Đề cương ôn tập môn Đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN  
ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM  
CHƯƠNG MỞ ĐẦU  
Câu 1. Trình bày khái niệm về Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam. Vì  
sao nói sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của  
CMVN?  
❖ Khái niệm Đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam  
Đảng cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đồng thời là  
đội tiên phong của nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, đại biểu cho lợi ích trung thành  
của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc,  
Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng, kim chỉ Nam cho  
hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản.  
Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam là khái niệm chỉ hệ thống quan điểm,  
chủ trương, chính sách về mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp của cách mạng  
Việt Nam do Đảng Cộng sản đề ra trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam  
- Đường lối cách mạng được thể hiện qua cương lĩnh, nghị quyết của Đảng.  
- Đường lối cách mạng của Đảng rất toàn diện và phong phú, bao gồm đường lối đối nội  
và đường lối đối ngoại được đề ra kể từ khi Đảng ra đời:  
+ Có đường lối chính trị chung, xuyên suốt cả quá trình cách mạng như: đường lối độc lập  
dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đường lối kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh  
thời đại, đường lối đại đoàn kết dân tộc…  
+ Có đường lối cho từng thời kỳ lịch sử như: đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân  
dân; đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa, đường lối khởi nghĩa giành chính quyền (1939-  
1945), đường lối cách mạng miền Nam( 1954-1975), đường lối đổi mới từ 1986 đến nay…  
+ Có đường lối cách mạng vạch ra cho từng lĩnh vực hoạt động như: đường lối công nghiệp  
hóa, đường lối xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đường lối  
phát triển văn hóa- văn nghệ, đường lối đối ngoại, đường lối hội nhập kinh tế quốc tế…  
- Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt  
Nam. Sự lãnh đạo của Đảng là thuật ngữ hàm chứa việc Đảng đề ra đường lối và tổ chức  
quần chúng thực hiện đường lối. Như vậy, trong hoạt động lãnh đạo của Đảng, việc họach  
định đường lối là công việc quan trọng hàng đầu.  
- Đường lối cách mạng của Đảng chỉ có giá trị chỉ đạo thực tiễn khi giải đáp đúng yêu cầu  
của xã hội. Nói một cách khác thì thực tiễn là “hòn đá thử vàng” đường lối. Đường lối  
1
Personal Learning Document of Tran Duy Phuong  
đúng sẽ tác động tích cực đến thực tiễn và ngược lại, nếu sai lầm sẽ dẫn đến những tổn thất,  
thậm chí thất bại. Qua đó, đường lối quyết định vị trí, uy tín của Đảng đối với quốc gia dân  
tộc, tác động đến việc xác nhận vai trò lãnh đạo của Đảng với toàn dân tộc. Sự đúng, sai  
của đường lối sẽ dẫn đến sự “thành, bại” của cách mạng, sự “sống còn” của Đảng. Vì vậy,  
đường lối của Đảng phải được hoạch định trên cơ sở vận dụng một cách sáng tạo lý luận  
của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, trên  
cơ sở xác định rõ yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam và xu thế phát triển của thế  
giới.  
❖ Vì sao nói sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của  
cách mạng Việt Nam?  
- Những thắng lợi có ý nghĩa lịch sử của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng.  
Hơn bảy thập kỷ qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta đã vượt  
qua một chặng đường đấu tranh cách mạng cực kỳ khó khăn, gian khổ nhưng đã gianh được  
những thắng lợi vẻ vang:  
+ Một là, thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 và việc thành lập nước Việt  
Nam dân chủ Cộng hòa hay nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã mở ra một kỷ  
nguyên mới – kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.  
+ Hai là, thắng lợi của cuộc kháng chiến oanh liệt để giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc,  
góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc,  
dân chủ và tiến bộ xã hội.  
+ Ba là, thắng lợi của sự nghiệp đổi mới và từng bước đưa đất nước quá độ lên chủ nghĩa  
xã hội, trải qua nhiều tìm tòi, khảo nghiệm, tổng kết sáng kiến của nhân dân, Đảng ta đã đề  
ra và lãnh đạo thực hiện đường lối đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc  
phù hợp với thực tiễn Việt Nam và bối cảnh quốc tế mới.  
+ Với những thắng lợi giành được trong thế kỷ XX, nước ta từ một nước thuộc địa nửa  
phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển kinh tế theo con đường xã  
hội chủ nghĩa, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực  
và trên thế giới. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm  
chủ xã hội. Đất nước ta từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu đã bước vào thời kỳ đẩy  
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.  
+ Những thắng lợi to lớn có ý nghĩa của cách mạng Việt Nam giành được trong hơn 7 thập  
kỷ qua bắt nguồn từ nhiều nhân tố, trong đó nhân tố hàng đầu quyết định là sự lãnh đạo  
đúng đắn và sáng suốt của Đảng ta – Đảng Cộng sản Việt Nam do chủ tịch Hồ Chí Minh  
sáng lập và rèn luyện, một Đảng cách mạng thực sự vì nước, vì dân; ngoài lợi ích đó Đảng  
không có lợi ích nào khác. Giành độc lập cho dân tộc, tự do hạnh phúc cho nhân dân là mục  
tiêu lý tưởng của Đảng. Vì vậy vượt lên mọi thử thách, trong phong ba bão táp, Đảng ra  
vẫn kiên định vững vàng không xa rời mục tiêu lý tưởng, không run sợ trước kẻ thù, không  
2
Personal Learning Document of Tran Duy Phuong  
nhụt chí trước những khó khăn chồng chất, không hạ thấp vị trí tiên phong, chiến đấu và  
trách nhiệm của người lãnh đạo, người tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng, một lòng một  
dạ phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân.  
- Sự lãnh đạo của đảng - nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng việt Nam  
Sự lãnh đạo của Đảng đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc.  
Cách mạng giải phóng dân tộc nhằm đánh đổ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, giành  
độc lập dân tộc và thiết lập chính quyền của nhân dân. Trong thời đại đế quốc chủ nghĩa,  
khi giai cấp tư sản vừa bóc lột giai cấp công nhân ở chính quốc, vừa bóc lột nhân dân thuộc  
địa, cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi triệt để phải đi theo con đường cách  
mạng vô sản. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc  
không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Đảng của giai cấp vô sản ở  
các nước thuộc địa nắm lấy và giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, gắn phong trào giải  
phóng dân tộc trong nước với phong trào cách mạng thế giới.  
Đảng Cộng sản Việt Nam là người duy nhất có thể thực hiện được nhiệm vụ đó vì Đảng  
tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân đi theo mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng  
định: “Cách mệnh trước hết phải có cái gì? Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong  
thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai  
cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững  
thuyền mới chạy”.  
Vì vậy, có thể nói cách mạng giải phóng dân tộc đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản  
Việt Nam là sự lựa chọn của lịch sử Việt Nam, của toàn dân tộc Việt Nam. Sự lãnh đạo của  
Đảng đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp giải phóng dân tộc. Thắng lợi của Cách mạng Tháng  
Tám năm 1945 trước hết là thắng lợi của đường lối cách mạng giải phóng dân tộc đúng đắn  
của Đảng Cộng sản Việt Nam.  
Sự lãnh đạo của Đảng đáp ứng yêu cầu bảo vệ độc lập dân tộc và phát triển đất nước.  
- V.I. Lênin khẳng định: Giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn. Sau  
thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc, Đảng Cộng sản là lực lượng duy nhất có thể  
tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân để bảo vệ thành quả cách mạng. Có được khả  
năng đó là do Đảng gồm những người tiên tiến nhất của giai cấp và dân tộc trung thành,  
kiên định với lợi ích của dân tộc, luôn đi đầu, sẵn sàng hy sinh vì nền độc lập dân tộc nên  
được nhân dân tin và đi theo.  
- Trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam có khả năng  
to lớn để lãnh đạo nhân dân xây dựng xã hội mới vì con đường cách mạng do Đảng lãnh  
đạo phù hợp với thời đại, quy luật phát triển của xã hội. Đảng không có mục đích tự thân.  
Ngoài lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, lợi ích của toàn dân tộc Việt  
Nam, lợi ích của nhân dân tiến bộ trên thế giới, Đảng không có lợi ích nào khác.  
3
Personal Learning Document of Tran Duy Phuong  
- Lịch sử cách mạng Việt Nam cận, hiện đại đã chứng tỏ không có một tổ chức chính trị  
nào có thể thay thế được vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thực tế trong quá  
trình đấu tranh giai cấp và giữ chính quyền, có những lực lượng chính trị tham gia cùng với  
Đảng, nhưng khi cách mạng gặp khó khăn, họ đều chùn bước. Chỉ có Đảng Cộng sản Việt  
Nam trung thành với lợi ích của giai cấp vô sản, của dân tộc, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì  
lợi ích đó. Biết bao đảng viên và quần chúng của Đảng đã suốt đời phấn đấu, hy sinh vì lý  
tưởng cao cả, vì độc lập, tự do của Tổ quốc và CNXH. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là  
nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.  
Câu 2. Phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của việc học tập môn học  
Phương pháp nghiên cứu:  
-
Phương pháp hiểu theo nghĩa chung là con đường, cách thức và biện pháp để đạt tới  
mục đích.  
-
Phương pháp nghiên cứu của môn học này được hiểu là con đường, cách thức để  
nhận thức đúng đắn những nội dung cơ bản của đường lối của Đảng và hiệu quả, tác động  
của nó trong thực tiễn cách mạng Việt Nam.  
Phương pháp luận chung:  
-
Phải dựa trên thế giới quan, phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác- Lênin.  
Cụ thể:  
+ Nghiên cứu trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để  
thấy được sự phát triển khách quan trong quá trình nhận thức cũng như trong quá trình chỉ  
đạo thực tiễn cách mạng của Đảng.  
+ Nghiên cứu trên quan điểm lịch sử cụ thể, đặt đường lối cần nghiên cứu trong bối cảnh  
lịch sử đã ra đời để đánh giá nó một cách khách quan. Tránh việc thoát ly hoàn cảnh, “hiện  
đại hóa” hoàn cảnh lịch sử để không dẫn tới những sai lầm trong đánh giá, nhận định.  
+ Phải thể hiện tính Đảng trong nghiên cứu lịch sử. Tính Đảng là những quan điểm, nhận  
thức, đánh giá lịch sử theo quan điểm của một giai cấp nhất định, thể hiện lợi ích của giai  
cấp đó. Vì thế, cùng một sự kiện lịch sử nhưng các giai cấp khác nhau sẽ có cách nhìn nhận,  
đánh giá khác nhau. Đây là sự khác biệt giữa khoa học tự nhiên và khoa học xã hội.  
-
Phải dựa trên các quan điểm có ý nghĩa phương pháp luận của chủ tịch Hồ Chí Minh  
và các quan điểm của Đảng.  
Phương pháp nghiên cứu cụ thể khác của khoa học xã hội:  
-
Phải vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như phương pháp lịch sử và phương  
pháp lôgic, quy nạp và diễn dịch, phân tích và tổng hợp, đồng đại và lịch đại, cụ thể hóa và  
trừu tượng hóa, so sánh…Đối với mỗi nội dung cụ thể cần phải vận dụng phương pháp  
nghiên cứu phù hợp.  
-
Trong các phương pháp kể trên, phương pháp lịch sử và phương pháp logic là những  
phương pháp hết sức quan trọng trong nghiên cứu đường lối cách mạng của Đảng.  
4
Personal Learning Document of Tran Duy Phuong  
+ Phương pháp lịch sử dựa trên việc bám sát các sự kiện lịch sử theo trình tự thời gian sẽ  
giúp ta thể hiện được tính cụ thể, sự phong phú, sinh động của lịch sử.  
+ Phương pháp lôgic là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng trong hình thức tổng quát  
nhằm vạch ra bản chất, tính tất yếu, tính quy luật, xu hướng phát triển giữa những thăng  
trầm, bề bộn của lịch sử.  
Vì vậy, trong nghiên cứu ta phải kết hợp một cách hài hòa cả 2 phương pháp đó, tránh rơi  
vào thái cực này hay thái cực khác để dẫn đến trường hợp “thấy cây mà không thấy rừng”  
hoặc ngược lại.  
Ý nghĩa của việc học tập môn học:  
-
Trang bị cho sinh viên những hiểu biết cơ bản về sự ra đời của Đảng, về đường lối  
của Đảng trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa, đặc  
biệt là đường lối của Đảng trong thời kỳ đổi mới. Việc nắm vững những nội dung đó sẽ  
nâng cao năng lực tư duy để có thể tự giải đáp, ứng xử và kiên định trước một số vấn đề  
thường gặp trong đời sống chính trị phức tạp.  
-
Bồi dưỡng cho sinh viên niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, củng cố lập trường  
chính trị, trung thành với lý tưởng của Đảng, có định hướng phấn đấu theo mục tiêu, lý  
tưởng và đường lối của Đảng; nâng cao ý thức trách nhiệm công dân trước những nhiệm  
vụ trọng đại của đất nước.  
-
Sinh viên có cơ sở vận dụng kiến thức chuyên ngành để chủ động, tích cực giải quyết  
những vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội...theo đường lối, chính sách của Đảng. Đã là người  
Việt Nam thì ai cũng phải thực hiện pháp luật của nhà nước và đường lối của Đảng. Quyền  
lợi và trách nhiệm của từng người không ra ngoài quỹ đạo đó. Vì vậy, nghiên cứu và học  
tập đường lối cách mạng của Đảng là vấn đề thiết thực với tất cả mọi người.  
CHƯƠNG 1. SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VÀ CƯƠNG LĨNH  
CHÍNH TRỊ ĐẦU TIÊN CỦA ĐẢNG  
Câu 1. Đặc điểm nổi bật của thế giới và Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ảnh  
hưởng tới cách mạng Việt Nam?  
1.1. Hoàn cảnh quốc tế cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX  
1.1.1. Sự chuyển biến của chủ nghĩa tư bản và hậu quả của nó  
-
Từ nửa sau thế kỷ XIX, CHỦ NGHĨA TƯ BẢN phương Tây chuyển nhanh từ giai  
đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền (giai đoạn đế quốc chủ nghĩa).  
-
Đến đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa đế quốc đã hoàn thành việc phân chia thị trường thế  
giới. Sự thống trị của chủ nghĩa đế quốc đã dẫn đến những thay đổi lớn:  
5
Personal Learning Document of Tran Duy Phuong  
+ Đời sống của các nước thuộc địa bị thay đổi mạnh mẽ cả về kinh tế, cơ cấu xã hội và ý  
thức dân tộc. Sự phản ứng gay gắt của các nước thuộc địa đã làm cho phong trào chống chủ  
nghĩa đế quốc, giành độc lập cho các dân tộc thuộc địa trở thành vấn đề có tính chất thời  
đại, thành một dòng thác cách mạng mới.  
+ Xuất hiện 2 mâu thuẫn mới của thời đại là mâu thuẫn giữa Đế quốc và Đế quốc vì thuộc  
địa và mâu thuẫn giữa các nước thuộc địa và Đế quốc. Những mâu thuẫn này ngày càng  
phát triển mạnh mẽ, đòi hỏi phải được giải quyết và đó chính là tiền đề cho các cuộc chiến  
tranh thế giới và cách mạng vô sản.  
