Tóm tắt đề tài Nâng cao năng lực dạy học cho giáo viên người dân tộc thiểu số cấp tiểu học và trung học cơ sở tỉnh Hòa Bình góp phần đổi mới giáo dục phổ thông
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÒA BÌNH
TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM
BÁO CÁO TÓM TẮT
KẾT QUẢ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ ĐỀ TÀI
NÂNG CAO NĂNG LỰC DẠY HỌC
CHO GIÁO VIÊNNGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ
CẤP TIỂU HỌC VÀ TRUNG HỌC CƠ SỞ
TỈNH HÒA BÌNH GÓP PHẦN ĐỔI MỚI GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU: KHOA HỌC XÃ HỘI NHÂN VĂN
Chủ nhiệm đề tài: Bùi Trọng Đắc
Tổ chức chủ trì: Trường CĐSP HÒA BÌNH
Thời gian thực hiện: Từ tháng 8 năm 2016 đến tháng 12 năm 2017
HÒA BÌNH - 2018
- 1-
1. Cơ quan quản lý đề tài: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình
2. Cơ quan phối hợp thực hiện đề tài:
- Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Hòa Bình
- Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Mai Châu,
- Phòng Giáo dục và Đào tạo Đà Bắc,
3. Cơ quan chủ trì đề tài: Trường Cao đẳng Sư phạm Hòa Bình
4. Chủ nhiệm đề tài:
- Ông Bùi Trọng Đắc - Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Hòa Bình
5. Các thành viên tham gia đề tài:
- Bà Bùi Thị Kim Tuyến - Hiệu trưởng, trường CĐSP Hòa Bình, Thư ký đề tài
- Bà Lê Thị Thu Hương - Phó trưởng phòng QLKH-BD, trường CĐSP Hòa Bình,
thành viên
- Ông Hoàng Minh Hảo - Trưởng khoa THCS, trường CĐSP Hòa Bình, thành viên
- Ông Bùi Văn Dược - Trưởng khoa Tiểu học, trường CĐSP Hòa Bình, thành viên
- Ông Quách Công Sơn - tổ trưởng tổ LLCT, trường CĐSP Hòa Bình thành viên
- Ông Đặng Trọng Nghĩa, Trưởng phòng KT&ĐBCL, trường CĐSP Hòa Bình,
thành viên
- Ông Lương Việt Hùng, Chuyên viên phòng TCCB, Sở GD&ĐT, thành viên
- Bà Nguyễn Thị Hồng Diễm, Trưởng phòng GD TH, Sở GD&ĐT, thành viên
- Ông Nguyễn Duy Tiến, Phó trưởng phòng GD TrH, Sở GD&ĐT, thành viên
- 2-
PHẦN 1. MỞ ĐẦU
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Để đáp ứng yêu cầu đổi mới của giáo dục Tiểu học (TH) và Trung học cơ sở (THCS),
việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, trong đó chú trọng về nâng cao năng lực dạy
học trở thành một nhu cầu cấp bách trên phạm vi quốc gia. Trong khi, đặc trưng của
chương trình giáo dục phổ thông mới hiện nay là thể hiện mục tiêu giáo dục phổ thông; quy
định những yêu cầu về phẩm chất và năng lực của học sinh cần đạt được sau mỗi cấp học,
phạm vi và cấu trúc nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách
thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học, hoạt động giáo dục ở mỗi lớp và mỗi
cấp học của giáo dục phổ thông.(1)
Sự thay đổi quan trọng này đòi hỏi đội ngũ giáo viên TH và THCS cần phải nhanh
chóng tiếp cận với các đổi mới về kiến thức mới, không ngừng cập nhật, nâng cao kiến
thức, năng lực dạy học để đáp ứng nhiệm vụ. Đây là một thách thức lớn đối với đa số đội
ngũ giáo viên TH và THCS hiện có của tỉnh Hòa Bình, đặc biệt là giáo viên người dân tộc
thiểu số bởi những hạn chế và bất cập về đặc điểm địa lý, kinh tế và xã hội vùng miền.
Trên địa bàn tỉnh Hòa Bình hiện có 04 nhóm dân tộc được coi là nhóm dân tộc thiểu
số, gồm: H’mông, Thái, Dao, và Tày. Điều kiện sinh hoạt, đi lại khó khăn, đặc trưng văn
hóa vùng miền có nhiều rào cản đã tạo ra những hạn chế lớn đến khả năng tiếp cận các dịch
vụ xã hội cơ bản như giáo dục và đào tạo (Ủy ban Dân tộc, 2010). Việc khảo sát, đánh giá
thực trạng đội ngũ giáo viên TH và THCS trên địa bàn tỉnh là một yêu cầu, một đòi hỏi cấp
thiết trong giai đoạn hiện nay nhằm tìm ra các giải pháp bồi dưỡng và khắc phục những
năng lực còn thiếu của đội ngũ giáo viên này, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục tại địa
bàn và công tác đổi mới giáo dục toàn diện của tỉnh.
Đề tài “Nâng cao năng lực dạy học cho giáo viên người dân tộc thiểu số cấp tiểu học
và trung học cơ sở tỉnh Hòa Bình góp phần đổi mới giáo dục phổ thông” hướng tới việc
đánh giá đúng thực trạng hiện tại về năng lực dạy học của đội ngũ giáo viên người dân tộc
thiểu số ở bậc TH và THCS tỉnh Hòa Bình, trên cơ sở đó tìm ra những giải pháp phù hợp
với điều kiện cụ thể của đại phương, của ngành để nâng cao năng lực dạy học cho đội ngũ
giáo viên người dân tộc, đáp ứng yêu cầu đổi mới toàn diện về giáo dục đào tạo.
2. Đối tượng nghiên cứu
Một số giải pháp nâng cao năng lực dạy học cho đội ngũ giáo viên người dân tộc
thiểu số đang giảng dạy tại các trường TH và THCS tỉnh Hòa Bình.
3. Phạm vi đề tài
Đề tài tập trung khảo sát thực trạng năng lực dạy học của giáo viên người dân tộc
thiểu số bậc TH và THCS. Trên cơ sở đó, đề tài nghiên cứu tìm ra các giải pháp phù hợp
nhằm nâng cao năng lực dạy học cho đội ngũ giáo viên người dân tộc thiểu số đang giảng
1 Bộ GD&ĐT, 2015, tr. 10.
- 3-
dạy bậc TH và THCS, góp phần đáp ứng yêu cầu về đổi mới chương trình và sách giáo
khoa phổ thông theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban chấp
hành Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.
II. MỤC TIÊU ĐỀ TÀI
Mục tiêu chung: Nâng cao năng lực dạy học cho giáo viên người dân tộc thiểu số cấp
Tiểu học và Trung học cơ sở tỉnh Hòa Bình.
Mục tiêu cụ thể:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về nâng cao năng lực dạy học.
- Đánh giá thực trạng năng lực dạy học của giáo viên người dân tộc thiểu số bậc TH
và THCS tỉnh Hòa Bình.
- Đề xuất và kiểm chứng giải pháp nâng cao năng lực dạy học cho đội ngũ giáo viên
người dân tộc thiểu số đang giảng dạy bậc TH và THCS của tỉnh Hòa Bình góp phần đổi
mới giáo dục phổ thông.
III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu các văn kiện chính trị của Đảng và Nhà nước, Luật giáo dục, các nghị
quyết của Quốc hội và Chính phủ về đổi mới giáo dục và đào tạo, các tiêu chí đánh giá chất
lượng giáo viên TH và THCS. Nghiên cứu các tài liệu, công trình khoa học về giáo dục liên
quan đến đề tài;
- Nghiên cứu các tài liệu về khái niệm giáo viên TH, giáo viên THCS, các yếu tố cấu
thành năng lực dạy học và các phương pháp đánh giá năng lực dạy học của giáo viên bậc
TH và THCS;
- Các văn bản, tài liệu liên quan đến đổi mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục
phổ thông, đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý và giáo viên phổ thông của
các cơ sở đào tạo giáo viên.
3.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Đề tài sử dụng các phiếu điều tra khảo sát về thực trạng số lượng, chất lượng, trình
độ, năng lực dạy học của đội ngũ giáo viên người dân tộc thiểu số đang giảng dạy tại các
trường TH và THCS trên địa bàn tỉnh Hòa Bình. Dự kiến lựa chọn các trường TH và THCS
trên địa bàn 02 huyện Đà Bắc và Mai Châu, nơi tập trung nhiều giáo viên người dân tộc
thiểu số (Thái, Dao, Tày, H’Mông).
