Báo cáo Tổng hợp kết quả điều tra năng lực dạy học của giáo viên người dân tộc thiểu số cấp Tiểu học và Trung học Cơ sở tại huyện Mai Châu và Đà Bắc tỉnh Hòa Bình

BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ ĐIỀU TRA NĂNG LỰC DẠY  
HỌC CỦA GIÁO VIÊN NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ  
CẤP TIỂU HỌC VÀ TRUNG HỌC CƠ SỞ  
TẠI HUYỆN MAI CHÂU VÀ ĐÀ BẮC TỈNH HÒA BÌNH  
LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU: KHOA HỌC XÃ HỘI NHÂN VĂN  
Chủ nhiệm đề tài: Bùi Trọng Đắc  
Tổ chức chủ trì: Trường CĐSP HÒA BÌNH  
- 1-  
BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ ĐIỀU TRA NĂNG LỰC DẠY HỌC  
CỦA GIÁO VIÊN NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ CẤP TIỂU HỌC VÀ TRUNG  
HỌC CƠ SỞ TẠI HUYỆN MAI CHÂU VÀ ĐÀ BẮC TỈNH HÒA BÌNH  
1. Nghiên cứu xây dựng phương pháp thống kê và tiêu chí, chỉ số, quy trình  
đánh giá năng lực dạy học của giáo viên người dân tộc thiểu số.  
Dựa vào các văn bản qui định của Bộ GD&ĐT qui định về Chuẩn giáo viên  
tiểu học (Quyết định số 14/2007 của Bộ Giáo dục đào tạo), Chuẩn nghề nghiệp giáo  
viên trung học (Thông tư số 30/2009/TT-BGDĐT) để xây dựng phương pháp thống  
kê và các tiêu chí, chỉ số, qui trình đánh giá năng lực dạy học của giáo viên người  
dân tộc thiểu số cấp tiểu học và trung học cơ sở .  
1.1. Minh chứng và nguồn minh chứng trong đánh giá, xếp loại giáo viên trung  
học  
Để xác định giáo viên đã đạt được các tiêu chí của Chuẩn ở mức độ nào (tốt,  
khá, trung bình, yếu) cần phải dựa vào các minh chứng. Minh chứng được hiểu là  
các dấu hiệu có thể nhận biết, quan sát được, phản ánh nhận thức hay hoạt động giáo  
dục cụ thể mà giáo viên đã thực hiện để đạt mức điểm cụ thể của tiêu chí trong các  
yêu cầu của Chuẩn.  
Minh chứng giúp lượng hóa mức độ đạt được của mỗi tiêu chí nhưng khi xem  
xét cụ thể có thể kết hợp đánh giá định lượng với đánh giá định tính. Mặt khác cần  
căn cứ vào hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của giáo viên, thực tế của lớp, trường và địa  
phương để xác định các minh chứng phù hợp.  
Thu thập minh chứng thông qua các chủ thể đánh giá giáo viên trung học gồm:  
giáo viên tự đánh giá, hiệu trường nhà trường, đồng nghiệp trong tổ chuyên môn.  
Các nguồn minh chứng bao gồm: kết quả tự đánh giá, hồ sơ giảng dạy, kết quả  
đánh giá tiết dạy, sự đánh giá của CBQL nhà trường và kết quả phỏng vấn…  
1.2. Bộ tiêu chí đánh giá năng lực dạy học của giáo viên Tiểu học, Trung học cơ  
sở (theo các mức từ thấp đến cao)  
* Xây dựng kế hoạch dạy học:  
Biết lập kế hoạch dạy học năm học, bài học (giáo án) theo yêu cầu quy định. Kế  
hoạch dạy học năm học, bài học thể hiện đầy đủ các mục tiêu dạy học, những hoạt  
- 2-  
động chính kết hợp chặt chẽ giữa dạy và học, giữa dạy học và giáo dục, tiến độ thực  
hiện phù hợp, khả thi.  
Kế hoạch dạy học năm học luôn được bổ sung điều chỉnh cho phù hợp với tình  
hình thực tế. Kế hoạch bài học (giáo án) thể hiện sự thống nhất giữa dạy và học, giữa  
dạy học và giáo dục, đã tính đến đặc điểm học sinh, dự kiến được các tình huống sư  
phạm có thể xảy ra và cách xử lí.  
Kế hoạch dạy học năm học đảm bảo kết hợp chặt chẽ dạy học với giáo dục, kết  
hợp các hoạt động đa dạng, chính khoá và ngoại khoá thể hiện sự phối hợp, hợp tác  
với đồng nghiệp. Kế hoạch bài học thể hiện sự thống nhất giữa dạy và học, giữa dạy  
học và giáo dục, có nhiều phương án thích ứng với các đối tượng khác nhau, dự kiến  
được các tình huống sư phạm có thể xảy ra và cách xử lí.  
* Đảm bảo kiến thức môn học:  
Nắm vững nội dung môn học được phân công để đảm bảo dạy học chính xác,  
có hệ thống.  
Nắm vững các mạch kiến thức môn học xuyên suốt cấp học để đảm bảo tính  
chính xác, lôgic, hệ thống; nắm được mối liên hệ giữa kiến thức môn học được phân  
công dạy với các môn học khác đảm bảo quan hệ liên môn trong dạy học.  
Nắm vững kiến thức môn học; có kiến thức chuyên sâu để có thể bồi dưỡng học  
sinh giỏi.  
Có kiến thức sâu, rộng về môn học, có thể giúp đỡ đồng nghiệp những vấn đề  
chuyên môn mới và khó.  
* Đảm bảo chương trình môn học:  
Đảm bảo dạy học bám sát theo chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình môn  
học, có tính đến yêu cầu phân hoá.  
Đảm bảo dạy học bám sát chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình, thực hiện  
đúng kế hoạch dạy học đã thiết kế, có chú ý thực hiện yêu cầu phân hoá.  
Đảm bảo dạy học đúng theo chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình môn  
học, thực hiện đầy đủ kế hoạch dạy học đã được thiết kế, thực hiện tương đối tốt yêu  
cầu phân hoá.  
- 3-  
Đảm bảo dạy học đúng theo chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình môn  
học, thực hiện một cách linh hoạt, sáng tạo kế hoạch dạy học đã được thiết kế, thực  
hiện tốt yêu cầu phân hoá.  
* Vận dụng các phương pháp dạy học:  
Vận dụng được một số phương pháp dạy học đặc thù của môn học theo hướng  
phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh đã xác định trong kế hoạch bài học.  
Tiến hành một cách hợp lý các phương pháp dạy học đặc thù của môn học phù  
hợp với tình huống cụ thể trong giờ học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động  
học tập của học sinh, giúp học sinh biết cách tự học.  