1.1.2. Ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin  
-
Vào giữa thế kỷ XIX, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân chống chủ nghĩa  
tư bản phát triển mạnh đòi hỏi phải có hệ thống lý luận khoa học với tư cách là vũ khí tư  
tưởng của giai cấp mình. Chủ nghĩa Mác-Lênin ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu đó.  
-
Với khẩu hiệu “vô sản các nước liên hiệp lại”, chủ nghĩa Mác- Lênin dẫn đến sự  
hình thành các tổ chức công nhân quốc tế như: Quốc tế I (1864-1876), Quốc tế II  
(18891923), Quốc tế III (1919-1943).  
-
Muốn giành được thắng lợi trong cuộc đấu tranh, giai cấp công nhân phải lập ra  
chính Đảng của mình và chủ nghĩa Mác - Lênin trở thành một trong những yếu tố quan  
trọng dẫn tới sự ra đời và là nền tảng tư tưởng của các Đảng Cộng sản ở nhiều nước trên  
thế giới, trong đó có Đảng Cộng sản Việt Nam.  
1.1.3. Tác động của cách mạng Tháng Mười Nga  
-
Sau khi cách mạng Tháng Mười Nga thành công (1917), Nhà nước Xô Viết ra đời  
đã mở ra một thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Từ  
đó, chủ nghĩa Mác-Lênin từ lý luận đã trở thành hiện thực.  
-
Cách mạng Tháng Mười Nga là một sự kiện mang tầm vóc quốc tế và có ý nghĩa  
lịch sử to lớn:  
+ CMT 10 Nga đã tạo ra mô hình cách mạng mới do giai cấp vô sản lãnh đạo cho rất nhiều  
dân tộc đi theo.  
+ CMT 10 Nga còn mang ý nghĩa của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc nên đã “mở ra  
trước mắt các dân tộc bị áp bức một thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng  
dân tộc”.  
1.1.4. Sự ra đời của quốc tế cộng sản tháng 3/1919:  
6
Personal Learning Document of Tran Duy Phuong  
-
Tháng 3/1919, Quốc tế Cộng Sản được thành lập và thúc đẩy mạnh mẽ phong trào  
cộng sản và công nhân quốc tế theo con đường cách mạng triệt để.  
-
QUỐC TẾ CỘNG SẢN với khẩu hiệu’’ Vô sản các nước và các dân tộc bị áp bức  
đoàn kết lại’’ là tổ chức quốc tế duy nhất lúc đó quan tâm, giúp đỡ và chỉ đạo phong trào  
cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa nên tổ chức này có ảnh hưởng lớn tới phong trào  
cách mạng ở đó.  
-
Đối với Việt Nam, QUỐC TẾ CỘNG SẢN có vai trò quan trọng trong việc truyền  
bá chủ nghĩa MácLênin, trong việc thành lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam và cả chủ trương,  
đường lối của Đảng ta trong một thời gian nhất định. Nguyễn Ái Quốc đã nhấn mạnh vai  
trò của tổ chức này đối với Việt Nam như sau: “An Nam muốn cách mệnh thành công thì  
phải nhờ Đệ tam quốc tế’’.  
Tình hình thế giới đầy biến động đó đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến Việt Nam.  
1. 2. Hoàn cảnh trong nước  
1.2.1. Xã hội Việt Nam dưới sự thống trị của thực dân Pháp  
Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam. Triều đình nhà Nguyễn đầu hàng  
từng bước và đến ngày 6/6/1884 đã phải ký hiệp định Pactơnốt với 19 điều khoản chính  
thức thừa nhận sự cai trị của thực dân Pháp trên đất Việt Nam.  
* Về chính sách cai trị của thực dân Pháp: Sau khi đánh chiếm Việt Nam, thực dân Pháp  
thiết lập bộ máy thống trị thực dân và thi hành ở đây chính sách cai trị như sau:  
Về chính trị:  
+ Thi hành chính sách chuyên chế với bộ máy đàn áp nặng nề.  
+ Tước bỏ quyền lực đối nội, đối ngoại của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn, duy trì  
chế độ cai trị trực tiếp từ trung ương đến cơ sở, biến quan lại phong kiến trở thành bù nhìn,  
tay sai.( Ví dụ: Pháp đã cùng nhà Thanh ký Công ước phân chia biên giới Việt –Trung vào  
năm 1887 ).  
+ Thi hành chính sách “chia để trị”.  
Kết quả của chính sách cai trị về chính trị đó đã biến nước ta thành “một xứ thuộc địa, dân  
ta là vong quốc nô, Tổ quốc ta bị giày xéo dưới gót sắt của kẻ thù hung ác” .  
Về kinh tế:  
+ Tiếp tục duy trì phương thức sản xuất phong kiến cùng với việc thiết lập một cách hạn  
chế phương thức sản xuất TBCN để phục vụ cho chính sách khai thác thuộc địa của Pháp.  
7
Personal Learning Document of Tran Duy Phuong  
+ Thi hành chính sách kinh tế độc quyền để biến Việt Nam thành thị trường tiêu thụ hành  
hóa của Pháp, dùng hàng rào thuế quan để ngăn chặn hàng hóa của các nước khác.  
+ Tiến hành 2 cuộc khai thác thuộc địa ( 1897-1914 và 1919-1929) ở Việt Nam với trọng  
tâm là khai thác tài nguyên và cướp ruộng đất để lập đồn điền.  
+ Định ra nhiều thứ thuế vô lý đánh vào người lao động khiến đời sống của nhân dân vô  
cùng khổ cực.  
Kết quả của chính sách cai trị kinh tế đó là kinh tế Việt Nam vẫn bị kìm hãm trong vòng  
lạc hậu và phụ thuộc nặng nề vào kinh tế Pháp.  
Về văn hóa: thi hành chính sách ngu dân để dễ bề cai trị.  
Kết quả của chính sách văn hóa phản động trên là trên 90% dân số Việt Nam mù chữ.  
* Về tình hình giai cấp: Dưới tác động của chính sách cai trị của thực dân Pháp, trong xã  
hội Việt Nam đã diễn ra sự phân hóa của các giai cấp cũ và sự ra đời của các giai cấp,  
tầng lớp mới. Cụ thể như sau:  
-Giai cấp địa chủ, phong kiến:  
+ Xét dưới góc độ chính trị thì giai cấp địa chủ phong kiến có sự phân hóa như sau: Một bộ  
phận địa chủ phong kiến cam tâm làm tay sai cho thực dân Pháp để duy trì quyền lợi của  
mình. Một bộ phận khác nêu cao truyền thống yêu nước và tinh thần bất khuất của dân tộc  
đã đứng về phía nhân dân chống Pháp.  
+ Xét dưới góc độ kinh tế thì giai cấp địa chủ phân hóa thành 3 bộ phận là tiểu, trung và  
đại địa chủ, trong đó đại địa chủ thường đứng hẳn về phe đế quốc còn trung và tiểu địa chủ  
vẫn có tinh thần dân tộc.  
-Giai cấp nông dân: Cùng với giai cấp địa chủ, nông dân là giai cấp tồn tại lâu đời ở  
Việt Nam. Đây là thành phần chiếm tuyệt đại đa số (90%) trong xã hội Việt Nam.  
+ Giai cấp nông dân bị bần cùng hóa và phá sản hàng loạt do bị đế quốc và địa chủ chiếm  
đoạt ruộng đất, nạn sưu cao thuế nặng, nạn cho vay nặng lãi và việc mất mùa liên miên do  
thiên tai…  
+ Giai cấp nông dân cũng có sự phân tầng thành phú nông, trung nông, bần nông và cố  
nông.  
