Giáo trình Đường lối quốc quốc phòng an ninh của Đảng Cộng sản Việt Nam (Phần 1)

TRƯỜNG DẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM  
TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH  
BÀI GIẢNG HỌC PHẦN  
Đường lối quốc quốc phòng an ninh  
của Đảng Cộng sản Việt Nam  
(Tài liệu lưu hành nội bộ)  
Hải Phòng, năm 2021  
2
TRUNG TÂM GDQPAN HÀNG HẢI VIỆT NAM  
CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH ĐẠI HỌC  
(Điều chỉnh theo thông tư 05)  
1. Học phần I: Đường lối quốc phòng và an ninh của Đảng Cộng sản Việt Nam  
Thời gian (tiết)  
Số  
TT  
Nội dung  
Tổng  
Lý  
Thảo  
Số tiết thuyết luận  
Đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu môn  
học  
1
1
4
4
1
4
4
Quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư  
2 tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh, quân đội và bảo  
vệ Tổ quốc  
Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân  
dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa  
3
Chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã  
hội chủ nghĩa  
4
4
4
4
4
4
4
5 Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân  
Kết hợp phát triển kinh tế, xã hội với tăng cường  
quốc phòng, an ninh và đối ngoại  
6
Những vấn đề cơ bản về lịch sử nghệ thuật quân sự  
Việt Nam  
7
4
5
4
5
Xây dựng và bảo vệ chủ quyền biển, đảo, biên giới  
quốc gia trong tình hình mới  
8
Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, lực lượng dự  
bị động viên và động viên quốc phòng  
9
5
2
3
5
2
3
Xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ  
quốc  
10  
Những vấn đề cơ bản về bảo vệ an ninh quốc gia và  
bảo đảm trật tự an toàn xã hội  
11  
12 Học tập, thăm bảo tàng Hải quân  
5
5
5
Cộng  
45  
40  
3
Bài 1  
ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
MÔN HỌC GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG – AN NINH  
PHẦN IÝ ĐỊNH GIẢNG DẠY  
I. Mục đích, yêu cầu  
1. Mục đích  
Nhằm giới thiệu cho sinh viên nắm vững đối tượng, phương pháp, nội dung  
nghiên cứu môn học GDQP – AN, góp phần bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và  
năng lực, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đáp ứng  
yêu cầu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN  
2. Yêu cầu  
- Xác định trách nhiệm, thái độ trong học tập môn học GDQP – AN  
- Tích cực tham gia xây dựng, củng cố nền QPTD, ANND  
II. Nội dung, thời gian  
1. Nội dung  
1.1.Đối tượng nghiên cứu  
1.2.Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu  
1.3.Giới thiệu về môn học quốc phòng – an ninh  
2. Thời gian 1 tiết  
III. Tổ chức, phương pháp  
1. Tổ chức  
- Lên lớp lý thuyết tập trung  
2. Phương pháp  
- Đối với giáo viên sử dụng tài liệu quán triệt và phổ biến cho sinh viên  
- Đối với sinh viên nghe nắm chắc nội dung quy chế của nội dung môn học  
GDQP - AN  
IV. Địa điểm  
Tại giảng đường  
V. Tài liệu biên soạn  
- Tài liệu biên soạn  
+ Giáo án, giáo trình GDQP dùng cho các trường ĐH, CĐ tập 1 NXB GD  
08/2013  
4
PHẦN II NỘI DUNG BÀI GIẢNG  
I. Đối tượng nghiên cứu  
1. Nghiên cứu về đường lối quân sự của Đảng  
- Những vấn đề cơ bản của học thuyết Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về  
+ Chiến tranh quân đội và bảo vệ Tổ quốc; quan điểm của Đảng về xây dựng  
nền QPTD, Chiến tranh nhân dân bảo vệ TQ  
+ Xây dựng LL VTND, LL HQND kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường  
củng cố QPAN  
+ Một số nội dung cơ bản về truyền thống HQND và nghệ thuật quân sự Việt  
Nam qua các thời kỳ  
- Học thuyết Mác – Lênin , tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh, quân đội và  
bảo vệ Tổ quốc mang tính cách mạng và khoa học sâu sắc  
- Là cơ sở lý luận Đảng ta đề ra đường lối chiến lược xây dựng nền QPTD,  
xây dựng LL VTND...  
- Các quan điểm trên đều có tính kế thừa và phát triển những truyền thống  
quân sự độc đáo của dân tộc “cả nước một lòng chung sức đánh giặc”, “Lấy ít địch  
nhiều”,”Lấy nhỏ chống lớn”. Đó chính là đặc trưng nghệ thuật quân sự Việt Nam  
chiến thắng các kẻ thù xâm lược  
- Xây dựng LL DQTV, LL DBĐV, ĐVCNQP nhằm tăng cường cơ sở vật  
chất, kỹ thuật.....  
- Nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay không chỉ bảo vệ toàn  
vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển, hải đảo mà còn phải bảo vệ Đảng, bảo vệ chế  
độ, bảo vệ nền văn hóa của dân tộc  
- Những vấn đề cơ bản về ANQG và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội  
Nghiên cứu đường lối quân sự của Đảng góp phần hình thành niềm tin khoa  
học, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng và lý tưởng cho sinh viên  
2. Nghiên cứu về công tác quốc phòng, an ninh  
- Nghiên cứu về nhiệm vụ, nội dung công tác quốc phòng, an ninh của Đảng  
hiện nay đó là  
+ Chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch  
đối với cách mạng Việt Nam  
+ Một số vấn đề về dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam;  
- Khi nghiên cứu về công tác quốc phòng, an ninh thực chất là nghiên cứu hệ  
thống vă bản quy phạm pháp luật của Nhà nước về bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn trật tự,  
an toàn xã hội và an ninh chính trị  
+ Nội dung cơ bản trong công tác phòng chống vi phạm pháp luật về bảo vệ  
môi trường, bảo đảm trật tự an toàn giao thông  
+ Tội phạm xâm hại danh dự, nhân phẩm của người khác; an toàn thông tin và  
chống vi phạm pháp luật trên không gian mạng, an ninh phi truyền thống và các  
mối đe dọa an ninh phi truyền thống ở Việt Nam  
3. Nghiên cứu về quân sự và kỹ năng quân sự cần thiết  
- Các kiến thức, kỹ năng chiến thuật, kỹ thuật quân sự cần thiết như  
5
+ Kiến thức cơ bản, bản đồ địa hình quân sự, các phương tiện chỉ huy chiến  
thuật và chiến đấu, tính năng, tác dụng, cấu tạo, sử dụng, bảo quản các loại  
VKTBKT AK,... một số vấn đề về điều lệnh đội ngũ  
- Trên đây là những kiến thức phổ thông cần quân tâm nghiên cứu đặc điểm,  
nguyên lý, tác dụng trên cơ sơ đó nghiên cứu, luyện tập sát với thực tế, thành thạo  
các thao tác kỹ thuật, chiến thuật ứng dụng vào học tập và khi tham gia DQTV  
II. Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu  
1. Cơ sở phương pháp luận  
Cơ sở phương pháp luận chung nhất của việc nghiên cứu GDQP, AN là học  
thuyết Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh, quân đội, về xây  
dựng LL HQND, LL VTND, về xây dựng nền QPTD vận dụng sáng tạo đường lối  
quân sự của Đảng vào thức tiễn cách mạng Việt Nam  
Quá trình nghiên cứu, phát triển phải nắm vững và vận dụng đúng đắn các  
quan điểm tiếp cận khoa học sau  
- Quan điểm hệ thống: Phát triển cácnội dung của GDQP – AN một cách toàn  
diện, tổng thể, trong mối quan hệ phát triển giữa các bộ phận, các vấn đề của môn học  
- Quan điểm lịch sử, logic: Trong nghiên cứu GDQP – AN đòi hỏi phải  
+ Nhìn thấy sự phát triển của đối tượng, vấn đề nghiên cứu theo thời gian,  
