Báo cáo Tổng hợp kết quả điều tra năng lực dạy học của giáo viên người dân tộc thiểu số cấp Tiểu học và Trung học Cơ sở tại huyện Mai Châu và Đà Bắc tỉnh Hòa Bình
BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ ĐIỀU TRA NĂNG LỰC DẠY
HỌC CỦA GIÁO VIÊN NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ
CẤP TIỂU HỌC VÀ TRUNG HỌC CƠ SỞ
TẠI HUYỆN MAI CHÂU VÀ ĐÀ BẮC TỈNH HÒA BÌNH
LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU: KHOA HỌC XÃ HỘI NHÂN VĂN
Chủ nhiệm đề tài: Bùi Trọng Đắc
Tổ chức chủ trì: Trường CĐSP HÒA BÌNH
- 1-
BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ ĐIỀU TRA NĂNG LỰC DẠY HỌC
CỦA GIÁO VIÊN NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ CẤP TIỂU HỌC VÀ TRUNG
HỌC CƠ SỞ TẠI HUYỆN MAI CHÂU VÀ ĐÀ BẮC TỈNH HÒA BÌNH
1. Nghiên cứu xây dựng phương pháp thống kê và tiêu chí, chỉ số, quy trình
đánh giá năng lực dạy học của giáo viên người dân tộc thiểu số.
Dựa vào các văn bản qui định của Bộ GD&ĐT qui định về Chuẩn giáo viên
tiểu học (Quyết định số 14/2007 của Bộ Giáo dục đào tạo), Chuẩn nghề nghiệp giáo
viên trung học (Thông tư số 30/2009/TT-BGDĐT) để xây dựng phương pháp thống
kê và các tiêu chí, chỉ số, qui trình đánh giá năng lực dạy học của giáo viên người
dân tộc thiểu số cấp tiểu học và trung học cơ sở .
1.1. Minh chứng và nguồn minh chứng trong đánh giá, xếp loại giáo viên trung
học
Để xác định giáo viên đã đạt được các tiêu chí của Chuẩn ở mức độ nào (tốt,
khá, trung bình, yếu) cần phải dựa vào các minh chứng. Minh chứng được hiểu là
các dấu hiệu có thể nhận biết, quan sát được, phản ánh nhận thức hay hoạt động giáo
dục cụ thể mà giáo viên đã thực hiện để đạt mức điểm cụ thể của tiêu chí trong các
yêu cầu của Chuẩn.
Minh chứng giúp lượng hóa mức độ đạt được của mỗi tiêu chí nhưng khi xem
xét cụ thể có thể kết hợp đánh giá định lượng với đánh giá định tính. Mặt khác cần
căn cứ vào hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của giáo viên, thực tế của lớp, trường và địa
phương để xác định các minh chứng phù hợp.
Thu thập minh chứng thông qua các chủ thể đánh giá giáo viên trung học gồm:
giáo viên tự đánh giá, hiệu trường nhà trường, đồng nghiệp trong tổ chuyên môn.
Các nguồn minh chứng bao gồm: kết quả tự đánh giá, hồ sơ giảng dạy, kết quả
đánh giá tiết dạy, sự đánh giá của CBQL nhà trường và kết quả phỏng vấn…
1.2. Bộ tiêu chí đánh giá năng lực dạy học của giáo viên Tiểu học, Trung học cơ
sở (theo các mức từ thấp đến cao)
* Xây dựng kế hoạch dạy học:
Biết lập kế hoạch dạy học năm học, bài học (giáo án) theo yêu cầu quy định. Kế
hoạch dạy học năm học, bài học thể hiện đầy đủ các mục tiêu dạy học, những hoạt
- 2-
động chính kết hợp chặt chẽ giữa dạy và học, giữa dạy học và giáo dục, tiến độ thực
hiện phù hợp, khả thi.
Kế hoạch dạy học năm học luôn được bổ sung điều chỉnh cho phù hợp với tình
hình thực tế. Kế hoạch bài học (giáo án) thể hiện sự thống nhất giữa dạy và học, giữa
dạy học và giáo dục, đã tính đến đặc điểm học sinh, dự kiến được các tình huống sư
phạm có thể xảy ra và cách xử lí.
Kế hoạch dạy học năm học đảm bảo kết hợp chặt chẽ dạy học với giáo dục, kết
hợp các hoạt động đa dạng, chính khoá và ngoại khoá thể hiện sự phối hợp, hợp tác
với đồng nghiệp. Kế hoạch bài học thể hiện sự thống nhất giữa dạy và học, giữa dạy
học và giáo dục, có nhiều phương án thích ứng với các đối tượng khác nhau, dự kiến
được các tình huống sư phạm có thể xảy ra và cách xử lí.
* Đảm bảo kiến thức môn học:
Nắm vững nội dung môn học được phân công để đảm bảo dạy học chính xác,
có hệ thống.
Nắm vững các mạch kiến thức môn học xuyên suốt cấp học để đảm bảo tính
chính xác, lôgic, hệ thống; nắm được mối liên hệ giữa kiến thức môn học được phân
công dạy với các môn học khác đảm bảo quan hệ liên môn trong dạy học.
Nắm vững kiến thức môn học; có kiến thức chuyên sâu để có thể bồi dưỡng học
sinh giỏi.
Có kiến thức sâu, rộng về môn học, có thể giúp đỡ đồng nghiệp những vấn đề
chuyên môn mới và khó.
* Đảm bảo chương trình môn học:
Đảm bảo dạy học bám sát theo chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình môn
học, có tính đến yêu cầu phân hoá.
Đảm bảo dạy học bám sát chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình, thực hiện
đúng kế hoạch dạy học đã thiết kế, có chú ý thực hiện yêu cầu phân hoá.
Đảm bảo dạy học đúng theo chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình môn
học, thực hiện đầy đủ kế hoạch dạy học đã được thiết kế, thực hiện tương đối tốt yêu
cầu phân hoá.
- 3-
Đảm bảo dạy học đúng theo chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình môn
học, thực hiện một cách linh hoạt, sáng tạo kế hoạch dạy học đã được thiết kế, thực
hiện tốt yêu cầu phân hoá.
* Vận dụng các phương pháp dạy học:
Vận dụng được một số phương pháp dạy học đặc thù của môn học theo hướng
phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh đã xác định trong kế hoạch bài học.
