Sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học các môn Lý luận chính trị cho sinh viên Đại học ở Việt Nam hiện nay

Hội nghị Khoa học công nghệ lần thứ XXII  
Trường Đại học Giao thông vận tải  
SỬ DỤNG MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC TRONG DẠY HỌC  
CÁC MÔN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC  
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY  
Tiêu Thị Mỹ Hồng 1 *  
1 Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Số 136 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội  
* Tác giả liên hệ: Email:tieu[email protected]; Tel: 0983832528  
Tóm tắt: Các môn lý luận chính trị là nội dung có mặt trong chương trình đào tạo của  
hầu hết các trường đại học, cao đẳng ở Việt Nam hiện nay. Nghiên cứu này sẽ đề cập  
đến việc sử dụng mô hình lꢀp học đảo ngược trong việc dạy học những học phần này.  
Bằng việc sử dụng các phương pháp quan sát, phân tích, tổng hợp, nghiên cứu tài liệu,  
người viết sẽ khái quát một số vấn đề về mô hình lꢀp học đảo ngược, chỉ ra đặc điểm  
của dạy học các môn lý luận chính trị cho sinh viên đại học ở Việt Nam hiện nay, đồng  
thời luận giải ưu thế của mô hình lꢀp học đảo ngược trong dạy học những môn học  
này. Sau khi luận giải được điều đó, nghiên cứu sẽ chỉ ra quy trình, yêu cầu sư phạm  
khi sử dụng mô hình lꢀp học đảo ngược trong dạy học các môn lý luận chính trị nhằm  
đạt hiệu quả cao nhất. Những vấn đề đặt ra trong bài viết sẽ được minh họa bằng nội  
dung học phần “Chủ nghĩa xã hội khoa học”.  
Từ khóa: dạy học, mô hình, lꢀp học đảo ngược, lý luận chính trị.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Mô hình lꢀp học đảo ngược (LHĐN) đang nhận được sự quan tâm của nhiều nhà  
giáo dục cả trong và ngoài nưꢀc. Trong khoảng 15 năm từ năm 2000 đến 2015, Aliye  
và các đồng nghiệp đã có 62 công trình lꢀn nhỏ bàn về mô hình lꢀp học này (tập trung  
vào ưu thế của nó). Mặc dù còn một số khó khăn nhưng nhóm nghiên cứu này đã  
khẳng định mô hình LHĐN tạo ra một môi trường học tập linh hoạt, thông qua mô  
hình này nhiều phẩm chất và năng lực quan trọng của người học được hình thành  
mang lại nhiều thành quả hơn mô hình lꢀp học truyền thống (Aliye K.I, Nadia J.C and  
Charles T.J, 2017) [1]. Thậm chí người ta còn khẳng định rằng LHĐN, được sử dụng  
để tạo ra môi trường giảng dạy hiệu quả tại các trường học, là mô hình tốt nhất cho  
việc sử dụng công nghệ trong giáo dục (Hamdan, McKnight, McKnight, & Arfstrom,  
2013) [7]. Tác giả Nguyễn Thế Dũng (2015) trong “Nghiên cứu sử dụng mô hình  
LHĐN: Thách thức và khả năng áp dụng” đã tập trung làm rõ các bưꢀc tổ chức lꢀp  
đảo ngược từ quản lý dữ liệu truy cập, đánh giá kết quả đạt được cũng như chỉ ra  
những thách thức khi áp dụng mô hình lꢀp đảo ngược [3]. Chung Kwan Lo & Khe  
-441-  
Hội nghị Khoa học công nghệ lần thứ XXII  
Trường Đại học Giao thông vận tải  
Foon Hew (2017) vꢀi “Báo cáo về các thách thức của LHĐN trong giáo dục K-12: các  
giải pháp và khuyến nghị khả thi cho nghiên cứu trong tương lai” cho thấy những  
thách thức của việc triển khai LHĐN liên quan đến người dạy, người học và những  
thách thức trong hoạt động đồng thời đề xuất 10 gợi ý để giải quyết những thách thức  
này [5]. Lí giải cho sự xuất hiện và tính khả thi của mô hình LHĐN Johnston nhấn  
mạnh ở sự phát triển của khoa học công mở đường cho việc sử dụng rộng rãi các  
LHĐN (Johnston, 2017) [6]. Mô hình LHĐN có thể được áp dụng ở nhiều cấp học,  
ngành học vꢀi những môn học khác nhau, vì thế, ngoài những nghiên cứu chung, các  
tác giả còn đi vào nghiên cứu việc áp dụng mô hình này trong các lĩnh vực cụ thể…  
Mặc dù được đề cập đến ở những khía cạnh khác nhau nhưng việc nghiên cứu đề vận  
dụng mô hình LHĐN trong dạy học các môn LLCT lại chưa được đặt ra.  