không gian với những điều kiện lịch sử, cụ thể  
+ Từ đó giúp ta phát hiện, khái quát, nhận thức đúng những quy luật, nguyên  
tắc của hoạt động QP – AN  
- Quan điểm thực tiễn: Phải bám sát thực tiễn xây dựn quân đội và công an  
nhân dân, xây dựng nền QPTD, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc  
trong giai đoạn hiện nay  
2. Các phương pháp nghiên cứu  
Phạm vi nghiên cứu của GDQP – AN nội dung nghiên cứu đa dạng, được cấu  
trúc theo hệ thống từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp có sự kế thừa và phát  
triển. Vì vậy GDQP – AN được tiếp cận nghiên cứu với nhiều cách thức, phù hợp  
với tính chất của từng nội dung và nghiên cứu cụ thể  
- Trong nghiên cứu xây dựng, phát triển nội dung GDQP – AN với tư cách là  
một bộ môn khoa học cần chú ý sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu  
khoa học  
+ Sử dụng các phương pháp nghiên cứu lý thuyết như phân tích, tổng hợp,  
phân loại, hệ thống hóa, mô hình hóa, giả thuyết nhằm thu thập thông tin khoa học  
trên cơ sở nghiên cứu các văn bản, tài liệu về QP – AN từ đó rút ra kết luận, bổ  
sung, phát triển làm phong phú nội dung  
- Cùng với phương pháp nghiên lý thuyết, cần nghiên cứu sử dụng phương  
pháp thực tiễn như  
+ Quan sát, điều tra, khảo sát thực tế, nghiên cứu các sản phẩm QP – AN  
+ Tổng kết kinh nghiệm, thực nghiệm nhằm tác động trực tiếp vào đối tượng,  
từ đó khái quát bản chất, quy luật của các hoạt động QP – AN  
- Nghiên cứu lĩnh hội các kiến thức, kỹ năng QP – AN cần sử dụng kết hợp  
các phương pháp dạt học lý thuyết và thực hành  
+ Bảo đảm cho người học có nhận thức sâu sắc về đường lối, nghệ thuật quân  
sự, nắm chắc lý thuyết kỹ thuật và chiến thuật  
6
+ Rèn luyện phát triển các kỹ năng công tác quốc phòng  
+ Đổi mới phương pháp dạy học GDQP – AN vận dụng các phương pháp dạy  
học tiên tiến kết hợp với sử dụng các phương tiện kỹ thuật dạy học hiện đại  
+ Cần chú ý sử dụng các phương pháp tạo tình huống, nêu vấn đề đối thoại,  
tranh luận sáng tạo, tăng cường thực hành, thực tập sát với thực tế chiến đấu  
+ Tăng cường tham quan thực tế và sử dụng các phương tiện kỹ thuật, thiết bị  
quân sự hiện đại phục vụ các nội dung học tập  
+ Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu công nghệ thông tin nhằm  
nâng cao chất lượng học tập nghiên cứu môn học GDQP - AN  
III. Giới thiệu về môn học giáo dục quốc phòng – an ninh  
1. Đặc điểm môn học  
Là môn được luật định, được thể hiện rõ đường lối giáo dục của Đảng được  
thể chế hóa bằng các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước, nhằm giúp sinh  
viên thực hiện mục tiêu “hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng  
lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”  
- Phát huy kết quả thực hiện Chương trình huấn luyện quân sự phổ thông  
(1961), GDQP (1991) để đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới phù  
hợp với quy chế giáo dục – đào tạo đại học, Năm 2000 được sửa đổi, bổ sung;  
2007 triển khai thực hiện Nghị định của Chính phủ môn học GDQP được lồng  
ghép nội dung an ninh thành môn học GDQP – AN  
- GDQP – AN gồm kiến thức khoa học xã hội, nhân văn, khoa học tự nhiên và  
khoa học kỹ thuật quân sự và thuộc nhóm các môn học chung, có tỷ lệ lý thuyết  
trên 70% nội dung gồm  
+ Kiến thức cơ bản đường lối QP, quân sự của Đảng, công tác quản lý Nhà  
nước về quốc phòng, an ninh  
+ Truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc, về nghệ thuật quân  
sự Việt Nam  
+ Chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch  
đối với cách mạng Việt Nam và kỹ năng quân sự, an ninh đáp ứng yêu cầu xây  
dựng, củng cố xây dựng nền QPTD, ANND  
- GDQP – AN góp phần xây dựng, rèn luyện ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong  
khoa học đang học tập tại trường và khi công tác  
- Giảng dạy bảo đảm chất lượng góp phần đào tạo cho đất nước một đội ngũ  
cán bộ khoa học kỹ thuật, cán bộ quản lý, chuyên môn nghiệp vụ có ý thức, nămg  
lực sẵn sàng tham gia thực hiện nhiệm vụ chiến lược bảo vệ Tổ quốc Việt Nam  
XHCN trên mọi cương vị công tác  
2. Chương trình: GDQP – AN trình độ đại, cao đẳng (Thông tư 05/2020/TT-BGĐT  
ngày 18/03/2020)  
Phần 1: Mục tiêu, thời gian, thời điểm thực hiện  
Phần 2: Tóm tắt nội dung các học phần và chương trình  
Học phần I: Đường quốc phòng an ninh của Đảng Cộng sản Việt Nam, 45 tiết  
Học phần II: Công tác QP – AN, 30 tiết  
Học phần III: Quân sự chung, 30 tiết  
Học phần IV: Kỹ thuật chiến đấu BB và chiến thuật, 60 tiết  
Sinh viên đại học và cao đẳng chính quy học 4 học phần (I,II, III, IV), 165 tiết  
7
Phần 3: Tổ chức thực hiện chương trình; phương pháp dạy, học và đánh giá  
kết quả  
3. Đội ngũ giảng viên và cơ sở vật chất thiết bị dạy học  
- Đội ngũ giảng viên GDQP – AN các trường đại học, cao đẳng, các Trung  
tâm GDQP được tổ chức trên cơ sở Nghị định của Chính phủ về GDQP – AN và  
Nghị định của Chính phủ về biệt phái sỹ quan QĐNDVN, giảng viên sỹ quan từ  
các quân khu, các học viện, nhà trường quân đội được luân phiên làm công tác  
quản lý và giảng dạy  
- Các Trung tâm GDQP – AN phải bảo đảm đủ cơ sở vật chất, thiết bị dạy  
học, khi học thực hành phải có sân tập, bãi tập, thao trường  
- Giáo trình GDQP – AN dùng cho các trường ĐH, CĐ do Bộ giáo dục và  
Đào tạo ban hành, ngoài ra sinh viên đọc thêm tài liệu tham khảo đã được giới  
thiệu trong giáo trình để nâng cao kiến thức và sự hiểu biết về nhiệm vụ bảo vệ Tổ  
quốc hiện nay  
4. Tổ chức dạy học và đánh giá kết quả  
- Được quy định trong Quyết định 69/2007/QĐ-BGĐT ngày 134/11/2007  
- Sinh viên phải mặc gọn gàng, thống nhất theo hướng dẫn của giảng viên  
- Chấp hành các quy định bảo đảm an toàn về người, vũ khí trang bị kỹ thuật  
- Sinh viên có đủ số lần kiểm tra cho mỗi học phần  
+ Mỗi lần kiểm tra đạt từ 5 điểm trở lên  
+ Có đủ 80% thời gian có mặt lên lớp sẽ được dự thi kết thúc học phần  
- Học phần có từ 2 đến 3 đơn vị học trình kiểm tra ít nhất một lần, 4 đơn vị  
học trình số lần kiểm tra do hiệu trưởng quy định  
- Sinh viên đạt điểm trung bình môn học từ 5 điểm trở lên và không bị xử lý  
kỷ luật từ cảnh cáo trở lên được cấp chứng chỉ GDQP – AN  
8
Bài 2  
QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ  
MINH VỀ CHIẾN TRANH QUÂN ĐỘI VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC  
I. MỤC ĐÍCH YÊU CẦU  
- Trang bị cho sinh viên một số quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin,  
tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh, quân đội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ  
nghĩa.  
- Trên cơ sở đó bồi dưỡng thế giới quan, phương pháp luận khoa học cách  
mạng cho người học, giúp người học có cơ sở khoa học để quán triệt quan điểm cơ  
bản của Đảng ta về chiến tranh, xây dựng quân đội đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo  
vệ Tổ quốc hiện nay.  