Tiến hành một cách hợp lý các phương pháp dạy học đặc thù của môn học phù
hợp với tình huống cụ thể trong giờ học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động
học tập của học sinh, giúp học sinh biết cách tự học.
Biết phối hợp linh hoạt các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học gây
được hứng thú học tập, kích thích tính tích cực, chủ động học tập của học sinh và rèn
luyện kỹ năng tự học cho học sinh.
Phối hợp một cách thành thục, sáng tạo các phương pháp dạy học đặc thù của
môn học, ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học theo hướng phân hoá, phát huy
tính tích cực nhận thức và phát triển kỹ năng tự học của học sinh.
* Sử dụng các phương tiện dạy học:
Sử dụng được các phương tiện dạy học quy định trong chương trình môn học
(trong danh mục thiết bị dạy học môn học).
Biết lựa chọn và sử dụng phương tiện dạy học phù hợp với mục tiêu, nội dung
và phương pháp dạy học.
Sử dụng một cách thành thạo các phương tiện dạy học truyền thống và biết sử
dụng các phương tiện dạy học hiện đại làm tăng hiệu quả dạy học.
Sử dụng một cách sáng tạo các phương tiện dạy học truyền thống kết hợp với sử
dụng máy tính, mạng internet và các phương tiện hiện đại khác; biết cải tiến phương
tiện dạy học và sáng tạo những phương tiện dạy học mới.
* Xây dựng môi trường học tập:
Tạo được bầu không khí học tập thân thiện, lành mạnh, khuyến khích học sinh
mạnh dạn tham gia các hoạt động học tập, trả lời các câu hỏi của giáo viên; đảm bảo
điều kiện học tập an toàn.
- 4-
Biết khuyến khích học sinh mạnh dạn, tự tin không chỉ trả lời các câu hỏi của
giáo viên mà còn nêu thắc mắc và trình bày ý kiến của mình; đảm bảo điều kiện học
tập an toàn.
Tạo được bầu không khí hăng say học tập, lôi cuốn mọi học sinh tham gia vào
các hoạt động học tập có sự hợp tác, cộng tác với nhau; đảm bảo điều kiện học tập
an toàn.
Luôn giữ thái độ bình tĩnh trong mọi tình huống; tôn trọng ý kiến học sinh, biết
tổ chức các hoạt động để học sinh chủ động phối hợp giữa làm việc cá nhân và nhóm
tạo không khí thi đua lành mạnh trong lớp học; đảm bảo điều kiện học tập an toàn.
* Quản lý hồ sơ dạy học:
Xây dựng được hồ sơ dạy học và bảo quản, phục vụ cho dạy học theo quy định.
Trong hồ sơ dạy học, các tài liệu, tư liệu được sắp xếp một cách khoa học và dễ dàng
sử dụng.
Hồ sơ dạy học được bảo quản tốt và thường xuyên được bổ sung tư liệu.
Có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin vào việc xây dựng, lưu giữ và thu
thập tư liệu bổ sung thường xuyên vào hồ sơ dạy học, phục vụ tốt cho việc dạy học.
* Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh:
Bước đầu vận dụng được chuẩn kiến thức, kĩ năng của môn học để thực hiện
việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh theo quy định.
Vận dụng được chuẩn kiến thức, kỹ năng của môn học để xác định mục đích,
nội dung kiểm tra đánh giá và lựa chọn các phương pháp, hình thức kiểm tra, đánh
giá phù hợp.
Sử dụng thành thạo các phương pháp truyền thống và hiện đại để kiểm tra đánh
giá kết quả học tập của học sinh, đảm bảo tính công khai, khách quan, chính xác,
toàn diện và công bằng; biết sử dụng kết quả kiểm tra, đánh giá để điều chỉnh hoạt
động dạy học.
Sử dụng một cách linh hoạt, sáng tạo các phương pháp truyền thống và hiện
đại, biết tự thiết kế công cụ để kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh, đảm
bảo tính công khai, khách quan, chính xác, toàn diện và công bằng; biết sử dụng kết
- 5-
quả kiểm tra, đánh giá để điều chỉnh hoạt động dạy học và phát triển năng lực tự
đánh giá của học sinh.
1.3. Điều tra, thu thập thông tin, tài liệu dữ liệu về thực trạng năng lực dạy học
của giáo viên người dân tộc thiểu số cấp TH, THCS tại huyện Mai Châu và Đà
Bắc:
Để thu thập thông tin đề tài sử dụng 03 kênh thông tin bao gồm:
(1) Đề tài sử dụng kết quả 02 phiếu xin ý kiến điều tra khảo sát về thực trạng
chất lượng, trình độ, năng lực dạy học của 200 giáo viên người dân tộc thiểu số đang
giảng dạy tại các trường tiểu học và THCS trên địa bàn 02 huyện Đà Bắc và Mai
Châu (nơi tập trung nhiều giáo viên người dân tộc thiểu số:Thái, Dao, Tày, H’Mông)
(2) Đề tài sử dụng kết quả xin ý kiến qua phiếu hỏi và phỏng vấn các nhà quản
lý giáo dục về vấn đề nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên người dân tộc thiểu số cấp
Tiểu học và THCS.
(3) Đề tài sử dụng kết quả quan sát sư phạm (dự giờ) giáo viên người dân tộc
thiểu số giảng dạy trên lớp học.
* Tổng hợp, phân tích, xử lý số liệu điều tra: Đề tài sử dụng phần mềm xác
xuất thống kê SPSS để phân tích số liệu điều tra khảo sát và phần mềm NViVo để
quản lý và phân tích dữ liệu phỏng vấn.
1.4. Nghiên cứu và xây dựng nội dung mẫu phiếu điều tra giáo viên người dân tộc
thiểu số
Gồm 08 mẫu phiếu, cụ thể như sau:
- 02 phiếu xin ý kiến cán bộ QLGD cấp Tiểu học và THCS đánh giá về năng
lực dạy học của giáo viên người dân tộc thiểu số.
- 02 phiếu xin ý kiến giáo viên người dân tộc thiểu số cấp tiểu học và THCS về
năng lực dạy học và các vấn đề liên quan đến năng lực dạy học của bản thân.
- 02 phiếu dự kiến câu hỏi phỏng vấn cán bộ QLGD về thực trạng giáo dục hiện
nay tại các nhà trường.
