Đề tài Nâng cao chất lượng thông tin và khả năng đáp ứng nhu cầu thông tin của ngành Thống kê

PHẦN I  
LỜI MỞ ĐẦU  
Trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta đang cố gắng đưa nền kinh  
tế thoát ra khỏi tình trạng kém phát triển để tiến kịp và không bị tụt hậu so với nền  
kinh tế các nước trong khu vực và trên thế giới. Trong xu thế phát triển chung đó,  
ngành Thống kê từng bước trưởng thành để đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp công  
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Số liệu thống kê ngày càng đóng vai trò quan  
trọng, nó phục vụ cho rất nhiều lĩnh vực khác nhau như: Công tác quản lý nhà  
nước, kinh doanh, giáo dục, y dược, nghiên cứu khoa học...., trong đó công tác  
quản lý nhà nước được xem là đối tượng phục vụ phổ biến nhất của công tác  
Thống kê, vì ở đó nó giúp cho nhà lãnh đạo có cơ sở để đưa ra các quyết định có  
tính khoa học nhất, khách quan nhất, hạn chế những sai lầm dẫn đến những tổn thất  
đáng tiếc làm giảm hiệu quả của công tác quản lý.  
Tuy nhiên, chất lượng số liệu và khả năng đáp ứng nhu cầu thông tin của  
ngành Thống kê đối với các đối tượng dùng tin vẫn còn nhiều hạn chế. Vấn đề này  
cũng đã được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài ngành đưa ra xem xét, đánh giá.  
Để góp phần giải quyết vấn đề này, và chúng ta có cái nhìn tổng quan về chất  
lượng cũng như khả năng đáp ứng nhu cầu thông tin của ngành, tôi tiếp tục nghiên  
cứu về vấn đề Nâng cao chất lượng thông tin và khả năng đáp ứng nhu cầu  
thông tin của ngành Thống kê.  
Kết cấu của chuyên đề gồm:  
Phần I - Lời mở đầu  
Phần II - Nội dung  
I. Vai trò của số liệu thống kê và chất lượng số liệu thống kê  
1. Vai trò số liệu thống kê trong quản lý điều hành kinh tế - xã hội  
2. Chất lượng thông tin thống kê  
1
II. Thực trạng chất lượng thông tin thống kê hiện nay  
1. Thực trạng chung  
2. Thực trạng tại địa phương  
3. Các nguyên nhân ảnh hưởng tới chất lượng thông tin thống kê  
III. Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tin thống kê hiện nay  
1. Hoàn thiện phương pháp thống kê  
2. Nghiên cứu các giải pháp quản lý chất lượng số liệu thống kê  
Phần III - Kết luận và kiến nghị  
2
PHẦN II - NỘI DUNG  
I. VAI TRÒ CỦA SỐ LIỆU VÀ CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN THỐNG  
KÊ  
1. Vai trò số liệu thống kê trong quản lý điều hành kinh tế - xã hội  
Lµ c¬ quan cung cÊp th«ng tin chÝnh, ®ång thêi tham m-u tÝch cùc cho  
UBND tØnh trong viÖc ®¸nh gi¸ kÕt qu¶ ho¹t ®éng kinh tÕ cña c¸c ngµnh, c¸c thµnh  
phÇn kinh tÕ qua c¸c n¨m, tõng thêi kú; x©y dùng c¸c ch-¬ng tr×nh, môc tiªu; chiÕn  
l-îc ph¸t triÓn KT-XH trªn ®Þa bµn hµng n¨m vµ c¸c thêi kú; th«ng qua c¸c nhãm  
th«ng tin cơ bản như sau:  
- Nhóm chỉ tiêu về số lượng, phản ánh qui mô của các hiện tượng kinh tế -  
xã hội như: Dân số, lao động, diện tích gieo trồng, sản lượng các loại cây trồng, số  
đầu con gia súc, gia cầm, số lượng các cơ sở kinh tế, giá trị sản xuất, ... Nhóm chỉ  
tiêu này giúp lãnh đạo địa phương nhìn thấy qui mô của các hiện tượng kinh tế - xã  
hội trong từng thời kỳ nhất định, qua những cách so sánh và phân tích khác nhau,  
có thể thấy được sự phát triển về mặt lượng của các chỉ tiêu trên và sự thay đổi về  
mặt tỷ trọng của các bộ phận, các ngành trong nền kinh tế, đánh giá mức độ hoàn  
thành kế hoạch trong từng thời kỳ nhất định, đồng thời nó là cơ sở cho việc xây  
dựng các nghị quyết và kế hoạch về phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và các cấp  
chính quyền.  