Chương trình các môn lý luận chính trị (LLCT) theo công văn số 3056/BGDĐT  
– GDĐH của Bộ Giáo dục và Đào tạo (19/7/2019) bao gồm: Triết học Mác – Lênin (3  
tín chỉ), Kinh tế chính trị Mác – Lênin (2 tín chỉ), Chủ nghĩa xã hội khoa học (2 tín  
chỉ), Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (2 tín chỉ), Tư tưởng Hồ Chí Minh (2 tín chỉ).  
Đây là những môn học có tri thức mang tính khái quát, trừu tượng cao; tính thực tiễn  
sâu sắc. Vì thế, đối vꢀi sinh viên (SV), việc học tập các môn LLCT luôn gặp phải rất  
nhiều khó khăn. Quy mô lꢀp học lꢀn thậm chí đến hàng trăm SV, thời lượng trên lꢀp  
hạn chế. Đây là khó khăn không nhỏ đối vꢀi giảng viên (GV). Làm thế nào để nâng  
cao hiệu quả dạy trọng trong điều kiện thời gian hạn chế, quy mô lꢀp học lꢀn, đối  
tượng chủ yếu là SV năm thứ nhất, thứ hai, tri thức vừa mang tính trừu tượng lại vừa  
đòi hỏi trải nghiệm cuộc sống là một câu hỏi lꢀn đặt ra. Khắc phục mâu thuẫn về tính  
khó của vấn đề vꢀi tính hạn về hạn hꢁp của thời gian, GV cần tìm kiếm sự hỗ trợ từ  
các phương tiện thông tin, thiết bị hiện đại góp phần hỗ trợ mở rộng hoạt động dạy  
học. Từ đó, giꢂp SV hứng thú, chủ động hơn, sẵn sàng hơn trong tiếp cận những nội  
dung phức tạp này. LHĐN vꢀi đặc trưng của nó được coi là một mô hình lꢀp học có  
ưu thế trong dạy học các môn LLCT. Việc áp dụng mô hình LHĐN trong dạy học hứa  
hꢁn sẽ mang lại hiệu quả cao, khắc phục được những khó khăn mà cả GV và SV đang  
gặp phải trong thực tiễn.  
2. NỘI DUNG  
2.1. Mô hình lớp học đảo ngược  
Lꢀp học đảo ngược (Flipped classroom, “Flip” có nghĩa là “lật”, “classroom” là  
“lꢀp học”), mô hình lꢀp học này bắt đầu manh nha từ Eric MaZur. Eric MaZur đã  
phát triển phương pháp hưꢀng dẫn theo cặp vào những năm 20 của thế kỉ XX. Ông  
nhận thấy rằng việc sử dụng máy tính trong việc giảng dạy giꢂp ông hưꢀng dẫn học  
viên chứ không phải diễn thuyết. Bắt đầu vào mùa thu năm 2000, trường đại học  
Wisconsin-Madison đã sử dụng phần mềm để thay thế các bài giảng ngành công nghệ  
thông tin trên lꢀp bằng các video bài giảng của giáo viên có slides đi kèm. Năm 2011,  
hai trung tâm ở Wisconsin Collaboratory for Enhanced Learning đã được thành lập để  
tập trung vào LHĐN.  
Mô hình LHĐN là mô hình lꢀp học mà các bưꢀc dạy và học ở lꢀp học truyền  
thống được đảo ngược lại, tức là nghe giảng lý thuyết được thực hiện ở nhà thông qua  
-442-  
Hội nghị Khoa học công nghệ lần thứ XXII  
Trường Đại học Giao thông vận tải  
các video trực tuyến, thực hành, ứng dụng, làm bài tập, giải đáp thắc mắc, thảo luận  
sâu kiến thức sẽ được thực hiện trên lꢀp.  
Hình thức của LHĐN trong sự so sánh vꢀi lꢀp học truyền thống, được thể hiện  
bằng minh họa dưꢀi đây:  
Hình 1.1- Lớp học truyền thống và LHĐN.  
(Nguồn:https://vnexpress.net/tin-tuc/giao-duc/lop-hoc-dao-nguoc-3141727.html)  
Ở lꢀp học truyền thống, SV đến trường ngồi nghe GV giảng bài và hình thức này  
được giꢀi chuyên môn gọi là tư duy thấp (low thinking). Sau đó các em về nhà làm bài  
tập và quá trình làm bài tập sẽ khó khăn nếu học sinh không hiểu bài. Thực tế cho  
thấy, đối vꢀi phương pháp dạy học truyền thống, GV không đủ thời gian để vừa truyền  
đạt kiến thức mꢀi vừa giúp SV giải quyết tất cả các bài tập xoay quanh đơn vị kiến  
thức đó, lại càng không có thời gian để sát sao tất cả các em. Mô hình LHĐN sẽ giải  
quyết được những khó khăn đó bằng cách lật ngược quá trình dạy học truyền thống.  