- Đề tài sử dụng phương pháp quan sát (dự giờ) giáo viên giảng dạy trên lớp học. Kết
quả sẽ được dùng để đánh giá thực trạng năng lực giảng dạy của giáo viên.
- Đề tài sử dụng phương pháp phỏng vấn các nhà quản lý giáo dục về vấn đề nâng cao
năng lực đội ngũ giáo viên người dân tộc thiểu số bậc TH và THCS.
- Đề tài dùng phiếu điều tra khảo sát các nhà quản lý giáo dục, giáo viên TH và
THCS, giảng viên CĐSP về tính cấp thiết và khả thi của các giải pháp nâng cao năng lực
đội ngũ giáo viên người dân tộc thiểu số bậc TH và THCS.
3.3 Đối tượng tham gia đề tài
- Địa bàn khảo sát: Các trường TH và THCS thuộc phòng GD&ĐT hai huyện Đà Bắc
và Mai Châu.
- 4-
- Điều tra khảo sát bằng phiếu hỏi: 200 GV người dân tộc thiểu số
- Dự giờ: 160 giờ dạy của GV dân tộc thiểu số (80 giờ dạy ở trường TH và 80 giờ dạy
ở trường THCS)
- Phỏng vấn nhà quản lý: 40 cán bộ quản lý (20 CBQL trường TH, 20 CBQL trường
THCS).
- Điều tra khảo sát bằng phiếu hỏi về tính cấp thiết, tính khả thi của các giải pháp: 40
cán bộ quản lý giáo dục các cấp, 100 GV dân tộc thiểu số, 10 giảng viên CĐSP.
IV. THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
- Tháng 01 - 8/2016: Xây dựng đề cương, hoàn thiện hồ sơ đề tài.
- Tháng 9/2016 - 12/2016: Thực hiện chương 1; xây dựng mẫu phiếu hỏi cho khảo sát
và phỏng vấn về thực trạng năng lực dạy học của đội ngũ GV dân tộc thiểu số, mẫu phiếu
dự giờ;
- Tháng 01/2017 - 4/2017: Tiến hành khảo sát, xử lý số liệu về thực trạng năng lực
dạy học của đội ngũ giáo viên dân tộc thiểu số.
- Tháng 5 - 9/2017: Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp; Hội thảo báo cáo về mục tiêu,
nội dung, cách thức thực hiện và điều kiện thực hiện các biện pháp đề xuất; xin ý kiến về
tính tính cấp thiết và khả thi của các giải pháp.
- Tháng 10- 12/2017: Thực nghiệm, hoàn thiên đề tài
PHẦN 2: NỘI DUNG BÁO CÁO
A. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
I. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1. NỘI DUNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC DẠY
HỌC CHO GIÁO VIÊN TIỂU HỌC VÀ TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
a) Các công trình nghiên cứu nước ngoài
b) Các công trình nghiên cứu trong nước
* Những định hướng chiến lược của Đảng, Nhà nước, của ngành giáo dục đào tạo về
phát triển nguồn nhân lực trong giáo dục và đào tạo:
Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban chấp hành Trung ương
(BCHTW) 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã chỉ ra nhiệm vụ
của các trường sư phạm. [1]
Để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, Nghị quyết đại hội Đảng bộ Tỉnh Hòa
Bình lần thứ XVI đã chỉ ra mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp cho ngành giáo dục là: "... đổi
mới mạnh mẽ, đồng bộ, toàn diện và thực chất các điều kiện đảm bảo chất lượng đưa sự
nghiệp giáo dục và đào tạo phát triển theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa...nâng cao dân
trí..., tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đủ năng lực, trình độ và phẩm chất đáp ứng yêu
cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và
hội nhập quốc tế; tạo chuyển biến căn bản, rõ nét về chât lượng, hiệu quả hướng tới mục
tiêu xây dựng sự nghiệp giáo dục và đào tọa phát triển bền vững, đồng bộ trên nền tảng xã
hội học tập tiến bộ..." [16.11].
- 5-
* Những công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến vấn đề nâng cao năng lực dạy
học cho đội ngũ giáo viên người dân tộc thiểu số:
Nghiên cứu về phát triển đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên vùng đặc biệt khó khăn
có công trình "Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý ngành giáo dục ở vùng đặc biệt khó khăn
khu vực miền núi phía bắc Việt Nam" của các tác giả Nguyễn Văn Lộc, Nguyễn Văn Hộ và
Nguyễn Thị Tính (2013).[14]
Nguyễn Xuân Ngạn (2011) trong công trình nghiên cứu "Vấn đề chính sách đối với
giáo viên phổ thông đang công tác ở miền núi" đã đề cập tới chính sách hiện hành của Nhà
nước đối với đội ngũ giáo viên đang công tác ở miền núi trên các vấn đề: chính sách tuyển
chọn, chính sách đào tạo và bồi dưỡng giáo viên, chính sách sử dụng giáo viên, chính sách
đãi ngộ giáo viên. [15].
Bùi Thị Ngọc Diệp (2004), trong bài viết: Vấn đề đào tạo cán bộ người dân tộc thiểu
số phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đổi mới đất nước, cho rằng: Lực lượng
cán bộ người dân tộc thiểu số còn thiếu và yếu. Ở các tỉnh miền núi phía Bắc tình trạng
thiếu cán bộ dân tộc thiểu số trầm trọng nhất là hai dân tộc H'Mông và Dao. Từ thực trạng
tác giả đã đưa ra kiến nghị đề nghị Ủy ban Dân tộc hệ thống và rà soát toàn bộ chế độ chính
sách đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số từ trước đến nay làm cơ sở cho việc nghiên cứu, chỉnh
sửa, đề xuất mới phù hợp với giai đoạn hiện nay.[8]
Tương tự như vậy, Mai Công Khanh (2008), trong bài: Giáo dục và đào tạo với phát
triển nguồn nhân lực cho miền núi, vùng dân tộc thiểu số, cũng đề cập đến tính cấp thiết
của việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho khu vực miền núi, vùng dân tộc thiểu số.
[13.8]
Trong bài: Về mô hình đào tạo cán bộ quản lý dân tộc thiểu số từ các trường đại học,
Phạm Hồng Quang (2008) đề cập đến vấn đề đào tạo giáo viên kết hợp với đào tạo cán bộ
quản lý giáo dục là người dân tộc thiểu số từ các trường cao đẳng, đại học, đặc biệt từ các
trường cao đẳng, đại học sư phạm miền núi. [18]
Về năng lực dạy học của giáo viên phổ thông, tác giả Bùi Minh Hiền, Nguyễn Vũ
Bích Hiền (2015) trong công trình "Quản lí và lãnh đạo nhà trường" đã bàn về một khía
cạnh của năng lực dạy học đó là năng lực tự chủ chuyên môn của giáo viên. Ngoài ra, công
trình còn bàn về năng lực đánh giá của giáo viên theo quan điểm vì sự tiến bộ của người
học [10]. Vũ Xuân Hùng (2012).[12] nghiên cứu những vấn đề về dạy học hiện đại và
nâng cao năng lực dạy học cho giáo viên. Tác giả Phan Trọng Ngọ (2015), với bài viết
trong tạp chí khoa học Volumn 6, trường ĐHSP Hà Nội đã đề xuất một số giải pháp về bồi
dưỡng năng lực dạy học giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông. [17]
Trong đề tài khoa học cấp tỉnh năm 2007, trường CĐSP Hòa Bình đã bàn về thực
trạng năng lực dạy học của đội ngũ giáo viên tiểu học và trung học cơ sở và đề xuất các giải
pháp nhằm nâng cao năng lực dạy học cho đội ngũ giáo viên giai đoạn 2005-2010. [4]
Đề tài “Nâng cao năng lực dạy học cho giáo viên người dân tộc thiểu số cấp tiểu học
và trung học cơ sở tỉnh Hòa Bình góp phần đổi mới giáo dục phổ thông” được xây dựng và
nghiên cứu nhằm đánh giá đúng thực trạng hiện tại và năng lực dạy học của đội ngũ giáo
viên người dân tộc thiểu số bậc tiểu học và THCS tỉnh Hòa Bình. Trên cơ sở đó tìm ra
- 6-
những giải pháp phù hợp với điều kiện của tỉnh, của ngành để nâng cao năng lực dạy học
cho đội ngũ giáo viên người dân tộc, đáp ứng yêu cầu đổi mới toàn diện về giáo dục đào
tạo.