- Nhóm chỉ tiêu về chất lượng như: Năng suất của các loại cây trồng, vật  
nuôi; giá thành sản phẩm; thu nhập bình quân đầu người; mức sống hộ gia đình;  
chất lượng dân số và nguồn lao động như trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ  
thuật ....giúp lãnh đạo địa phương nhận thức rõ mặt chất của các hiện tượng kinh tế  
- xã hội, hiệu quả cuối cùng của quá trình tăng trưởng và công tác quản lý điều  
hành, từ đó kết hợp với các chỉ tiêu số lượng đánh giá những sự thành công và sự  
trì trệ của công tác quản lý, giúp lãnh đạo địa phương đưa ra các quyết định mới có  
tính chất tiến bộ hơn.  
Hai nhóm chỉ tiêu trên của công tác Thống kê, lu«n gắn liền với việc phân  
tích các nhân tố ảnh hưởng, mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến kết quả của  
3
các hiện tượng kinh tế - xã hội, điều này vô cùng quan trọng trong việc tìm ra giải  
pháp tối ưu nhằm hạn chế mặt tiêu cực của những nhân tố bất lợi, đồng thời tạo  
điều kiện cho những nhân tố tích cực phát triển, giúp nhà quản lý đưa ra quyết định  
sát thực tế và đem lại hiệu quả cao.  
- Nhóm thông tin về lưu trữ: §ó là sản phẩm, c¸c Ên phÈm vµ Niên giám  
Thống kê được phát hành hàng năm, nhằm ghi lại kết quả về mặt quá khứ một cách  
tổng hợp nhất của các hiện tượng kinh tế - xã hội của từng địa phương trong từng  
năm cụ thể, phục vụ cho việc nghiên cứu, so sánh và lưu trữ các hiện tượng kinh tế  
- xã hội của các đối tượng dùng tin. Đây cũng là sản phẩm nhằm phục vụ cho công  
tác xã hội hóa về mặt thông tin, góp phần củng cố hệ thống lưu trữ quốc gia.  
Hiện nay hầu hết việc đánh giá kết quả sản xuất, các chỉ tiêu xã hội của các  
cấp chính quyền chủ yếu dựa vào hệ thống thông tin trên. Điều đó vừa khẳng định  
công tác Thống kê ngày càng có vai trß cao trong công tác quản lý điều hành, vừa  
đảm bảo thống nhất một cách khách quan trong việc sử dụng và công bố thông tin,  
đảm bảo tính minh bạch của các hiện tượng kinh tế - xã hội. Qua đó cũng thấy  
được trách nhiệm của Ngành Thống kê trong công tác quản lý nhà nước đã được  
nâng lên.  
Thực tế không phải ai, không phải tổ chức chính quyền của mọi địa phương  
đều có cách nhìn nhận con số thống kê có vai trò và vị trí như nhau, vì có thể có  
những cách tiếp cận khác nhau.  
2. Chất lượng thông tin thống kê  
2.1. Khái niệm chất lượng thông tin thống kê  
Khái niệm chung nhất về chất lượng thông tin thống kê được hiểu đó là "sự  
phù hợp cho sử dụng". Ban đầu các nhà thống kê hiểu và đồng nhất chất lượng  
thông tin thống kê với tính chính xác của nó. Cách hiểu như vậy chưa đầy đủ vì  
nếu thông tin chính xác nhưng được tính toán và công bố chậm, hoặc người sử  
dụng không thể tiếp cận để có thông tin thì cũng không thể nói thông tin thống kê  
có chất lượng vì nó không có ý nghĩa dưới góc độ người sử dụng. Vào giữa thập kỷ  
4
80 của thế kỷ XX, Thống kê Canađa đã đưa ra định nghĩa: "Chất lượng của thông  
tin thống kê là sự phù hợp sử dụng của khách hàng".  