Biết phối hợp linh hoạt các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học gây  
được hứng thú học tập, kích thích tính tích cực, chủ động học tập của học sinh và rèn  
luyện kỹ năng tự học cho học sinh.  
Phối hợp một cách thành thục, sáng tạo các phương pháp dạy học đặc thù của  
môn học, ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học theo hướng phân hoá, phát huy  
tính tích cực nhận thức và phát triển kỹ năng tự học của học sinh.  
* Sử dụng các phương tiện dạy học:  
Sử dụng được các phương tiện dạy học quy định trong chương trình môn học  
(trong danh mục thiết bị dạy học môn học).  
Biết lựa chọn và sử dụng phương tiện dạy học phù hợp với mục tiêu, nội dung  
và phương pháp dạy học.  
Sử dụng một cách thành thạo các phương tiện dạy học truyền thống và biết sử  
dụng các phương tiện dạy học hiện đại làm tăng hiệu quả dạy học.  
Sử dụng một cách sáng tạo các phương tiện dạy học truyền thống kết hợp với sử  
dụng máy tính, mạng internet và các phương tiện hiện đại khác; biết cải tiến phương  
tiện dạy học và sáng tạo những phương tiện dạy học mới.  
* Xây dựng môi trường học tập:  
Tạo được bầu không khí học tập thân thiện, lành mạnh, khuyến khích học sinh  
mạnh dạn tham gia các hoạt động học tập, trả lời các câu hỏi của giáo viên; đảm bảo  
điều kiện học tập an toàn.  
- 4-  
Biết khuyến khích học sinh mạnh dạn, tự tin không chỉ trả lời các câu hỏi của  
giáo viên mà còn nêu thắc mắc và trình bày ý kiến của mình; đảm bảo điều kiện học  
tập an toàn.  
Tạo được bầu không khí hăng say học tập, lôi cuốn mọi học sinh tham gia vào  
các hoạt động học tập có sự hợp tác, cộng tác với nhau; đảm bảo điều kiện học tập  
an toàn.  
Luôn giữ thái độ bình tĩnh trong mọi tình huống; tôn trọng ý kiến học sinh, biết  
tổ chức các hoạt động để học sinh chủ động phối hợp giữa làm việc cá nhân và nhóm  
tạo không khí thi đua lành mạnh trong lớp học; đảm bảo điều kiện học tập an toàn.  
* Quản lý hồ sơ dạy học:  
Xây dựng được hồ sơ dạy học và bảo quản, phục vụ cho dạy học theo quy định.  
Trong hồ sơ dạy học, các tài liệu, tư liệu được sắp xếp một cách khoa học và dễ dàng  
sử dụng.  
Hồ sơ dạy học được bảo quản tốt và thường xuyên được bổ sung tư liệu.  
Có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin vào việc xây dựng, lưu giữ và thu  
thập tư liệu bổ sung thường xuyên vào hồ sơ dạy học, phục vụ tốt cho việc dạy học.  
* Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh:  
Bước đầu vận dụng được chuẩn kiến thức, kĩ năng của môn học để thực hiện  
việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh theo quy định.  
Vận dụng được chuẩn kiến thức, kỹ năng của môn học để xác định mục đích,  
nội dung kiểm tra đánh giá và lựa chọn các phương pháp, hình thức kiểm tra, đánh  
giá phù hợp.  
Sử dụng thành thạo các phương pháp truyền thống và hiện đại để kiểm tra đánh  
giá kết quả học tập của học sinh, đảm bảo tính công khai, khách quan, chính xác,  
toàn diện và công bằng; biết sử dụng kết quả kiểm tra, đánh giá để điều chỉnh hoạt  
động dạy học.  
Sử dụng một cách linh hoạt, sáng tạo các phương pháp truyền thống và hiện  
đại, biết tự thiết kế công cụ để kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh, đảm  
bảo tính công khai, khách quan, chính xác, toàn diện và công bằng; biết sử dụng kết  
- 5-  
quả kiểm tra, đánh giá để điều chỉnh hoạt động dạy học và phát triển năng lực tự  
đánh giá của học sinh.  
1.3. Điều tra, thu thập thông tin, tài liệu dữ liệu về thực trạng năng lực dạy học  
của giáo viên người dân tộc thiểu số cấp TH, THCS tại huyện Mai Châu và Đà  
Bắc:  
Để thu thập thông tin đề tài sử dụng 03 kênh thông tin bao gồm:  
(1) Đề tài sử dụng kết quả 02 phiếu xin ý kiến điều tra khảo sát về thực trạng  
chất lượng, trình độ, năng lực dạy học của 200 giáo viên người dân tộc thiểu số đang  
giảng dạy tại các trường tiểu học và THCS trên địa bàn 02 huyện Đà Bắc và Mai  
Châu (nơi tập trung nhiều giáo viên người dân tộc thiểu số:Thái, Dao, Tày, H’Mông)  
(2) Đề tài sử dụng kết quả xin ý kiến qua phiếu hỏi và phỏng vấn các nhà quản  
lý giáo dục về vấn đề nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên người dân tộc thiểu số cấp  
Tiểu học và THCS.  
(3) Đề tài sử dụng kết quả quan sát sư phạm (dự giờ) giáo viên người dân tộc  
thiểu số giảng dạy trên lớp học.  
* Tổng hợp, phân tích, xử lý số liệu điều tra: Đề tài sử dụng phần mềm xác  
xuất thống kê SPSS để phân tích số liệu điều tra khảo sát và phần mềm NViVo để  
quản lý và phân tích dữ liệu phỏng vấn.  
1.4. Nghiên cứu và xây dựng nội dung mẫu phiếu điều tra giáo viên người dân tộc  
thiểu số  
Gồm 08 mẫu phiếu, cụ thể như sau:  
- 02 phiếu xin ý kiến cán bộ QLGD cấp Tiểu học và THCS đánh giá về năng  
lực dạy học của giáo viên người dân tộc thiểu số.  
- 02 phiếu xin ý kiến giáo viên người dân tộc thiểu số cấp tiểu học và THCS về  
năng lực dạy học và các vấn đề liên quan đến năng lực dạy học của bản thân.  
- 02 phiếu dự kiến câu hỏi phỏng vấn cán bộ QLGD về thực trạng giáo dục hiện  
nay tại các nhà trường.  
- 02 phiếu dự giờ giáo viên tiểu học và trung học cơ sở (được xây dựng dựa  
theo mẫu phiếu hiện hành của các nhà trường).  
- 6-  
2. Điều tra về thực trạng năng lực dạy học của giáo viên người dân tộc thiểu số  
cấp TH, THCS tại Phòng GD&ĐT huyện Mai Châu và Đà Bắc.  