Hình 1.3 - Mức độ nhận thức Blooms với hoạt động của học sinh  
classroom-lop.html)  
Như vậy, nhiệm vụ truyền đạt kiến thức mꢀi thuộc về người thầy, và theo thang  
tư duy Bloom thì nhiệm vụ này chỉ ở mức bậc thấp (tức là “Nhꢀ” và “Hiểu”). Còn  
nhiệm vụ của SV là làm bài tập vận dụng thuộc bậc cao của thang tư duy (bao gồm  
“Ứng dụng”, “Phân tích”, “Tổng hợp” và “Đánh giá”). Điều trở ngại ở đây là nhiệm vụ  
bậc cao lại do tự giải quyết SV.  
-443-  
Hội nghị Khoa học công nghệ lần thứ XXII  
Trường Đại học Giao thông vận tải  
Vꢀi LHĐN, việc tìm hiểu kiến thức được định hưꢀng bởi người thầy (thông qua  
những giáo trình E-Learning đã được giáo viên chuẩn bị trưꢀc cùng thông tin do học  
sinh tự tìm kiếm), nhiệm vụ của SV là tự học kiến thức mꢀi này và làm bài tập mức  
thấp ở nhà. Sau đó vào lꢀp các em được GV tổ chức các hoạt động để tương tác và  
chia sẻ lẫn nhau. Các bài tập bậc cao cũng được thực hiện tại lꢀp dưꢀi sự hỗ trợ của  
GV và các bạn cùng nhóm. Cách học này đòi hỏi người học phải dùng nhiều đến hoạt  
động trí não nên được gọi là tư duy bậc cao (high thinking). Như vậy những nhiệm vụ  
bậc cao trong thang tư duy được thực hiện bởi cả thầy và trò. Đây cùng chính là sự  
khác biệt giữa mô hình lꢀp học truyền thống và mô hình LHĐN.  
2.2. Đặc điểm của dạy học các môn lý luận chính trị và ưu thế của mô hình lớp  
học đảo ngược trong dạy học các môn này  
- Đặc điểm của dạy học các môn lý luận chính trị  
Các môn LLCT trong chương trình đào tạo đại học hiện nay là những môn học  
thuộc chương trình đại cương nhằm xác lập thế giꢀi quan và phương pháp luận khoa  
học, xây dựng bản lĩnh chính trị và phát triển những giá trị đạo đức, trách nhiệm xã hội  
cho SV. Vꢀi vị trí, ý nghĩa đó, các môn LLCT thuộc khối kiến thức bắt buộc trong  
chương trình đào tạo ở bậc đại học.  
Hiện nay, việc giảng dạy các môn học này bằng phương thức truyền thống đang  
gặp phải nhiều vấn đề: kiến thức đồ sộ phức tạp mang tính khái quát, trừu tượng cao.  
Mặc dù Bộ Giáo dục và Đào tạo đã cấu trꢂc lại nội dung chương trình theo hưꢀng  
giảm tải song vꢀi thời lượng 11 tín chỉ giảng dạy theo cách thức truyền thống để đạt  
được mục đích là một thách thức lꢀn đang được đặt ra.  
Thêm vào đó các lꢀp học môn LLCT thường có quy mô lꢀn, thậm chí rất lꢀn vꢀi đối  
tượng vô cùng đa dạng, từ nhiều khối ngành khác nhau vꢀi các loại hình tư duy khác  
nhau. Vì thế, việc cá nhân hóa trong hoạt động dạy học rất khó có thể thực hiện được. Sự  
tương tác người dạy vꢀi người học, người học vꢀi người học cũng chưa thực sự hiệu quả.  
- Ưu thế của việc sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học các môn lý  
luận chính trị  
Sử dụng mô hình LHĐN sẽ giải quyết được một số khó khăn trong dạy học các  
môn LLCT đồng thời phát triển được năng lực của người học.  
Đối vꢀi SV, mô hình này sẽ tăng tính chủ động, linh hoạt trong việc sắp xếp bố  
trí thời gian học. Đồng thời tùy theo năng lực mà các em có thể lựa chọn tốc độ học  
nhanh hay chậm, nghe giảng một lần hay nhiều lần. Đây là điều không thể thực hiện  
được trên lꢀp vì thời gian hạn chế, số lượng SV đông. Chính điều này sẽ khắc phục  
được tính khó, tính trừu tượng của các đơn vị kiến thức. Vꢀi những đơn vị kiến thức  
dài, phức tạp như : sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, sự biến đổi và khác biệt  
của giai cấp công nhân hiện đại hay những vấn đề của liên minh giai cấp, của thời kì  
quá độ … SV có thể nghe đi nghe lại nhiều nếu chưa nắm chắc. Về điều này, nghiên  
cứu của Bishop, J., Verleger, M., (2013) cũng chi ra rằng: SV tham gia các khóa học  
vꢀi mô hình LHĐN sẽ đạt điểm cao hơn. Lý do rất rõ ràng: (mô hình này) cho phép  
mỗi SV học phần lý thuyết theo tốc độ của riêng mình, giꢂp các em không bị lạc trong  
-444-  
Hội nghị Khoa học công nghệ lần thứ XXII  
Trường Đại học Giao thông vận tải  
lꢀp hoặc cảm thấy nhàm chán [4]. Vꢀi mỗi câu hỏi khó (bài tập mang tính bắt buộc)  
SV cũng có nhiều thời gian hơn trong việc tìm kiếm câu trả lời. Câu trả lời này cũng  
có thể đến từ việc nghe đi nghe lại bài giảng của GV. Đây là điều mà lꢀp học truyền  
thống vꢀi hạn chế về thời gian và không gian không thể làm được. Về điều này,  
Bishop, J., Verleger, M., (2013) qua nghiên cứu của mình đã khẳng định rằng: SV  
được cung cấp các video bài giảng video trưꢀc khi đến lꢀp, điều này giꢂp các em  
chuẩn bị bài tốt hơn nhiều so vꢀi việc chỉ đọc trưꢀc giáo trình [4].  
