  
nâng cao chất lượng huấn luyện, giáo dục trong các đơn vị.  
Cùng với huấn luyện diễn tập, chế độ kiểm tra thực hiện nhiệm vụ được  
tiến hành theo quy định nhằm giúp lãnh đạo, chỉ huy nắm được thực trạng tổ chức,  
xây dựng lực lượng DBĐV để có chủ trương, biện pháp sát đúng.  
+ Bảo đảm hậu cần, kĩ thuật, tài chính cho xây dựng lực lượng dự bị động  
viên: Vật chất kĩ thuật, kinh phí là yếu tố rất quan trọng để bảo đảm xây dựng lực  
lượng dự bị động viên gồm vũ khí trang bị, hậu cần kĩ thuật và tài chính. Yêu cầu  
phải bảo đảm đúng mức, đủ để triển khai xây dựng lực lượng dự bị động viên chất  
lượng ngày càng cao.  
96  
Việc bảo đảm vật chất, kinh phí hàng năm do Chính phủ giao chỉ tiêu nhiệm  
vụ cụ thể cho các bộ ngành, địa phương thực hiện.  
d) Một số biện pháp xây dựng lực lượng dự bị động viên  
- Thường xuyên giáo dục sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân về vị  
trí, nhiệm vụ, những quan điểm của Đảng, Nhà nước đối với lực lượng dự bị động  
viên.  
- Thực hiện cơ chế Đảng lãnh đạo, chính quyền điều hành, cơ quan quân sự  
và các cơ quan chức năng làm tham mưu và tổ chức thực hiện.  
- Thường xuyên củng cố, kiện toàn, bồi dưỡng cơ quan và đội ngũ cán bộ làm  
công tác xây dựng lực lượng dự bị động viên.  
- Thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước  
đối với lực lượng dự bị động viên.  
Tóm lại, xây dựng lực lượng d có vự bị động viên trí hết sức quan trọng trong  
sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đó là nhiệm vụ của toàn  
Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị ở nước ta.  
3. Động viên công nghiệp quốc phòng  
a) Khái niệm, nguyên tắc, yêu cầu động viên công nghiệp quốc phòng.  
- Khái niệm: Động viên công nghiệp quốc phòng là huy động một  
phần hoặc toàn bộ năng lực sản xuất, sửa chữa trang bị cho Quân đội của doanh  
nghiệp công nghiệp ngoài lực lượng quốc phòng, nhằm huy động mọi nguồn lực  
của đất nước hoặc một số địa phương,... phục vụ cho quốc phòng, nhằm giành thế  
chủ động, bảo toàn, phát huy tiềm lực mọi mặt của quốc gia, duy trì, ổn định sản  
xuất và đời sống của nhân dân, giữ vững chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ trong mọi  
tình huống, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Khái niệm trên  
thể hiện khái quát một số nội dung chính sau đây:  
+ Động viên công nghiệp quốc phòng được chuẩn bị từ thời bình, là việc làm  
thường xuyên từ Trung ương đến địa phương.  
+ Động viên công nghiệp quốc phòng không áp dụng đối với các doanh  
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.  
+ Có thể tổng động viên hoặc động viên cục bộ: Chiến tranh tương lai nếu  
xảy ra là một cuộc chiến tranh hiện đại, đối phương chủ yếu sử dụng vũ khí công  
nghệ cao, bất ngờ, tiến công từ xa vào các mục tiêu trọng yếu trên phạm cả nước,  
bằng pháo binh, không quân, tên lửa hành trình... Vì vậy, động viên công nghiệp  
quốc phòng chúng ta phải được chuẩn bị từ thời bình, bảo đảm cho đất nước luôn ở  
trạng thái sẵn sàng đáp ứng được với mọi tình huống.  
- Nguyên tắc động viên công nghiệp quốc phòng  
+ Động viên công nghiệp quốc phòng được tiến hành trên cơ sở năng lực sản  
xuất, sửa chữa đã có của các doanh nghiệp công nghiệp, Nhà nước chỉ đầu tư thêm  
trang thiết bị chuyên dùng để hoàn chỉnh dây chuyền sản xuất, sửa chữa trang bị  
cho Quân đội.  