Nhóm nghiên cứu đã tiến hành nghiên cứu về đặc điểm địa lý, kinh tế - xã hội  
và những ảnh hưởng của những yếu tố đó đến sựu phát triển giáo dục của 2 huyện  
Mai Châu và Đà Bắc.  
- Điều tra và thu được 100 phiếu hỏi giáo viên người dân tộc thiểu số cấp tiểu  
học, 100 phiếu hỏi giáo viên cấp THCS, 40 phiếu hỏi và phiếu phỏng vấ CBQL cấp  
tiểu học và trung học cơ sở.  
- Dự 160 giờ giáo viên người dân tộc thiểu số (80 tiết tiểu học; 80 tiết THCS).  
- Ghi hình 30 tiết giảng. Ghi âm trả lời phỏng vấn của 40 CBQL.  
3. Phân tích, xử lý số liệu và đánh giá, báo cáo kết quả điều tra về thực trạng  
năng lực dạy học của giáo viên dân tộc thiểu số cấp TH và THCS  
3.1. Đặc điểm địa lý, kinh tế xã hội tỉnh Hoà Bình và những ảnh hưởng của nó  
đến sự phát triển giáo dục.  
a) Đặc điểm về địa lý  
Tỉnh Hòa Bình được thành lập vào cuối đời nhà Nguyễn, ban đầu có tên là tỉnh  
Mường, tỉnh lị đặt ở chợ Bờ (nay thuộc huyện Đà Bắc), sau đó chuyển về thành phố  
Hòa Bình như ngày nay. Năm 1950 Hòa bình có thêm 2 huyện Yên Thủy và Lạc  
Thủy được tách ra từ tỉnh Ninh Bình. Năm 1976 tỉnh Hòa Bình sáp nhập với tỉnh Hà  
Tây thành tỉnh Hà Sơn Bình và tháng 10 năm 1991 tỉnh Hà Sơn Bình được tách ra  
thành tỉnh Hà Tây và Hòa Bình.  
Hòa Bình là một tỉnh miền núi, mang tính chất chuyển tiếp từ vùng núi cao Tây  
Bắc xuống vùng đồng bằng. Địa hình tỉnh Hòa Bình thể hiện rõ tính chất chia cắt  
khu vực ở từng vùng, từng huyện, từng xã (độ dốc trên 30 độ, có nơi trên 40 độ). Đất  
đai nhìn chung ít màu mỡ, số ít đất đai màu mỡ tập trung ven sông suối, còn lại đại  
bộ phận là đất bạc màu do mưa nắng sói mòn, do nạn phá rừng. Nhiều bộ phận dân  
cý phải sinh sống, canh tác nông nghiệp trên những ruộng bậc thang, nãng xuất thấp,  
rất khó khãn cho ðời sống sinh hoạt của nhân dân.  
b) Đặc điểm về kinh tế, xã hội  
* Về qui mô dân số và sự phát triển dân số:  
- 7-  
Dân số tỉnh Hòa Bình xấp xỉ 801.000 dân (thống kê của Cục Thống kê năm  
2015). Trên địa bàn tỉnh có 7 dân tộc sinh sống, đông nhất là người Mường chiếm  
63,3%; người Việt (Kinh) chiếm 27,73%; người Thái chiếm 3,9%; người Dao chiếm  
1,7%; người Tày chiếm 2,7%; người Mông chiếm 0,52%; ngoài ra còn có người Hoa  
sống rải rác ở các địa phương trong tỉnh. Người Hoa trước đây sống tập trung ở  
Ngọc Lương, Yên Thủy, nhưng sau năm 1979 còn lại một số gia đình và hiện nay  
sống phân tán ở các xã Yên Trị, Ngọc Lương và Phú Lai huyện Yên Thuỷ.  
Hòa Bình là một trong bốn tỉnh của Việt Nam mà trong đó có người Việt  
(Kinh) không chiếm đa số, đồng thời tỉnh Hòa Bình cũng được coi là thủ phủ của  
người Mường, vì phần lớn người dân tộc Mường sống tập trung chủ yếu ở đây.  
Người Mường, xét về phương diện văn hóa - xã hội là dân tộc gần gũi với người  
Kinh nhất. Địa bàn cư trú của người Mường ở khắp các địa phương trong tỉnh, sống  
xen kẽ với người Kinh và các dân tộc khác.  
Người Kinh, sống ở khắp nơi trong tỉnh. Những người Kinh sống ở Hòa Bình  
đầu tiên đã lên tới 4-5 đời, nhưng phần lớn di cư tới Hòa Bình từ những năm 1960  
của thế kỉ trước, trong phong trào khai hoang từ các tỉnh đồng bằng lân cận (Nam  
Định, Hà Nam, Ninh Bình, Hà Tây...). Trong những năm gần đây, với sự mở rộng về  
giao lưu kinh tế, văn hóa, ngày càng nhiều người Kinh từ khắp các tỉnh thành đến  
tìm kiếm cơ hội làm ăn và sinh sống ở tỉnh Hòa Bình.  
Người Thái sống chủ yếu ở huyện Mai Châu. Tuy sống gần với người Mường  
lâu đời và phần nào có ảnh hưởng về phong tục, lối sống (đặc biệt là trang phục) của  
người Mường, nhưng vẫn giữ được những nét văn hóa độc đáo. Đây là vốn quý để  
phát triển du lịch công động và bảo lưu vốn văn hóa truyền thống.  
Người Tày chủ yếu tập trung ở huyện Đà Bắc, sống xen kẽ với người Mường  
và người Dao. Người Tày có tập quán và nhiều nét văn hóa gần gũi với người Thái,  
đặc biệt là ngôn ngữ. Tuy nhiên, xét theo khía cạnh trang phục thì người Tày ở Đà  
Bắc có nhiều nét tương đồng với người Thái Trắng ở các huyện Phù Yên, Bắc Yên  
của tỉnh Sơn La.  
- 8-  
Người Dao có nhiều ngành khác nhau, ở Hòa Bình chủ yếu là ngành Dao đeo  
tiền, một số tít dao Quần chẹt, Dao đỏ… sống tập trung chủ yếu ở các huyện Đà Bắc,  
sống tập trung ở xã Hang Kia và Pà Cò của huyện Mai Châu. Trước đây hai dân tộc  
này sống du canh du cư, nhưng tới nay họ đã chuyển sang chế độ định canh, định cư  
và đã đạt được nhiều tiến bộ về phương diện kinh tế - xã hội.  
Về độ tuổi dân số, Hòa Bình là một trong những tỉnh có cấu trúc dân số trẻ. Tỉ  
lệ trẻ em dưới 15 tuổi chiếm gần 40%, tỉ lệ người trên 60 tuổi chiếm khoảng 5%,  
bằng mức trung bình trung trong cả nước.  