Bên cạnh các tầng lớp, giai cấp đại diện cho xã hội Việt Nam truyền thống, những giai cấp  
mới cũng có sự phát triển và phân hoá ngày càng rõ rệt hơn.  
-Giai cấp công nhân:  
8
Personal Learning Document of Tran Duy Phuong  
+ Nguyên nhân hình thành: Là sản phẩm trực tiếp của 2 cuộc khai thác thuộc địa của thực  
dân Pháp ở Việt Nam.  
+ Về số lượng: Đến hết cuộc khai thác thuộc địa lần 2 (1929) giai cấp công nhân Việt Nam  
đạt con số 22 vạn, chiếm 1,1% dân số Việt Nam, trong đó chủ yếu là công nhân mỏ và công  
nhân đồn điền.  
+ Về đặc điểm: Giai cấp công nhân Việt Nam vừa có những đặc điểm chung của giai cấp  
công nhân quốc tế vừa có những đặc điểm riêng biệt, đặc thù. Đó là:  
1.  
Phải chịu ba tầng áp bức bóc lột (đế quốc, phong kiến, tư sản bản xứ) nên tinh thần  
cách mạng của họ rất cao, mối thù dân tộc gắn liền với mối thù giai cấp.  
2.  
Họ đều xuất thân từ những người nông dân bị bần cùng hoá nên có mối quan hệ gần  
gũi, trực tiếp và máu thịt với nông dân. Đây là cơ sở khách quan thuận lợi để hình thành  
khối liên minh công-nông.  
3.  
Ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc.  
4.  
Nội bộ thuần nhất, không có tầng lớp công nhân quý tộc nên không chịu ảnh hưởng  
của chủ nghĩa công đoàn, chủ nghĩa cải lương.  
5. Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời và phát triển trong điều kiện thuận lợi khi giai  
cấp công nhân Nga đã làm nên CMT 10, QUỐC TẾ CỘNG SẢN đã thành lập và lãnh tụ  
Nguyễn Ái Quốc đã bắt đầu truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam nên trưởng thành  
nhanh chóng về nhận thức.  
-
Giai cấp tư sản:  
+ Ngay từ khi ra đời, do chính sách độc quyền và chèn ép của tư bản Pháp và các tư bản  
ngoại kiều nên tư sản Việt Nam không thể phát triển được. Do đó, thế lực kinh tế và địa vị  
chính trị của giai cấp này rất nhỏ bé và yếu ớt.  
+ Trong quá trình phát triển, giai cấp tư sản Việt Nam phân thành 2 bộ phận là tư sản mại  
bản và tư sản dân tộc. Tư sản mại bản là những nhà tư sản lớn, hợp tác kinh doanh với đế  
quốc Pháp như làm cai thầu, làm đại lý cung cấp nguyên vật liệu hoặc phân phối hàng hóa  
của Pháp…Vì có quyền lợi kinh tế và chính trị gắn liền với đế quốc thực dân nên tư sản  
mại bản thường là tầng lớp đối lập với dân tộc. Còn tư sản dân tộc bao gồm những nhà tư  
sản vừa và nhỏ. Họ bị tư bản Pháp chèn ép nên họ cũng có tinh thần chống đế quốc và  
phong kiến và là một lực lượng cách mạng trong phong trào giải phóng dân tộc.  
-
Giai cấp tiểu tư sản:  
+ Giai cấp tiểu tư sản ngày càng trở nên đông đảo, bao gồm nhiều bộ phận khác nhau:  
9
Personal Learning Document of Tran Duy Phuong  
tiểu thương, tiểu chủ, công chức, học sinh, sinh viên …Trong đó, giới trí thức và học sinh  
là bộ phận quan trọng của tầng lớp tiểu tư sản.  
+ Nhìn chung địa vị kinh tế của họ rất bấp bênh, luôn bị đe doạ phá sản, thất nghiệp.  
+ Họ có tinh thần yêu nước nồng nàn, lại bị đế quốc và phong kiến áp bức, bóc lột và khinh  
rẻ nên rất hăng hái tham gia cách mạng.  
+ Đặc biệt, tầng lớp trí thức với đặc điểm “ưu thời, mẫn thế” và có khả năng tuyên truyền  
tốt nên họ là một lực lượng cách mạng không thể thiếu trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự  
do của dân tộc.  
* Về mâu thuẫn xã hội :  
-
Mâu thuẫn vốn có trong lòng xã hội Việt Nam phong kiến là mâu thuẫn giữa nông  
dân và địa chủ phong kiến không mất đi mà vẫn tiếp tục tồn tại và trở nên gay gắt.  
-
Bên cạnh đó, xuất hiện lên một mâu thuẫn mới bao trùm lên tất cả là mâu thuẫn giữa  
toàn thể dân tộc Việt Nam với đế quốc Pháp xâm lược.  
-
Hai mâu thuẫn cơ bản ấy phản ánh bản chất của chế độ thuộc địa nửa phong kiến và  
quy định nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong tương lai là chống đế quốc giành độc  
lập dân tộc và chống phong kiến giành quyền dân chủ cho nhân dân, chủ yếu là ruộng đất  
cho  
nông dân. Trong 2 nhiệm vụ đó thì chống đế quốc, giành độc lập dân tộc là nhiệm vụ hàng  
đầu.  
* Tóm lại: Chính sách cai trị của thực dân Pháp đã tác động mạnh mẽ đến xã hội Việt Nam  
và làm cho:  
-
Tính chất xã hội thay đổi: Xã hội Việt Nam từ một xã hội phong kiến độc lập đã trở  
thành xã hội thuộc địa - nửa phong kiến.  
-
Cơ cấu giai cấp trong xã hội thay đổi. Đó là sự ra đời của các giai cấp, tầng lớp mới  
như công nhân, tư sản, tiểu tư sản. Đây là một lực lượng cách mạng mới cho một cuộc cách  
mạng mới trong tương lai.  
-
Mâu thuẫn xã hội thay đổi. Xuất hiện mâu thuẫn mới là mâu thuẫn dân tộc với đế  
quốc và mâu thuẫn đó trở thành mâu thuẫn bao trùm.  
1.2.2. Phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến và tư sản cuối thế kỷ XIX-  
đầu thế kỷ XX  
10  
Personal Learning Document of Tran Duy Phuong  
Cuối thế kỷ XIX, dù triều đình nhà Nguyễn đầu hàng thực dân Pháp nhưng nhân dân ta từ  
thế hệ này đến thế hệ khác, dưới sự lãnh đạo của giai cấp này hay giai cấp khác liên tục  
vùng lên chống bọn cướp nước. Nổi bật nhất là phong trào yêu nước theo khuynh hướng  
phong kiến và tư sản.  
* Phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến:  
-
-
Phong trào Cần Vương (1885-1896):  
Khởi nghĩa nông dân Yên Thế (1884-1913)  
* Phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản: Xét về phương pháp, trong  
phong trào dân chủ tư sản dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu yêu nước có 2 xu hướng:  
-
-
Xu hướng bạo động của Phan Bội Châu và phong trào Đông Du(1904-1908)  
Xu hướng cải cách của Phan Châu Trinh.  
-
Ngoài ra, trong thời kỳ này ở Việt Nam còn có nhiều phong trào đấu tranh khác như:  
Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục (1907); phong trào tẩy chay tư sản Hoa Kiều (1919)  
…để đòi các cải cách tự do, dân chủ.  