II. NỘI DUNG  
1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến  
tranh  
a) Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về chiến tranh  
- Chiến tranh là một hiện tượng chính trị - xã hội  
Chiến tranh là một trong những vấn đề phức tạp, trước Mác đã có nhiều nhà  
tư tưởng đề cập đến vấn đề này, song đáng chú ý nhất là tư tưởng của  
C.Ph.Claudơvít (1780 - 1831), Ông quan niệm : Chiến tranh là một hành vi bạo lực  
dùng để buộc đối phương phục tùng ý chí của mình. Chiến tranh là sự huy động  
sức mạnh không hạn độ, sức mạnh đến tột cùng của các bên tham chiến. Ở đây,  
C.Ph.Claudơvít đã chỉ ra được đặc trưng cơ bản của chiến tranh đó là sử dụng bạo  
lực. Tuy nhiên, C.Ph.Claudơvít chưa luận giải được bản chất của hành vi bạo lực  
ấy. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã kế thừa tư tưởng đó và đi đến khẳng  
định : Chiến tranh là hiện tượng chính trị xã hội có tính lịch sử, đó là cuộc đấu  
tranh vũ trang có tổ chức giữa các giai cấp, nhà nước (hoặc liên minh giữa các  
nước) nhằm đạt mục đích chính trị nhất định. Như vậy, theo quan điểm của chủ  
nghĩa Mác - Lênin, chiến tranh là kết quả của những quan hệ giữa người với người  
trong xã hội. Nhưng nó không phải là những mối quan hệ giữa người với người nói  
chung, mà là mối quan hệ giữa những tập đoàn người có lợi ích cơ bản đối lập  
nhau. Khác với các hiện tượng chính trị - xã hội khác, chiến tranh được thể hiện  
dưới một hình thức đặc biệt, sử dụng một công cụ đặc biệt đó là bạo lực vũ trang.  
- Nguồn gốc nảy sinh chiến tranh  
Với thế giới quan và phương pháp luận duy vật biện chứng, cùng với sự kết  
hợp sáng tạo phương pháp lôgíc và lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen lần đầu tiên  
trong lịch sử đã luận giải một cách đúng đắn về nguồn gốc nảy sinh chiến tranh.  
Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định: sự xuất hiện và tồn tại của chế độ chiếm hữu  
tư nhân về tư liệu sản xuất là nguồn gốc sâu xa (Nguồn gốc kinh tế), suy đến cùng  
đã dẫn đến sự xuất hiện, tồn tại của chiến tranh. Đồng thời, sự xuất hiện và tồn tại  
của giai cấp và đối kháng giai cấp là nguồn gốc trực tiếp (Nguồn gốc xã hội) trực  
tiếp dẫn đến sự xuất hiện, tồn tại của chiến tranh.  
9
Thực tiễn hình thành và phát triển xã hội loài người đã chứng minh cho nhận  
định trên. Trong tác phẩm: "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà  
nước", Ph.Ăngghen chỉ rõ: Trải qua hàng vạn năm trong chế độ cộng sản nguyên  
thủy, khi chưa có chế độ tư hữu, chưa có giai cấp đối kháng thì chiến tranh với tính  
cách là một hiện tượng chính trị xã hội cũng chưa xuất hiện.. Mặc dù ở thời kì này  
đã xuất hiện những cuộc xung đột vũ trang. Nhưng đó không phải là một cuộc  
chiến tranh mà chỉ là một dạng "Lao động thời cổ". Bởi vì, xét về mặt xã hội, xã  
hội cộng sản nguyên thuỷ là một xã hội không có giai cấp, bình đẳng, không có  
tình trạng phân chia thành kẻ giàu, người nghèo, kẻ đi áp bức bóc lột và người bị  
áp bức bóc lột. Về kinh tế, không có của "dư thừa tương đối" để người này có thể  
chiếm đoạt lao động của người khác, mục tiêu các cuộc xung đột đó chỉ để tranh  
giành các điều kiện tự nhiên thuận lợi để tồn tại như : nguồn nước, bãi cỏ, vùng săn  
bắn hay hang động,... Về mặt kĩ thuật quân sự, trong các cuộc xung đột này, tất cả  
các bên tham gia đều không có lực lượng vũ trang chuyên nghiệp, cũng như vũ khí  
chuyên dùng. Tất cả các thành viên của bộ lạc với mọi công cụ lao động thường  
ngày đều tham gia vào cuộc xung đột đó. Do đó, các cuộc xung đột vũ trang này  
hoàn toàn mang tính ngẫu nhiên tự phát. Theo đó, Ph.Ăngghen chỉ rõ, khi chế độ  
chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất xuất hiện và cùng với nó là sự ra đời của giai  
cấp, tầng lớp áp bức bóc lột thì chiến tranh ra đời và tồn tại như một tất yếu khách  
quan. Chế độ áp bức bóc lột càng hoàn thiện thì chiến tranh càng phát triển. Chiến  
tranh trở thành "Bạn đường" của mọi chế độ tư hữu.  
Phát triển những luận điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen về chiến tranh trong điều  
kiện lịch sử mới, V.I. Lênin chỉ rõ trong thời đại ngày nay còn chủ nghĩa đế quốc  
còn nguy cơ xảy ra chiến tranh, chiến tranh là bạn đường của chủ nghĩa đế quốc.  
Như vậy, chiến tranh có nguồn gốc từ chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản  
xuất, có đối kháng giai cấp và áp bức bóc lột, chiến tranh không phải là một định  
mệnh gắn liền với con người và xã hội loài người. Muốn xoá bỏ chiến tranh phải  
xoá bỏ nguồn gốc sinh ra nó  
- Bản chất chiến tranh  
Bản chất chiến tranh là một trong những nội dung cơ bản, quan trọng nhất của  
học thuyết Mác - Lênin về chiến tranh, quân đội. Theo V.I. Lênin: "Chiến tranh là  
sự tiếp tục của chính trị bằng những biện pháp khác" (cụ thể là bằng bạo lực)[1].  
Theo V.I. Lênin, khi phân tích bản chất chiến tranh, nhất thiết phải có quan điểm  
chính trị - giai cấp, xem chiến tranh chỉ là một hiện tượng lịch sử cụ thể.  
Theo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin: "Chính trị là sự phản ánh tập trung  
của kinh tế"[2], "Chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc"[3], chính trị  
là sự thống nhất giữa đường lối đối nội và đường lối đối ngoại, trong đó đường lối  
đối ngoại phụ thuộc vào đường lối đối nội. Như vậy, chiến tranh chỉ là một thời  
đoạn, một bộ phận của chính trị, nó không làm gián đoạn chính trị. Ngược lại, mọi  
chức năng, nhiệm vụ của chính trị đều được tiếp tục thực hiện trong chiến tranh.  
Giữa chiến tranh và chính trị có quan hệ chặt chẽ với nhau trong đó chính trị chi  
phối và quyết định toàn bộ tiến trình và kết cục chiến tranh, chính trị chỉ đạo toàn  
bộ hoặc phần lớn tiến trình và kết cục của chiến tranh, chính trị quy định mục tiêu  
và điều chỉnh mục tiêu, hình thức tiến hành đấu tranh vũ trang. Chính trị không chỉ  
10  
kiểm tra toàn bộ quá trình tác chiến, mà còn sử dụng kết quả sau chiến tranh để đề  
ra những nhiệm vụ, những mục tiêu mới cho giai cấp, xã hội trên cơ sở thắng lợi  
hay thất bại của chiến tranh.  
Ngược lại, chiến tranh là một bộ phận, một phương tiện của chính trị, là kết  
quả phản ánh những cố gắng cao nhất của chính trị. Chiến tranh tác động trở lại  
chính trị theo hai hướng tích cực hoặc tiêu cực; hoặc tích cực ở khâu này nhưng lại  
tiêu cực ở khâu khác. Chiến tranh có thể làm thay đổi đường lối, chính sách, nhiệm  
vụ cụ thể, thậm chí có thể còn thay đổi cả thành phần của lực lượng lãnh đạo chính  
trị trong các bên tham chiến. Chiến tranh tác động lên chính trị thông qua việc làm  
thay đổi về chất tình hình xã hội, nó làm phức tạp hoá các mối quan hệ và làm tăng  
thêm những mâu thuẫn vốn có trong xã hội có đối kháng giai cấp. Chiến tranh có  
thể đẩy nhanh sự chín muồi của cách mạng hoặc làm mất đi tình thế cách mạng.  