- 02 phiếu dự giờ giáo viên tiểu học và trung học cơ sở (được xây dựng dựa
theo mẫu phiếu hiện hành của các nhà trường).
- 6-
2. Điều tra về thực trạng năng lực dạy học của giáo viên người dân tộc thiểu số
cấp TH, THCS tại Phòng GD&ĐT huyện Mai Châu và Đà Bắc.
Nhóm nghiên cứu đã tiến hành nghiên cứu về đặc điểm địa lý, kinh tế - xã hội
và những ảnh hưởng của những yếu tố đó đến sựu phát triển giáo dục của 2 huyện
Mai Châu và Đà Bắc.
- Điều tra và thu được 100 phiếu hỏi giáo viên người dân tộc thiểu số cấp tiểu
học, 100 phiếu hỏi giáo viên cấp THCS, 40 phiếu hỏi và phiếu phỏng vấ CBQL cấp
tiểu học và trung học cơ sở.
- Dự 160 giờ giáo viên người dân tộc thiểu số (80 tiết tiểu học; 80 tiết THCS).
- Ghi hình 30 tiết giảng. Ghi âm trả lời phỏng vấn của 40 CBQL.
3. Phân tích, xử lý số liệu và đánh giá, báo cáo kết quả điều tra về thực trạng
năng lực dạy học của giáo viên dân tộc thiểu số cấp TH và THCS
3.1. Đặc điểm địa lý, kinh tế xã hội tỉnh Hoà Bình và những ảnh hưởng của nó
đến sự phát triển giáo dục.
a) Đặc điểm về địa lý
Tỉnh Hòa Bình được thành lập vào cuối đời nhà Nguyễn, ban đầu có tên là tỉnh
Mường, tỉnh lị đặt ở chợ Bờ (nay thuộc huyện Đà Bắc), sau đó chuyển về thành phố
Hòa Bình như ngày nay. Năm 1950 Hòa bình có thêm 2 huyện Yên Thủy và Lạc
Thủy được tách ra từ tỉnh Ninh Bình. Năm 1976 tỉnh Hòa Bình sáp nhập với tỉnh Hà
Tây thành tỉnh Hà Sơn Bình và tháng 10 năm 1991 tỉnh Hà Sơn Bình được tách ra
thành tỉnh Hà Tây và Hòa Bình.
Hòa Bình là một tỉnh miền núi, mang tính chất chuyển tiếp từ vùng núi cao Tây
Bắc xuống vùng đồng bằng. Địa hình tỉnh Hòa Bình thể hiện rõ tính chất chia cắt
khu vực ở từng vùng, từng huyện, từng xã (độ dốc trên 30 độ, có nơi trên 40 độ). Đất
đai nhìn chung ít màu mỡ, số ít đất đai màu mỡ tập trung ven sông suối, còn lại đại
bộ phận là đất bạc màu do mưa nắng sói mòn, do nạn phá rừng. Nhiều bộ phận dân
cý phải sinh sống, canh tác nông nghiệp trên những ruộng bậc thang, nãng xuất thấp,
rất khó khãn cho ðời sống sinh hoạt của nhân dân.
b) Đặc điểm về kinh tế, xã hội
* Về qui mô dân số và sự phát triển dân số:
- 7-
Dân số tỉnh Hòa Bình xấp xỉ 801.000 dân (thống kê của Cục Thống kê năm
sống rải rác ở các địa phương trong tỉnh. Người Hoa trước đây sống tập trung ở
Hòa Bình là một trong bốn tỉnh của Việt Nam mà trong đó có người Việt
(Kinh) không chiếm đa số, đồng thời tỉnh Hòa Bình cũng được coi là thủ phủ của
Người Mường, xét về phương diện văn hóa - xã hội là dân tộc gần gũi với người
Kinh nhất. Địa bàn cư trú của người Mường ở khắp các địa phương trong tỉnh, sống
xen kẽ với người Kinh và các dân tộc khác.
giao lưu kinh tế, văn hóa, ngày càng nhiều người Kinh từ khắp các tỉnh thành đến
tìm kiếm cơ hội làm ăn và sinh sống ở tỉnh Hòa Bình.
lâu đời và phần nào có ảnh hưởng về phong tục, lối sống (đặc biệt là trang phục) của
người Mường, nhưng vẫn giữ được những nét văn hóa độc đáo. Đây là vốn quý để
phát triển du lịch công động và bảo lưu vốn văn hóa truyền thống.
và người Dao. Người Tày có tập quán và nhiều nét văn hóa gần gũi với người Thái,
đặc biệt là ngôn ngữ. Tuy nhiên, xét theo khía cạnh trang phục thì người Tày ở Đà
- 8-
và đã đạt được nhiều tiến bộ về phương diện kinh tế - xã hội.
Về độ tuổi dân số, Hòa Bình là một trong những tỉnh có cấu trúc dân số trẻ. Tỉ
lệ trẻ em dưới 15 tuổi chiếm gần 40%, tỉ lệ người trên 60 tuổi chiếm khoảng 5%,
bằng mức trung bình trung trong cả nước.
* Văn hóa Hòa Bình:
Nhân dân các dân tộc ở Hòa Bình luôn tự hào về “Nền văn hóa Hòa Bình” cách
đây hàng vạn năm, các giá trị của nền văn hóa Hòa Bình là dấu ấn quan trọng, đánh
dấu bước nhảy vọt trong tiến trình hình thành và phát triển phương thức sản xuất
nông nghiệp của loài người nói chung và của người Hòa Bình nói riêng, đồng thời
đánh dấu sự hình thành hình thái xã hội đầu tiên của loài người.
Hòa Bình là một tỉnh miền núi gồm 7 dân tộc, mỗi dân tộc có một bản sắc văn
hóa riêng. Đồng bào Mường có Lễ hội cồng chiêng, có trường ca Đẻ đất, đẻ nước...
Đồng bào Thái có chữ viết riêng từ lâu đời với trường ca Sống chụ sôn sao... Tiếng
sáo cùng những làn điều dân ca Mông say đắm lòng người... Sắc thái văn hóa của
mỗi dân tộc thể hiện đậm nét trên nhiều lĩnh vực: Trong kho tàng văn học dân gian,
kho tàng âm nhạc, dân ca, qua các lễ hội truyền thống, qua trang phục, những nếp
váy áo với những màu sắc, hoa văn mang đậm nét riêng của dân tộc mình.