-
Từ trong phong trào đấu tranh, các tổ chức đảng phái đã ra đời: Đảng Lập hiến (năm  
1923); Việt Nam nghĩa đoàn (năm 1925), Đảng Thanh Niên cao vọng (năm 1926); Tân Việt  
cách mạng Đảng (năm1927), Việt Nam quốc dân Đảng (năm 1927)… Trong số các đảng  
phái đó, Tân Việt cách mạng Đảng và Việt Nam quốc dân Đảng có ảnh hưởng lớn nhất.  
* Tóm lại:  
-
Có thể nói, các phong trào cứu nước dưới sự lãnh đạo của các giai cấp, đảng phái  
khác nhau từ lập trường phong kiến đến lập trường tư sản, tiểu tư sản qua khảo nghiệm của  
lịch sử đều thất bại vì thiếu một đường lối đúng đắn.  
-
Cách mạng Việt Nam đang đứng trước cuộc khủng hoảng trầm trọng về con đường  
cứu nước, về giai cấp lãnh đạo. Lịch sử đặt ra nhiệm vụ phải tìm ra con đường cách mạng  
mới, giai cấp lãnh đạo mới phù hợp với xu thế phát triển của thời đại và phù hợp với đặc  
điểm của xã hội Việt Nam.  
1.2.3. Phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản.  
* Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị các điều kiện về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự việc  
thành lập Đảng cộng sản Việt Nam.  
- Sơ lược quá trình tìm tòi con đường cứu nước mới của Nguyễn Ái Quốc (19111920).  
11  
Personal Learning Document of Tran Duy Phuong  
+ Ngày 5/6/1911 người thanh niên Nguyễn Tất Thành rời bến nhà Rồng (Sài Gòn) ra đi tìm  
đường cứu nước. Người không dừng lại ở phương Đông như các vị tiền bối mà sang  
phương Tây, đến tận hang ổ của kẻ thù để tìm con đường cứu nước khác .  
+ Trên hành trình bôn ba khắp năm châu bốn biển, Nguyễn Ái Quốc đã để tâm tìm hiểu kỹ  
các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới như cách mạng Mỹ (4/7/1776) và cuộc cách  
mạng Pháp (14/7/1789). Người đánh giá cao tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái và quyền con  
người của các cuộc cách mạng đó nhưng cũng nhận thức rõ hạn chế của nó. Người cho rằng  
đó là những cuộc “cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa dân chủ  
nhưng kỳ thực ở trong thì nó tước lục nông dân, ở ngoài thì áp bức thuộc địa”. Từ đó,  
Nguyễn Ái quốc khẳng định con đường cách mạng tư sản không thể đưa lại độc lập, hạnh  
phúc cho nhân dân các nước nói chung, cho nhân dân Việt Nam nói riêng.  
+ Năm 1917 khi trở lại Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã thành lập tổ chức “Hội những người Việt  
Nam yêu nước tại Pháp”. Khi cách mạng tháng 10 Nga bùng nổ và thắng lợi, Người đã  
“ủng hộ CMT10 chỉ theo cảm tính tự nhiên …chưa hiểu hết tầm quan trọng lịch sử của nó”.  
+ Đầu năm 1919, Nguyễn Ái Quốc gia nhập Đảng xã hội Pháp. Tháng 6/1919, thay mặt  
“Hội những người Việt Nam yêu nước tại Pháp” Nguyễn Ái Quốc đã gửi tới hội nghị  
Vécxay bản “Yêu sách của nhân dân Việt Nam” gồm 8 điểm, đòi chính phủ Pháp thực hiện  
các quyền tự do dân chủ ở Việt Nam. Những yêu cầu chính đáng và cấp thiết đó không  
được chấp nhận và Người rút ra kết luận: “Những lời tuyên bố của chủ nghĩa đế quốc, chủ  
nghĩa Uynxơn chỉ là trò bịp bợm, các dân tộc muốn được giải phóng chỉ có thể dựa vào sức  
lực của chính bản thân mình’’.  
+ Tháng 3/1919 Lênin đã thành lập Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III). Như vậy, lúc này trong  
phong trào công nhân quốc tế cùng tồn tại Quốc tế II và quốc tế III. Các Đảng Xã hội của  
giai cấp công nhân các nước đứng trước sự lựa chọn: tin và đi theo quốc tế nào, đi theo con  
đường nào? Đảng Xã hội Pháp – tổ chức mà Nguyễn Ái Quốc ra nhập từ đầu năm 1919 và  
bản thân Nguyễn Ái Quốc cũng đứng trước sự lựa chọn đó.  
+ Đúng lúc đó, tại đại hội lần II của QUỐC TẾ CỘNG SẢN (khai mạc ngày 10/7/1920)  
Lênin đã đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất về vấn đề dân tộc và thuộc địa’’(tác phẩm này còn  
được gọi là Luận cương Lênin). Nguyễn Ái Quốc đã được đọc bản Luận cương Lênin trên  
tờ báo Nhân đạo số ra ngày 16,17/7/1920. Luận cương đó đã đáp ứng đúng nguyện vọng  
tha thiết mà Nguyễn Ái Quốc đang ấp ủ: tự do cho đồng bào, độc lập cho tổ quốc. Từ đó  
Người “hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ III’’ . Người rút ra kết luận: "muốn  
cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng  
vô sản".  
12  
Personal Learning Document of Tran Duy Phuong  
+ Tháng 12/1920 tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp (còn gọi là đại hội Tua) đã nảy ra cuộc  
tranh luận gay gắt về việc ra nhập Quốc tế III hay ở lại Quốc tế II. Nguyễn Ái Quốc đã bỏ  
phiếu giải tán Đảng Xã hội để sáng lập Đảng cộng sản Pháp và gia nhập Quốc Tế thứ III.  
Với sự kiện này, Nguyễn Ái Quốc từ một người yêu nước đã trở thành người cộng sản đầu  
tiên của dân tộc Việt Nam, từ một chiến sĩ giải phóng dân tộc chưa có khuynh hướng rõ  
ràng thành một chiến sĩ giải phóng dân tộc theo chủ nghĩa Cộng sản.  
Như vậy, trải qua cuộc hành trình dài đầy gian khổ, Nguyễn Ái Quốc đã lựa chọn con  
đường cách mạng vô sản để giải phóng dân tộc mình, đã kịp thời đáp ứng nhu cầu bức thiết  
của dân tộc mình là tìm ra một con đường cách mạng mới.  
- Những hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc từ 1921 đến 1929: Đây là giai đoạn  
Nguyễn Ái Quốc xúc tiến mạnh mẽ việc nghiên cứu lý luận giải phóng dân tộc theo học  
thuyết Mác- Lênin để truyền bá vào Việt Nam và từng bước chuẩn bị tư tưởng, chính trị và  
tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam.  
+ Từ 1921 đến tháng 6/1923, Nguyễn Ái Quốc hoạt động trong Đảng Cộng sản Pháp. Từ  
năm 1921, trong các bài báo về Đông Dương của mình, Nguyễn Ái quốc đã đặt vấn đề:  
chế độ cộng sản có áp dụng được ở châu Á nói chung và Đông Dương nói riêng không?  
Và Người đã đưa ra một luận điểm mới mẻ, đầy sáng tạo “chủ nghĩa cộng sản thâm nhập  
vào Châu Á dễ dàng hơn vào châu Âu” sau khi phân tích những điều kiện lịch sử và xã hội  
cụ thể ở đó. Từ đó, Người khẳng định: “Cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa có tính  
chủ động, độc lập và có thể thành công trước cách mạng ở chính quốc, góp phần thúc đẩy  
cách mạng chính quốc tiến lên”.  