Để đáp ứng nhu cầu của “khách hàng” đối với thông tin thống kê, cơ quan  
thống kê phải xác định yêu cầu của người sử dụng là gì. Dựa vào điều kiện hoàn  
cảnh thực tế của từng quốc gia, ý thức phục vụ người sử dụng, mỗi cơ quan thống  
kê có cách tiếp cận tới khái niệm chất lượng và đưa ra các tiêu thức riêng để phản  
ánh chất lượng thông tin thống kê. Với chức năng nhiệm vụ và mục tiêu, mỗi tổ  
chức quốc tế có cách tiếp cận riêng tới khái niệm và lựa chọn các tiêu thức phản  
ánh chất lượng thông tin thống kê khác nhau. Chẳng hạn, Quỹ tiền tệ quốc tế quan  
tâm nhiều tới phương pháp luận thống kê nên đã xây dựng một lược đồ đánh giá  
chất lượng thông tin theo thứ bậc với năm cấp. Cấp một có năm tiêu thức phản ánh  
chất lượng và hiểu đó là các điều kiện tiên quyết, bao gồm: tính trung thực; tính tin  
cậy về phương pháp luận; tính chính xác; khả năng tiếp cận và khả năng phục vụ.  
Cấp hai và cấp ba bao gồm các yếu tố và các chỉ tiêu của chất lượng. Cấp bốn đề  
cập tới những vấn đề tập trung đặc biệt và cấp năm liên quan tới những điểm cơ  
bản cần thực hiện để đảm bảo chất lượng thông tin.  
Cơ quan Thống kê Châu Âu với quan điểm đặt người sử dụng và các yêu  
cầu của họ đối với số liệu thống kê vào trọng tâm trong công tác nên cơ quan này  
đã dựa vào các định mức của tiêu chuẩn ISO 8402 để đưa ra 7 tiêu thức phản ánh  
chất lượng thông tin thống kê, bao gồm: tính phù hợp, tính chính xác, khả năng  
tiếp cận, tính kịp thời, tính chặt chẽ, khả năng so sánh và tính đầy đủ. Cơ quan  
Thống kê Liên Hợp Quốc (UNSD) và một số tổ chức khác như tổ chức Nông  
nghiệp và Lương thực quốc tế đưa ra ý tưởng về chất lượng thông tin chỉ tập trung  
vào một số yếu tố phản ánh về chất lượng. Chẳng hạn, vào năm 1996, UNSD đã  
công bố Quy tắc phổ biến số liệu áp dụng trong thực tế thống kê, đồng thời UNSD  
cũng tiến hành rà soát trong nội bộ công tác thu thập số liệu, hiệu chỉnh và công bố  
thông tin để tìm ra phương pháp tốt nhất cho các hoạt động thu thập số liệu, hiệu  
chỉnh, đánh giá và công bố các bản siêu dữ liệu.  