Những nét riêng đó tạo cho Hòa Bình sự phong phú, đa dạng về văn hóa của một
tỉnh miền núi, góp phần vào nét phong phú, đa dạng của nền văn hóa Việt Nam. Mỗi
dân tộc có những nét riêng, từ phong tục tập quán, nếp nghĩ, nếp làm ăn đến sinh hoạt
hàng ngày, song lại có chung những đặc điểm đậm nét của nhân dân các dân tộc miền
núi. Cần cù lao động, nghị lực trong cuộc sống, thật thà chất phác, giàu lòng nhân ái,
mến khách và tình gắn bó keo sơn trong cộng đồng quốc gia, dân tộc.
* Khái quát về kinh tế của tình Hòa Bình:
- 9-
Trong những năm gần đây kinh tế - xã hội của tỉnh Hòa Bình tiếp tục phát triển
mạnh, đời sống nhân dân được cải thiện, an ninh quốc pḥng được giữ vững. Trong
điều kiện còn gặp nhiều khó khăn, với tinh thần quyết tâm phấn đấu của toàn Đảng
bộ và nhân dân tỉnh Hòa Bình, tình hình kinh tế của Tỉnh đạt được nhưng kết quả tốt,
nhiều chỉ tiêu kinh tế vượt kế hoạch đặt ra. Năm 2016, tốc độ tăng trưởng kinh tế
(GRDP) ước đạt 7,62%. Trong đó, nông, lâm nghiệp, thuỷ sản tăng 4,42%; công
nghiệp - xây dựng tăng 10,58%; dịch vụ tăng 6,72%.(1)
Nhìn chung cùng với sự tăng trưởng kinh tế của cả nước, kinh tế tỉnh Hòa Bình
trong những năm gần đây đã tăng trưởng một cách đáng kể. Đời sống của cán bộ
công chức nhà nước và của nhân dân trong tỉnh dần được cải thiện và nâng cao, đã
xóa được nhiều hộ đói, giảm được nhiều hộ nghèo. Tuy vậy, Hòa Bình vẫn là một
trong những tỉnh miền núi nghèo của Việt Nam, đời sống của bộ phận lớn dân cư
còn thấp, kinh tế, xã hội vẫn còn phát triển chậm.
* Khái quát về giáo dục tỉnh Hòa Bình:
Theo báo cáo của sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Hòa Bình tại buổi làm việc với
Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh ngày 11/5/2017, theo đó, tình hình giáo dục Hòa Bình
hiện nay có những điểm cơ bản sau:
Hiện toàn ngành có 667 đơn vị, trường học với 206.128 học sinh, học viên, sinh
viên; 21.337 cán bộ, giáo viên nhân viên. Năm học 2015-2016, toàn ngành đã hoàn
thành 19/19 lĩnh vực công tác, là một trong 18 tỉnh trên toàn quốc được Bộ Giáo dục
và Đào tạo tặng Cờ đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua, là năm học thứ 8, ngành
GD&ĐT Hoà Bình liên tục được nhận Cờ thi đua của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Phát
huy kết quả đạt được, năm học 2016-2017, công tác chỉ đạo của các cấp quản lý giáo
dục có sự thống nhất, các cuộc vận động và phong trào thi đua của ngành được duy
trì với nề nếp và chất lượng tốt, đã trở thành hoạt động thường xuyên trong các nhà
trường, chỉ đạo thắng lợi những nhiệm vụ trọng tâm của năm học. Công tác quản lý
giáo dục đổi mới theo hướng tăng cường phân cấp và giao quyền tự chủ, tăng cường
1 Nguồn: Bùi An Bình, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Hòa Bình, Báo Kinh tế và Dự báo, cập nhật ngày 13/1/2017
- 10-
quản lý chất lượng và hiệu quả giáo dục. Công tác bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ
cho đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được quan tâm, chú trọng, chất
lượng đội ngũ từng bước được nâng cao; chất lượng giáo dục vùng khó khăn, công
bằng xã hội trong giáo dục được đảm bảm tốt hơn.
Cụ thể, ngành học Mầm non huy động 65.530 trẻ trong độ tuổi đến trường (tăng
2.296 trẻ so với năm học trước), đạt tỷ lệ 71,1%; 100% các cơ sở giáo dục mầm non
đảm bảo an toàn về thể chất và tinh thần cho trẻ. Giáo dục tiểu học, toàn tỉnh có
70.887 HS tiểu học/3.153 lớp, trong đó 202 lớp ghép, chất lượng hai mặ giáo dục
tiếp tục được củng cố vững chắc. Giáo dục Trung học được thực hiện nghiêm túc,
linh hoạt, sáng tạo chương trình, kế hoạch giáo dục, nâng cao chất lượng, hiệu quả
hoạt động của giáo dục. Năm 2016, tổ chức thành công kỳ thi THPT Quốc gia, tỉnh
Hoà Bình đạt tỷ lệ 97,13%. 100% các đơn vị duy trì kết quả đạt chuẩn phổ cập giáo
dục Mầm non cho trẻ 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học, xoá mù chữ, phổ cập giáo
dục THCS, 4 mục tiêu xây dựng xã hội học tập đều đạt và vượt kế hoạch; 31 xã được
công nhận đạt chuẩn NTM lĩnh vực GD&ĐT. Giáo dục dân tộc được quan tâm, hệ
thống các trường DTNT mở rộng về quy mô, nâng cấp cơ sở vật chất. Tính đến
tháng 4 năm 2017, ngành GD&ĐT đã sáp nhập 10 Trung tâm GDTX với Trung tâm
nghề và bàn giao về UBND huyện quản lý; sáp nhập Trung tâm GDTX thành phố
với Trung tâm GDTX tỉnh; thành lập 10 trường PTDTNT THCS&THPT trên cơ sở
nâng cấp các trường PTDTNT THCS; sáp nhập 80 trường (trong đó có 2 trường
mầm non, 78 trường Tiểu học và THSC). Toàn ngành có 8.649 phòng học, trong đó
phòng kiên cố chiếm 83,7%, bán kiên cố chiếm 15,1%.