Trong những năm hoạt động ở Pháp , Nguyễn Ái Quốc đã viết tác phẩm “Bản án chế độ  
thực dân Pháp’’ sau này được in ở Pari vào năm 1925. Bản án chế độ thực dân Pháp không  
chỉ là bản cáo trạng đơn thuần mà đã chỉ ra con đường thực hiện bản án là cuộc đấu tranh  
tự giải phóng. “Tác phẩm đó đã đặt những viên đá đầu tiên tạo nền tảng cho đường lối cách  
mạng giải phóng dân tộc của Đảng ta” .  
+ Từ tháng 7/1923 đến tháng 10/1924 Nguyễn Ái Quốc hoạt động ở Liên Xô - trung tâm  
của phong trào cộng sản quốc tế và tiếp tục bổ sung, phát triển lý luận về cách mạng thuộc  
địa. Trong thời gian này, Người còn viết nhiều bài cho báo Sự thật của Đảng cộng sản Liên  
Xô và tạp chí Thư tín quốc tế của Quốc tế Cộng sản. Trong các bài báo, bài phát biểu của  
mình trong giai đoạn này, Nguyễn Ái Quốc đề cập đến 3 vấn đề. Thứ nhất: Tăng cường  
mối quan hệ giữa phong trào công nhân ở các nước đế quốc với phong trào cách mạng ở  
các nước thuộc địa. Thứ hai: Vai trò quan trọng và sự cần thiết phải tổ chức, lãnh đạo giai  
cấp nông dân ở các nước thuộc địa. Thứ ba: Vai trò đặc biệt quan trọng của chủ nghĩa dân  
tộc:  
“chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước”.  
+ Từ 11/ 1924 đến 2/1930 Nguyễn Ái Quốc hoạt động ở Quảng Châu (Trung Quốc), ở  
nhiều nước khác và tích cực chuẩn bị các điều kiện để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.  
13  
Personal Learning Document of Tran Duy Phuong  
Để chuẩn bị về mặt tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, tháng 6/1925, sau  
khi về đến Quảng Châu - Trung Quốc, Người đã thành lập ở đó Hội Việt Nam cách mạng  
thanh niên .  
Để chuẩn bị về tư tưởng - chính trị cho việc thành lập Đảng, lãnh tụ Nguyến Ái  
Quốc đã vạch ra những phương hướng cơ bản về chiến lược và sách lược của cách mạng  
giải phóng dân tộc ở Việt Nam trong tác phẩm Đường kách mệnh( được in năm 1927).  
Nội dung cơ bản của tác phẩm Đường Kách mệnh như sau:  
Thứ nhất: Khi phân tích tính chất của các cuộc cách mạng điển hình như cách mạng Mỹ  
(1776), cách mạng Pháp (1789), Nguyễn Ái Quốc đã kết luận: cách mạng Pháp, cách mạng  
Mỹ là “cách mạng không đến nơi”, chỉ có cách mạng tháng Mười Nga là thành công triệt  
để vì “dân chúng số nhiều được hưởng cái hạnh phúc, tự do, bình đẳng”. Vì vậy, cách  
mạng Việt Nam cần đi theo con đường cách mạng triệt để - con đường cách mạng vô sản.  
Tính chất của cách mạng Việt Nam sẽ là cách mạng giải phóng dân tộc - một bộ phận của  
cách mạng vô sản, mở đường tiến lên CNXH.  
Thứ hai: Bàn về lực lượng cách mạng: "Cách mạng là việc chung của cả dân chúng chứ  
không phải là việc của một hai người", việc giải phóng dân tộc chủ yếu là do nhân dân ta  
tự làm lấy, trong đó công nông là gốc của cách mạng.  
Thứ ba: Bàn về đoàn kết quốc tế: Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế  
giới, vì vậy cần được sự giúp đỡ của quốc tế.  
Thứ tư: Bàn về phương pháp cách mạng: Phải giác ngộ và tổ chức quần chúng cách mạng,  
làm cho quần chúng hiểu rõ mục đích cách mạng, đoàn kết để đánh đổ giai cấp áp bức  
mình.  
Thứ năm: Bàn về vai trò của Đảng: cách mạng muốn thắng lợi thì trước hết phải có Đảng  
cách mạng để ở trong thì tổ chức lãnh đạo dân chúng, ở ngoài thì liên lạc với giai cấp vô  
sản và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Đảng có vững thì cách mạng mới thành  
công. Đảng muốn vững phải có chủ nghĩa làm nền tảng. “Chủ nghĩa chân chính nhất là chủ  
nghĩa Lênin”.  
Như vậy, tác phẩm Đường Kách mệnh đã trực tiếp chuẩn bị về tư tưởng chính trị cho việc  
thành lập Đảng và là cơ sở để hình thành nên Chính cương vắn tắt sau này.  
* Sự phát triển của phong trào yêu nước theo hướng vô sản: Việc truyền bá chủ nghĩa Mác-  
Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước làm dấy lên các cuộc đấu tranh  
mạnh mẽ, đặc biệt là cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân.  
-
Trước năm 1919, phong trào công nhân mang tính chất tự phát, chủ yếu dưới các  
hình thức sơ khai như: bỏ trốn tập thể, phá giao kèo, đốt lán trại, đánh cai ký sau đó phát  
triển thành những hình thức: bãi công, biểu tình ở các quy mô nhỏ. Ví dụ như cuộc bãi công  
của 200 công nhân viên chức ngành Liên hiệp thương mại Đông Dương (1907)…  
-
Từ năm 1919-1925 giai cấp công nhân phát triển mạnh mẽ về số lượng, chất lượng.  
Phong trào dần mang tính tự giác. Nhiều cuộc bãi công lớn đã nổ ra  
Từ năm 1926-1929, phong trào công nhân phát triển mạnh mẽ hơn dưới sự lãnh đạo  
-
và hoạt động của hội Việt Nam cách mạng thanh niên.  
14  
Personal Learning Document of Tran Duy Phuong  
-
Song song với các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân là phong trào đấu tranh  
của nông dân.  
-
Điều cần nói ở đây là phong trào công nhân và phong trào nông dân đã có tác dụng  
hỗ trợ lẫn nhau. Nông dân đã quyên tiền ủng hộ công nhân hoặc che chở, đùm bọc công  
nhân khi phải về thôn quê tạm lánh địch khủng bố…  
* Sự ra đời của các tổ chức cộng sản ở Việt Nam.  
Cuối năm 1928-1929, phong trào công nhân và phong trào yêu nước phát triển mạnh mẽ  
và mang tính thống nhất trong cả nước đòi hỏi phải có sự lãnh đạo thống nhất của một Đảng  
cách mạng. Việt Nam cách mạng thanh niên đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử là chuẩn bị  
cho sự ra đời của Đảng Cộng sản ở nước ta và giờ đây không còn phù hợp để lãnh đạo  
phong trào. Xu thế thành lập một Đảng cộng sản đã chín muồi.  
-
Phong trào Vô sản hóa (1928) của HVNCMTN diễn ra mạnh mẽ nhất ở Bắc Kỳ, làm  
cho phong trào cách mạng ở đây phát triển sôi nổi hơn, yêu cầu thành lập đảng Cộng sản  
vì thế cũng xuất hiện sớm hơn. Cuối tháng 3/1929, tại 5D - Hàm Long- Hà Nội một số hội  
viên tiên tiến của Hội VNCMTN ở kỳ bộ Bắc Kỳ lập ra chi bộ cộng sản đầu tiên ở Việt  
Nam gồm 7 người do đồng chí Trần Văn Cung làm bí thư chi bộ.  
-
Tháng 5 năm 1929, tại Đại hội lần thứ nhất Hội VNCMTN ở Hương Cảng - Trung  
Quốc, đoàn Đại biểu kỳ bộ Bắc Kỳ đề nghị giải tán tổ chức Thanh Niên và thành lập Đảng  
Cộng sản. Nhưng đề nghị đó không được chấp nhận nên đoàn đại biểu Bắc Kỳ rút khỏi Đại  
Hội về nước.  