* Văn hóa Hòa Bình:  
Nhân dân các dân tộc ở Hòa Bình luôn tự hào về “Nền văn hóa Hòa Bình” cách  
đây hàng vạn năm, các giá trị của nền văn hóa Hòa Bình là dấu ấn quan trọng, đánh  
dấu bước nhảy vọt trong tiến trình hình thành và phát triển phương thức sản xuất  
nông nghiệp của loài người nói chung và của người Hòa Bình nói riêng, đồng thời  
đánh dấu sự hình thành hình thái xã hội đầu tiên của loài người.  
Hòa Bình là một tỉnh miền núi gồm 7 dân tộc, mỗi dân tộc có một bản sắc văn  
hóa riêng. Đồng bào Mường có Lễ hội cồng chiêng, có trường ca Đẻ đất, đẻ nước...  
Đồng bào Thái có chữ viết riêng từ lâu đời với trường ca Sống chụ sôn sao... Tiếng  
sáo cùng những làn điều dân ca Mông say đắm lòng người... Sắc thái văn hóa của  
mỗi dân tộc thể hiện đậm nét trên nhiều lĩnh vực: Trong kho tàng văn học dân gian,  
kho tàng âm nhạc, dân ca, qua các lễ hội truyền thống, qua trang phục, những nếp  
váy áo với những màu sắc, hoa văn mang đậm nét riêng của dân tộc mình.  
Những nét riêng đó tạo cho Hòa Bình sự phong phú, đa dạng về văn hóa của một  
tỉnh miền núi, góp phần vào nét phong phú, đa dạng của nền văn hóa Việt Nam. Mỗi  
dân tộc có những nét riêng, từ phong tục tập quán, nếp nghĩ, nếp làm ăn đến sinh hoạt  
hàng ngày, song lại có chung những đặc điểm đậm nét của nhân dân các dân tộc miền  
núi. Cần cù lao động, nghị lực trong cuộc sống, thật thà chất phác, giàu lòng nhân ái,  
mến khách và tình gắn bó keo sơn trong cộng đồng quốc gia, dân tộc.  
* Khái quát về kinh tế của tình Hòa Bình:  
- 9-  
Trong những năm gần đây kinh tế - xã hội của tỉnh Hòa Bình tiếp tục phát triển  
mạnh, đời sống nhân dân được cải thiện, an ninh quốc pḥng được giữ vững. Trong  
điều kiện còn gặp nhiều khó khăn, với tinh thần quyết tâm phấn đấu của toàn Đảng  
bộ và nhân dân tỉnh Hòa Bình, tình hình kinh tế của Tỉnh đạt được nhưng kết quả tốt,  
nhiều chỉ tiêu kinh tế vượt kế hoạch đặt ra. Năm 2016, tốc độ tăng trưởng kinh tế  
(GRDP) ước đạt 7,62%. Trong đó, nông, lâm nghiệp, thuỷ sản tăng 4,42%; công  
nghiệp - xây dựng tăng 10,58%; dịch vụ tăng 6,72%.(1)  
Nhìn chung cùng với sự tăng trưởng kinh tế của cả nước, kinh tế tỉnh Hòa Bình  
trong những năm gần đây đã tăng trưởng một cách đáng kể. Đời sống của cán bộ  
công chức nhà nước và của nhân dân trong tỉnh dần được cải thiện và nâng cao, đã  
xóa được nhiều hộ đói, giảm được nhiều hộ nghèo. Tuy vậy, Hòa Bình vẫn là một  
trong những tỉnh miền núi nghèo của Việt Nam, đời sống của bộ phận lớn dân cư  
còn thấp, kinh tế, xã hội vẫn còn phát triển chậm.  
* Khái quát về giáo dục tỉnh Hòa Bình:  
Theo báo cáo của sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Hòa Bình tại buổi làm việc với  
Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh ngày 11/5/2017, theo đó, tình hình giáo dục Hòa Bình  
hiện nay có những điểm cơ bản sau:  
Hiện toàn ngành có 667 đơn vị, trường học với 206.128 học sinh, học viên, sinh  
viên; 21.337 cán bộ, giáo viên nhân viên. Năm học 2015-2016, toàn ngành đã hoàn  
thành 19/19 lĩnh vực công tác, là một trong 18 tỉnh trên toàn quốc được Bộ Giáo dục  
và Đào tạo tặng Cờ đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua, là năm học thứ 8, ngành  
GD&ĐT Hoà Bình liên tục được nhận Cờ thi đua của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Phát  
huy kết quả đạt được, năm học 2016-2017, công tác chỉ đạo của các cấp quản lý giáo  
dục có sự thống nhất, các cuộc vận động và phong trào thi đua của ngành được duy  
trì với nề nếp và chất lượng tốt, đã trở thành hoạt động thường xuyên trong các nhà  
trường, chỉ đạo thắng lợi những nhiệm vụ trọng tâm của năm học. Công tác quản lý  
giáo dục đổi mới theo hướng tăng cường phân cấp và giao quyền tự chủ, tăng cường  
1 Nguồn: Bùi An Bình, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Hòa Bình, Báo Kinh tế và Dự báo, cập nhật ngày 13/1/2017  
- 10-  
quản lý chất lượng và hiệu quả giáo dục. Công tác bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ  
cho đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được quan tâm, chú trọng, chất  
lượng đội ngũ từng bước được nâng cao; chất lượng giáo dục vùng khó khăn, công  
bằng xã hội trong giáo dục được đảm bảm tốt hơn.  
Cụ thể, ngành học Mầm non huy động 65.530 trẻ trong độ tuổi đến trường (tăng  
2.296 trẻ so với năm học trước), đạt tỷ lệ 71,1%; 100% các cơ sở giáo dục mầm non  
đảm bảo an toàn về thể chất và tinh thần cho trẻ. Giáo dục tiểu học, toàn tỉnh có  
70.887 HS tiểu học/3.153 lớp, trong đó 202 lớp ghép, chất lượng hai mặ giáo dục  
tiếp tục được củng cố vững chắc. Giáo dục Trung học được thực hiện nghiêm túc,  
linh hoạt, sáng tạo chương trình, kế hoạch giáo dục, nâng cao chất lượng, hiệu quả  
hoạt động của giáo dục. Năm 2016, tổ chức thành công kỳ thi THPT Quốc gia, tỉnh  
Hoà Bình đạt tỷ lệ 97,13%. 100% các đơn vị duy trì kết quả đạt chuẩn phổ cập giáo  
dục Mầm non cho trẻ 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học, xoá mù chữ, phổ cập giáo  
dục THCS, 4 mục tiêu xây dựng xã hội học tập đều đạt và vượt kế hoạch; 31 xã được  
công nhận đạt chuẩn NTM lĩnh vực GD&ĐT. Giáo dục dân tộc được quan tâm, hệ  
thống các trường DTNT mở rộng về quy mô, nâng cấp cơ sở vật chất. Tính đến  
tháng 4 năm 2017, ngành GD&ĐT đã sáp nhập 10 Trung tâm GDTX với Trung tâm  
nghề và bàn giao về UBND huyện quản lý; sáp nhập Trung tâm GDTX thành phố  
với Trung tâm GDTX tỉnh; thành lập 10 trường PTDTNT THCS&THPT trên cơ sở  
nâng cấp các trường PTDTNT THCS; sáp nhập 80 trường (trong đó có 2 trường  
mầm non, 78 trường Tiểu học và THSC). Toàn ngành có 8.649 phòng học, trong đó  
phòng kiên cố chiếm 83,7%, bán kiên cố chiếm 15,1%.  