1.2. Một số khái niệm, thuật ngữ liên quan đến đề tài
a) Dân tộc thiểu số, giáo viên, giáo viên người dân tộc thiểu số:
* Dân tộc thiểu số:
Trong Điều 4, Nghị định số 05/NĐ-CP, ngày 14/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ
về công tác dân tộc, đã định nghĩa “Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn so
với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam"; “Vùng
dân tộc thiểu số” là địa bàn có đông các dân tộc thiểu số cùng sinh sống ổn định thành cộng
đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam"; “Dân tộc thiểu số rất ít
người” là dân tộc có số dân dưới 10.000 người.[21]
* Giáo viên
Giáo viên là chức danh nghề nghiệp của người dạy học trong các trường phổ thông
trường nghề và trường mầm non, đã tốt nghiệp các trường sư phạm, có trình độ sơ cấp,
trung cấp, cao đẳng, đại học [9.169]
Điều 70, Luật Giáo dục năm 2005 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Giáo
dục năm 2009 đã nêu: 1) nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà
trường hoặc các cơ sở giáo dục khác; 2) Nhà giáo phải có những tiêu chuẩn sau đây: a)
Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt; b) Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn,
nghiệp vụ; c) Đủ sức khỏe theo yêu cầu nghể nghiệp; d) Lý lịch bản thân rõ ràng. 3) Nhà
giáo dạy ở các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp trình độ
sơ cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp gọi là giáo viên. Nhà giáo giảng dạy ở các cơ sở giáo
dục đại học, trường cao đẳng gọi là giảng viên. [20]
Giáo viên tiểu học: Theo điều 33- Điều lệ trường Tiểu học- Giáo viên làm nhiệm vụ
giảng dạy, giáo dục học sinh trong trường tiểu học và cơ sở giáo dục khác thực hiện
chương trình giáo dục tiểu học.[2]
Giáo viên trung học cơ sở: Theo Điều 30, Điều lệ trường trung học cơ sở và trung
học phổ thông thì: Giáo viên trường trung học cơ sở là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo
dục trong trường THCS, gồm: Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng, giáo viên bộ môn, giáo viên
làm công tác đoàn thanh niên, giáo viên làm tổng phụ trách Đội thiếu niên Tiền phong Hồ
Chí Minh, giáo viên làm công tác tư vấn học sinh. [2]
* Giáo viên người dân tộc thiểu số
Từ những khái niệm đã nêu ở trên ta có thể hiểu, giáo viên người dân tộc thiểu số là
người làm nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục tại các cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục
phổ thông, cơ sở giáo dục nghề nghiệp có lí lịch, nguồn gốc là người dân tộc thiểu số đang
sinh sống trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Giáo viên
người dân tộc thiểu số cấp tiểu học và trung học cơ sở là giáo viên người dân tộc thiểu số
làm nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục tại các trường tiểu học và trung học cơ sở hoặc các cơ
sở giáo dục có thực hiện chương trình giáo dục tiểu học, trung học cơ sở.
b) Năng lực, năng lực nghề nghiệp, năng lực dạy học
- 7-
* Năng lực:
(2)
Theo Từ điển Tiếng Việt thì "Năng lực là phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con
người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao" [19. 937]
Theo Từ điển Giáo dục học(3) thì "Năng lực là khả năng được hình thành hoặc phát
triển, cho phép một người đạt được thành công trong một hoạt đông thể lực, trí lực hoặc
nghề nghiệp. [9.278]
Theo Nguyễn Công Khanh (2015) Năng lực là khả năng huy động tổng hợp các kiến
thức, kĩ năng và các thuộc tính tâm lí cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí... để thực
hiện thành công một loại công việc trong một bối cảnh nhất định [6.7]
Như vậy, dù phát biểu bằng cách này hay cách khác, các nhà nghiên cứu đều gặp
nhau ở điểm chung khi đưa ra các quan niệm về năng lực, đó là: Năng lực là khả năng thực
hiện; khả năng làm chủ kiến thức, kĩ năng và đặc điểm nhân cách cá nhân để giải quyết một
công việc nào đó của bản thân.
* Năng lực nghề nghiệp:
Theo Từ điển Giáo dục học thì "Năng lực nghề nghiệp là khả năng thực hiện có hiệu
quả một nghề, một chức năng hoặc một số nhiệm vụ chuyên biệt với sự thành thạo cần
thiết. Tùy theo tính chất của công việc có tính nghề nghiêp chuyên môn như đã nêu, năng
lực nghề nghiệp có thể là: năng lực tiến hành độc lập công tác nghiên cứu khoa học và sáng
tạo trong công tác chuyên môn, năng lực thực hiện công tác chuyên môn và nghiên cứu
khoa học trong chuyên ngành của minh hay năng lực vận dụng lí thuyết vào công tác
chuyên môn". [9. 279]
* Năng lực dạy học:
Năng lực dạy học là phẩm chất tâm lí, sinh lí của người giáo viên tạo cho họ khả năng
tổ chức các hoạt động dạy học, tổ chức rèn luyện kĩ năng một cách có hệ thống, có phương
pháp nhằm nâng cao trình độ, phẩm chất đạo đức của người học theo một chương trình nhất
định.
Năng lực dạy học là khả năng truyền lại những tri thức, kinh nghiệm đưa đến những
thông tin khoa học cho người khác tiếp thu một cách có hệ thống, có phương pháp nhằm
mục đích tự nâng cao trình độ văn hóa, năng lực trí tuệ và kĩ năng thực hành trong đời sống
thực tế. [9. 279]
1.3. Hệ thống các năng lực dạy học của người giáo viên
a) Hệ thống năng lực của giáo viên:
* Năng lực xây dựng kế hoạch dạy học:
* Năng lực đảm bảo kiến thức môn học:
* Năng lực đảm bảo chương trình môn học:
* Năng lực vận dụng các phương pháp dạy học:
* Năng lực sử dụng phương tiện dạy học:
* Năng lực xây dựng môi trường học tập:
* Năng lực quản lí hồ sơ dạy học:
2 Hoàng Phê, chủ biên, NXB KHXH, 1994
3 Bùi Hiền, chủ biên, NXB Từ điển bách khoa, 2001
- 8-
* Năng lực kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh:
* Năng lực giáo dục qua môn học:
* Năng lực truyền thông:
b) Chuẩn năng lực giáo viên tiểu học:
Theo Quyết định số: 14/2007/QĐ-BGDĐT về việc Ban hành Chuẩn nghề nghiệp giáo
viên tiểu học, theo đó tiêu chí của chuẩn năng lực được xác định như sau:
(1) Nắm vững mục tiêu, nội dung cơ bản của chương trình, sách giáo khoa của các
môn học được phân công giảng dạy.
(2) Có kiến thức chuyên sâu, đồng thời có khả năng hệ thống hóa kiến thức trong cấp
học để nâng cao hiệu quả giảng dạy đối với các môn học được phân công giảng dạy.
(3) Kiến thức cơ bản trong các tiết dạy đảm bảo đủ, chính xác, có hệ thống.
(4) Thực hiện việc kiểm tra đánh giá, xếp loại học sinh chính xác, mang tính giáo dục
và đúng qui định.
(5) Có khả năng soạn được các đề kiểm tra theo yêu cầu chỉ đạo chuyên môn, đạt
chuẩn kiến thức, kĩ năng môn học và phù hợp với các đối tượng học sinh.
(6) Xây dựng được kế hoạch giảng dạy cả năm học, kế hoạch tháng, kế hoạch tuần thể
hiện các hoạt động dạy học nhằm cụ thể hóa chương trình của Bộ phù hợp với đặc điểm
của nhà trường và lớp được phân công giảng dạy.
(7) Soạn giáo án theo hướng đổi mới, thể hiện các hoạt động dạy học tích cực của
thày và trò (soạn giáo án đầy đủ với môn học dạy lần đầu, sử dụng giáo án có điều chỉnh
theo kinh nghiệm theo một năm giảng dạy).
(8) Lựa chọn và sử dụng hợp lí các phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính
sáng tạo, chủ động trong việc học tập của học sinh; làm chủ được lớp học; xây dựng môi
trường học tập hợp tác, thân thiện, tạo sự tự tin cho học sinh; hướng dẫn học sinh tự học.
(9) Đặt câu hỏi kiểm tra phù hợp đối tượng và phát huy được năng lực học tập của
học sinh, chấm, chữa bài kiểm tra một cách cẩn thận để giúp học sinh học tập tiến bộ.
(10) Có sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học, kể cả đồ dùng dạy học tự làm; biết khai
thác các điều kiện có sẵn để phục vụ giờ dạy, hoặc có ứng dụng phần mềm dạy học, hoặc
làm đồ dung dạy học có giá trị thực tiễn cao.