-
Ngày 17/6/1929, tại 312 Khâm Thiên, Hà Nội, đại biểu các tổ chức cộng sản ở miền  
Bắc họp Đại hội và quyết định thành lập Đông Dương cộng sản Đảng, thông qua Tuyên  
ngôn, Điều lệ Đảng, xuất bản báo Búa Liềm, cử ra BCH TƯ lâm thời của Đảng. Sự ra đời  
của Đông Dương Cộng sản Đảng là sự kiện đột phá chính thức kết thúc vai trò của Hội  
VNCMTN.  
-
Trước tình hình đó, một số hội viên tiên tiến của Việt Nam cách mạng thanh niên ở  
Trung Kỳ và Nam Kỳ cũng vạch ra kế hoạch thành lập tổ chức cộng sản.  
+ An Nam cộng sản Đảng: Trước sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng và nhu cầu  
của phong trào cách mạng, các đồng chí trong VNCMTN hoạt động ở Trung Quốc và Nam  
Kỳ đã thành lập An Nam cộng sản Đảng vào tháng 8/1929.  
+ Đông Dương cộng sản liên đoàn: Sự ra đời của Đông Dương cộng sản Đảng và An Nam  
cộng sản Đảng đã tác động mạnh mẽ đến sự phân hoá của Tân Việt cách mạng Đảng. Những  
đảng viên tiên tiến của tổ chức này đã tách ra lập các chi bộ cộng sản, xúc tiến chuẩn  
bị mở đại hội thành lập Đảng. Tháng 9/1929 họ ra tuyên đạt về việc thành lập Đông Dương  
cộng sản liên đoàn.  
Như vậy, chỉ trong một thời gian rất ngắn, ở Việt Nam đã ra đời 3 tổ chức Cộng sản.  
Câu 2. Nội dung Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng và ý nghĩa lịch sử và giá trị  
của nó?  
Khái niệm:  
15  
Personal Learning Document of Tran Duy Phuong  
+ Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam là khái niệm chỉ hệ thống quan điểm,  
chủ trương, chính sách về mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp của cách mạng  
Việt Nam do Đảng Cộng sản đề ra trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam.  
Phân tích:  
Tuy chỉ “vắn tắt” nhưng các văn kiện do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo đã xác định một  
cách có hệ thống các vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam:  
-
Về phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam: Làm "tư sản dân quyền  
cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản".  
Về nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng: trên 3  
-
phương diện chính:  
+Về chính trị: Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến, làm cho nước Việt Nam  
hoàn toàn độc lập; dựng ra chính phủ công nông binh; tổ chức ra quân đội công nông.  
+ Về kinh tế: Thủ tiêu hết quốc trái, thu hết sản nghiệp lớn của đế quốc Pháp tư bản giao  
cho chính phủ công nông; tịch thu hết ruộng đất của đế quốc làm của công và chia cho dân  
cày nghèo; miễn thuế cho dân nghèo; thi hành luật ngày làm 8 giờ…  
+ Về văn hoá, xã hội: Dân chúng được tự do tổ chức; nam nữ được bình quyền; phổ thông  
giáo dục theo hướng công nông hoá.  
Những nhiệm vụ trên đây thể hiện đầy đủ yếu tố dân tộc và dân chủ, chống đế quốc và  
chống phong kiến trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội…Trong đó,  
chống đế quốc, giành độc lập dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu.  
-
Về lực lượng cách mạng: cương lĩnh xác định đối với từng giai cấp:  
+ Công nhân: Đảng phải vận động và thu phục được đông đảo công nhân làm cho giai cấp  
công nhân lãnh đạo được dân chúng.  
+ Nông dân: Đảng phải thu phục được đông đảo nông dân, dựa vững vào nông dân nghèo  
để lãnh đạo họ làm cách mạng ruộng đất.  
+ Đảng phải lôi kéo được tiểu tư sản, trí thức, trung nông đi về phía giai cấp vô sản, lợi  
dụng hoặc trung lập phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư sản Việt Nam. Bộ phận nào đã ra  
mặt phản cách mạng thì phải đánh đổ… Trong khi liên lạc với các giai cấp phải thận trọng,  
không đi vào con đường thoả hiệp.  
Như vậy, lực lượng cách mạng theo quan điểm của Nguyễn Ái Quốc là hết sức rộng rãi.  
-
Về lãnh đạo cách mạng: giai cấp vô sản là lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt Nam.  
Đảng là đội tiên phong của giai cấp vô sản để lãnh đạo cách mạng Việt Nam đấu tranh  
nhằm giải phóng toàn thể đồng bào bị áp bức, bóc lột.  
-
Về quan hệ quốc tế: Cách mạng Việt Nam là bộ phận của cách mạng thế giới. Đảng  
phải liên kết với những dân tộc bị áp bức và quần chúng vô sản trên thế giới, nhất là với  
quần chúng vô sản Pháp.  
* Giá trị của Cương lĩnh chính trị  
Giá trị lý luận của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng  
16  
Personal Learning Document of Tran Duy Phuong  
+ Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng đã phản ánh một cách súc tích các luận điểm cơ  
bản của cách mạng Việt Nam. Trong đó, thể hiện bản lĩnh chính trị độc lập, tự chủ, sáng  
tạo trong việc đánh giá đặc điểm, tính chất xã hội thuộc địa nửa phong kiến Việt Nam trong  
những năm 20 của thế kỷ XX, chỉ rõ những mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu của dân tộc Việt  
Nam lúc đó, đặc biệt là việc đánh giá đúng đắn, sát thực thái độ các giai tầng xã hội đối với  
nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Từ đó, đã xác định đường lối chiến lược và sách lược của  
cách mạng Việt Nam, đồng thời xác định phương pháp cách mạng, nhiệm vụ cách mạng và  
lực lượng của cách mạng để thực hiện đường lối chiến lược và sách lược đã đề ra.  
+
Những nội dung cơ bản của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng là sự vận dụng  
đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của một nước thuộc địa  
nửa phong kiến. Đó chính là giải quyết đúng đắn các mối quan hệ cốt lõi trong cách mạng  
Việt Nam: kết hợp đúng đắn vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc; kết hợp truyền thống yêu  
nước và tinh thần cách mạng của nhân dân ta với những kinh nghiệm của cách mạng thế  
giới; kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Đặc biệt là sự kết hợp  
nhuần nhuyễn và đầy sáng tạo, đặc điểm thực tiễn, yêu cầu của cách mạng Việt Nam với  
tư tưởng tiên tiến cách mạng của thời đại. Vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn  
cách mạng Việt Nam một cách đúng đắn, sáng tạo và có phát triển trong điều kiện lịch sử  
mới.  
+ Những nội dung cơ bản ấy đã khẳng định lần đầu tiên cách mạng Việt Nam có một bản  
cương lĩnh chính trị phản ánh được quy luật khách quan của xã hội Việt Nam, đáp ứng  
những nhu cầu cơ bản và cấp bách của xã hội Việt Nam, phù hợp với xu thế của thời đại,  
định hướng chiến lược đúng đắn cho tiến trình phát triển của cách mạng Việt Nam.  
Giá trị thực tiễn của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng  
+
Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ khi Đảng ra đời đến nay đã khẳng định sự đúng đắn  
của Cương lĩnh chính trị đầu tiên. Đi theo Cương lĩnh ấy, trong suốt 85 năm qua dân tộc  
Việt Nam đã thay đổi cả vận mệnh của dân tộc, thay đổi cả thân phận của người dân và  
từng bước khẳng định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.  