Bên cạnh những kết quả đạt được, ngành GD&ĐT còn gặp nhiều khó khăn, hạn  
chế: Việc huy động trẻ em đến trường chưa đáp ứng được nhu cầu gửi trẻ của các  
bậc cha mẹ do thiếu phòng học và thiếu giáo viên; giáo viên mầm non chưa được  
hưởng chế độ làm thêm giờ; thiếu nhân viên nuôi dưỡng, bảo vệ, kế toán đặc biệt là  
nhân viên y tế; việc sáp nhập ở một số trường có điểm trường không gần nhau nên  
việc quản lý gặp nhiều khó khăn; thiếu cơ sở vật chất tại các trường Phổ thông dân  
- 11-  
tộc bán trú và các trường Phổ thông có học sinh bán trú mới thành lập ở vùng sâu,  
vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số…được bộc lộ cụ thể ở những điểm sau:  
- Đối với giáo dục tiểu học  
(1) Một số phòng giáo dục và đào tạo chưa nghiên cứu kỹ các văn bản  
hướng dẫn của Bộ, của Sở nên chưa kịp thời điều chỉnh, bổ sung công tác chỉ đạo  
chuyên môn tới các trường triển khai thực hiện. Vẫn còn có biểu hiện trì trệ,  
chậm và ngại đổi mới ở một số trường, một số hiệu trưởng và giáo viên nên vẫn  
còn tình trạng: Các hoạt động ít được đổi mới, giáo viên khi dạy học ôm đồm  
kiến thức, nói nhiều, làm thay học sinh trong các hoạt động giáo dục. Trường lớp  
cũ, nhà vệ sinh, các công trình nước sạch thiếu hoặc đã hỏng không được quan  
tâm, trang thiết bị không được đầu tư, mua sắm theo hướng hiện đại. Không chủ  
động tìm kiếm nguồn đầu tư cho nhà trường.  
(2) Một bộ phận cán bộ quản lý năng lực còn hạn chế, tinh thần trách  
nhiệm chưa cao, năng lực điều hành quản lý còn bất cập. Kỹ năng điều hành thực  
hiện chức năng quản lý nhà nước của một số CBQL còn hạn chế: Phân công giáo  
viên chưa hợp lí, chưa đảm bảo định mức lao động theo qui đinh, người nhiều  
tiết, người ít tiết, bổ sung các tiết học tự chọn không đúng theo quy định. Sắp xếp  
thời khóa biểu chưa khoa học... còn chậm đổi mới, nặng về chỉ đạo, quản lý hành  
chính, mệnh lệnh, chưa phát huy tính chủ động, sáng tạo, tự chủ của cơ sở, trông  
chờ hướng dẫn và qui định của cấp trên nên hiệu quả không cao, cản trở những  
nỗ lực, những ý tưởng mới, những sáng tạo của giáo viên. Công tác quản lý, giám  
sát tài chính hiệu quả quản lí chưa cao.  
(3) Quản lý chuyên môn ở một số đơn vị chưa được quan tâm đúng mức, ít  
chiều sâu chuyên môn, nặng hình thức. Cá biệt một số CBQL không quản lí  
chuyên môn (Hiệu trưởng giao hoàn toàn việc quản lí chuyên môn cho Phó Hiệu  
trưởng) chất lượng, hiệu quả công tác chuyên môn còn nhiều hạn chế. Xây dựng  
kế hoạch và tổ chức sinh hoạt chuyên môn cấp cụm trường của một số cụm  
trường chưa khoa học, người điều hành sinh hoạt chuyên môn lúng túng nên hiệu  
quả chưa cao. Chưa quan tâm kiểm tra việc áp dụng các nội dung đã được bồi  
dưỡng, tập huấn vào công tác giảng dạy hàng ngày của giáo viên. (áp dụng các  
phương pháp dạy học tích cực, dạy học phân hóa..., đổi mới sinh hoạt chuyên  
- 12-  
môn...) chưa điều chỉnh và thúc đẩy được việc áp dụng các nội dung tập huấn vào  
thực tiễn giảng dạy và quản lí.  
(4) Chất lượng giáo dục đã có nhiều chuyển biến nhưng ở các trường vùng  
thuận lợi thì một số trường vẫn quá tập trung vào dạy kiến thức nâng cao tạo nên  
những áp lực đối với học sinh dẫn đến vẫn còn xảy ra tình trạng dạy thêm, học  
thêm ngoài nhà trường. Một số trường vùng khó khăn chất lượng chuyển biến  
chậm, vẫn còn học sinh đọc chậm, làm tính chậm, kiến thức, kỹ năng cơ bản chưa  
bền vững, chưa mạnh dạn tự tin tham gia các hoạt động.  
(5) Cơ sở vật chất, thiết bị của một số trường đã đạt chuẩn quốc gia thiếu,  
xuống cấp, không đạt chuẩn theo yêu cầu, hiệu quả hoạt động của các phòng chức  
năng còn hạn chế, chưa duy trì tốt và có sức lan tỏa các thư viện chuẩn, tiên tiến,  
xuất sắc sau khi được công nhận. Một số đơn vị công trình vệ sinh đặc biệt công  
trình vệ sinh học sinh không đảm bảo; các trang thiết bị, đường nước bị xuống cấp  
và chưa được tu sửa kịp thời. Bàn ghế học sinh đưa đúng chuẩn, trang thiết bị dạy  
học hư hỏng nhiều. Vệ sinh môi trường ở một số trường học chưa đảm bảo, đất  
hoang hóa chưa được cải tạo, cảnh quan nhà trường thiếu bàn tay chăm sóc của  
giáo viên và học sinh. Chưa quan tâm xây dựng không gian trường lớp, chưa khai  
thác triệt để công cụ lớp học.  