(11) Lời nói rõ ràng, mạch lạc, không nói ngọng khi giảng dạy và giao tiếp trong
phạm vi nhà trường; viết chữ đúng mẫu; biết cách hướng dẫn học sinh ghi vở sạch, chữ
đẹp.
(12) Lập đủ hồ sơ quản lí quá trình học tập, rèn luyện của học sinh; bảo quản tốt các
bài kiểm tra của học sinh.
(13) Lưu trữ tốt hồ sơ giảng dạy bao gồm giáo án, các tư liệu, tài liệu tham khảo thiết
thực liên quan đến giảng dạy các môn học được phân công giảng dạy.
c) Chuẩn năng lực dạy học của giáo viên Trung học:
Chuẩn năng lực dạy học của giáo viên trung học được ban hành kèm theo Thông tư số
30/2009/TT-BGDĐT ngày 22/10/2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, gồm các
tiêu chuẩn sau:
(1) Xây dựng kế hoạch dạy học
- 9-
(2) Đảm bảo kiến thức môn học
(3) Đảm bảo chương trình môn học
(4) Vận dụng các phương pháp môn học
(5) Sử dụng các phương tiện dạy học: Sử dụng các phương tiện dạy học làm tăng hiệu
quả dạy học.
(6) Xây dựng môi trường học tập
(7) Quản lý hồ sơ dạy học
(8) Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh
1.4. Vai trò của đội ngũ giáo viên tiểu học và trung học cơ sở và của các trường
cao đẳng sư phạm trong việc đào tạo và bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy học cho đội
ngũ giáo viên tiểu học và THCS
a) Vai trò của đội ngũ giáo viên tiểu học và trung học cơ sở:
- Vai trò "người thiết kế
- Vai trò "người tổ chức
- Vai trò "người cổ vũ, lãnh đạo
- Vai trò "người đánh giá
Với tư cách là "Người giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục"
(4) người giáo viên tiểu học và trung học cơ sở không chỉ trang bị cho mình các kiến thức, kĩ
năng sư phạm trong phạm vi chuyên môn hẹp mà còn phải thường xuyên cập nhật, tự học,
tự bồi dưỡng để có thể đáp ứng được yêu cầu phát triển ngày càng cao của sự nghiệp giáo
dục.
b) Vai trò của các trường cao đẳng sư phạm trong việc đào tạo và bồi dưỡng
nâng cao năng lực dạy học cho đội ngũ giáo viên tiểu học và THCS
Cùng với hệ thống các trường sư phạm, trường cao đẳng sư phạm có trách nhiệm to
lớn trong việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên tiểu học, trung học cơ sở có đầy đủ phẩm chất
đạo đức; kiến thức, tri thức khoa học; kĩ năng sư phạm; năng lực dạy học và lí tưởng nghệ
nghiệp. Trường sư phạm có mối quan hệ mật thiết, hữu cơ với hệ thống các trường tiểu
học, trung học cơ sở trong hệ thống giáo dục quốc dân.
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực dạy học và phát triển năng lực dạy của giáo
viên người dân tộc thiểu số cấp TH và THCS khu vực miền núi
a) Điều kiện kinh tế-xã hội:
b) Về các đặc trưng văn hoá:
c) Về quản lý, điều hành và chính sách đãi ngộ:
d) Về phía người học:
Tóm lại: Nội dung 1 dành cho việc cho việc trình bày tổng quan về lịch sử nghiên
cứu vấn đề và những vấn đề lí luận liên quan cần thiết cho việc triển khai công trình nghiên
cứu. Các khái niệm cơ bản liên quan đến công trình đã được làm rõ là: Khái niệm người
dân tộc thiểu số, giáo viên, giáo viên tiểu học, giáo viên trung học cơ sở, giáo viên người
4 Điều 15, Luật Giáo dục năm 2005
- 10-
dân tộc thiểu số cấp tiểu học và trung học cơ sở, năng lực, năng lực nghề nghiệp, năng lực
dạy học.
Những vấn đề quan trọng khác liên quan đến công trình nghiên cứu cũng được đề
cập và luận giải: hệ thống các năng lực dạy học của giáo viên; chuẩn giáo viên tiểu học và
năng lực dạy học của giáo viên tiểu học; chuẩn giáo viên trung học cơ sở và năng lực dạy
học của giáo viên trung học cơ sở; các minh chứng và bộ tiêu chí để đánh giá năng lực dạy
học của giáo viên tiểu học và trung học cơ sở; các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực dạy học
của giáo viên người dân tộc thiểu số cấp tiểu học và trung học cơ sở ở khu vực miền núi.
Những vấn đề trình bày ở nội dung 1 là cơ sở lí luận để triển khai những nội dung liên
quan ở các chuyên đề tiếp theo.
2. NỘI DUNG 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC DẠY HỌC CỦA ĐỘI NGŨ GIÁO
VIÊN NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ CẤP TIỂU HỌC VÀ TRUNG HỌC CƠ SỞ
TỈNH HÒA BÌNH
2.1. Nghiên cứu xây dựng phương pháp thống kê và tiêu chí, chỉ số, quy trình đánh
giá năng lực dạy học của giáo viên người dân tộc thiểu số.
Dựa vào các văn bản qui định của Bộ GD&ĐT qui định về Chuẩn giáo viên tiểu học
(Quyết định số 14/2007 của Bộ Giáo dục đào tạo), Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học
(Thông tư số 30/2009/TT-BGDĐT) để xây dựng phương pháp thống kê và các tiêu chí, chỉ
số, qui trình đánh giá năng lực dạy học của giáo viên người dân tộc thiểu số cấp tiểu học và
trung học cơ sở .
2.2. Nghiên cứu và xây dựng nội dung mẫu phiếu điều tra giáo viên người dân tộc thiểu
số
Gồm 08 mẫu phiếu, cụ thể như sau:
- 02 phiếu xin ý kiến cán bộ QLGD cấp Tiểu học và THCS đánh giá về năng lực dạy
học của giáo viên người dân tộc thiểu số.
- 02 phiếu xin ý kiến giáo viên người dân tộc thiểu số cấp tiểu học và THCS về năng
lực dạy học và các vấn đề liên quan đến năng lực dạy học của bản thân.
- 02 phiếu dự kiến câu hỏi phỏng vấn cán bộ QLGD về thực trạng giáo dục hiện nay
tại các nhà trường.
- 02 phiếu dự giờ giáo viên tiểu học và trung học cơ sở (được xây dựng dựa theo mẫu
phiếu hiện hành của các nhà trường).
2.3. Điều tra về thực trạng năng lực dạy học của giáo viên người dân tộc thiểu số cấp
TH, THCS tại Phòng GD&ĐT huyện Mai Châu và Đà Bắc.
Nhóm nghiên cứu đã tiến hành nghiên cứu về đặc điểm địa lý, kinh tế - xã hội và
những ảnh hưởng của những yếu tố đó đến sựu phát triển giáo dục của 2 huyện Mai Châu
và Đà Bắc.
- Điều tra và thu được 100 phiếu hỏi giáo viên người dân tộc thiểu số cấp tiểu học,
100 phiếu hỏi giáo viên cấp THCS, 40 phiếu hỏi và phiếu phỏng vấ CBQL cấp tiểu học và
trung học cơ sở.
- Dự 160 giờ giáo viên người dân tộc thiểu số (80 tiết tiểu học; 80 tiết THCS).
- Ghi hình 30 tiết giảng. Ghi âm trả lời phỏng vấn của 40 CBQL.