Khác với các tổ chức thống kê quốc tế, căn cứ vào tình hình thực tiễn và  
trình độ phát triển của từng nước, các cơ quan Thống kê quốc gia nghiên cứu và  
5
lựa chọn các tiêu thức riêng để áp dụng trong công tác quản lý chất lượng thông tin  
thống kê của nước mình. Cơ quan Thống kê Canađa - một trong những cơ quan  
thống kê quốc gia đi đầu trên thế giới trong thực hiện quản lý chất lượng thông tin  
thống kê và coi công tác này có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình quản lý  
chung của toàn bộ cơ quan đã lựa chọn sáu tiêu thức sau: tính phù hợp, tính chính  
xác, tính kịp thời, khả năng tiếp cận, tính chặt chẽ và khả năng giải thích. Thống  
kê Thụy Điển quan niệm chất lượng sản phẩm thống kê là chất lượng của các  
thông tin đầu ra do người sử dụng quyết định. Sản phẩm thống kê được coi là có  
chất lượng nếu hầu hết người sử dụng tin tưởng rằng sai số thống kê được kiềm  
chế và trong một khoảng cho phép, độ lệch chuẩn và khoảng tin cậy phản ánh đúng  
thực tế. Thống kê Thụy Điển có trách nhiệm bảo đảm số liệu thống kê phù hợp với  
mục đích của người dùng tin và chỉ lựa chọn năm tiêu thức để phản ánh chất lượng  
thông tin: tính chính xác, khả năng tiếp cận, tính kịp thời, tính chặt chẽ và khả  
năng so sánh.  
2.2 Thống kê Việt Nam lựa chọn các tiêu thức phản ánh chất lượng  
thông tin  
Dựa vào Điều 4 của Luật Thống kê, xét điều kiện thực tế của Việt Nam,  
đồng thời tham khảo việc lựa chọn các tiêu thức phản ánh chất lượng thông tin  
của tổ chức thống kê các nước và quốc tế, Tổng cục Thống kê đề xuất sáu tiêu  
thức nên lựa chọn trong công tác quản ký và nâng cao chất lượng thông tin  
thống kê: tính phù hợp, tính chính xác, tính kịp thời,khả năng tiếp cận, khả năng  
giải thích và tính chặt chẽ. Đề xuất sáu tiêu thức dựa trên những cơ sở chủ yếu  
sau đây:  
a. Để đảm bảo tính trung thực, khách quan, chính xác, đầy đủ, kịp thời  
trong hoạt động thống kê được qui định trong Luật Thống kê đòi hỏi thông tin  
thống kê phải đáp ứng các tiêu thức về tính phù hợp, tính chính xác và tính kịp  
thời. Luật thống kê cũng qui định "Công khai về phương pháp thống kê, công bố  
thông tin về thống kê" và "Bảo đảm quyền bình đẳng trong tiếp cận và sử dụng  
thông tin thống kê nhà nước phải được công bố công khai". Hai nguyên tắc này  
6
đòi hỏi thông tin thống kê phải đáp ứng các tiêu thức về khả năng tiếp cận và  
khả năng giải thích.  
b. Một trong những nguyên nhân ảnh hưởng độ tin cậy của thông tin thống  
kê đó là phương pháp luận áp dụng trong thu thập, xử lý và biên soạn các chỉ tiêu  
chưa đồng bộ và thống nhất. Tính chặt chẽ đòi hỏi TCTK phải sử dụng thống nhất  
các khái niệm, phân loại chuẩn và phương pháp luận trong toàn bộ hệ thống thống  
kê, vì vậy tiêu thức tính chặt chẽ rất cần thiết và phù hợp với tình hình thực tiễn  
của TCTK.  
c. Áp dụng sáu tiêu thức là điều kiện cần để TCTK đáp ứng 10 nguyên  
tắc cơ bản của thống kê nhà nước do các tổ chức thống kê quốc tế nêu ra, đảm  
bảo uy tín của TCTK và đảm bảo chất lượng của thông tin thống kê.  
d. Lựa chọn sáu tiêu thức phù hợp với xu thế lựa chọn chung của cơ quan  
thống kê các nước và các tổ chức quốc tế, đảm bảo tính tương thích trong cách  
hiểu, phương pháp tiếp cận đến phương pháp quản lý chất lượng thông tin thống kê  
và trong chừng mực nào đó đảm bảo khả năng so sánh giữa các cơ quan thống kê  
quốc gia.  