(6) Công tác điều động, bổ nhiệm đội ngũ còn chậm. Tỷ lệ giáo viên phân  
bố không đồng đều giữa vùng thuận lợi và vùng khó khăn (vùng khó khăn tỷ lệ  
giáo viên cao). Việc nắm các nội dung trọng tâm của nhiệm vụ năm học để chỉ  
đạo, hướng dẫn đến các trường ở một số phòng GD&ĐT chưa cụ thể, chưa hiệu  
quả. Công tác kiểm tra của phòng GD&ĐT chưa thường xuyên. Đặc biệt công tác  
điều chỉnh, khắc phục sau kiểm tra của phòng GD&ĐT chưa được quan tâm đúng  
mức.[22]  
- Đối với giáo dục THCS  
(1) Năng lực quản lý và quản trị nhà trường của một số cán bộ quản lý  
chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong bối cảnh chuyển đổi sang mô hình  
quản lý chất lượng dựa trên chuẩn, tiêu chuẩn. Công tác chỉ đạo chuyên môn tại  
một số đơn vị trường học chưa kịp thời và chưa sát sao.  
(2) Năng lực nghề nghiệp của một số giáo viên còn yếu, phương pháp  
giảng dạy chậm đổi mới, chưa đáp ứng yêu cầu dạy học theo định hướng phát  
triển năng lực học sinh; một số giáo viên thiếu kỹ năng, phương pháp sư phạm.  
- 13-  
(3) CSVC và trang thiết bị cho giáo dục đã được tăng cường, tuy nhiên có  
một số trường chưa khai thác và sử dụng có hiệu quả CSVC, trang thiết bị hiện  
có; một số trường CSVC còn nhiều khó khăn.  
(4) Việc xây dựng trường chuẩn quốc gia còn gặp khó khăn về cơ sở vật  
chất đối với cả hai cấp học THCS và THPT.  
(5) Việc báo cáo định kì của một số phòng GDĐT còn chậm, một số nội  
dung báo cáo chưa đủ và đúng yêu cầu; một số báo cáo còn rất chung chung, sơ  
sài. Công tác cập nhật và triển khai các văn bản chỉ đạo của cấp trên tại một số  
đơn vị chưa kịp thời, lưu trữ chưa khoa học.[23]  
c) Ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội đến sự phát triển giáo  
dục Hòa Bình trong giai đoạn hiện nay.  
* Thuận lợi: Hòa Bình có nền văn hóa lâu đời, người dân phần lớn là người lao  
động nông nghiệp hiền lành, chất phác, họ đã nhận thức được sự cần thiết của việc  
học tập, tạo tiền đề cho học tập mai sau. Mong ước của tất cả người dân là con cái  
được đi học đến nơi đến chốn và có được một nghề nghiệp ổn định.  
Qui mô trường lớp ngày càng phát triển, tỉ lệ học sinh khá, giỏi ngày càng tăng.  
hệ thống trường lớp đa dạng, phù hợp với đặc điểm, tình hình, điều kiện của mỗi  
vùng miền.  
Chương trình kiên cố hóa trường học 135 của Đảng, nhà nước cho các tỉnh  
miền núi còn gặp nhiều khó khăn trong phát triển giáo dục, trong đó có tỉnh Hòa  
Bình, đã được đầu tư và tăng cường về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho dạy  
và học. Đội ngũ giáo viên ngày càng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, tỷ lệ  
giáo viên đứng lớp đã được đáp ứng về cơ bản theo qui định chung của ngành giáo  
dục...  
* Khó khăn: Địa hình của nhiều vùng trong tỉnh Hòa Bình có nhiều đèo dốc, bị  
chia cắt, dân cư ở phân tán, giao thông đi lại khó khăn, nhiều học sinh tiểu học và  
trung học cơ sở ở cách xa nhà trường nên viếc đến trường học tập gặp rất nhiều khó  
khăn, trở ngại, đặc biệt là vào mùa mưa lũ.  
- 14-  
Việc cập nhật kiến thức, nắm bắt thông tin mới về văn hóa giáo dục của giáo  
viên còn nhiều hạn chế, chưa thường xuyên và kịp thời nên ít nhiều ảnh hưởng đến  
chất lượng giáo dục của từng cấp học.  
Đời sống của một bộ phận không nhỏ nhân dân trong tỉnh, trong đó có giáo  
viên còn thấp, là trở ngại đáng kể cho công tác giáo dục nói chung. Giáo viên ngoài  
giờ lên lớp còn phải làm thêm để đảm bảo đời sống gia đình. chính vì vậy học không  
có nhiều thời gian và sức lực để tập trung cho công việc chính là giảng dạy và giáo  
dục học sinh.  
Tuy đội ngũ giáo viên đã được bồi dưỡng, nâng chuẩn về kiến thức chuyên  
môn, về kĩ năng nghiệp vụ sư phạm, song trong số đó có số lượng đáng kể giáo viên  
tiểu học và trung học cơ sở đặc biệt là giáo viên người dân tộc thiểu số có xuất phát  
điểm thấp về đào tạo, chưa đạt chuẩn theo qui định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.  
Một số giáo viên người dân tộc thiểu số còn các bị phong tục tập quán, những  
hủ tục lạc hậu ảnh hưởng đến phong cách dạy học, cản trở quá trình vươn lên phát  
triển nghề nghiệp của bản thân.  
Một số vùng sâu, vùng xa trong tỉnh, người dân còn chịu ảnh hưởng của phong  
tục, tập quán xưa cũ, bảo thủ, lạc hậu cho nên có tác động ảnh hưởng đến việc phát  
triển giáo dục của địa phương như họ không muốn cho con cái (nhất là con gái) đi  
học lên cao và việc đầu tư thời gian cho học tập của con cái còn chưa thỏa đáng.  
Ngoài giờ lên lớp giáo viên, học sinh còn phải tham gia lao động giúp gia đình nên ít  
nhiều ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục và kết quả học tập của học sinh...  
3.2 Thực trạng về năng lực dạy học của giáo viên người dân tộc thiểu số cấp tiểu  
học  
a) Thực trạng đội ngũ giáo viên tiểu học người dân tộc thiểu số (Thái, Tày,  
Dao, H'Mông):  
Qua kết quả khảo sát 100 giáo viên người dân tộc thiểu số cấp tiểu học tại 2  
huyện Mai Châu và Đà Bắc chúng tôi thu được kết quả như sau:  
* Về trình độ đào tạo:  
Bảng 3.1 Trình độ đào tạo về chuyên môn của giáo viên người dân tộc thiểu số  
- 15-  
Tổng số Đại học  
Cao đẳng  
Trung  
(12+2)  
45  
cấp Trung  
(9+3)  
cấp Khác  
giáo viên  
100  
01  
38  
16  
0
Qua bảng thống kê trên, có thể thấy, nhìn chung giáo viên có trình độ đào tạo  
về chuyên môn đạt chuẩn. Trong số 100 giáo viên được xin ý kiến có 01 giáo viên  
(chiếm tỉ lệ 1%) có trình độ đại học; 38 giáo viên (chiếm tỉ lệ 38%) có trình độ cao  
đẳng; 45 giáo viên (chiếm 45%) có trình độ trung cấp 12+2; 16 giáo viên (chiếm  
16%) có trình độ trung cấp 9+3. Mặc dù 100% giáo viên đã đạt chuẩn về bằng cấp,  
nhưng để đáp ứng được yêu cầu về đổi mới giáo dục tiểu học hiện nay thí số giáo  
viên có trình độ từ trung cấp trở xuống cần được đào tạo nâng chuẩn và bồi dưỡng  
thường xuyên để có thể cập nhật kiến thức và nâng cao năng lực dạy học.  