Vꢀi mô hình LHĐN, năng tự học của SV cũng được nâng cao, SV sẽ có ý thức  
chuẩn bị bài trưꢀc khi lên lꢀp. SV chủ động xây dựng kế hoạch học tập, lựa chọn môn  
học, tài liệu học tập, tự thực hiện các yêu cầu của khóa học... nhờ thế mà khả năng tự  
học tốt hơn. Phát triển năng lực tự học, tự nghiên cứu là một yêu cầu đặt ra, có ý nghĩa  
lꢀn trong khắc phục vấn đề cản trở việc nâng cao chất lượng đào tạo đại học và phát  
triển năng lực cho người học giai đoạn đầu, là tiền đề tốt cho việc học tập các môn  
chuyên ngành ở giai đoạn đào tạo sau.  
Sau khi thực hiện nhiệm vụ ở nhà, SV sẽ đến lꢀp để trao đổi, thảo luận về những  
nội dung mà giáo viên đưa ra trong video. Vì thế, thời gian của tiết học diễn ra trên lꢀp  
được dành cho việc mở rộng thêm kiến thức, gắn lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin  
vꢀi vấn đề của thời đại ngày nay, vꢀi tình hình thế giꢀi cũng như trong nưꢀc. Chẳng  
hạn vꢀi nội dung về thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thời gian trên lꢀp sẽ được tập  
trung vào việc liên hệ, mở rộng vꢀi tình hình ở nưꢀc ta hiện nay về việc Việt Nam quá  
độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa nghĩa là gì? Cần phải hiểu vấn  
đề bỏ qua như thế nào cho chính xác. Hay vấn đề dân chủ và xây dựng nền dân chủ,  
những nội dung như quan niệm về dân chủ, sự ra đời của dân chủ, nền dân chủ sẽ được  
SV tự học ở nhà qua hệ thống tài liệu chuẩn hóa mà GV cung cấp, thời gian trên lꢀp sẽ  
dành cho việc mở rộng so sánh dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa, vấn đề xây  
dựng nền dân chủ ở Việt Nam…Vꢀi mô hình này, SV cũng được rèn luyện thêm các  
kỹ năng cần thiết như kỹ năng làm việc nhóm, tư duy phản biện, tư duy phê phán…Tư  
duy phản biện giúp các em có cái nhìn toàn diện, đꢂng đắn vꢀi các quan điểm trái  
chiều nhất là quan điểm chống phá con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nưꢀc ta.  
Như vậy, thời gian lꢀp học được tận dụng tối đa để mở rộng, liên hệ, gắn lí luận vꢀi  
thực tiễn góp phần đưa các nội dung lý luận vào lí giải các vấn đề sinh động của đời  
sống hiện tại.  
Mô hình lꢀp học này giꢂp tăng thêm tương tác giữa GV và SV trong buổi thảo  
luận sau khi SV đã nghiên cứu trưꢀc bài học thông qua video được cung cấp. Lúc này  
GV như một người bạn cùng trao đổi, cùng phản biện, cùng đưa ra vấn đề và giải  
quyết vấn đề. Nhờ đó, GV có cơ hội để hiểu hơn về SV, đặc biệt là những vấn đề  
mang tính tư tưởng trưꢀc những quan điểm trái chiều, trưꢀc các thông tin phản động,  
chống phá. Nắm được tình hình chung của lꢀp, hiểu được đặc điểm, năng lực tư duy  
của từng học sinh là sẽ giúp GV có những điều chỉnh phù hợp hơn. Vꢀi mô hình này,  
GV cũng có điều kiện quan tâm đến từng SV, hỗ trợ tối đa cho những trường hợp khó  
khăn trong nhận thức vấn đề vốn không hề đơn giản của các vấn đề lí luận mang tính  
trừu tượng.  