Sáu tiêu thức phản ánh chất lượng thông tin thống kê có nội dung như sau :  
(i) Tính phù hợp của số liệu thống kê được thể hiện qua mức độ đáp ứng nhu  
cầu thông tin của người sử dụng. Đánh giá mức độ phù hợp của số liệu thống kê  
phụ thuộc vào nhu cầu khác nhau và hay thay đổi của người dùng tin. Với nguồn  
lực có hạn, cơ quan thống kê không thể đáp ứng tất cả nhu cầu của người dùng tin  
mà phải xác định những loại số liệu biên soạn nhằm giải quyết bất cập giữa nhu  
cầu thông tin đa dạng với nguồn lực có hạn nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu của người  
sử dụng.  
(ii) Tính chính xác của số liệu thể hiện qua mức độ phản ánh sát thực các  
hiện tượng kinh tế, xã hội của các chỉ tiêu thống kê. Không thể đòi hỏi số liệu  
thống kê phản ánh đúng hiện tượng vì thông tin thống kê đầu vào dùng để tính toán  
luôn chứa đựng sai số hệ thống và sai số ngẫu nhiên.  
7
(iii) Tính kịp thời của số liệu thống kê biểu thị độ trễ về thời gian giữa thời  
kỳ hay thời điểm số liệu thống kê phản ánh với thời điểm công bố số liệu. Luôn có  
sự đánh đổi giữa tính chính xác và tính kịp thời của số liệu thống kê, yêu cầu số  
liệu càng nhanh thì độ chính xác của số liệu càng kém.  
(iv) Khả năng tiếp cận của số liệu thống kê thể hiện mức độ dễ dàng để có  
được số liệu từ các cơ quan thống kê. Khả năng tiếp cận thể hiện ở hai khía cạnh:  
Mức độ dễ dàng để có thể xác minh được số liệu thống kê cần có và sự phù hợp  
của các phương thức tiếp cận số liệu.  
(v) Khả năng giải thích của số liệu thống kê phản ánh mức độ sẵn có của  
những thông tin bổ sung và các bảng giải thích cần thiết giúp cho người dùng  
tin hiểu và sử dụng số liệu một cách chính xác và hợp lý, bao gồm: khái niệm  
của chỉ tiêu, các phương pháp phân loại đang áp dụng, phương pháp thu thập và  
xử lý thông tin, phương pháp luận dùng trong biên soạn chỉ tiêu và chỉ rõ mức  
độ chính xác của số liệu thông tin thống kê.  
(vi) Tính chặt chẽ của số liệu thống kê phản ánh mức độ kết hợp số liệu từ  
các nguồn khác nhau để đưa vào cùng một lược đồ số liệu rộng hơn theo thời gian.  
Tính chặt chẽ đòi hỏi cơ quan thống kê phải sử dụng thống nhất các khái niệm,  
phân loại chuẩn và phương pháp luận trong toàn bộ hệ thống thống kê.  
Các tiêu thức phản ánh chất lượng thông tin thống kê mang ý nghĩa định  
tính. Trong quản lý, các nhà thống kê đã xây dựng Hệ thống đánh giá chất lượng  
thông tin để đo lường chất lượng thông tin về mặt định lượng. Hệ thống này tập  
trung đánh giá trên sáu lĩnh vực: (i) Môi trường làm ra thông tin thống kê, (ii) Tính  
phù hợp của qui trình làm ra thông tin thống kê, (iii) Tính chính xác của hoạt động  
thu thập thông tin, (iv) Tính hoàn hảo của thông tin thống kê đã công bố, (v)  
Mức độ thoả mãn nhu cầu của người sử dụng, (vi) Nỗ lực hoàn thiện chất lượng  
thông tin. Trong mỗi lĩnh vực đều lựa chọn một số chỉ tiêu để đánh giá và cuối  
cùng lượng hoá bằng điểm số cho cả hệ thống.  
II. THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN THỐNG KÊ Ở  
NƯỚC TA  
8
2.1. Thực trạng chung  
Trên cơ sở lựa chọn sáu tiêu thức phản ánh chất lượng thông tin thống kê,  
trong phần này chúng tôi đề cập tới thực trạng chất lượng thông tin thống kê theo  
những tiêu thức này.  