Chiến tranh kiểm tra sức sống của toàn bộ chế độ chính trị xã hội.  
Trong thời đại ngày nay mặc dù chiến tranh có những thay đổi về phương  
thức tác chiến, vũ khí trang bị "song bản chất chiến tranh vẫn không có gì thay đổi,  
chiến tranh vẫn là sự tiếp tục chính trị của các nhà nước và giai cấp nhất định.  
Đường lối chính trị của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch vẫn luôn chứa  
đựng nguy cơ chiến tranh, đường lối đó đã quyết định đến mục tiêu chiến tranh, tổ  
chức biên chế, phương thức tác chiến, vũ khí trang bị" của quân đội do chúng tổ  
chức ra và nuôi dưỡng.  
b) Tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh  
Trên cơ sở lập trường duy vật biên chứng, Hồ Chí Minh đã sớm đánh giá  
đúng đắn bản chất, quy luật của chiến tranh, tác động của chiến tranh đến đời  
sống xã hội  
Khi nói về bản chất của chủ nghĩa đế quốc, Hồ Chí Minh đã khái quát bằng  
hình ảnh "con đỉa hai vòi", một vòi hút máu nhân dân lao động chính quốc, một vòi  
hút máu nhân dân lao động thuộc địa. Trong hội nghị Véc – Xây, Hồ Chí Minh đã  
vạch trần bản chất, bộ mặt thật của sự xâm lược thuộc địa và chiến tranh cướp bóc  
của chủ nghĩa thực dân Pháp. "Người Pháp khai hoá văn minh bằng rượu lậu,  
thuốc phiện". Nói về mục đích cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Người  
khẳng định: "Ta chỉ giữ gìn non sông, đất nước của ta. Chỉ chiến đấu cho quyền  
thống nhất và độc lập của Tổ quốc. Còn thực dân phản động Pháp thì mong ăn  
cướp nước ta, mong bắt dân ta làm nô lệ"[4].  
Như vậy, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, cuộc chiến tranh do thực dân Pháp tiến hành  
ở nước ta là cuộc chiến tranh xâm lược. Ngược lại cuộc chiến tranh của nhân ta  
chống thực dân Pháp xâm lược là cuộc chiến tranh nhằm bảo vệ độc lập chủ quyền  
và thống nhất đất nước.  
- Xác định tích chất xã hội của chiến tranh, phân tích tính chất chính trị - xã  
hội của chiến tranh xâm lược thuộc địa, chiến tranh ăn cướp của chủ nghĩa đế  
quốc, chỉ ra tính chất chính nghĩa của chiến tranh giải phóng dân tộc  
Trên cơ sở mục đích chính trị của chiến tranh, Hồ Chí Minh đã xác định tính  
chất xã hội của chiến tranh, chiến tranh xâm lược là phi nghĩa, chiến tranh chống  
11  
xâm lược là chính nghĩa, từ đó xác định thái độ của chúng ta là ủng hộ chiến tranh  
chính nghĩa, phản đối chiến tranh phi nghĩa.  
Kế thừa và phát triển tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin về bạo lực cách  
mạng, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo vào thực tiễn chiến tranh cách mạng  
Việt Nam. Người khẳng định: "Chế độ thực dân, tự bản thân nó đã là một hành  
động bạo lực, độc lập tự do không thể cầu xin mà có được, phải dùng bạo lực cách  
mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính  
quyền"[5].  
Bạo lực cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh được tạo bởi sức mạnh của  
toàn dân, bằng cả lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, kết hợp chặt chẽ giữa  
đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang.  
- Hồ Chí Minh Khẳng định: Ngày nay chiến tranh giải phóng dân tộc của  
nhân dân ta là chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng.  
Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Hồ Chí Minh luôn coi con người là  
nhân tố quyết định thắng lợi trong chiến tranh. Người chủ trương phải dựa vào dân,  
coi dân là gốc, là cội nguồn của sức mạnh để "xây dựng lầu thắng lợi". Tư tưởng  
Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân là một trong những di sản quý báu của  
Người. Tư tưởng này được Hồ Chí Minh trình bày một cách giản dị, dễ hiểu nhưng  
sinh động và rất sâu sắc. Chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng là cuộc  
chiến tranh toàn dân, phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân và đặt dưới sự  
lãnh đạo của Đảng cộng sản. Tư tưởng của Người được thể hiện rõ nét trong lời  
kêu gọi toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp ngày 19 - 12 - 1946: "Bất kì  
đàn ông, đàn bà, bất kì người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân  
tộc... hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc.  
Ai có súng dùng sứng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc  
thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước"[6].  
Để đánh thắng giặc Mĩ xâm lược, Người tiếp tục khẳng định: "Ba muơi mốt  
triệu đồng bào ta ở cả hai miền, bất kì già trẻ, gái trai, phải là ba mươi mốt triệu  
chiến sĩ anh dũng diệt Mĩ cứu nước, quyết giành thắng lợi cuối cùng"[7].  
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đánh giặc phải bằng sức mạnh của toàn dân,  
trong đó phải có lực lượng vũ tranh nhân dân làm nòng cốt. Kháng chiến toàn dân  
phải đi đôi với kháng chiến toàn diện, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân,  
đánh địch trên tất cả các mặt trận : quân sự ; chính trị ; kinh tế ; văn hoá...  
Sự khái quát trên đã phản ánh nét đặc sắc của chiến tranh nhân dân Việt Nam  
trong thời đại mới và là một sự phát triển đến đỉnh cao tư tưởng vũ trang toàn dân  
của chủ nghĩa Mác - Lênin. Sự phát triển sâu sắc làm phong phú thêm lí luân mác  
xít về chiến tranh nhân dân trong điều kiện cụ thể ở Việt Nam.  
2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về quân  
đội  
a) Quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về quân đội  
Theo Ph.Ăngghen: "Quân đội là một tập đoàn người vũ trang, có tổ chức do  
nhà nước xây dựng để dùng vào cuộc chiến tranh tiến công hoặc chiến tranh phòng  
ngự"[8].  
12  
Như vậy theo Ph.Ăngghen, quân đội là một tổ chức của một giai cấp và nhà  
nước nhất định, là công cụ bạo lực vũ trang chủ yếu nhất, là lực lượng nòng cốt để  
nhà nước, giai cấp tiến hành chiến tranh và đấu tranh vũ trang.  
Trong điều kiện chủ nghĩa tư bản phát triển từ tự do cạnh tranh sang độc  
quyền (Chủ nghĩa đế quốc), V.I. Lênin nhấn mạnh: chức năng cơ bản của quân đội  
đế quốc là phương tiện quân sự chủ yếu để đạt mục đích chính trị đối ngoại là tiến  
hành chiến tranh xâm lược và duy trì quyền thống trị của bọn bọc lột đối với nhân  
dân lao động trong nước.  
Nguồn gốc ra đời của quân đội  
Từ khi quân đội xuất hiện đến nay, đã có không ít nhà lí luận đề cập đến  
nguồn gốc, bản chất của quân đội trên các khía cạnh khác nhau. Nhưng chỉ có chủ  
nghĩa Mác - Lênin mới lí giải đúng đắn và khoa học về hiện tượng chính trị xã hội  
đặc thù này.  
Chủ nghĩa Mác - Lênin đã chứng minh một cách khoa học về nguồn gốc ra  
đời của quân đội từ sự phân tích cơ sở kinh tế - xã hội và khẳng định : quân đội là  
một hiện tượng lịch sử, ra đời trong giai đoạn phát triển nhất định của xã hội loài  
người, khi xuất hiện chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và sự đối kháng giai cấp  
trong xã hội. Chính chế độ tư hữu và đối kháng giai cấp đã làm nẩy sinh nhà nước  
thống trị bóc lột. Để bảo vệ lơị ích của giai cấp thống trị và đàn áp quần chúng  
nhân dân lao động giai cấp thống trị đã tổ chức ra lực lượng vũ trang thường trực  
làm công cụ bạo lực của nhà nước.  