-445-  
Hội nghị Khoa học công nghệ lần thứ XXII  
Trường Đại học Giao thông vận tải  
Tuy nhiên, việc áp dụng mô hình LHĐN trong dạy học các môn LLCT cho SV  
cũng gặp một số khó khăn. Mô hình này đòi hỏi tất cả SV đều phải có cơ hội tiếp cận  
các thiết bị hỗ trợ như máy tính, điện thoại thông minh, mạng internet… Đồng thời  
GV cũng mất nhiều thời gian cho sự chuẩn bị hết sức công phu, kỹ lưỡng về mặt nội  
dung và hình ảnh. Thêm nữa, SV thường quen vꢀi mô hình lꢀp học truyền thống, vꢀi  
cách dạy chủ yếu là thuyết trình của GV và ghi chép của SV. Việc nghiên cứu bài học  
một cách tự giác chưa trở thành thói quan, SV khá thụ động, nặng về học thuộc mà ít  
tư duy phản biện.  
2.3. Quy trình sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy các môn Lý luận  
chính trị  
Bước 1- Chuẩn bị  
Thứ nhất, GV cần xác định đơn vị kiến thức áp dụng mô hình LHĐN. Không phải  
nội dung kiến thức nào cũng có thể và cần thiết áp dụng mô hình LHĐN. Do vậy GV  
cần lựa chọn những đơn vị kiến thức phù hợp. Đơn vị kiến thức được lựa chọn là những  
nội dung chứa đựng những vấn đề cần được đưa ra đề bàn bạc, trao đổi, thảo luận, lấy  
được nhiều nhất ý kiến tranh luận của SV, không nên chọn những nội dung có đơn vị  
kiến thức nằm trong ngưỡng hiểu biết của SV. Đây là khâu chuẩn bị đầu tiên và cũng là  
khâu rất quan trọng trong toàn bộ tiến trình áp dụng mô hình LHĐN. Chẳng hạn: GV có  
thể lựa chọn đơn vị kiến thức bàn về những điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch  
sử của giai cấp công nhân để đặt ra vấn đề cần trao đổi “Tại sao sứ mệnh lịch sử lại  
thuộc về giai cấp công nhân mà không thuộc về các giai cấp và tầng lꢀp khác”. Đây là  
đơn vị kiến thức khá phức tạp, đòi hỏi sự hiểu biết vững vàng của SV ở kiến thức triết  
học, kinh tế chính trị cũng như những hiểu biết thực tiễn. Đồng thời đây cũng là đơn vị  
kiến thức có thể đưa đến những tranh luận xuất phát từ những quan điểm, cách hiểu  
khác nhau.  
Thứ hai, thiết kế giáo án. Trưꢀc tiên GV phải xác định mục tiêu rõ ràng, vì mục  
tiêu định hưꢀng cho việc thiết kế nội dung quay video, ghi âm, ghi hình và triển khai  
các hoạt động ở trên lꢀp. Sau đó bắt đầu thiết kế giáo án cho việc quay video và xây  
dựng vấn đề thảo luận. Nội dung thảo luận, tình huống/câu hỏi có vấn đề phải phù hợp  
vꢀi mục tiêu của bài học. Chủ đề thảo luận cũng có thể bắt đầu từ các luận điểm, tình  
huống, câu chuyện trong lịch sử hoặc thực tiễn hiện nay nhưng thường được cụ thể  
hóa thành các câu hỏi chủ chốt. Tốt nhất nên chọn những câu hỏi, vấn đề hấp dẫn, bắt  
nguồn từ thực tế cuộc sống, dễ chia sẻ, dễ huy động được nhiều ý kiến khác nhau của  
các thành viên trong lꢀp. Kinh nghiệm dạy học của bản thân cho thấy: dân tộc, tôn  
giáo một trong những vấn đề thu hꢂt được sự quan tâm của SV trong thảo luận.  
Xác định hình thức các hoạt động trên lớp. Tùy thuộc vào nội dung kiến thức mà  
GV có thể lựa chọn các hoạt động sao cho phù hợp vꢀi đặc điểm lꢀp học. Khi tiến hành  
triển khai các hoạt động trên lꢀp, GV nên xem xét các yếu tố sau: số lượng SV; mục tiêu  
cần đạt; cơ sở vật chất,… Vꢀi quy mô lꢀp học lꢀn, phòng học không có nhiều không  
gian, bàn ghế cố định thảo luận nhóm được xem là cách thức làm việc tương đối hiệu  
quả.  
-446-  
Hội nghị Khoa học công nghệ lần thứ XXII  
Trường Đại học Giao thông vận tải  
Phương tiện dạy học, trang thiết bị cần thiết. Đối vꢀi mô hình LHĐN, phương tiện  
lꢂc này được chia làm 2 tầng cơ bản: tầng 1 là các đa phương tiện mang thông tin về nội  
dung học tập; tầng 2 là các dịch vụ internet để truyền tải thông tin tꢀi SV như: thư điện tử,  
trang web, diễn đàn, mạng xã hội,…. Một số công cụ có thể sử dụng để quay video bài  
giảng như: điện thoại, máy tính, Webcam, Micro, phần mềm Camtasia Studio để kết hợp  
trình chiếu Powerpoint và ghi âm lời giảng. Một số công cụ thường được sử dụng để đăng  
tải video bài giảng như:  
- CD, Youtube, E-learning, Moodle để lưu trữ video bài giảng.  