Bên cạnh những kết quả đạt được, ngành GD&ĐT còn gặp nhiều khó khăn, hạn
chế: Việc huy động trẻ em đến trường chưa đáp ứng được nhu cầu gửi trẻ của các
bậc cha mẹ do thiếu phòng học và thiếu giáo viên; giáo viên mầm non chưa được
hưởng chế độ làm thêm giờ; thiếu nhân viên nuôi dưỡng, bảo vệ, kế toán đặc biệt là
nhân viên y tế; việc sáp nhập ở một số trường có điểm trường không gần nhau nên
việc quản lý gặp nhiều khó khăn; thiếu cơ sở vật chất tại các trường Phổ thông dân
- 11-
tộc bán trú và các trường Phổ thông có học sinh bán trú mới thành lập ở vùng sâu,
vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số…được bộc lộ cụ thể ở những điểm sau:
- Đối với giáo dục tiểu học
(1) Một số phòng giáo dục và đào tạo chưa nghiên cứu kỹ các văn bản
hướng dẫn của Bộ, của Sở nên chưa kịp thời điều chỉnh, bổ sung công tác chỉ đạo
chuyên môn tới các trường triển khai thực hiện. Vẫn còn có biểu hiện trì trệ,
chậm và ngại đổi mới ở một số trường, một số hiệu trưởng và giáo viên nên vẫn
còn tình trạng: Các hoạt động ít được đổi mới, giáo viên khi dạy học ôm đồm
kiến thức, nói nhiều, làm thay học sinh trong các hoạt động giáo dục. Trường lớp
cũ, nhà vệ sinh, các công trình nước sạch thiếu hoặc đã hỏng không được quan
tâm, trang thiết bị không được đầu tư, mua sắm theo hướng hiện đại. Không chủ
động tìm kiếm nguồn đầu tư cho nhà trường.
(2) Một bộ phận cán bộ quản lý năng lực còn hạn chế, tinh thần trách
nhiệm chưa cao, năng lực điều hành quản lý còn bất cập. Kỹ năng điều hành thực
hiện chức năng quản lý nhà nước của một số CBQL còn hạn chế: Phân công giáo
viên chưa hợp lí, chưa đảm bảo định mức lao động theo qui đinh, người nhiều
tiết, người ít tiết, bổ sung các tiết học tự chọn không đúng theo quy định. Sắp xếp
thời khóa biểu chưa khoa học... còn chậm đổi mới, nặng về chỉ đạo, quản lý hành
chính, mệnh lệnh, chưa phát huy tính chủ động, sáng tạo, tự chủ của cơ sở, trông
chờ hướng dẫn và qui định của cấp trên nên hiệu quả không cao, cản trở những
nỗ lực, những ý tưởng mới, những sáng tạo của giáo viên. Công tác quản lý, giám
sát tài chính hiệu quả quản lí chưa cao.
(3) Quản lý chuyên môn ở một số đơn vị chưa được quan tâm đúng mức, ít
chiều sâu chuyên môn, nặng hình thức. Cá biệt một số CBQL không quản lí
chuyên môn (Hiệu trưởng giao hoàn toàn việc quản lí chuyên môn cho Phó Hiệu
trưởng) chất lượng, hiệu quả công tác chuyên môn còn nhiều hạn chế. Xây dựng
kế hoạch và tổ chức sinh hoạt chuyên môn cấp cụm trường của một số cụm
trường chưa khoa học, người điều hành sinh hoạt chuyên môn lúng túng nên hiệu
quả chưa cao. Chưa quan tâm kiểm tra việc áp dụng các nội dung đã được bồi
dưỡng, tập huấn vào công tác giảng dạy hàng ngày của giáo viên. (áp dụng các
phương pháp dạy học tích cực, dạy học phân hóa..., đổi mới sinh hoạt chuyên
- 12-
môn...) chưa điều chỉnh và thúc đẩy được việc áp dụng các nội dung tập huấn vào
thực tiễn giảng dạy và quản lí.
(4) Chất lượng giáo dục đã có nhiều chuyển biến nhưng ở các trường vùng
thuận lợi thì một số trường vẫn quá tập trung vào dạy kiến thức nâng cao tạo nên
những áp lực đối với học sinh dẫn đến vẫn còn xảy ra tình trạng dạy thêm, học
thêm ngoài nhà trường. Một số trường vùng khó khăn chất lượng chuyển biến
chậm, vẫn còn học sinh đọc chậm, làm tính chậm, kiến thức, kỹ năng cơ bản chưa
bền vững, chưa mạnh dạn tự tin tham gia các hoạt động.
(5) Cơ sở vật chất, thiết bị của một số trường đã đạt chuẩn quốc gia thiếu,
xuống cấp, không đạt chuẩn theo yêu cầu, hiệu quả hoạt động của các phòng chức
năng còn hạn chế, chưa duy trì tốt và có sức lan tỏa các thư viện chuẩn, tiên tiến,
xuất sắc sau khi được công nhận. Một số đơn vị công trình vệ sinh đặc biệt công
trình vệ sinh học sinh không đảm bảo; các trang thiết bị, đường nước bị xuống cấp
và chưa được tu sửa kịp thời. Bàn ghế học sinh đưa đúng chuẩn, trang thiết bị dạy
học hư hỏng nhiều. Vệ sinh môi trường ở một số trường học chưa đảm bảo, đất
hoang hóa chưa được cải tạo, cảnh quan nhà trường thiếu bàn tay chăm sóc của
giáo viên và học sinh. Chưa quan tâm xây dựng không gian trường lớp, chưa khai
thác triệt để công cụ lớp học.
(6) Công tác điều động, bổ nhiệm đội ngũ còn chậm. Tỷ lệ giáo viên phân
bố không đồng đều giữa vùng thuận lợi và vùng khó khăn (vùng khó khăn tỷ lệ
giáo viên cao). Việc nắm các nội dung trọng tâm của nhiệm vụ năm học để chỉ
đạo, hướng dẫn đến các trường ở một số phòng GD&ĐT chưa cụ thể, chưa hiệu
quả. Công tác kiểm tra của phòng GD&ĐT chưa thường xuyên. Đặc biệt công tác
điều chỉnh, khắc phục sau kiểm tra của phòng GD&ĐT chưa được quan tâm đúng
mức.[22]
- Đối với giáo dục THCS
(1) Năng lực quản lý và quản trị nhà trường của một số cán bộ quản lý
chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong bối cảnh chuyển đổi sang mô hình
quản lý chất lượng dựa trên chuẩn, tiêu chuẩn. Công tác chỉ đạo chuyên môn tại
một số đơn vị trường học chưa kịp thời và chưa sát sao.