Như vậy, chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và sự phân chia xã hội thành giai  
cấp đối kháng là nguồn gốc ra đời của quân đội. Chừng nào còn chế độ tư hữu, còn  
chế độ áp bức bóc lột thì quân đội vẫn còn tồn tại. Quân đội chỉ mất đi khi giai cấp,  
nhà nước và những điều kiện sinh ra nó tiêu vong.  
- Bản chất giai cấp của quân đội  
Khi bàn về bản chất của quân đội, chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định bản chất  
quân đội là công cụ bạo lực vũ trang của một giai cấp, nhà nước nhất định nhằm  
mục đích bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị và nhà nước tổ chức, nuôi dưỡng, sử  
dụng nó. Bản chất giai cấp của quân đội phụ thuộc vào bản chất giai cấp của nhà  
nước đã tổ chức ra quân đội đó. Quân đội do giai cấp, nhà nước tổ chức, nuôi  
dưỡng và xây dựng theo đường lối, quan điểm chính trị, quân sự của giai cấp mình.  
Đó là cơ sở để quân đội trung thành với nhà nước, giai cấp đã tổ chức ra nó.  
Bản chất giai cấp của quân đội không phải tự phát hình thành mà phải trải qua  
quá trình xây dựng lâu dài và được củng cố liên tục. Bản chất giai cấp quân đội là  
tương đối ổn định, nhưng không phải là bất biến. Sự vận động phát triển bản chất  
giai cấp của quân đội bị chi phối bởi nhiều yếu tố như: giai cấp, nhà nước, các lực  
lượng, tổ chức chính trị xã hội và việc giải quyết các mối quan hệ trong nội bộ  
trong quân đội. Do sự tác động của các yếu tố trên mà bản chất giai cấp của quân  
đội có thể được tăng cường hoặc bị phai nhạt, thậm chí bị biến chất và tuột khỏi  
tay nhà nước, giai cấp đã tổ chức ra, nuôi dưỡng quân đội đó. Sự thay đổi bản chất  
giai cấp quân đội diễn ra dần dần thông qua việc tăng cường hoặc suy yếu dần các  
mối quan hệ trên.  
13  
Trong tình hình hiện nay, các học giả tư sản thường rêu rao luận điểm "phi  
chính trị hoá quân đội", cho quân đội phải đứng ngoài chính trị, quân đội là công  
cụ bạo lực của toàn xã hội, không mang bản chất giai cấp. Thực chất quan điểm  
"phi chính trị hoá quân đội" của các học giả tư sản nhằm làm suy yếu sự lãnh đạo  
của Đảng Cộng sản, làm giảm sức mạnh chiến đấu, từng bước làm thoái hoá về  
chính trị tư tưởng, phai nhạt bản chất cách mạng của quân đội. Đó là một mục tiêu  
quan trọng trong chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của chủ nghĩa đế  
quốc. Mặt khác, mặt trái của nền kinh tế thị trường tác động không nhỏ tới tăng  
cường bản chất giai cấp công nhân, bản chất cách mạng của quân đội. Những biểu  
hiện cường điệu lợi ích vật chất, lề thói thực dụng, cơ hội về chính trị, sự suy giảm  
về đạo đức cách mạng là những cản trở trong xây dựng quân đội cách mạng hiện  
nay.  
- Sức mạnh chiến đấu của quân đội  
Theo quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen, sức mạnh chiến đấu của quân đội  
phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: con người, điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá, xã  
hội, vũ khí trang bị, khoa học quân sự, trong xây dựng sức mạnh chiến đấu quân  
đội, các ông rất chú trọng đến khâu đào tạo đội ngũ cán bộ, đánh giá và nhận xét về  
tài năng của các tướng lĩnh quân sự, đồng thời phê phán sự yếu kém của đội ngũ  
này.  
Bảo vệ và phát triển tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I. Lênin đã chỉ rõ  
sức mạnh chiến đấu của quân đội phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: yếu tố quân số,  
tổ chức, cơ cấu biên chế; yếu tố chính trị - tinh thần và kỉ luật; số lượng, chất lượng  
vũ khí trang bị kĩ thuật ; trình độ huấn luyện và thể lực; trình độ khoa học và nghệ  
thuật quân sự; bản lĩnh lãnh đạo, trình độ tổ chức chỉ huy của cán bộ các cấp. Giữa  
các yếu tố trên có mối quan hệ biện chứng với nhau. Tuy nhiên, vị trí, vai trò của  
từng yếu tố là không ngang bằng nhau, trong những điều kiện xác định, yếu tố  
chính trị tinh thần giữ vai trò quyết định đến sức mạnh chiến đấu của quân đội. V.I.  
Lênin khẳng định: "Trong mọi cuộc chiến tranh rốt cuộc thắng lợi đều tuỳ thuộc  
vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường"[9].  
Nguyên tắc xây dựng quân đội kiểu mới của V.I. Lênin  
V.I. Lênin kế thừa, bảo vệ và phát triển lí luận của C.Mác, Ph.Ăngghen về  
quân đội và vận dụng thành công trong xây dựng quân đôị kiểu mới của giai cấp  
vô sản.  
Ngay sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, các thế lực thù địch  
điên cuồng chống phá nước Nga Xô viết. Để bảo vệ thành quả cách mạng, V.I.  
Lênin yêu cầu phải giải tán quân đội cũ và thành lập quân đội kiểu mới (Hồng  
quân) của giai cấp vô sản. V.I. Lênin đã chỉ ra những nguyên tắc cơ bản trong xây  
dựng quân đội kiểu mới: Đảng cộng sản lãnh đạo Hồng quân tăng cường bản chất  
giai cấp công nhân; đoàn kết thống nhất quân đội với nhân dân ; trung thành với  
chủ nghĩa quốc tế vô sản; xây dựng chính quy; không ngừng hoàn thiện cơ cấu tổ  
chức ; phát triển hài hoà các quân chủng, binh chủng ; sẵn sàng chiến đấu. Trong  
đó sự lãnh đạo của Đảng cộng sản là nguyên tắc quan trọng nhất, quyết định đến  
sức mạnh, sự tồn tại, phát triển, chiến đấu, chiến thắng của Hồng quân.  
14  
Ngày nay, những nguyên tắc cơ bản về xây dựng quân đội kiểu mới của V.I.  
Lênin vẫn giữ nguyên giá trị. Là cơ sở lí luận khoa học cho các Đảng Cộng sản xác  
định phương hướng tổ chức xây dựng quân đội của mình.  
b) Tư tưởng Hồ Chí Minh về quân đội  
Khẳng định sự ra đời của quân đội là một tất yếu, là vấn đề có tính quy luật  
trong đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc ở Việt Nam.  
Hồ Chí Minh chỉ rõ mối quan hệ biện chứng giữa sự ra đời của quân đội với  
sự nghiệp giải phóng giai cấp và giải phóng dân tộc. Người viết: "Dân tộc Việt  
Nam nhất định phải đựoc giải phóng. Muốn đánh chúng phải có lực lượng quân sự,  
phải có tổ chức"[10].  
Ngày 22 - 12 - 1944, đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân - tiền thân  
của quân đội ta hiện nay được thành lập. Sự ra đời của quân đội xuất phát từ chính  
yêu cầu của sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp ở nước  
ta. Thực tiễn lịch sử cho thấy, kẻ thù sử dụng bạo lực phản cách mạng để áp bức nô  
dịch dân tộc ta. Do vậy, muốn giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp chúng ta  
phải tổ chức ra bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng.  
Để thực hiện được mục tiêu cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng  
sản Việt Nam đã tổ chức ra lực lượng vũ trang cách mạng làm nòng cốt cho cuộc  
đấu tranh giai cấp, dân tộc mà tiền thân của nó là những đội xích vệ đỏ, du kích vũ  
trang, sau đó phát triển thành quân đội nhân dân. Quân đội nhân dân Việt Nam là  
lực lượng vũ trang cách mạng của giai cấp công nhân và quần chúng lao động, đấu  
tranh với kẻ thù giai cấp và kẻ thù dân tộc.  
Quá trình xây dựng chiến đấu và trưởng thành của quân đội ta luôn luôn gắn  
liền với phong trào cách mạng của quần chúng, với các cuộc chiến tranh giải  
phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Chính từ thực tiễn phong trào  
cách mạng của quần chúng, những thăng trầm của chiến tranh, những thử thách ác  
liệt cùng với những hi sinh to lớn mà phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ" được rèn luyện,  
kiểm nghiệm nghiêm ngặt nhất và được phát triển lên những đỉnh cao.  