- Google Drive để lưu trữ các tài liệu liên quan.  
- Google Spreedsheet là công cụ để làm progress tracking.  
- Online QuizCreator là công cụ làm Quiz.  
- Facebook, Zalo, Gmail để trao đổi trực tuyến.  
Đối vꢀi các hoạt động thảo luận trên lꢀp, GV có thể sử dụng các thiết bị đầu ra  
như: máy tính, máy chiếu, loa, đài, mic,… các nguồn tư liệu khác để giờ học thêm sôi  
nổi hứng thꢂ hơn như: bài hát, đoạn phim, tranh ảnh, clip được lấy từ trên mạng hoặc  
do chính GV tự làm. SV có thể được cung cấp: bút lông, bút màu, giấy Ao, băng dính,  
nam châm…. Ngoài ra, một không gian lꢀp học rộng vừa đủ vꢀi bàn ghế có thể di  
chuyển được sẽ giꢂp GV có được giờ giảng tốt nhất vꢀi sự đón nhận nhiệt tình từ phía  
SV.  
Bước 2 - Tổ chức thực hiện:  
Trước giờ học: GV tiến hành đăng tải video, tài liệu tham khảo (nếu có) và bài  
tập/ nhiệm vụ lên các công cụ hỗ trợ. SV xem video, nghiên cứu tài liệu và làm bài tập  
cá nhân ở nhà.  
Trong giờ học: GV tổ chức các hoạt động tại lꢀp học. Vꢀi tính chất phức tạp của  
các vấn đề đặt ra, GV nên lựa chọn thảo luận nhóm để giải quyết các vấn đề đặt ra. Ở  
bưꢀc này, trưꢀc hết GV cần phải nêu rõ vấn đề thảo luận; quy định thời gian thảo luận  
và thời gian trình bày của mỗi nhóm; giao phương tiện, công cụ cho từng nhóm.  
GV tổ chức điều khiển và dẫn dắt thảo luận. GV phải thể hiện được khả năng tổ  
chức và kiểm soát được lꢀp học của mình. Trong thời gian cả lꢀp đang thảo luận, GV  
có thể lui tꢀi những trường hợp đặc biệt trong lꢀp, thường là những SV có câu hỏi thắc  
mắc đã chuẩn bị trưꢀc ở nhà hoặc các SV có thái độ không hợp tác hay các SV còn rụt  
rè, nhút nhát. Lúc này GV cần khéo léo động viên khuyến khích SV tham gia hoặc  
giao cho chính SV đó một nhiệm vụ cụ thể và phải trình bày sản phẩm. Để đảm bảo  
tính tích cực, chủ động, sáng tạo của SV, GV không nên can thiệp sâu vào quá trình  
thảo luận của nhóm mà nên theo dõi và sẵn sàng hỗ trợ nhóm thảo luận khi cần thiết,  
đồng thời đảm bảo tất cả SV trong nhóm đều tham gia tích cực vào công việc chung  
của nhóm.  
Trình bày kết quả thảo luận của các nhóm, tranh luận phản biện trong cả lꢀp. Sau  
khi các nhóm đã thảo luận xong, từng nhóm sẽ lên trình bày kết quả thảo luận của  
-447-  
Hội nghị Khoa học công nghệ lần thứ XXII  
Trường Đại học Giao thông vận tải  
nhóm mình, GV có thể cử đại diện hoặc chỉ đích danh một thành viên nào đó trong  
nhóm. Các nhóm có thể trình bày kết quả làm việc của nhóm mình bằng cách sau: một  
nhóm báo cáo, các nhóm khác bổ sung; hoặc các nhóm lần lượt báo cáo, các nhóm còn  
lại lắng nghe và phản biện bằng cách đặt câu hỏi. Tùy vào nội dung thảo luận mà GV  
có thể yêu cầu một nhóm hoặc cả lꢀp cùng đặt câu hỏi phản biện. Ngoài ra, GV còn có  
thể đặt câu hỏi cho cả lꢀp cùng suy nghĩ, kết hợp vꢀi phương pháp động não để thu  
thập được nhiều ý kiến nhất của SV. Câu hỏi đặt ra nên là những câu hỏi có vấn đề, có  
tính logic liên quan đến tất cả nội dung thảo luận của các nhóm, chắc chắn sẽ gây ra  
tranh cãi bởi những quan điểm trái chiều.  