* Về cơ cấu đội ngũ:  
Theo số liệu thống kê, tuổi đời của đội ngũ giáo viên người dân tộc thiểu số cấp  
Tiểu học được xin ý kiến như sau:  
Bảng 3.2. Thống kê tuổi đời của giáo viên người dân tộc thiểu số cấp Tiểu học  
Tổng số dưới 30  
từ 31-40  
Từ 41-50  
Từ 51-55  
Từ 56-60  
giáo viên  
100  
21  
36  
27  
11  
05  
Kết quả khảo sát, thông kê theo bảng cho thấy số giáo viên số giáo viên có tuổi  
đời dưới 40 chiếm tỉ lệ khá cao (57%), từ 41 đến 50 chiếm tỉ lệ 27%; trên 50 chiếm  
tỉ lệ 16%. Như vậy tuổi đời của giáo viên tiểu học được khảo sát còn tương đối trẻ.  
Theo số liệu thống kê, tuổi nghề của đội ngũ giáo viên người dân tộc thiểu số  
cấp tiểu học được xin ý kiến thể hiện ở bảng sau:  
Bảng 3.3 Thống kê tuổi nghề của giáo viên người dân tộc thiểu số cấp tiểu học  
Tổng số < 5 năm  
6 - 10 năm  
10-20 năm  
21-30 năm  
trên 30  
giáo viên  
năm  
100  
13  
16  
35  
32  
4
Qua thống kế chúng tôi nhận thấy: Số giáo viên có tuổi nghề dưới 10 năm là 29  
GV (chiếm tỉ lệ 29%); số giáo viên có tuổi nghề 11 năm trở lên chiếm 71%. Qua đó  
- 16-  
cho thấy số giáo viên lâu năm tích lũy được lượng kiến thức và kinh nghiệm giảng  
dạy, giáo dục chiếm tỉ lệ lớn. Họ có đóng góp không nhỏ vào việc nâng cao chất  
lượng dạy học tại các nhà trường. Bên cạnh đó, một số it trong họ cũng có thể là bộ  
phận cản trở việc đổi mới nội dung, phương pháp dạy học ở tiểu học vì chính họ là  
những người đã quen với lối mòn của cách dạy học xưa cũ; trong họ có tính bảo thủ,  
sự trì trệ, ít chịu thay đổi cách dạy để đáp ứng kịp thời yêu cầu chung của giai đoạn  
hiện nay.  
* Về đào tạo và bồi dưỡng:  
Bảng 3.4: Thống kê thực trạng được đào tạo, bồi dưỡng của giáo viên người dân  
tộc thiểu số cấp tiểu học  
Nội dung đào tạo, bồi dưỡng  
Số GV được Số GV không  
tham gia  
được tham gia  
1. Được đào tạo ở các cơ sở giáo dục có 84  
chất lượng  
16  
2. Được tham gia các đợt tập huấn về 99  
chuyên môn, nghiệp vụ, đổi mới phương  
pháp dạy học, kĩ năng đánh giá...  
3. Được tham gia các hoạt động chuyên 97  
môn (tổ, trường, cụm)  
01  
03  
39  
4. Được tiếp cận công nghệ thông tin  
61  
Qua bảng thống kê trên cho thấy số lượng giáo viên được đào tạo tại các cơ sở  
giáo dục có chất lượng là 84 người (chiếm 84%). Hầu hết giáo viên được tham gia  
các đợt tập huấn về chuyên môn, nghiệp vụ, về đổi mới phương pháp dạy học, số  
giáo viên thường xuyên được tham gia các hoạt động chuyên môn từ cấp tổ, trường,  
cụm là 85%, nhiều giáo viên đã được tiếp cận công nghệ thông tin phục vụ cho công  
tác giảng dạy. Tuy nhiên trong quá trình bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn,  
bồi dưỡng các năng lực giáo viên còn gặp nhiều trở ngại như điều kiện hoàn cảnh  
gia đình khó khăn, chính sách hỗ trợ động viên còn hạn chế, tuổi tác, khả năng tiếp  
thu, hình thức và nội dung đào tạo, bồi dưỡng chưa phù hợp.  
- 17-  
* Về môi trường làm việc:  
Qua khảo sát bằng phiếu hỏi cán bộ quản lý và giáo viên đánh giá về môi  
trường làm việc: Đa số giáo viên (82%) cho rằng đã được lãnh đạo cơ quan quan tâm  
tới công tác chuyên môn, tập thể nơi công tác đoàn kết nhất trí. Tuy nhiên đa số giáo  
viên đánh giá cơ sở vật chất thiết bị dạy học còn chưa đầy đủ, nếu có th́ đã cũ và chất  
lượng thấp, bối cảnh địa phương còn khó khăn, điều kiện kinh tế, xã hội còn hạn chế,  
giáo viên chưa nhận được nhiều sự quan tâm của phụ huynh và học sinh.  
* Về đáp ứng nhu cầu cá nhân:  
Đa số giáo viên đánh giá đã được lãnh đạo quan tâm đến lương và thu nhập,  
một số nhà trường đã hỗ trợ kinh phí cho giáo viên đi bồi dưỡng và nâng cao trình độ  
chuyên môn tuy nhiên số người được nhận hỗ trợ chưa cao (49%), giáo viên được  
khuyến khích, chủ động, sáng tạo trong các hoạt động chuyên môn. Đa số (75%) đã  
được bồi dưỡng năng lực chuyên môn đang đảm nhiệm theo nhu cầu, được luân  
chuyển giữa các vùng, các nhà trường trong địa phương để thích ứng với môi trường  
giáo dục đa dạng.  
b) Thực trạng về năng lực dạy học của giáo viên người dân tộc thiểu số cấp  
tiểu học.  
Để khảo sát thực trạng năng lực dạy học của giáo viên người dân tộc thiểu số  
cấp tiểu học chúng tôi đã tiến hành xin ý kiến của 100 giáo viên, 20 cán bộ quản lý  
và dự giờ 80 giáo viên (chọn ngẫu nhiên từ 100 giáo viên trên) đang công tác tại 2  
huyện Mai châu, Đà Bắc.  