Ngay từ khi mới thành lập mặc dù đại bộ phận cán bộ chiến sĩ xuất thân từ  
nông dân nhưng tất cả họ đều là những người có lòng yêu nước mãnh liệt, trí căm  
thù giặc sâu sắc. Trải qua những năm tháng phục vụ trong quân đội họ không  
ngừng được nâng cao giác ngộ cách mạng, chuyển từ giác ngộ dân tộc lên giác ngộ  
giai cấp, từ tinh thần độc lập dân tộc lên ý thức xã hội chủ nghĩa, chuyển lập  
trường của giai cấp xuất thân sang lập trường giai cấp công nhân để xem xét giải  
quyết đánh giá công việc. Sự thống nhất hữu cơ trên, từ nét đặc thù về chế độ  
chính trị, bản chất Nhà nước, giai cấp tổ chức, nuôi dưỡng và sử dụng quân đội.  
Quân đội nhân dân Việt Nam sinh ra từ các phong trào cách mạng của quần chúng,  
được nhân dân nuôi dưỡng, đùm bọc, che trở và tiếp sức, lại được tổ chức giáo dục  
rèn luyện bởi Đảng Cộng sản Việt Nam - Người đại biểu trung thành cho lợi ích  
giai cấp, dân tộc và nhân dân, vì vậy quân đội luôn hoàn thành mọi nhiệm vụ mà  
Đảng và nhân dân giao phó.  
- Quân đội nhân dân Việt Nam mang bản chất của giai cấp công nhân  
15  
Với cương vị là người tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện quân đội ta,  
Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên coi trọng bản chất giai cấp công nhân cho  
quân đội. Bản chất giai cấp công nhân liên hệ mật thiết với tính nhân dân trong tiến  
hành chiến tranh nhân dân chống thực dân, đế quốc xâm lược. Trong xây dựng bản  
chất giai cấp công nhân cho quân đội, Hồ Chí Minh hết sức quan tâm đến giáo dục,  
nuôi dưỡng các phẩm chất cách mạng, bản lĩnh chính trị và coi đó là cơ sơ, nền  
tảng để xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện. Trong buổi lễ phong quân hàm  
cho các cán bộ cao cấp Quân đội nhân dân Việt Nam ngày 22 - 12 - 1958, Người  
vừa biểu dương, vừa căn dặn: "Quân đội đã hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và  
Chính phủ giao cho, đã có truyền thống vẻ vang là tuyệt đối trung thành với Đảng,  
với nhân dân, chiến đấu anh dũng, công tác và lao động tích cực, tiết kiệm, cần cù,  
khiêm tốn, giản dị, đoàn kết nội bộ, đồng cam cộng khổ với nhân dân, sẵn sàng  
khắc phục khó khăn hoàn thành nhiệm vụ"[11]. Lời căn dặn của Người là sự khái  
quát các phẩm chất, tiêu chí của bản chất giai cấp công nhân của quân đội ta.  
Trong bài nói chuyện tại buổi chiêu đãi mừng quân đội ta tròn hai mươi tuổi ngày  
22 - 12 -1964, một lần nữa Hồ Chí Minh lại khẳng định, bản chất giai cấp của quân  
đội là công cụ bạo lực vũ trang của giai cấp, nhà nước. Người viết: "Quân đội ta  
trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hi sinh vì độc lập tự do của Tổ  
quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt  
qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng"[12].  
Quân đội nhân dân Việt Nam được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp  
tổ chức lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, được nhân dân hết lòng yêu thương, đùm  
bọc, đồng thời được kế thừa những truyền thống tốt đẹp của một dân tộc có hàng  
ngàn năm văn hiến và lịch sử đấu tranh dựng nước gắn liền với giữ nước oanh liệt.  
Do đó, ngay từ khi ra đời và trong suốt quá trình phát triển, quân đội ta luôn thực  
sự là một quân đội kiểu mới mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân,  
đồng thời có tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc.  
- Khẳng định, quân đội ta từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu.  
Đây là một trong những cống hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong phát triển  
lí luận về quân đội. Người lập luận, bản chất giai cấp công nhân và tính nhân dân  
của quân đội ta là một thể thống nhất, xem đó như là biểu hiện tính quy luật của  
quá trình hình thành, phát triển quân đội kiểu mới, quân đội của giai cấp vô sản.  
Trong bài Tình đoàn kết quân dân ngày càng thêm bền chặt 3 - 3 - 1952, Người  
viết: "Quân đội ta là quân đội nhân dân. Nghĩa là con em ruột thịt của nhân dân.  
Đánh giặc để tranh lại độc lập thống nhất cho Tổ quốc, để bảo vệ tự do, hạnh phóc  
của nhân dân. Ngoài lợi ích của nhân dân, quân đội ta không có lợi ích nào  
khác"[13].  
- Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội là một  
nguyên tắc xây dựng quân đội kiểu mới, quân đội của giai cấp vô sản.  
Bắt nguồn từ nguyên lí chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng quân đội kiểu mới  
của giai cấp vô sản, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đặc biệt  
quan tâm đến công cụ đặc biệt này để nó thực sự trở thành lực lượng nòng cốt  
trong đấu tranh giai cấp, kể cả tiến hành chiến tranh.  
16  
Đảng Cộng sản Việt Nam - Người tổ chức lãnh đạo giáo dục và rèn luyện  
quân đội - là nhân tố quyết định sự hình thành và phát triển bản chất giai cấp công  
nhân của quân đội ta. Trong suốt quá trình xây dựng chiến đấu và trưởng thành của  
quân đội, Đảng cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự chăm lo  
đặc biệt đối với quân đội. Điều này được thể hiện rõ nét trong cơ chế lãnh đạo :  
tuyệt đối trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội trong thực hiện chế độ  
công tác đảng, công tác chính trị. Nhờ đó, Quân đội nhân dân Việt Nam trở thành  
một quân đội kiểu mới mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân. Thành  
tựu to lớn trong tăng cường bản chất giai cấp công nhân cho quân đội ta là, Đảng  
đã đào tạo nên những thế hệ "Bộ đội cụ Hồ", một mẫu hình mới của con người xã  
hội chủ nghĩa trong quân đội kiểu mới. Như vậy, không có một Đảng Cộng sản  
chân chính, không có một giai cấp công nhân Việt Nam cách mạng, kiên định lập  
trường xã hội chủ nghĩa, thì quân đội nhân dân Việt Nam không thể giữ vững được  
bản chất giai cấp công nhân, mục tiêu lí tưởng chiến đấu của mình. Chủ tịch Hồ  
Chí Minh đã chỉ rõ : Quân đội ta có sức mạnh vô địch vì nó là một Quân đội nhân  
dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục.  
- Nhiệm vụ và chức năng cơ bản của quân đội  
Mục tiêu lí tưởng chiến đấu của quân đội ta là thực hiện mục tiêu lí tưởng các  
mạng của Đảng, của giai cấp công nhân và của toàn dân tộc: Gắn giải phóng dân  
tộc với giải phóng giai cấp, độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội. Chủ tịch Hồ  
Chí Minh khẳng định: "Hiện nay quân đội ta có hai nhiệm vụ chính. Một là, xây  
dựng một đội quân ngày càng hùng mạnh và sẵn sàng chiến đấu. Hai là, thiết thực  
tham gia lao động sản xuất góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội"[14].  
Nhiệm vụ của quân đội ta hiện nay là phải luôn luôn sẵn sàng chiến đấu và  
chiến đấu thắng lợi bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Trước tình hình nhiệm vụ  
mới của cách mạng và của quân đội, ngoài nhiệm vụ chiến đấu và sẵn sàng chiến  
đấu, quân đội phải tham gia vào nhiệm vụ xây dựng đất nước, sản xuất ra của cải  
vật chất và tiến hành công tác huấn luyện. Đây là vấn đề khác về chất so với quân  
đội của giai cấp bóc lột. Quân đội ta có ba chức năng: Là đội quân chiến đấu, là đội  
quân công tác, là đội quân sản xuất. Ba chức năng đó phản ánh cả mặt đối nội, đối  
ngoại của quân đội.  