GV nhận xét, đánh giá và chốt lại các vấn đề quan trọng của bài học. Đây là một  
việc làm rất quan trọng của GV. Để làm tốt được việc này, yêu cầu GV phải lắng nghe  
rất kỹ phần trình bày của các nhóm, ghi chép ra giấy những phần được và chưa được  
của mỗi nhóm. Trong phần kết luận nội dung kiến thức bài học, GV nên kết luận dựa  
trên những phần đã làm được của các nhóm để gián tiếp động viên SV, giúp cho SV  
thấy được phần làm việc của nhóm mình có trong phần tổng kết của GV. Ở khâu này,  
GV nên dùng phương pháp thuyết trình để trình bày một cách rõ ràng, logic mạch kiến  
thức của bài, giúp SV nhanh hiểu bài và nhꢀ bài ngay trên lꢀp. Đồng thời, GV nhận  
xét tinh thần làm việc của các nhóm, hoan nghênh những cá nhân có tinh thần hăng  
hái, sôi nổi trong quá trình thảo luận và tranh biện, có thể cộng điểm cho SV nếu cần  
thiết, nhắc nhở nhꢁ những SV có thái độ chưa tốt trong giờ học, rút kinh nghiệm cho  
những buổi học tiếp theo.  
Ngoài thảo luận nhóm, trong quá trình tổ chức thực hiện, GV nên kết hợp mô  
hình LHĐN vꢀi phương pháp trò chơi, phương pháp nêu vấn đề.  
Bước 3 - Kiểm tra, đánh giá  
Hoạt động kiểm tra, đánh giá là bưꢀc không thể thiếu trong hoạt động dạy và  
học. Kiểm tra để đánh giá mức độ hoàn thành của SV đối vꢀi mục tiêu ban đầu mà GV  
đặt ra. Vì vậy, để có cơ sở vững chắc, rõ ràng cho việc kiểm tra, đánh giá, bắt buộc GV  
phải đặt mục tiêu bài học rõ ràng, cụ thể, tránh đặt mục tiêu chung chung, khó đo  
lường. Mục tiêu được viết theo định hưꢀng phát triển năng lực, dạy và học theo định  
hưꢀng phát triển năng lực nên kiểm tra đánh giá cũng vậy. Việc đánh giá kết quả học  
tập của SV có thể được thực hiện theo một số cách sau: đánh giá của GV đối vꢀi SV  
và đánh giá của SV vꢀi SV, SV tự đánh giá quá trình làm việc của bản thân.  
Thứ nhất, đánh giá của giảng viên đối với sinh viên  
Việc đánh giá kết quả trong mô hình LHĐN theo định hưꢀng phát triển năng lực  
được tiến hành theo nhiều hình thức khác nhau như: quan sát, kiểm tra, đánh giá sản  
phẩm,… Mỗi hình thức đánh giá sẽ xác định được các mức độ năng lực được hình  
thành của SV.  
Việc tự học và làm bài tập trưꢀc ở nhà sẽ được đánh giá bằng các phiếu làm bài  
tập online và lượt truy cập vào video bài giảng của GV, GV có thể thu thập được kết  
quả làm bài tập của SV bằng hình thức làm bài tập qua phiếu kiểm tra onlnie, qua đó  
sẽ đánh giá được mức độ hiểu bài của SV thông qua phổ điểm và những câu hỏi trắc  
-448-  
Hội nghị Khoa học công nghệ lần thứ XXII  
Trường Đại học Giao thông vận tải  
nghiệm SV thường sai nhiều nhất (nếu sử dụng hình thức kiểm tra trắc nghiệm) để từ  
đó GV có những điều chỉnh kịp thời trong tiết lên lꢀp sắp tꢀi đạt được kết quả cao hơn.  
Đánh giá thông qua quan sát được GV sử dụng khá phổ biến. Đối vꢀi các hoạt  
động được triển khai ngay tại lꢀp, GV sẽ có cơ hội để quan sát tất cả SV làm việc, SV  
nào sôi nổi, SV nào không nhiệt tình. Thông qua quá trình quan sát trực tiếp những  
năng lực của SV sẽ được bộc lộ một cách trực tiếp như: năng lực lãnh đạo đội nhóm,  
năng lực thuyết trình, năng lực thuyết phục, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề….  
Tiếp theo là đánh giá sản phẩm của SV. Sản phẩm của SV được thể hiện ở 2  
dạng: phần bài tập làm ở nhà (các câu hỏi trắc nghiệm hoặc tự luận ngắn) và phần làm  
việc ở trên lꢀp (thường là các sản phẩm như phiếu thảo luận, sơ đồ tư duy,….).  
Thông qua quan sát cách làm việc và sản phẩm của các nhóm, trên cơ sở đó, GV  
có cơ sở để cho điểm đối vꢀi từng SV, tránh trường hợp một người làm, cả nhóm điểm  
bằng nhau. Tất cả điểm đều được cho trên cơ sở đánh giá công bằng, khách quan, trên  
cơ sở công sức và tinh thần, thái độ làm việc cả ở nhà và trên lꢀp của SV. Như vậy có  
thể thấy đây là cách đánh giá toàn diện chứ không phải chỉ dựa vào kết quả trên giấy  
như cách làm việc truyền thống.  