(2) Năng lực nghề nghiệp của một số giáo viên còn yếu, phương pháp
giảng dạy chậm đổi mới, chưa đáp ứng yêu cầu dạy học theo định hướng phát
triển năng lực học sinh; một số giáo viên thiếu kỹ năng, phương pháp sư phạm.
- 13-
(3) CSVC và trang thiết bị cho giáo dục đã được tăng cường, tuy nhiên có
một số trường chưa khai thác và sử dụng có hiệu quả CSVC, trang thiết bị hiện
có; một số trường CSVC còn nhiều khó khăn.
(4) Việc xây dựng trường chuẩn quốc gia còn gặp khó khăn về cơ sở vật
chất đối với cả hai cấp học THCS và THPT.
(5) Việc báo cáo định kì của một số phòng GDĐT còn chậm, một số nội
dung báo cáo chưa đủ và đúng yêu cầu; một số báo cáo còn rất chung chung, sơ
sài. Công tác cập nhật và triển khai các văn bản chỉ đạo của cấp trên tại một số
đơn vị chưa kịp thời, lưu trữ chưa khoa học.[23]
c) Ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội đến sự phát triển giáo
dục Hòa Bình trong giai đoạn hiện nay.
* Thuận lợi: Hòa Bình có nền văn hóa lâu đời, người dân phần lớn là người lao
động nông nghiệp hiền lành, chất phác, họ đã nhận thức được sự cần thiết của việc
học tập, tạo tiền đề cho học tập mai sau. Mong ước của tất cả người dân là con cái
được đi học đến nơi đến chốn và có được một nghề nghiệp ổn định.
Qui mô trường lớp ngày càng phát triển, tỉ lệ học sinh khá, giỏi ngày càng tăng.
hệ thống trường lớp đa dạng, phù hợp với đặc điểm, tình hình, điều kiện của mỗi
vùng miền.
Chương trình kiên cố hóa trường học 135 của Đảng, nhà nước cho các tỉnh
miền núi còn gặp nhiều khó khăn trong phát triển giáo dục, trong đó có tỉnh Hòa
Bình, đã được đầu tư và tăng cường về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho dạy
và học. Đội ngũ giáo viên ngày càng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, tỷ lệ
giáo viên đứng lớp đã được đáp ứng về cơ bản theo qui định chung của ngành giáo
dục...
* Khó khăn: Địa hình của nhiều vùng trong tỉnh Hòa Bình có nhiều đèo dốc, bị
chia cắt, dân cư ở phân tán, giao thông đi lại khó khăn, nhiều học sinh tiểu học và
trung học cơ sở ở cách xa nhà trường nên viếc đến trường học tập gặp rất nhiều khó
khăn, trở ngại, đặc biệt là vào mùa mưa lũ.
- 14-
Việc cập nhật kiến thức, nắm bắt thông tin mới về văn hóa giáo dục của giáo
viên còn nhiều hạn chế, chưa thường xuyên và kịp thời nên ít nhiều ảnh hưởng đến
chất lượng giáo dục của từng cấp học.
Đời sống của một bộ phận không nhỏ nhân dân trong tỉnh, trong đó có giáo
viên còn thấp, là trở ngại đáng kể cho công tác giáo dục nói chung. Giáo viên ngoài
giờ lên lớp còn phải làm thêm để đảm bảo đời sống gia đình. chính vì vậy học không
có nhiều thời gian và sức lực để tập trung cho công việc chính là giảng dạy và giáo
dục học sinh.
Tuy đội ngũ giáo viên đã được bồi dưỡng, nâng chuẩn về kiến thức chuyên
môn, về kĩ năng nghiệp vụ sư phạm, song trong số đó có số lượng đáng kể giáo viên
tiểu học và trung học cơ sở đặc biệt là giáo viên người dân tộc thiểu số có xuất phát
điểm thấp về đào tạo, chưa đạt chuẩn theo qui định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Một số giáo viên người dân tộc thiểu số còn các bị phong tục tập quán, những
hủ tục lạc hậu ảnh hưởng đến phong cách dạy học, cản trở quá trình vươn lên phát
triển nghề nghiệp của bản thân.
Một số vùng sâu, vùng xa trong tỉnh, người dân còn chịu ảnh hưởng của phong
tục, tập quán xưa cũ, bảo thủ, lạc hậu cho nên có tác động ảnh hưởng đến việc phát
triển giáo dục của địa phương như họ không muốn cho con cái (nhất là con gái) đi
học lên cao và việc đầu tư thời gian cho học tập của con cái còn chưa thỏa đáng.
Ngoài giờ lên lớp giáo viên, học sinh còn phải tham gia lao động giúp gia đình nên ít
nhiều ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục và kết quả học tập của học sinh...
3.2 Thực trạng về năng lực dạy học của giáo viên người dân tộc thiểu số cấp tiểu
học
a) Thực trạng đội ngũ giáo viên tiểu học người dân tộc thiểu số (Thái, Tày,
Dao, H'Mông):
Qua kết quả khảo sát 100 giáo viên người dân tộc thiểu số cấp tiểu học tại 2
huyện Mai Châu và Đà Bắc chúng tôi thu được kết quả như sau:
* Về trình độ đào tạo:
Bảng 3.1 Trình độ đào tạo về chuyên môn của giáo viên người dân tộc thiểu số
- 15-
Tổng số Đại học
Cao đẳng
Trung
(12+2)
45
cấp Trung
(9+3)
cấp Khác
giáo viên
100
01
38
16
0
Qua bảng thống kê trên, có thể thấy, nhìn chung giáo viên có trình độ đào tạo
về chuyên môn đạt chuẩn. Trong số 100 giáo viên được xin ý kiến có 01 giáo viên
(chiếm tỉ lệ 1%) có trình độ đại học; 38 giáo viên (chiếm tỉ lệ 38%) có trình độ cao
đẳng; 45 giáo viên (chiếm 45%) có trình độ trung cấp 12+2; 16 giáo viên (chiếm
16%) có trình độ trung cấp 9+3. Mặc dù 100% giáo viên đã đạt chuẩn về bằng cấp,
nhưng để đáp ứng được yêu cầu về đổi mới giáo dục tiểu học hiện nay thí số giáo
viên có trình độ từ trung cấp trở xuống cần được đào tạo nâng chuẩn và bồi dưỡng
thường xuyên để có thể cập nhật kiến thức và nâng cao năng lực dạy học.