Với tư cách là đội quân chiến đấu, quân đội luôn sẵn sàng chiến đấu và chiến  
đấu chống xâm lược, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, góp phần bảo vệ trật tự an  
toàn xã hội, tham gia vào cuộc tiến công địch trên mặt trận lí luận, chính trị - tư  
tưởng, văn hoá; là đội quân sản xuất, quân đội tăng gia sản xuất cải thiện đời sống  
cho bộ đội, xây dựng kinh tế, góp phần xây dựng, phát triển đất nước, trong điêù  
kiện hiện nay, quân đội còn là lực lượng nòng cốt và xung kích trong xây dựng  
kinh tế - quốc phòng ở các địa bàn chiến lược, nhất là ở biên giới, biển đảo, vùng  
sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn gian khổ và ở những địa bàn có những tình huống  
phức tạp nảy sinh ; là đội quân công tác, quân đội tham gia vận động quần chúng  
nhân dân xây dựng cơ sở chính trị - xã hội vững mạnh, góp phần tăng cường sự  
đoàn kết giữa Đảng với nhân dân, quân đội với nhân dân; giúp dân chống thiên tai,  
giải quyết khó khăn trong sản xuất và đời sống, tuyên truyền vận động nhân dân  
17  
hiểu rõ và chấp hành đúng đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng, pháp luật  
của Nhà nước.  
Thực tiễn hơn 60 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của quân đội ta đã  
chứng minh: quân đội đã thực hiện đầy đủ và thực hiện xuất sắc ba chức năng trên  
cùng toàn Đảng, toàn dân lập nên những chiến công hiển hách trong chiến tranh  
giải phóng. Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay, quân đội có vai trò hết sức nặng  
nề. Quân đội luôn phải là đội quân cách mạng, lực lượng chính trị, công cụ vũ  
trang sắc bén của Đảng, có sức chiến đấu cao, sẵn sàng đánh bại mọi kẻ thù, hoàn  
thành thắng lợi mọi nhiệm vụ...Để thực hiện vai trò đó, cần đổi mới nhận thức về  
các chức năng của quân đội cho phù hợp với tình hình mới.  
3. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ  
nghĩa  
Tổ quốc bao giờ cũng gắn với nhà nước và giai cấp thống trị xã hội. Vấn đề  
Tổ quốc của giai cấp nào và giai cấp nào không có tổ quốc. Theo nghĩa đó mà  
C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định : "Dưới chủ nghĩa tư bản, giai cấp công nhân  
không có Tổ quốc"[15]. Trong điều kiện lịch sử cụ thể, thời C.Mác, Ph.Ăngghen  
sống, vấn đề bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa chưa được đặt ra một cách trực tiõp.  
Bài học kinh nghiệm của Công xã Pari có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc bảo  
vệ thành quả cách mạng, sau khi giai cấp vô sản giành chính quyền, nhưng mới chỉ  
là ý kiến ban đầu về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.  
Học thuyết bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là một cống hiến mới của V.I.  
Lênin vào kho tàng lí luận chủ nghĩa Mác, đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã  
hội chủ nghĩa đang đặt ra trực tiếp ở nước Nga Xô viết.  
a) Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là một tất yếu khách quan  
- Xuất phát từ yêu cầu bảo vệ thành quả cách mạng của giai cấp công nhân.  
Trong điều kiện giai cấp tư sản nắm chính quyền, C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ ra  
rằng, giai cấp công nhân phải đấu tranh trở thành giai cấp dân tộc, khi ấy chính giai  
cấp công nhân là người đại diện cho Tổ quốc, họ có nhiệm vụ phải đẩy lùi sự tấn  
công của bọn phản cách mạng.  
- Xuất phát từ quy luật xây dựng chủ nghĩa xã hội phải đi đôi với bảo vệ Tổ  
quốc xã hội chủ nghĩa. V.I. Lênin là người có công đóng góp to lớn trong việc bảo  
vệ và phát triển học thuyết về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn đế  
quốc chủ nghĩa, Người khẳng định: "Kể từ ngày 25 tháng Mười 1917, chúng ta là  
những người chủ trương bảo vệ Tổ quốc. Chúng ta tán thành "bảo vệ Tổ quốc",  
nhưng cuộc chiến tranh giữ nước mà chúng ta đang đi tới là một cuộc chiến tranh  
bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chủ nghĩa xã hội với tư cách là Tổ  
quốc"[16].  
Ngay sau khi cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa thắng lợi, nhà nước của giai  
cấp công nhân và nhân dân lao động được thiết lập thì Tổ quốc xã hội chủ nghĩa  
cũng bắt đầu hình thành. Giai cấp công nhân bắt tay vào công cuộc cải tạo xã hội  
cũ và xây dựng xã hội mới - xã hội, xã hội chủ nghĩa. Cùng với nhiệm vụ xây dựng  
chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa cũng được đặt ra một  
cách trực tiếp, nó trở thành nhiệm vụ chiến lược của các nước xã hội chủ nghĩa hai  
18  
nhiệm vụ chiến lược này gắn bó hữu cơ với nhau trong suốt quá trình cách mạng  
xã hội chủ nghĩa.  
- Xuất phát từ quy luật phát triển không đều của chủ nghĩa đế quốc. Ngay từ  
những năm cuối thế kỉ XIX, V.I. Lênin đã chỉ ra, do quy luật phát triển không đều  
của chủ nghĩa đế quốc mà chủ nghĩa xã hội có thể giành thắng lợi không đồng thời  
ở các nước. Do đó, trong xuốt thời kì quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa  
cộng sản trên phạm vi thế giới, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản là hai chế độ  
xã hội đối lập nhau cùng tồn tại và đấu tranh với nhau hết sức quyết liệt.  
- Xuất phát từ bản chất, âm mưu của kẻ thù và thực tiễn cách mạng thế giới.  
Sự thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa, giai cấp tư sản trong nước tuy đã bị  
đánh đổ về mặt chính trị, nhưng chúng vẫn chưa từ bỏ tham vọng muốn quay trở  
lại địa vị thống trị đã mất. Do vậy, chúng tìm mọi cách liên kết với các phần tử  
phản động và chủ nghĩa tư bản bên ngoài hòng lật đổ chính quyền cách mạng còn  
non trẻ của giai cấp công nhân. Thực tiễn lịch sử đã chứng minh rằng, từ khi Tổ  
quốc xã hội chủ nghĩa xuất hiện, nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa phải đương  
đầu chống trả những âm mưu và hành động lật đổ, xâm lược của kẻ thù bên trong  
và bên ngoài. Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, mười bốn  
nước đế quốc tập trung bao vây hòng tiêu diệt nước Nga Xô viết. Từ khi chủ nghĩa  
xã hội phát triển thành hệ thống thế giới, sự chống phá của kẻ thù càng quyết liệt  
hơn. Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu là một tổn thất của  
phong trào cách mạng thế giới, song nó cũng để lại cho các nước xã hội chủ nghĩa  
những bài học đắt giá rằng : xây dựng chủ nghĩa xã hội phải luôn gắn liền với bảo  
vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Có như vậy, Tổ quốc xã hội chủ nghĩa mới tồn tại và  
phát triển. Thực tiễn trên đây một lần nữa đã chứng minh cho luận điểm của V.I.  
Lênin rằng: giành chính quyền đã khó, nhưng giữ được chính quyền còn khó khăn  
hơn.  
b) Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là nghĩa vụ, trách nhiệm của toàn dân  
tộc, toàn thể giai cấp công nhân và nhân dân lao động  
Trong những năm đầu của chính quyền Xô Viết, V.I. Lênin trực tiếp lãnh đạo  
xây dựng đất nước, chống lại sự chống phá của kẻ thù trong nước và sự can thiệp  
của đế quốc bên ngoài. Đó là những năm tháng cực kì gian khổ, khó khăn, Người  
chỉ rõ: bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ, là trách nhiệm của toàn Đảng,  
toàn dân, của giai cấp vô sản trong nước, nhân dân lao động và giai cấp vô sản thế  
giới có nghĩa vụ ủng hộ sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, V.I. Lênin  
luôn nhắc nhở mọi người phải luôn nêu cao cảnh giác, đánh giá đúng kẻ thù, tuyệt  
đối không chủ quan, phải có thái độ nghiêm túc đối với quốc phòng. Người luôn  
lạc quan tin tưởng về sức mạnh bảo vệ Tổ quốc của giai cấp công nhân và nhân  
dân lao động. Người khẳng định: "Không bao giờ người ta có thể chiến thắng được  
một dân tộc mà đa số công nhân và nông dân đã biết, đã cảm và trông thấy rằng họ  
bảo vệ chính quyền của mình, chính quyền Xô viết, chính quyền c#a những người  
lao động, rằng họ bảo vệ sự nghiệp mà một khi thắng lợi sẽ đảm bảo cho họ cũng  
như con cái họ có khả năng hưởng thụ mọi thành quả văn hoá, mọi thành quả lao  
động của con người"[17].  