Thứ hai, đánh giá giữa sinh viên với sinh viên  
Đây là sự đánh giá chéo lẫn nhau trong quá trình làm việc, giúp SV thấy được  
những điểm mạnh và điểm yếu của nhau trong quá trình hợp tác. Giúp nhau nhận ra  
những khó khăn và tìm cách giải quyết, khắc phục, có những góp ý, sửa đổi, rút kinh  
nghiệm cho những lần làm việc nhóm sau  
Đây là cách làm việc thể hiện tinh thần dân chủ, là cơ hội để các bạn trong nhóm  
tự đánh giá lẫn nhau, tránh tình trạng SV hoạt động nhiều cũng được đánh giá bằng SV  
hoạt động ít, gây không khí bất hòa, không thỏa mãn cho một số thành viên trong  
nhóm. Đây cũng là cách để GV tự giúp mình hoàn thiện cách đánh giá đối vꢀi mỗi SV.  
Thứ ba, tự đánh giá  
Mỗi SV đều có khả năng tự đánh giá bản thân sau quá trình tự học, sau những  
sai sót, bản thân SV sẽ tích lũy cho mình những kinh nghiệm quý báu, có thêm  
những kỹ năng cần thiết như: kỹ năng kiềm chế cảm xúc khi làm việc nhóm, kỹ  
năng lắng nghe, trợ giꢂp đồng đội,…..  
3. KẾT LUẬN  
Dạy học các môn LLCT hấp dẫn và hiệu quả là một thử thách không nhỏ đối vꢀi  
mỗi GV. Sử dụng mô hình LHĐN là một gợi ý có thể giúp GV vượt qua được thử  
thách đó. Vꢀi mô hình này, SV không chỉ chủ động trong thời gian học tập mà con chủ  
động trong việc xử lí tốc độ tiếp nhận bài học phù hợp vꢀi năng lực của bản thân qua  
việc nghiên cứu trưꢀc bài học dưꢀi hình thức các video được GV chuẩn bị trưꢀc.  
Những nội dung phức tạp, những vấn đề mang tính thực tiễn rút ra từ các đơn vị kiến  
thức sẽ được dành thời gian làm việc trên lꢀp. Tuy nhiên, để sử dụng mô hình LHĐN  
trong dạy học các môn LLCT đạt hiệu quả cả người dạy và người học đều phải đảm  
bảo thực hiện tốt nhiệm vụ của mình. GV cần đầu tư nghiên cứu, tạo ra các sản phẩm  
-449-  
Hội nghị Khoa học công nghệ lần thứ XXII  
Trường Đại học Giao thông vận tải  
hỗ trợ SV nghiên cứu trưꢀc bài học tại nhà, đưa ra được các vấn đề thiết thực, tạo được  
hứng thú cho SV. SV cần chủ động, tích cực trong việc nghiên cứu trưꢀc video bài  
giảng và các vấn đề được đặt ra.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. Aliye K.I, Nadia J.C and Charles T.J, 2017. A systematic review of research on the  
flipped learningmethod in engineering education. British Journal of Educational  
Technology.  
[2]. Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2019. Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học (Dành cho  
bậc đại học – không chuyên LLCT - Đã sửa đổi bổ sung sau khi dạy thí điểm).  
[3]. Nguyen The Dung, 2015. Research using class model reverses difficulties,  
challenges and applicability. Journal of Science, Hanoi Pedagogical University. No.  
60. pp. 85 - 92.  
[4]. Bishop, J., Verleger, M. 2013, The Flipped Classroom: A Survey of the Research.  
ASEE  
National  
Conference  
Proceedings,  
Atlanta,  
GA.  
[5]. Chung Kwan Lo & Khe Foon Hew, 2017. A critical review of flipped classroom  
challenges in K-12 education: possible solutions and recommendations for future  
research. Research and Practice in Technology Enhanced Learning.  
[6]. Johnston, B. M, 2017. Implementing a flipped classroom approach in a university  
numerical methods mathematics course. International Journal of Mathematical  
Education in Science and Technology. No 48(4). pp 485 - 498.  
[7]. Hamdan, N., McKnight, P., McKnight, K., & Arfstrom, K. M, 2013. The flipped  
learning model: A white paper based on the literature review titled “A review of  
flipped learning.” Arlington. VA: Flipped Learning Network.  
-450-  
pdf 10 trang Thùy Anh 20240 Free
Bạn đang xem tài liệu "Sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học các môn Lý luận chính trị cho sinh viên Đại học ở Việt Nam hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfsu_dung_mo_hinh_lop_hoc_dao_nguoc_trong_day_hoc_cac_mon_ly_l.pdf