+ Việc lựa chọn, giao nhiệm vụ động viên công nghiệp quốc phòng cho các  
doanh nghiệp công nghiệp phải bảo đảm tính đồng bộ theo nhu cầu sản xuất, sửa  
97  
chữa trang bị của Quân đội và phù hợp với năng lực sản xuất, sửa chữa trang bị của  
doanh nghiệp.  
+ Nhà nước bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp công nghiệp,  
người lao động trong chuẩn bị và thực hành động viên công nghiệp quốc phòng.  
- Yêu cầu động viên công nghiệp quốc phòng  
+ Chuẩn bị và thực hành động viên công nghiệp quốc phòng phải bảo đảm bí  
mật, an toàn, tiết kiệm, hiệu quả, đúng kế hoạch, nhanh chóng tăng cường sức  
mạnh về mọi mặt, sẵn sàng đối phó với các tình huống chiến tranh.  
Đây là yêu cầu cơ bản, có tính quyết định đến kết quả hoàn thành nhiệm vụ  
động viên công nghiệp quốc phòng. Trước hết về kế hoạch động viên công nghiệp  
quốc phòng của các cấp, theo quy định của Nhà nước thuộc tài liệu tuyệt mật, vì  
vậy việc xây dựng, quản lí, khai thác kế hoạch phải tuân thủ chặt chẽ theo quy định  
của pháp luật ; các doanh nghiệp công nghiệp phải có trách nhiệm thực hiện chế độ  
quản lí, sử dụng, bảo mật theo đúng quy định.  
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, việc bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả là một  
yêu cầu rất quan trọng, nhất là trong điều kiện ngân sách bảo đảm cho động viên  
công nghiệp quốc phòng của Nhà nước và Bộ quốc phòng còn nhiều hạn hẹp.Khi  
có lệnh thực hành động viên công nghiệp, nếu không bảo đảm đủ số lượng, đúng  
thời gian quy định theo kế hoạch được giao sẽ gây ảnh hưởng rất lớn đến khả năng  
hoàn thành nhiệm vụ của quân đội.  
+ Chuẩn bị và thực hành động viên công nghiệp quốc phòng phải bảo đảm  
cho yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội của các địa phương trong  
thời chiến. Đây là một yêu cầu rất quan trọng trong chuẩn bị và thực hành động  
viên công nghiệp xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của các địa phương trong  
thế trận quốc phòng toàn dân, chién tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.  
Trên đây là yêu cầu cơ bản, có tính quyết định đến kết quả của công tác động  
viên công nghiệp quốc phòng. Vì vậy, kế hoạch động viên công nghiệp quốc  
phòng của các cấp các ngành phải theo đúng quy định của nhà nước thuộc tài liệu  
mật, phải tuân thủ chặt chẽ theo quy định của pháp luật.  
b) Một số nội dung động viên công nghiệp quốc phòng  
- Chuẩn bị động viên công nghiệp quốc phòng  
+ Khảo sát, lựa chọn doanh nghiệp công nghiệp có khả năng sản xuất, sửa  
chữa trang bị, nội dung khảo sát gồm:  
Đặc điểm tình hình; cơ cấu tổ chức, số lượng, chất lượng cán bộ, công nhân,  
viên chức và những người lao động khác; Nhiệm vụ sản xuất, công suất thiết kế,  
công suất thực tế; số lượng, chất lượng trang thiết bị hiện có; phương hướng sản  
xuất và đổi mới công nghệ. Căn cứ vào nhu cầu sản xuất, sửa chữa trang bị của  
Quân đội và kết quả khảo sát năng lực sản xuất, sửa chữa của các doanh nghiệp  
công nghiệp Chính phủ quyết định các doanh nghiệp công nghiệp đủ điều kiện  
động viên công nghiệp quốc phòng.  
+ Xây dựng kế hoạch động viên công nghiệp quốc phòng, nội dung gồm:  
98  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 77 trang Thùy Anh 22820 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Đường lối quốc quốc phòng an ninh của Đảng Cộng sản Việt Nam (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_duong_loi_quoc_quoc_phong_an_ninh_cua_dang_cong_s.pdf