* Năng lực xây dựng kế hoạch dạy học:  
Thông qua phiếu xin ý kiến về tự đánh giá năng lực dạy học của giáo viên;  
phiếu xin ý kiến, kết quả phỏng vấn cán bộ quản lý giáo dục cấp tiểu học kết quả thu  
được cụ thể như sau:  
Kết quả tự đánh giá của giáo viên:  
Chúng tôi đã tiến hành xin ý kiến của 100 giáo viên tự đánh giá về năng lực xây  
dựng kế hoạch dạy học với 4 nội dung, kết quả thể hiện dưới đây:  
- 18-  
- Nội dung 1: Năng lực xây dựng kế hoạch dạy học theo hướng tích hợp dạy  
học với giáo dục: đánh giá về mức độ đạt được của bản thân, 47 GV (chiếm 47%) tự  
đánh giá mức tốt; 50 GV (chiếm 50%) tự đánh giá ở mức độ đạt; 03 GV (chiếm 3%)  
tự đánh giá là chưa đạt.  
- Nội dung 2: Năng lực xây dựng kế hoạch dạy học năm học, bài học thể hiện  
rõ mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học phù hợp với đặc thù môn học, đặc điểm  
học sinh và môi trường giáo dục: đánh giá về mức độ đạt được của bản thân 30 GV  
(chiếm 30%) đánh giá mức tốt; 64 GV (chiếm 64%) đánh giá ở mức độ đạt; 06 GV  
(chiếm 6%) đánh giá là chưa đạt.  
- Nội dung 3: Năng lực xây dựng kế hoạch dạy học phối hợp hoạt động học với  
hoạt động dạy, thể hiện sự thống nhất giữa dạy và học, giữa dạy học và giáo dục,  
phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh: đánh giá về mức độ đạt được: 32 GV  
(chiếm 32%) tự đánh giá mức tốt; 63 GV (chiếm 63%) tự đánh giá ở mức độ đạt; 05  
GV (chiếm 5%) tự đánh giá là chưa đạt.  
- Nội dung 4: Xây dựng kế hoạch dạy học có nhiều phương án thích ứng với  
các đối tượng khác nhau (dạy học phân hóa), dự kiến được các tình huống sư phạm  
có thể xảy ra và cách xử lý: đánh giá về mức độ đạt được của bản thân về năng lực  
này 19 GV (chiếm 19%) tự đánh giá mức tốt; 71 GV (chiếm 78%) tự đánh giá ở mức  
độ đạt; 10 GV (chiếm 10%) tự đánh giá là chưa đạt.  
Kết quả đánh giá của cán bộ quản lý giáo dục:  
Chúng tôi đã tiến hành xin ý kiến của 20 cán bộ quản lý cấp tiểu học đánh giá  
về năng lực xây dựng kế hoạch dạy học của đội ngũ giáo viên người dân tộc thiểu số  
với 4 nội dung và thu được kết quả như sau:  
- Nội dung 1: Năng lực xây dựng kế hoạch dạy học theo hướng tích hợp dạy  
học với giáo dục: đánh giá về mức độ đạt được của đội ngũ giáo viên về năng lực  
này 3 CBQL (chiếm 15%) đánh giá ở mức tốt; 17 CBQL (chiếm 85%) đánh giá ở  
mức độ đạt; không có đánh giá ở mức độ chưa đạt.  
- Nội dung 2: Năng lực xây dựng kế hoạch dạy học năm học, bài học thể hiện  
rõ mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học phù hợp với đặc thù môn học, đặc điểm  
- 19-  
học sinh và môi trường giáo dục: đánh giá về mức độ đạt được của giáo viên: 03  
CBQL (chiếm 10%) tự đánh giá mức tốt; 17 CBQL (chiếm 85%) đánh giá ở mức độ  
đạt; 01 CBQL (chiếm 5%) đánh giá là chưa đạt.  
- Nội dung 3: Năng lực xây dựng kế hoạch dạy học phối hợp hoạt động học với  
hoạt động dạy, thể hiện sự thống nhất giữa dạy và học, giữa dạy học và giáo dục,  
phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh: đánh giá về mức độ đạt được của giáo  
viên: 4 CBQL (chiếm 20%) đánh giá mức tốt; 16 CBQL (chiếm 80%) tự đánh giá ở  
mức độ đạt; không có đánh giá nào là chưa đạt.  
- Nội dung 4: Xây dựng kế hoạch dạy học có nhiều phương án thích ứng với  
các đối tượng khác nhau (dạy học phân hóa), dự kiến được các tình huống sư phạm  
có thể xảy ra và cách xử lý: 1 CBQL (chiếm 10%) đánh giá mức tốt; 16 người  
(chiếm 80%) đánh giá ở mức độ đạt; 03 (chiếm 15%) đánh giá là chưa đạt.  
Đánh giá chung: Đa số giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục đều đánh giá năng  
lực xây dựng kế hoạch day học là rất cần thiết. Tuy nhiên vẫn còn một số ít giáo viên  
chưa nhận thức được tầm quan trọng của năng lực này đối với sự phát triển nghề  
nghiệp của cá nhân. Đánh giá mức độ đạt được của bản thân về năng lực xây dựng  
kế hoạch dạy học, đa số giáo viên cho rằng cá nhân đã đạt yêu cầu. Khoảng dưới  
10% giáo viên cho rằng mình vẫn còn nhiều hạn chế về năng lực này. Đánh giá về  
mức độ đạt được của đội ngũ giáo viên, đa số cán bộ quản lý đều cho rằng năng lực  
xây dựng kế hoạch dạy học của giáo viên đạt yêu cầu.  
Qua kết quả tự đánh giá của giáo viên và đánh giá của CBQL có thể thấy đa số  
giáo viên đã đạt yêu cầu về năng lực xây dựng kế hoạch bài học. Tuy nhiên một số  
giáo viên còn hạn chế về năng lực xây dựng kế hoạch dạy học có nhiều phương án  
thích ứng với các đối tượng khác nhau (dạy học phân hóa). Qua kiểm tra, kế hoạch  
dạy học (giáo án giờ dạy) chưa thể hiện rõ nét giữa dạy và học, giữa dạy học và giáo  
dục, chưa xây dựng được nhiều phương án thích ứng với các đối tượng khác nhau,  
chưa dự kiến được các tình huống sư phạm có thể xảy ra và cách xử lí.  
- 20-  
Tải về để xem bản đầy đủ
doc 60 trang Thùy Anh 18500 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Tổng hợp kết quả điều tra năng lực dạy học của giáo viên người dân tộc thiểu số cấp Tiểu học và Trung học Cơ sở tại huyện Mai Châu và Đà Bắc tỉnh Hòa Bình", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • docbao_cao_tong_hop_ket_qua_dieu_tra_nang_luc_day_hoc_cua_giao.doc