- 11-
2.4. Phân tích, xử lý số liệu và đánh giá, báo cáo kết quả điều tra về thực trạng năng
lực dạy học của giáo viên dân tộc thiểu số cấp TH và THCS
2.4.1. Đặc điểm địa lý, kinh tế xã hội tỉnh Hoà Bình và những ảnh hưởng của nó đến
sự phát triển giáo dục.
a) Đặc điểm về địa lý
Hòa Bình là một tỉnh miền núi, mang tính chất chuyển tiếp từ vùng núi cao Tây Bắc
xuống vùng đồng bằng. Địa hình tỉnh Hòa Bình thể hiện rõ tính chất chia cắt khu vực ở
từng vùng, từng huyện, từng xã (độ dốc trên 30 độ, có nơi trên 40 độ). Đất đai nhìn chung ít
màu mỡ, số ít đất đai màu mỡ tập trung ven sông suối, còn lại đại bộ phận là đất bạc màu
do mưa nắng sói mòn, do nạn phá rừng. Nhiều bộ phận dân cý phải sinh sống, canh tác
nông nghiệp trên những ruộng bậc thang, nãng xuất thấp, rất khó khãn cho ðời sống sinh
hoạt của nhân dân.
b) Đặc điểm về kinh tế, xã hội
* Về qui mô dân số và sự phát triển dân số:
Hòa Bình là một trong bốn tỉnh của Việt Nam mà trong đó có người Việt (Kinh)
phần lớn người dân tộc Mường sống tập trung chủ yếu ở đây. Người Mường, xét về
phương diện văn hóa - xã hội là dân tộc gần gũi với người Kinh nhất. Địa bàn cư trú của
người Mường ở khắp các địa phương trong tỉnh, sống xen kẽ với người Kinh và các dân tộc
khác.
và phần nào có ảnh hưởng về phong tục, lối sống (đặc biệt là trang phục) của người
Mường, nhưng vẫn giữ được những nét văn hóa độc đáo. Đây là vốn quý để phát triển du
lịch công động và bảo lưu vốn văn hóa truyền thống.
người Dao. Người Tày có tập quán và nhiều nét văn hóa gần gũi với người Thái, đặc biệt là
ngôn ngữ. Tuy nhiên, xét theo khía cạnh trang phục thì người Tày ở Đà Bắc có nhiều nét
bộ về phương diện kinh tế - xã hội.
* Văn hóa Hòa Bình:
Nhân dân các dân tộc ở Hòa Bình luôn tự hào về “Nền văn hóa Hòa Bình” cách đây
hàng vạn năm, các giá trị của nền văn hóa Hòa Bình là dấu ấn quan trọng, đánh dấu bước
nhảy vọt trong tiến trình hình thành và phát triển phương thức sản xuất nông nghiệp của
loài người nói chung và của người Hòa Bình nói riêng, đồng thời đánh dấu sự hình thành
hình thái xã hội đầu tiên của loài người.
- 12-
Hòa Bình là một tỉnh miền núi gồm 7 dân tộc, mỗi dân tộc có một bản sắc văn hóa
riêng. Sắc thái văn hóa của mỗi dân tộc thể hiện đậm nét trên nhiều lĩnh vực: Trong kho
tàng văn học dân gian, kho tàng âm nhạc, dân ca, qua các lễ hội truyền thống, qua trang
phục, những nếp váy áo với những màu sắc, hoa văn mang đậm nét riêng của dân tộc mình.
* Khái quát về kinh tế của tình Hòa Bình:
Nhìn chung cùng với sự tăng trưởng kinh tế của cả nước, kinh tế tỉnh Hòa Bình trong
những năm gần đây đã tăng trưởng một cách đáng kể. Đời sống của cán bộ công chức nhà
nước và của nhân dân trong tỉnh dần được cải thiện và nâng cao, đã xóa được nhiều hộ đói,
giảm được nhiều hộ nghèo. Tuy vậy, Hòa Bình vẫn là một trong những tỉnh miền núi nghèo
của Việt Nam, đời sống của bộ phận lớn dân cư còn thấp, kinh tế, xã hội vẫn còn phát triển
chậm.
* Khái quát về giáo dục tỉnh Hòa Bình:
Bên cạnh những kết quả đạt được, ngành GD&ĐT còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế:
Việc huy động trẻ em đến trường chưa đáp ứng được nhu cầu gửi trẻ của các bậc cha mẹ do
thiếu phòng học và thiếu giáo viên; giáo viên mầm non chưa được hưởng chế độ làm thêm
giờ; thiếu nhân viên nuôi dưỡng, bảo vệ, kế toán đặc biệt là nhân viên y tế; việc sáp nhập ở
một số trường có điểm trường không gần nhau nên việc quản lý gặp nhiều khó khăn; thiếu
cơ sở vật chất tại các trường Phổ thông dân tộc bán trú và các trường Phổ thông có học sinh
bán trú mới thành lập ở vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số…được bộc lộ cụ thể
ở những điểm sau:
- Đối với giáo dục tiểu học
(1) Một số phòng giáo dục và đào tạo chưa nghiên cứu kỹ các văn bản hướng
dẫn của Bộ, của Sở nên chưa kịp thời điều chỉnh, bổ sung công tác chỉ đạo chuyên môn
tới các trường triển khai thực hiện. Vẫn còn có biểu hiện trì trệ, chậm và ngại đổi mới ở
một số trường, một số hiệu trưởng và giáo viên nên vẫn còn tình trạng: Các hoạt động ít
được đổi mới, giáo viên khi dạy học ôm đồm kiến thức, nói nhiều, làm thay học sinh
trong các hoạt động giáo dục. Trường lớp cũ, nhà vệ sinh, các công trình nước sạch
thiếu hoặc đã hỏng không được quan tâm, trang thiết bị không được đầu tư, mua sắm
theo hướng hiện đại. Không chủ động tìm kiếm nguồn đầu tư cho nhà trường.
(2) Một bộ phận cán bộ quản lý năng lực còn hạn chế, tinh thần trách nhiệm
chưa cao, năng lực điều hành quản lý còn bất cập. Kỹ năng điều hành thực hiện chức
năng quản lý nhà nước của một số CBQL còn hạn chế: Phân công giáo viên chưa hợp
lí, chưa đảm bảo định mức lao động theo qui đinh, người nhiều tiết, người ít tiết, bổ
sung các tiết học tự chọn không đúng theo quy định. Sắp xếp thời khóa biểu chưa khoa
học... còn chậm đổi mới, nặng về chỉ đạo, quản lý hành chính, mệnh lệnh, chưa phát
huy tính chủ động, sáng tạo, tự chủ của cơ sở, trông chờ hướng dẫn và qui định của cấp
trên nên hiệu quả không cao, cản trở những nỗ lực, những ý tưởng mới, những sáng tạo
của giáo viên. Công tác quản lý, giám sát tài chính hiệu quả quản lí chưa cao.
(3) Quản lý chuyên môn ở một số đơn vị chưa được quan tâm đúng mức, ít chiều
sâu chuyên môn, nặng hình thức. Cá biệt một số CBQL không quản lí chuyên môn
(Hiệu trưởng giao hoàn toàn việc quản lí chuyên môn cho Phó Hiệu trưởng) chất
- 13-
lượng, hiệu quả công tác chuyên môn còn nhiều hạn chế. Xây dựng kế hoạch và tổ chức
sinh hoạt chuyên môn cấp cụm trường của một số cụm trường chưa khoa học, người
điều hành sinh hoạt chuyên môn lúng túng nên hiệu quả chưa cao. Chưa quan tâm kiểm
tra việc áp dụng các nội dung đã được bồi dưỡng, tập huấn vào công tác giảng dạy hàng
ngày của giáo viên. (áp dụng các phương pháp dạy học tích cực, dạy học phân hóa...,
đổi mới sinh hoạt chuyên môn...) chưa điều chỉnh và thúc đẩy được việc áp dụng các
nội dung tập huấn vào thực tiễn giảng dạy và quản lí.
(4) Chất lượng giáo dục đã có nhiều chuyển biến nhưng ở các trường vùng thuận
lợi thì một số trường vẫn quá tập trung vào dạy kiến thức nâng cao tạo nên những áp
lực đối với học sinh dẫn đến vẫn còn xảy ra tình trạng dạy thêm, học thêm ngoài nhà
trường. Một số trường vùng khó khăn chất lượng chuyển biến chậm, vẫn còn học sinh
đọc chậm, làm tính chậm, kiến thức, kỹ năng cơ bản chưa bền vững, chưa mạnh dạn tự
tin tham gia các hoạt động.
(5) Cơ sở vật chất, thiết bị của một số trường đã đạt chuẩn quốc gia thiếu, xuống
cấp, không đạt chuẩn theo yêu cầu, hiệu quả hoạt động của các phòng chức năng còn hạn
chế, chưa duy trì tốt và có sức lan tỏa các thư viện chuẩn, tiên tiến, xuất sắc sau khi được
công nhận. Một số đơn vị công trình vệ sinh đặc biệt công trình vệ sinh học sinh không
đảm bảo; các trang thiết bị, đường nước bị xuống cấp và chưa được tu sửa kịp thời. Bàn
ghế học sinh đưa đúng chuẩn, trang thiết bị dạy học hư hỏng nhiều. Vệ sinh môi trường ở
một số trường học chưa đảm bảo, đất hoang hóa chưa được cải tạo, cảnh quan nhà trường
thiếu bàn tay chăm sóc của giáo viên và học sinh. Chưa quan tâm xây dựng không gian
trường lớp, chưa khai thác triệt để công cụ lớp học.