19  
c) Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, phải thường xuyên tăng cường tiềm  
lực quốc phòng gắn với phát triển kinh tế - xã hội  
Học thuyết Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của V.I. Lênin đã khẳng định:  
Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp thiêng liêng, cao cả, mang tính cách  
mạng, chính nghĩa và có ý nghiã quốc tế sâu sắc, sự nghiệp đó phải được quan tâm,  
chuẩn bị chu đáo và kiên quyết. V.I. Lênin đã đưa ra nhiều biện pháp để bảo vệ Tổ  
quốc như : củng cố chính quyền Xô viết các cấp ; bài trừ nội phản, tiêu diệt bọn  
bạch vệ; đẩy mạnh phát triển kinh tế - văn hoá, khoa học kĩ thuật, vận dụng đường  
lối đối ngoại khôn khéo, kiên định về nguyên tắc, mềm dẻo về sách lược, triệt để  
lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù; hết sức chăm lo xây dựng quân đội kiểu  
mới. V.I. Lênin cùng Đảng Bôn - xê - vích Nga lãnh đạo nhân dân, tranh thủ thời  
gian hoà bình, xây dựng đất nước mạnh lên về mọi mặt, từng bước biến các tiềm  
lực thành sự mạnh hiện thực của nền quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ  
nghĩa.  
d) Đảng Cộng sản lãnh đạo mọi mặt sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ  
nghĩa  
V.I. Lênin chỉ ra rằng: Đảng Cộng sản phải lãnh đạo mọi mặt sự nghiệp bảo  
vệ Tổ quốc. Đảng phải đề ra chủ trương, chính sách phù hợp với tình hình, có sáng  
kiến để lôi kéo quần chúng và phải có đội ngũ đảng viên gương mẫu hi sinh. Trong  
quân đội, chế độ chính uỷ được thực hiện, cán bộ chính trị được lấy từ đại biểu ưu  
tú của công nông, thực chất đó là đại diện của Đảng, để thực hiện sự lãnh đạo của  
Đảng trong quân đội. Đảng hướng dẫn, giám sát các hoạt động của các cấp, các  
ngành, các tổ chức xã hội, các đoàn thể nhân dân lao động. Sự lãnh đạo của Đảng  
là nguyên tắc cao nhất, là nguồn gốc sức mạnh vững chắc bảo vệ Tổ quốc xã hội  
chủ nghĩa.  
4. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa  
Tư tưởng của Hồ Chí Minh về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là sự vận  
dụng sáng tạo Học thuyết Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của V.I. Lênin vào tình  
hình thực tiễn của cách mạng Việt Nam.  
a) Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là một tất yếu khách quan  
Tính tất yếu khách quan của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ  
nghĩa được Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu  
ta phải cùng nhau giữ lấy nước"[18]. Ý chí giữ nước của Người rất sâu sắc và kiên  
quyết. Trong lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19 -12 - 1946, Người nói:  
chúng ta thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không  
chịu làm nô lệ... Hỡi đồng bào ! Chúng ta phải đứng lên !...Ngay sau khi Cách  
mạng tháng Tám năm 1945 thành công, trước sự uy hiếp của thực dân đế quốc và  
bọn phản động tay sai, Hồ Chí Minh đã cùng Đảng đề ra nhiều biện pháp thiết  
thực, cụ thể để giữ vững chính quyền nhân dân chuẩn bị cho kháng chiến lâu dài.  
Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, Hồ Chí Minh đã chỉ ra một chân  
lí rằng: "Không có gì quý hơn độc lập tự do". "Hễ còn một tên xâm lược trên đất  
nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu quét sạch nó đi", trước khi đi xa, trong  
bản di chúc Người căn dặn: "Cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước có thể còn kéo  
20  
dài, đồng bào ta có thể phải hi sinh nhiều của nhiều người. Dù sao chúng ta phải  
quyết tâm đánh thắng giặc Mĩ đến thắng lợi hoàn toàn". Ý chí quyết tâm giải  
phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc là tư tưởng xuyên suốt trong cuộc đời hoạt động  
của Chủ tịch Hồ Chí Minh.  
b) Mục tiêu bảo vệ Tổ quốc là độc lập dân tộc và chủ nghãi xã hội, là nghĩa  
vụ và trách nhiệm của mọi công dân  
Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là mục tiêu xuyên xuốt trong tư tưởng Hồ  
Chí Minh. Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi công  
dân Việt Nam. Trong Bản Tuyên ngôn độc lập, Người khẳng định: "Toàn thể dân  
tộc Việt Nam quyết đem tất cả tình thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ  
vững quyền tự do độc lập ấy". Khi thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta,  
Người kêu gọi: Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp cứu  
Tổ quốc.  
Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, Người kêu gọi nhân dân cả nước  
quyết tâm chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn để giải phóng miền Nam, bảo vệ miền  
Bắc, tiến tới thống nhất Tổ quốc, cả nước đi lên xã hội chủ nghĩa.  
c) Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc, cả nước,  
kết hợp với sức mạnh thời đại  
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất quán quan điểm: Phát huy sức mạnh tổng  
hợp trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đó là sức mạnh của toàn dân  
tộc, toàn dân, của từng người dân, của các cấp, các ngành từ Trung ương đến cơ  
sở, là sức mạnh của các nhân tố chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá - xã hội, sức  
mạnh truyền thống với hiện đại, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.  
So sánh về sức mạnh giữa chúng ta với quân xâm lược trong cuộc kháng  
chiến chống Mĩ, Người phân tích: Chúng ta có chính nghĩa, có sức mạnh đoàn kết  
toàn dân từ Bắc đến Nam, có truyền thống đấu tranh bất khuất, lại có sự đồng tình  
ủng hộ rộng lớn của các nước xã hội chủ nghĩa anh em và nhân dân tiến bộ trên thế  
giới, chúng ta nhất định thắng. Để bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, Chủ tịch Hồ  
Chí Minh rất coi trọng xây dựng và củng cố nền quốc phòng toàn dân, an ninh dân  
dân, xây dựng quân đội nhân dân, coi đó là lực lượng chủ chốt để bảo vệ Tổ quốc.  
Người căn dặn: Chúng ta phải xây dựng quân đội ngày càng hùng mạnh, sẵn sàng  
chiến đấu để giữ gìn hoà bình, bảo vệ đất nước, bảo vệ công cuộc xây dựng chủ  
nghĩa xã hội.  
d) Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam  
xã hội chủ nghĩa  
Đảng ta là người lãnh đạo và tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.  
Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa phải do Đảng lãnh đạo. Chủ  
tịch Hồ Chí Minh nói: "Đảng và Chính phủ phải lãnh đạo toàn dân, ra sức củng cố  
và xây dựng miền Bắc tiến dần lên xã hội chủ nghĩa, đồng thời tiếp tục đấu tranh  
để thống nhất nước nhà, trên cơ sở độc lập và dân chủ bằng phương pháp hoà bình,  
góp phần bảo vệ công cuộc hoà bình ở Á Đông và trên thế giới"[19] và Người khẳng  
định: "Với sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Chính phủ, với sự đoàn kết nhất trí,  
lòng tin tưởng vững chắc và tinh thần tự lực cánh sinh của mình, sự giúp đỡ vô tư  
21  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 77 trang Thùy Anh 25520 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Đường lối quốc quốc phòng an ninh của Đảng Cộng sản Việt Nam (Phần 1)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_duong_loi_quoc_quoc_phong_an_ninh_cua_dang_cong_s.pdf