* Về cơ cấu đội ngũ:
Theo số liệu thống kê, tuổi đời của đội ngũ giáo viên người dân tộc thiểu số cấp
Tiểu học được xin ý kiến như sau:
Bảng 3.2. Thống kê tuổi đời của giáo viên người dân tộc thiểu số cấp Tiểu học
Tổng số dưới 30
từ 31-40
Từ 41-50
Từ 51-55
Từ 56-60
giáo viên
100
21
36
27
11
05
Kết quả khảo sát, thông kê theo bảng cho thấy số giáo viên số giáo viên có tuổi
đời dưới 40 chiếm tỉ lệ khá cao (57%), từ 41 đến 50 chiếm tỉ lệ 27%; trên 50 chiếm
tỉ lệ 16%. Như vậy tuổi đời của giáo viên tiểu học được khảo sát còn tương đối trẻ.
Theo số liệu thống kê, tuổi nghề của đội ngũ giáo viên người dân tộc thiểu số
cấp tiểu học được xin ý kiến thể hiện ở bảng sau:
Bảng 3.3 Thống kê tuổi nghề của giáo viên người dân tộc thiểu số cấp tiểu học
Tổng số < 5 năm
6 - 10 năm
10-20 năm
21-30 năm
trên 30
giáo viên
năm
100
13
16
35
32
4
Qua thống kế chúng tôi nhận thấy: Số giáo viên có tuổi nghề dưới 10 năm là 29
GV (chiếm tỉ lệ 29%); số giáo viên có tuổi nghề 11 năm trở lên chiếm 71%. Qua đó
- 16-
cho thấy số giáo viên lâu năm tích lũy được lượng kiến thức và kinh nghiệm giảng
dạy, giáo dục chiếm tỉ lệ lớn. Họ có đóng góp không nhỏ vào việc nâng cao chất
lượng dạy học tại các nhà trường. Bên cạnh đó, một số it trong họ cũng có thể là bộ
phận cản trở việc đổi mới nội dung, phương pháp dạy học ở tiểu học vì chính họ là
những người đã quen với lối mòn của cách dạy học xưa cũ; trong họ có tính bảo thủ,
sự trì trệ, ít chịu thay đổi cách dạy để đáp ứng kịp thời yêu cầu chung của giai đoạn
hiện nay.
* Về đào tạo và bồi dưỡng:
Bảng 3.4: Thống kê thực trạng được đào tạo, bồi dưỡng của giáo viên người dân
tộc thiểu số cấp tiểu học
Nội dung đào tạo, bồi dưỡng
Số GV được Số GV không
tham gia
được tham gia
1. Được đào tạo ở các cơ sở giáo dục có 84
chất lượng
16
2. Được tham gia các đợt tập huấn về 99
chuyên môn, nghiệp vụ, đổi mới phương
pháp dạy học, kĩ năng đánh giá...
3. Được tham gia các hoạt động chuyên 97
môn (tổ, trường, cụm)
01
03
39
4. Được tiếp cận công nghệ thông tin
61
Qua bảng thống kê trên cho thấy số lượng giáo viên được đào tạo tại các cơ sở
giáo dục có chất lượng là 84 người (chiếm 84%). Hầu hết giáo viên được tham gia
các đợt tập huấn về chuyên môn, nghiệp vụ, về đổi mới phương pháp dạy học, số
giáo viên thường xuyên được tham gia các hoạt động chuyên môn từ cấp tổ, trường,
cụm là 85%, nhiều giáo viên đã được tiếp cận công nghệ thông tin phục vụ cho công
tác giảng dạy. Tuy nhiên trong quá trình bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn,
bồi dưỡng các năng lực giáo viên còn gặp nhiều trở ngại như điều kiện hoàn cảnh
gia đình khó khăn, chính sách hỗ trợ động viên còn hạn chế, tuổi tác, khả năng tiếp
thu, hình thức và nội dung đào tạo, bồi dưỡng chưa phù hợp.
- 17-
* Về môi trường làm việc:
Qua khảo sát bằng phiếu hỏi cán bộ quản lý và giáo viên đánh giá về môi
trường làm việc: Đa số giáo viên (82%) cho rằng đã được lãnh đạo cơ quan quan tâm
tới công tác chuyên môn, tập thể nơi công tác đoàn kết nhất trí. Tuy nhiên đa số giáo
viên đánh giá cơ sở vật chất thiết bị dạy học còn chưa đầy đủ, nếu có th́ đã cũ và chất
lượng thấp, bối cảnh địa phương còn khó khăn, điều kiện kinh tế, xã hội còn hạn chế,
giáo viên chưa nhận được nhiều sự quan tâm của phụ huynh và học sinh.
* Về đáp ứng nhu cầu cá nhân:
Đa số giáo viên đánh giá đã được lãnh đạo quan tâm đến lương và thu nhập,
một số nhà trường đã hỗ trợ kinh phí cho giáo viên đi bồi dưỡng và nâng cao trình độ
chuyên môn tuy nhiên số người được nhận hỗ trợ chưa cao (49%), giáo viên được
khuyến khích, chủ động, sáng tạo trong các hoạt động chuyên môn. Đa số (75%) đã
được bồi dưỡng năng lực chuyên môn đang đảm nhiệm theo nhu cầu, được luân
chuyển giữa các vùng, các nhà trường trong địa phương để thích ứng với môi trường
giáo dục đa dạng.
b) Thực trạng về năng lực dạy học của giáo viên người dân tộc thiểu số cấp
tiểu học.
Để khảo sát thực trạng năng lực dạy học của giáo viên người dân tộc thiểu số
cấp tiểu học chúng tôi đã tiến hành xin ý kiến của 100 giáo viên, 20 cán bộ quản lý
và dự giờ 80 giáo viên (chọn ngẫu nhiên từ 100 giáo viên trên) đang công tác tại 2
huyện Mai châu, Đà Bắc.