(6) Công tác điều động, bổ nhiệm đội ngũ còn chậm. Tỷ lệ giáo viên phân bố
không đồng đều giữa vùng thuận lợi và vùng khó khăn (vùng khó khăn tỷ lệ giáo viên
cao). Việc nắm các nội dung trọng tâm của nhiệm vụ năm học để chỉ đạo, hướng dẫn
đến các trường ở một số phòng GD&ĐT chưa cụ thể, chưa hiệu quả. Công tác kiểm tra
của phòng GD&ĐT chưa thường xuyên. Đặc biệt công tác điều chỉnh, khắc phục sau
kiểm tra của phòng GD&ĐT chưa được quan tâm đúng mức.[22]
- Đối với giáo dục THCS
(1) Năng lực quản lý và quản trị nhà trường của một số cán bộ quản lý chưa đáp
ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong bối cảnh chuyển đổi sang mô hình quản lý chất
lượng dựa trên chuẩn, tiêu chuẩn. Công tác chỉ đạo chuyên môn tại một số đơn vị
trường học chưa kịp thời và chưa sát sao.
(2) Năng lực nghề nghiệp của một số giáo viên còn yếu, phương pháp giảng dạy
chậm đổi mới, chưa đáp ứng yêu cầu dạy học theo định hướng phát triển năng lực học
sinh; một số giáo viên thiếu kỹ năng, phương pháp sư phạm.
(3) CSVC và trang thiết bị cho giáo dục đã được tăng cường, tuy nhiên có một số
trường chưa khai thác và sử dụng có hiệu quả CSVC, trang thiết bị hiện có; một số
trường CSVC còn nhiều khó khăn.
(4) Việc xây dựng trường chuẩn quốc gia còn gặp khó khăn về cơ sở vật chất đối
với cả hai cấp học THCS và THPT.
- 14-
(5) Việc báo cáo định kì của một số phòng GDĐT còn chậm, một số nội dung
báo cáo chưa đủ và đúng yêu cầu; một số báo cáo còn rất chung chung, sơ sài. Công tác
cập nhật và triển khai các văn bản chỉ đạo của cấp trên tại một số đơn vị chưa kịp thời,
lưu trữ chưa khoa học.[23]
c) Ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội đến sự phát triển giáo dục
Hòa Bình trong giai đoạn hiện nay.
* Thuận lợi:
Qui mô trường lớp ngày càng phát triển, tỉ lệ học sinh khá, giỏi ngày càng tăng. hệ
thống trường lớp đa dạng, phù hợp với đặc điểm, tình hình, điều kiện của mỗi vùng miền.
Chương trình kiên cố hóa trường học 135 của Đảng, nhà nước cho các tỉnh miền núi
còn gặp nhiều khó khăn trong phát triển giáo dục, trong đó có tỉnh Hòa Bình, đã được đầu
tư và tăng cường về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho dạy và học. Đội ngũ giáo viên
ngày càng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, tỷ lệ giáo viên đứng lớp đã được đáp
ứng về cơ bản theo qui định chung của ngành giáo dục...
* Khó khăn: Địa hình của nhiều vùng trong tỉnh Hòa Bình có nhiều đèo dốc, bị chia
cắt, dân cư ở phân tán, giao thông đi lại khó khăn, nhiều học sinh tiểu học và trung học cơ
sở ở cách xa nhà trường nên viếc đến trường học tập gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại, đặc
biệt là vào mùa mưa lũ.
Đời sống của một bộ phận không nhỏ nhân dân trong tỉnh, trong đó có giáo viên còn
thấp, là trở ngại đáng kể cho công tác giáo dục nói chung. Giáo viên ngoài giờ lên lớp còn
phải làm thêm để đảm bảo đời sống gia đình. chính vì vậy học không có nhiều thời gian và
sức lực để tập trung cho công việc chính là giảng dạy và giáo dục học sinh.
Tuy đội ngũ giáo viên đã được bồi dưỡng, nâng chuẩn về kiến thức chuyên môn, về
kĩ năng nghiệp vụ sư phạm, song trong số đó có số lượng đáng kể giáo viên tiểu học và
trung học cơ sở đặc biệt là giáo viên người dân tộc thiểu số có xuất phát điểm thấp về đào
tạo, chưa đạt chuẩn theo qui định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Một số giáo viên người dân tộc thiểu số còn các bị phong tục tập quán, những hủ tục
lạc hậu ảnh hưởng đến phong cách dạy học, cản trở quá trình vươn lên phát triển nghề
nghiệp của bản thân.
2.4.2. Đánh giá chung về năng lực dạy học của giáo viên người dân tộc thiếu số cấp
tiểu học và trung học cơ sở
a) Những điểm mạnh và nguyên nhân:
* Những điểm mạnh:
Nhìn chung giáo viên đều có trình độ đào tạo về chuyên môn đạt chuẩn, hoặc trên
chuẩn (đối với giáo viên THCS), tuổi đời của giáo viên còn tương đối trẻ, số giáo viên có
tuổi nghề 11 năm trở lên chiếm tỉ lệ cao. Đây là đội ngũ đóng góp không nhỏ vào việc nâng
cao chất lượng dạy học tại các nhà trường. Hầu hết giáo viên được tham gia các đợt tập
huấn về chuyên môn, nghiệp vụ, về đổi mới phương pháp dạy học, tham gia các hoạt động
chuyên môn từ cấp tổ, trường, cụm, được tiếp cận công nghệ thông tin phục vụ cho công
tác giảng dạy. Giáo viên đã được lãnh đạo cơ quan quan tâm, được hỗ trợ kinh phí đi bồi
- 15-
dưỡng và nâng cao trình độ chuyên môn, được khuyến khích, chủ động, sáng tạo trong các
hoạt động giảng dạy, được luân chuyển giữa các vùng, các nhà trường trong địa phương.
Qua phân tích các kết quả khảo sát có thể thấy đa số giáo viên đã biết lập kế hoạch
dạy học năm học, kế hoạch bài học theo qui định. Giáo án thể hiện đầy đủ các mục tiêu dạy
học, các hoạt động chính, tiến độ thực hiện phù hợp và khả thi. Hồ sơ dạy học được xây
dựng và bảo quản theo đúng qui định và thường xuyên được bổ sung.
Giáo viên đã nắm được kiến thức môn học được phân công để đảm bảo dạy học chính
xác, có hệ thống, bước đầu đảm bảo quan hệ liên môn trong dạy học. Đa số giáo viên dạy
học bám sát theo chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình, thực hiện đúng kế hoạch dạy
học đã thiết kế. Đã vận dụng và tiến hành hợp lí một số phương pháp dạy học đặc thù của
môn học, ứng dụng công nghệ thông tin vào đổi mới phương pháp dạy học, vận dụng được
chuẩn kiến thức, kĩ năng của môn học để xác định mục đích, nội dung kiểm tra đánh giá và
lựa chọn các hình thức kiểm tra, đánh giá phù hợp. Một số giáo viên đã biết lựa chọn và sử
dụng phương tiện dạy học truyền thống kết hợp với phương tiện hiện đại phù hợp với mục
tiêu, nội dung và phương pháp dạy học.
Đa số giáo viên đã tạo được bầu không khí học tập thân thiện, lành mạnh, khuyến
khích học sinh tham gia các hoạt động học tập, đảm bảo điều kiện học tập an toàn cho học
sinh, tôn trọng ý kiến của học sinh.
* Nguyên nhân:
- Nguyên nhân khách quan: Đội ngũ giáo viên người dân tộc thiểu số luôn nhận được
sự quan tâm các cấp chính quyền, các cấp quản lí, nhà trường và xã hội và được tạo điều
kiện tốt nhất để phát triển nghề nghiệp. Thường xuyên được tham gia các khóa đào tạo, tập
huấn, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đổi mới phương pháp giảng
dạy, phương pháp kiểm tra đánh giá... Được nhà nước quan tâm về chính sách tiền lương
để yên tâm công tác,
- Nguyên nhân chủ quan: Bản thân giáo viên đã có ý thức trong việc tự nâng cao trình
độ chuyên môn nghiệp vụ, không ngừng học hỏi bạn bè đồng nghiệp để chia sẻ kiến thức
cũng như kinh nghiệm giảng dạy.
b) Những hạn chế và- nguyên nhân:
* Đối với giáo viên người dân tộc thiểu số cấp tiểu học:
Về trình độ chuyên môn, cơ cấu đội ngũ:
Đánh giá về trình độ đào tạo và cơ cấu đội ngũ: mặc dù giáo viên đã có trình độ đào
tạo về chuyên môn đạt chuẩn nhưng số lượng giáo viên có trình độ trung cấp 12+2 và 9+3
còn nhiều nên phần nào kiến thức còn hạn chế. Nhiều giáo viên có tuổi đời, tuổi nghề cao
nên ngoài việc tích lũy được kinh nghiệm thì đôi khi việc học lại là những cản trở trong yêu
cầu đổi mới nội dung, phương pháp dạy học ở tiểu học, lý do là chính họ đã quen với lối
mòn của cách dạy học xưa cũ, do đó, tính chất bảo thủ, trì trệ, ngại thay đổi còn nhiều.