+
Thực hiện đường lối chiến lược được hoạch định trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên  
của Đảng, Việt Nam từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập,  
tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa; nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ  
đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước ta đã ra khỏi tình trạng nước  
nghèo, kém phát triển, đang đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, có quan hệ quốc tế  
rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới.  
* Ý nghĩa của Cương lĩnh:  
17  
Personal Learning Document of Tran Duy Phuong  
-
-
Đây là Cương lĩnh cách mạng đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam.  
Cương lĩnh đã xác định đúng 2 nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến của  
cách mạng Việt Nam trên cơ sở thấu hiểu 2 mâu thuẫn cơ bản của xã hội thuộc địa nửa  
phong kiến nên đã giải quyết và đáp ứng đúng những nhu cầu bức xúc của lịch sử lúc đó.  
-
Cương lĩnh cũng xác định đúng trong mối quan hệ giữa 2 nhiệm vụ thì chống đế  
quốc là nhiệm vụ hàng đầu và để thực hiện nhiệm vụ nặng nề đó thì lực lượng cách mạng  
phải hết sức rộng mở. Đây là sự sáng tạo lớn của Nguyễn Ái Quốc xuất phát từ sự thấu  
hiểu yêu cầu và đặc điểm của một xã hội thuộc địa- phong kiến. Thủ tướng Phạm Văn Đồng  
sau này đã nhận xét: “Vào thời điểm ấy (tức những năm 20-30), hệ thống luận điểm của Hồ  
Chí Minh mới mẻ đến kỳ lạ, khó lòng tưởng tượng” và đã mở ra một hướng phát triển mới  
cho dân tộc Việt Nam.  
-
Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử, Cương lĩnh chỉ ở dạng “vắn tắt” nên nhiều vấn đề  
chưa được giải thích cụ thể. Những vấn đề đó sẽ được bổ sung, cụ thể hóa trong công cuộc  
lãnh đạo đấu tranh giành chính quyền của Đảng ở giai đoạn sau.  
Kết luận:  
Câu 3. Trình bày hoàn cảnh quốc tế trực tiếp tác động đến sự ra đời của Đảng Cộng  
sản Việt Nam.  
Khái niệm:  
+ Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam là khái niệm chỉ hệ thống quan điểm,  
chủ trương, chính sách về mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp của cách mạng  
Việt Nam do Đảng Cộng sản đề ra trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam.  
Phân tích:  
- Sự chuyển biến của chủ nghĩa tư bản và hậu quả của nó  
+ Từ nửa sau thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản phương Tây chuyển nhanh từ giai đoạn tự do  
cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền (giai đoạn đế quốc chủ nghĩa).  
+ Đến đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa đế quốc đã hoàn thành việc phân chia thị trường thế giới.  
Sự thống trị của chủ nghĩa đế quốc đã dẫn đến những thay đổi lớn:  
+ Đời sống của các nước thuộc địa bị thay đổi mạnh mẽ cả về kinh tế, cơ cấu xã hội và ý  
thức dân tộc. Sự phản ứng găy gắt của các nước thuộc địa đã làm cho phong trào chống chủ  
nghĩa đế quốc, giành độc lập cho các dân tộc thuộc địa trở thành vấn đề có tính chất thời  
đại, thành một dòng thác cách mạng mới.  
+ Xuất hiện 2 mâu thuẫn mới của thời đại là mâu thuẫn giữa Đế quốc và Đế quốc vì thuộc  
địa và mâu thuẫn giữa các nước thuộc địa và Đế quốc. Những mâu thuẫn này ngày càng  
phát triển mạnh mẽ, đòi hỏi phải được giải quyết và đó chính là tiền đề cho các cuộc chiến  
tranh thế giới và cách mạng vô sản.  
- Ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin  
+ Vào giữa thế kỷ XIX, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân chống chủ nghĩa tư  
bản phát triển mạnh đòi hỏi phải có hệ thống lý luận khoa học với tư cách là vũ khí tư tưởng  
của giai cấp mình. Chủ nghĩa Mác-Lênin ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu đó.  
18  
Personal Learning Document of Tran Duy Phuong  
+ Với khẩu hiệu “vô sản các nước liên hiệp lại”, chủ nghĩa Mác- Lênin dẫn đến sự hình  
thành các tổ chức công nhân quốc tế như: Quốc tế I (1864-1876), Quốc tế II (18891923),  
Quốc tế III (1919-1943).  
+ Từ khi chủ nghĩa Mác – Lênin được truyền bá vào Việt Nam, phong trào yêu nước, phong  
trào công nhân phát triển theo khuynh hướng cách mạng vô sản.  
+ Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc đại của Lenine  
mở ra con đường giải phóng các dân tộc bị áp bức trên lập trường cách mạng vô sản.  
+ Muốn giành được thắng lợi trong cuộc đấu tranh, giai cấp công nhân phải lập ra chính  
Đảng của mình và chủ nghĩa Mác - Lênin trở thành một trong những yếu tố quan trọng  
dẫn tới sự ra đời và là nền tảng tư tưởng của các Đảng Cộng sản ở nhiều nước trên thế giới,  
trong đó có Đảng Cộng sản Việt Nam.  
- Tác động của cách mạng Tháng Mười Nga  
+ Sau khi cách mạng Tháng Mười Nga thành công (1917), Nhà nước Xô Viết ra đời đã mở  
ra một thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, “thời đại  
cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc”, nêu tấm gương sáng trong việc giải  
phóng các dân tộc bị áp bức. Từ đó, chủ nghĩa Mác-Lênin từ lý luận đã trở thành hiện thực.  
+ Cách mạng Tháng Mười Nga là một sự kiện mang tầm vóc quốc tế và có ý nghĩa lịch sử  
to lớn:  
• CMT 10 Nga đã tạo ra mô hình cách mạng mới do giai cấp vô sản lãnh đạo cho rất  
nhiều dân tộc đi theo.  
• CMT 10 Nga còn mang ý nghĩa của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc nên đã “mở  
ra trước mắt các dân tộc bị áp bức một thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại  
giải phóng dân tộc” .  
- Sự ra đời của quốc tế cộng sản tháng 3/1919:  
+ Tháng 3/1919, Quốc tế Cộng Sản được thành lập và thúc đẩy mạnh mẽ phong trào cộng  
sản và công nhân quốc tế theo con đường cách mạng triệt để.  
+ Quốc tế cộng sản với khẩu hiệu’’ Vô sản các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại’’  
là tổ chức quốc tế duy nhất lúc đó quan tâm, giúp đỡ và chỉ đạo phong trào cách mạng giải  
phóng dân tộc ở thuộc địa nên tổ chức này có ảnh hưởng lớn tới phong trào cách mạng ở  
đó.  
+ Đối với Việt Nam, Quốc tế cộng sản có vai trò quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa  
MácLênin, trong việc thành lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam và cả chủ trương, đường lối  
của Đảng ta trong một thời gian nhất định. Nguyễn Ái Quốc đã nhấn mạnh vai trò của tổ  
chức này đối với Việt Nam như sau: “An Nam muốn cách mệnh thành công thì phải nhờ  
Đệ tam quốc tế”.  
Kết luận:  
Câu 4. Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến và tư sản cuối thế kỉ  
XIX đầu thế kỷ XX và ý nghĩa của các phong trào đó  
Khái niệm:  
19  
Personal Learning Document of Tran Duy Phuong  
Tải về để xem bản đầy đủ
docx 150 trang Thùy Anh 15780 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đề cương ôn tập môn Đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • docxde_cuong_on_tap_mon_duong_loi_cua_dang_cong_san_viet_nam.docx