* Năng lực xây dựng kế hoạch dạy học:
Thông qua phiếu xin ý kiến về tự đánh giá năng lực dạy học của giáo viên;
phiếu xin ý kiến, kết quả phỏng vấn cán bộ quản lý giáo dục cấp tiểu học kết quả thu
được cụ thể như sau:
Kết quả tự đánh giá của giáo viên:
Chúng tôi đã tiến hành xin ý kiến của 100 giáo viên tự đánh giá về năng lực xây
dựng kế hoạch dạy học với 4 nội dung, kết quả thể hiện dưới đây:
- 18-
- Nội dung 1: Năng lực xây dựng kế hoạch dạy học theo hướng tích hợp dạy
học với giáo dục: đánh giá về mức độ đạt được của bản thân, 47 GV (chiếm 47%) tự
đánh giá mức tốt; 50 GV (chiếm 50%) tự đánh giá ở mức độ đạt; 03 GV (chiếm 3%)
tự đánh giá là chưa đạt.
- Nội dung 2: Năng lực xây dựng kế hoạch dạy học năm học, bài học thể hiện
rõ mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học phù hợp với đặc thù môn học, đặc điểm
học sinh và môi trường giáo dục: đánh giá về mức độ đạt được của bản thân 30 GV
(chiếm 30%) đánh giá mức tốt; 64 GV (chiếm 64%) đánh giá ở mức độ đạt; 06 GV
(chiếm 6%) đánh giá là chưa đạt.
- Nội dung 3: Năng lực xây dựng kế hoạch dạy học phối hợp hoạt động học với
hoạt động dạy, thể hiện sự thống nhất giữa dạy và học, giữa dạy học và giáo dục,
phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh: đánh giá về mức độ đạt được: 32 GV
(chiếm 32%) tự đánh giá mức tốt; 63 GV (chiếm 63%) tự đánh giá ở mức độ đạt; 05
GV (chiếm 5%) tự đánh giá là chưa đạt.
- Nội dung 4: Xây dựng kế hoạch dạy học có nhiều phương án thích ứng với
các đối tượng khác nhau (dạy học phân hóa), dự kiến được các tình huống sư phạm
có thể xảy ra và cách xử lý: đánh giá về mức độ đạt được của bản thân về năng lực
này 19 GV (chiếm 19%) tự đánh giá mức tốt; 71 GV (chiếm 78%) tự đánh giá ở mức
độ đạt; 10 GV (chiếm 10%) tự đánh giá là chưa đạt.
Kết quả đánh giá của cán bộ quản lý giáo dục:
Chúng tôi đã tiến hành xin ý kiến của 20 cán bộ quản lý cấp tiểu học đánh giá
về năng lực xây dựng kế hoạch dạy học của đội ngũ giáo viên người dân tộc thiểu số
với 4 nội dung và thu được kết quả như sau:
- Nội dung 1: Năng lực xây dựng kế hoạch dạy học theo hướng tích hợp dạy
học với giáo dục: đánh giá về mức độ đạt được của đội ngũ giáo viên về năng lực
này 3 CBQL (chiếm 15%) đánh giá ở mức tốt; 17 CBQL (chiếm 85%) đánh giá ở
mức độ đạt; không có đánh giá ở mức độ chưa đạt.
- Nội dung 2: Năng lực xây dựng kế hoạch dạy học năm học, bài học thể hiện
rõ mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học phù hợp với đặc thù môn học, đặc điểm
- 19-
học sinh và môi trường giáo dục: đánh giá về mức độ đạt được của giáo viên: 03
CBQL (chiếm 10%) tự đánh giá mức tốt; 17 CBQL (chiếm 85%) đánh giá ở mức độ
đạt; 01 CBQL (chiếm 5%) đánh giá là chưa đạt.
- Nội dung 3: Năng lực xây dựng kế hoạch dạy học phối hợp hoạt động học với
hoạt động dạy, thể hiện sự thống nhất giữa dạy và học, giữa dạy học và giáo dục,
phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh: đánh giá về mức độ đạt được của giáo
viên: 4 CBQL (chiếm 20%) đánh giá mức tốt; 16 CBQL (chiếm 80%) tự đánh giá ở
mức độ đạt; không có đánh giá nào là chưa đạt.
- Nội dung 4: Xây dựng kế hoạch dạy học có nhiều phương án thích ứng với
các đối tượng khác nhau (dạy học phân hóa), dự kiến được các tình huống sư phạm
có thể xảy ra và cách xử lý: 1 CBQL (chiếm 10%) đánh giá mức tốt; 16 người
(chiếm 80%) đánh giá ở mức độ đạt; 03 (chiếm 15%) đánh giá là chưa đạt.
Đánh giá chung: Đa số giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục đều đánh giá năng
lực xây dựng kế hoạch day học là rất cần thiết. Tuy nhiên vẫn còn một số ít giáo viên
chưa nhận thức được tầm quan trọng của năng lực này đối với sự phát triển nghề
nghiệp của cá nhân. Đánh giá mức độ đạt được của bản thân về năng lực xây dựng
kế hoạch dạy học, đa số giáo viên cho rằng cá nhân đã đạt yêu cầu. Khoảng dưới
10% giáo viên cho rằng mình vẫn còn nhiều hạn chế về năng lực này. Đánh giá về
mức độ đạt được của đội ngũ giáo viên, đa số cán bộ quản lý đều cho rằng năng lực
xây dựng kế hoạch dạy học của giáo viên đạt yêu cầu.
Qua kết quả tự đánh giá của giáo viên và đánh giá của CBQL có thể thấy đa số
giáo viên đã đạt yêu cầu về năng lực xây dựng kế hoạch bài học. Tuy nhiên một số
giáo viên còn hạn chế về năng lực xây dựng kế hoạch dạy học có nhiều phương án
thích ứng với các đối tượng khác nhau (dạy học phân hóa). Qua kiểm tra, kế hoạch
dạy học (giáo án giờ dạy) chưa thể hiện rõ nét giữa dạy và học, giữa dạy học và giáo
dục, chưa xây dựng được nhiều phương án thích ứng với các đối tượng khác nhau,
chưa dự kiến được các tình huống sư phạm có thể xảy ra và cách xử lí.
- 20-
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Tổng hợp kết quả điều tra năng lực dạy học của giáo viên người dân tộc thiểu số cấp Tiểu học và Trung học Cơ sở tại huyện Mai Châu và Đà Bắc tỉnh Hòa Bình", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
bao_cao_tong_hop_ket_qua_dieu_tra_nang_luc_day_hoc_cua_giao.doc