Về các năng lực dạy học:
Về năng lực xây dựng kế hoạch dạy học: một số giáo viên còn hạn chế về năng lực
xây dựng kế hoạch dạy học có nhiều phương án thích ứng với các đối tượng khác nhau
(dạy học phân hóa) . Kế hoạch bài học chưa thể hiện rõ nét giữa dạy và học, giữa dạy học
- 16-
và giáo dục, chưa xây dựng được nhiều phương án thích ứng với các đối tượng khác nhau,
chưa dự kiến được các tình huống sư phạm có thể xảy ra và cách xử lí.
Về năng lực đảm bảo kiến thức môn học: một số giáo viên còn hạn chế về việc đảm
bảo nội dung dạy học chính xác, chưa hệ thống, còn dạy sai kiến thức, chưa có kiến thức
sâu rộng về môn học. Tìm hiểu nguyên nhân của vấn đề này chúng tôi nhận thấy đa số trình
độ đào tạo của những giáo viên này thấp (trung cấp 9+3 hoặc 12+2), hầu hết họ là giáo viên
đã có tuổi, một số giáo viên được phân công dạy các môn học không phải là thế mạnh.
Về năng lực đảm bảo chương trình môn học: một số giáo viên còn chưa linh hoạt,
sáng tạo thực hiện kế hoạch dạy học đã thiết kế, yêu cầu về dạy học phân hóa còn yếu.
Về năng lực vận dụng phương pháp dạy học: Nhiều giáo viên còn chưa nắm chắc và
chưa linh hoạt trong việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực, chưa phát huy được
tính tích cực chủ động và năng lực tự học và tư duy của học sinh. Một số giáo viên còn
lúng túng trong việc tổ chức các hoạt động học tập cho người học. Việc ứng dụng công
nghệ thông tin vào dạy học theo hướng phân hóa của hầu hết giáo viên còn nhiều hạn chế,
cụ thể:
Đa phần giáo viên sử dụng phương pháp thuyết trình, nói nhiều, giảng giải nhiều,
chưa tạo được hứng thú cho người học, chưa phát huy được sự sáng tạo của học sinh; sử
dụng các phương pháp dạy học chưa linh hoạt, chưa phù hợp với đặc điểm môn học; một số
môn giáo viên chưa sử dụng các phương pháp chuyên ngành, chưa có kinh nghiệm nên
không t́m được phương pháp dạy học phù hợp; chưa biết cách tổ chức nhóm học tập ( theo
mô hình VNEN) để phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh; do hạn chế về vốn từ
tiếng Việt (chủ yếu là giáo viên người H’ Mông) nên một số giáo viên còn lúng túng khi sử
dụng từ ngữ để hướng dẫn học sinh thực hiện nhiệm vụ học tập trên lớp.
Qua tìm hiểu chúng tôi đã xác định nguyên nhân của những hạn chế này là: một số
giáo viên còn có trình độ chuyên môn thấp, được phân công dạy những bộ môn không
thuận tay hoặc không có năng khiếu; giáo viên chưa dành nhiều thời gian để trau dồi kiến
thức, kĩ năng sư phạm, phương pháp giảng dạy..; cơ sở vật chất nhà trường còn thiếu thốn
nên khó có thể thường xuyên ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học. Nguyên nhân
còn đến từ phía người học. Các em học sinh còn rụt rè, nhút nhát, thiếu chủ động trong các
hoạt động học tập, mặt bằng kiến thức thấp.
Về năng lực sử dụng các phương tiện dạy học: giáo viên được đánh giá còn nhiều hạn
chế trong việc sử dụng các phương tiện dạy học đặc biệt là năng lực sử dụng các phương
tiện dạy học hiện đại hoặc năng lực sáng tạo các phương tiện dạy học mới, chưa thường
xuyên sử dụng các phương tiện dạy học hoặc sử dụng không hiệu quả dẫn đến chất lượng
các giờ dạy chưa cao. Nguyên nhân của những hạn chế trên có nguyên nhân chủ quan và
nguyên nhân khách quan như sau: một số giáo viên chưa đánh giá đúng tầm quan trọng của
việc sử dụng phương tiện trong dạy học và nâng cao chất lượng giáo dục, còn ngại thiết kế
và sử dụng vì mất thời gian hoặc tốn kém tiền bạc; nhiều nhà trường còn thiếu phương tiện
dạy học, nhiều điểm trường còn xa trung tâm (không có phòng học chức năng, không có
máy chiếu, máy tính nối mạng internet..), điều kiện kinh tế của địa phương khó khăn
(không có điện).
- 17-
Về năng lực kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh: Qua tìm hiểu về năng lực
kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh và hoạt động kiểm tra, đánh giá của giáo
viên, đặc biệt là giáo viên người dân tộc thiểu số tại các nhà trường đã chỉ ra những điểm
yếu sau: tính chính xác trong đánh giá học sinh còn chưa đạt yêu cầu, giáo viên gặp khá
nhiều khó khăn trong việc nhận xét học sinh, các nhận xét còn chung chung, chưa đánh giá
chính xác được kiến thức, năng lực, phẩm chất người học và khó trong việc phân hóa được
học sinh. Giáo viên còn gặp nhiều khó khăn trong việc lập ma trận kiểm tra, đánh giá.
Nguyên nhân là do việc chuyển đổi hình thức kiểm tra đánh giá bằng điểm số sang
đánh giá bằng nhận xét (theo Thông tư 30 và Thông tư 22).
Về năng lực giáo dục qua môn học: Nói chung giáo viên đã khai thác được nội dung
bài học để giáo dục tư tưởng, tình cảm, thái độ cho học sinh. Tuy nhiên, việc liên hệ với
thực tế cuộc sống, khai thác trải nghiệm của học sinh và vốn kinh nghiệm sẵn có để giáo
dục học sinh còn yếu. Nặng về sách vở thiếu việc gắn với thực tế.
Năng lực truyền thông: Đây là một trong những kĩ năng về diễn đạt ngôn ngữ chính
xác, khoa học, lôi cuốn, thuyết phục học sinh, xử lí nhanh, hợp lí các t́nh huống có vấn đề
trong giờ học: theo quan sát sư phạm và xin ý kiến của cán bộ quản lý, kết quả cho thấy:
nhiều giáo viên còn gặp khó khăn trong việc diễn đạt ngôn ngữ, thiếu thuyết phục, sử dụng
tiếng Việt chưa tốt, cụ thể còn nói ngọng, còn bị ảnh hưởng nhiểu phương ngữ, tiếng dân
tộc. Một số giáo viên còn sử dụng tiếng dân tộc để dạy học sinh.
b) Đối với giáo viên người dân tộc thiểu số cấp THCS:
Về trình độ chuyên môn, cơ cấu đội ngũ:
Có thể thấy trình độ chuyên môn của giáo viên dân tộc thiểu số cấp THCS đều đạt
chuẩn và vượt chuẩn, tuổi nghề trải đều dưới 5 năm đến 30 năm công tác. Số giáo viên trẻ
mới tham gia giảng dạy khá đông còn thiếu kinh nghiệm, phương pháp trong công tác
giảng dạy và giáo dục học sinh; số giáo viên có tuổi cao cũng chiếm 65%. họ cũng là bộ
phận có thể cản trở việc đổi mới nội dung, phương pháp dạy học ở THCS bởi trong họ có
tính bảo thủ, ít chịu thay đổi cách dạy.
Về các năng lực dạy học:
Về năng lực xây dựng kế hoạch dạy học: giáo viên chưa xây dựng được nhiều phương
án dạy học thích ứng với các đối tượng khác nhau, chưa đáp ứng được dạy học phân hóa.
Hầu hết mới chỉ dừng lại ở xây dựng kế hoạch bài giảng đáp ứng các đối tượng học sinh
đại trà.
Về năng lực đảm bảo kiến thức môn học: một số giáo viên chưa đảm bảo nội dung
dạy học chính xác, chưa hệ thống, còn dạy sai kiến thức, chưa có kiến thức sâu rộng về
môn học, chưa nắm vững mối liên hệ giữa kiến thức môn học được phân công với các môn
học khác đảm bảo quan hệ liên môn trong dạy học. Tìm hiểu nguyên nhân của vấn đề này
chúng tôi nhận thấy nhóm giáo viên có những hạn chế trên tập trung chủ yếu vào những
giáo viên có tuổi đời còn rất trẻ thiếu kinh nghiệm giảng dạy, chưa có nhiều điều kiện để
bồi dưỡng thêm kiến thức hoặc là giáo viên đã có tuổi ngại thay đổi, ngại học học hỏi,
ngoài ra còn có một số giáo viên được phân công dạy các môn học không phải là thế mạnh
hoặc không phải là chuyên môn chính.
- 18-
Về năng lực đảm bảo chương trình môn học: một số giáo viên còn chưa linh hoạt,
sáng tạo thực hiện kế hoạch dạy học đã thiết kế, yêu cầu về dạy học phân hóa còn yếu.
Về năng lực vận dụng phương pháp dạy học: khả năng phối hợp nhiều phương pháp
trong một giờ dạy còn hạn chế. Có những tiết học giáo viên sử dụng quá nhiều phương
pháp thuyết trình, hoặc phương pháp hỏi - đáp gây nên sự đơn điệu giữa thầy và trò. Giáo
viên chưa biết phối hợp linh hoạt các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học gây được
hứng thú học tập, kích thích tính tích cực, chủ động học tập của học sinh, chưa thường
xuyên rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy
học phân hóa của hầu hết giáo viên còn rất hạn chế. Hầu hết những giáo viên có tuổi vẫn
áp dụng phương pháp dạy học truyền thống chủ yếu là thuyết trình, truyền thụ kiến thức
một chiều. Chưa biết cách lựa chọn và kết hợp các phương pháp dạy học phù hợp với từng
môn học, bài học cụ thể để đạt được mục tiêu bài học, môn học. Một số giáo viên trẻ khá
vững về kiến thức cơ bản đã chú trọng hơn trong việc lựa chọn phương pháp dạy học phù
hợp với các kiểu bài lên lớp, tuy nhiên còn thiếu kinh nghiệm trong việc sử dụng các kĩ
thuật dạy học. Một số giáo viên chưa hoặc còn yếu trong việc sử dụng các phương pháp đặc
thù môn học (nhóm phương pháp trực quan, thực hành đối với các môn khoa học tự nhiên,
phương pháp thảo luận, sắm vai/đóng vai với các môn Ngữ văn, Tiếng Anh), chưa có kinh
nghiệm nên không tìm được phương pháp dạy học phù hợp.
Nguyên nhân của những hạn chế trên là: việc đổi mới phương pháp giảng dạy đã
được thực hiện ở các nhà trường tuy nhiên việc áp dụng còn chậm và chưa đều tay, giáo
viên ngại thay đổi. Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học phục vụ cho hoạt động dạy học
còn thiếu, các thiết bị dạy học, hóa chất đã cũ, chất lượng kém dẫn đến việc giáo viên ngại
sử dụng. Nhiều giáo viên còn bị phân công dạy chéo ban nên hiểu biết về các phương pháp
đặc thù của môn học của giáo viên còn hạn chế.
Về năng lực sử dụng các phương tiện dạy học: giáo viên còn nhiều hạn chế trong việc
sử dụng các phương tiện dạy học đặc biệt là năng lực sử dụng các phương tiện dạy học hiện
đại hoặc năng lực sáng tạo các phương tiện dạy học mới, chưa thường xuyên sử dụng các
phương tiện dạy học hoặc sử dụng không hiệu quả dẫn đến chất lượng các giờ dạy chưa
cao, chưa biết cách hoặc chưa tận dụng những đồ dùng dạy học có sẵn trong thực tế để làm
cho bài học sinh động hơn, một số giáo còn dạy chay. Về khả năng sử dụng máy tính, hầu
hết mới chỉ dựng lại ở việc soạn giáo án, thiết kế những hoạt động học tập đơn giản. Ít giáo
viên thành thạo trong việc xây dựng giáo án điện tử.
Nguyên nhân của những hạn chế trên là nhiều giáo viên chưa đánh giá đúng tầm quan
trọng của việc sử dụng phương tiện trong dạy học trong việc nâng cao chất lượng giáo dục,
còn ngại thiết kế và sử dụng vì mất thời gian hoặc tốn kém tiền bạc; nhiều nhà trường còn
thiếu phương tiện dạy học, không có máy chiếu, máy tính nối mạng internet..). Hàng năm
các nhà trường đã khuyến khích giáo viên làm đồ dùng dạy học nhưng chỉ dừng lại ở các
đợt thi đua, các hội thi mà chưa triển khai đại trà sử dụng các phương tiện đó làm đồ dùng
dạy học hàng ngày.
- 19-
Về năng lực kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh: việc triển khai đổ mới
công tác kiểm tra, đánh giá được thực hiện thường xuyên và kịp thời, theo kế hoạch năm
học, bám sát chương trình, chú trọng theo hướng đổi mới, giáo viên tiếp cận tương đối tốt.
Tuy nhiên trong quá trình triển khai còn bộc lộ một số hạn chế như giáo viên gặp khó khăn
trong tiếp cận thông tin, lúng túng trong xây dựng công cụ kiểm tra đánh giá và lập ma trận
các đề kiểm tra. Có ý kiến cho rằng việc áp dụng đổi mới kiểm tra đánh giá khó phân hóa
được học sinh.
Về năng lực giáo dục qua môn học: Nói chung giáo viên đã khai thác được nội dung
bài học để giáo dục tư tưởng, tình cảm, thái độ cho học sinh. Tuy nhiên, việc liên hệ với
thực tế cuộc sống, khai thác trải nghiệm của học sinh và vốn kinh nghiệm sẵn có để giáo
dục học sinh còn yếu. Nặng về sách vở thiếu việc gắn với thực tế.
Năng lực truyền thông: Nhiều giáo viên còn gặp khó khăn trong việc diễn đạt ngôn
ngữ, thiếu thuyết phục, sử dụng tiếng Việt chưa tốt, cụ thể còn nói ngọng, còn bị ảnh hưởng
nhiểu phương ngữ, tiếng dân tộc. Một số giáo viên còn sử dụng tiếng dân tộc để dạy học
sinh (giáo viên người H'Mông).
Tóm lại: Từ kết quả khảo sát, vấn đề đặt ra trong công tác xây dựng phát triển đội ngũ
giáo viên người dân tộc thiểu số là phải đề xuất được hệ thống các giải pháp đào tạo, bồi
dưỡng và một số giải pháp bổ trợ khác nhằm nâng cao năng lực dạy học cho giáo viên
người dân tộc thiểu số cấp tiểu học và trung học cơ sở của tỉnh Hòa Bình góp phần đổi mới
giáo dục phô thông trong giai đoạn tới.
3. NỘI DUNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC DẠY HỌC CHO GIÁO
VIÊN NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ CẤP TIỂU HỌC VÀ TRUNG HỌC CƠ SỞ
TỈNH HÒA BÌNH
3. 1. Các căn cứ và nguyên tắc đề xuất các giải pháp
3.1.1. Các căn cứ đề xuất giải pháp
a) Xuất phát từ quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về giáo dục
đào tạo nói chung và giáo dục đào tạo vùng núi, vùng đặc biệt khó khăn nói riêng.
b) Xuất phát từ Nghị quyết đại hội Đảng bộ Tỉnh Hòa Bình lần thứ XVI.
c) Xuất phát từ Qui định về Chuẩn giáo viên tiểu học và THCS được Bộ GD&ĐT ban
hành.
* Những yêu cầu về năng lực dạy học của giáo viên tiểu học:
* Yêu cầu về năng lực dạy học của giáo viên THCS:
c) Xuất phát từ thực tiễn về năng lực dạy học của giáo viên người dân tộc thiểu số cấp
tiểu học và THCS tỉnh Hòa Bình.
3.1.2. Các nguyên tắc đề xuất giải pháp
a) Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống và đồng bộ
b) Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa và phát triển
c) Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn và khả thi
- 20-
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt đề tài Nâng cao năng lực dạy học cho giáo viên người dân tộc thiểu số cấp tiểu học và trung học cơ sở tỉnh Hòa Bình góp phần đổi mới giáo dục phổ thông", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
de_tai_nang_cao_nang_luc_day_hoc_cho_giao_vien_nguoi_dan_toc.doc