2.1.1. Tính phù hợp của thông tin thống kê là một đòi hỏi cao và khó đối với  
ngành Thống kê vì yêu cầu của các đối tượng sử dụng thông tin thống kê rất đa  
dạng và có tính phức tạp khác nhau. Cơ quan quản lý nhà nước cần nhiều thông tin  
mang tính tổng hợp, ngược lại yêu cầu thông tin của nhà đầu tư lại rất cụ thể về các  
yếu tố sản xuất, kết quả sản xuất và chi tiết đến từng ngành, nhóm ngành.  
Do yêu cầu đa dạng và phức tạp của các đối tượng sử dụng, ngành Thống kê không  
bao giờ đáp ứng đầy đủ mọi đòi hỏi của tất cả các đối tượng sử dụng chủ yếu và  
các đối tượng khác. Nhìn chung số liệu của Tổng cục Thống kê ngày càng mở rộng  
và đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của các đối tượng dùng tin, nhưng mới  
đảm bảo một phần yêu cầu và còn thiếu nhiều chỉ tiêu như: Chỉ tiêu phản ánh về  
tiến bộ kỹ thuật và áp dụng công nghệ kỹ thuật mới, chỉ tiêu phản ánh về năng lực  
sản xuất và sử dụng năng lực của một số ngành quan trọng của nền kinh tế quốc  
dân,... Mặt khác còn có sự trùng chéo về thông tin thống kê đầu ra giữa TCTK và  
một số Bộ, ngành liên quan. Số liệu thống kê của các chuyên ngành phân tổ theo  
vùng lãnh thổ còn bất cập, chưa phù hợp, chưa đáp ứng nhu cầu sử dụng.  
2.1.2. Tính chính xác. Hiện nay ngành Thống kê chưa lượng hoá được các  
sai số, đồng thời mức độ chính xác của số liệu mới chỉ đánh giá mang tính chất  
định tính và theo kinh nghiệm của các chuyên gia. Nhìn chung, số liệu thống kê  
tính chung cho toàn bộ nền kinh tế đã phản ánh đúng bản chất và xu hướng của các  
hiện tượng kinh tế, xã hội như: tốc độ tăng trưởng của sản xuất, cơ cấu kinh tế,...  
Tuy vậy, mức độ tiệm cận của xu hướng so với thực tế vẫn chưa sát do số liệu  
thống kê còn chứa đựng các sai số không chỉ do chủ quan của cán bộ thống kê, mà  
còn bị ảnh hưởng của tư tưởng thành tích cục bộ, áp đặt số liệu theo chủ quan duy  
ý chí của lãnh đạo các cấp.  
9
Tính chính xác của số liệu thống kê còn được đánh giá thông qua mức độ  
chênh lệch của số liệu ước tính, số liệu sơ bộ và số liệu chính thức. Qua tìm hiểu  
một số chuyên ngành cho thấy tính chính xác của số liệu thống kê hiện nay vẫn là  
chủ đề gây nhiều tranh luận. Hiện tượng chênh lệch giữa số liệu ước, số liệu sơ bộ  
và số liệu chính thức, giữa số liệu tổng hợp chung của toàn quốc với số liệu của  
các địa phương là khá phổ biến. Hiện tượng này phát sinh ở hầu hết các chuyên  
ngành.  
2.1.3. Tính kịp thời. Ngành Thống kê đã tổ chức thu thập, tổng hợp và công  
bố số liệu vào những thời điểm, dưới các dạng số liệu khác nhau: số ước tính, số sơ  
bộ và số chính thức. Chế độ báo cáo thống kê định kỳ áp dụng đối với các Cục  
Thống kê đã bổ sung nhiều chỉ tiêu so với trước và các biểu báo cáo đã thay đổi về  
thời gian để có thông tin kịp thời, phù hợp với tình hình thực tế của từng vùng.  
Ngành Thống kê đã tăng số kỳ báo cáo của nhiều chỉ tiêu nên đã nâng cao hơn tính  
kịp thời trong cung cấp thông tin thống kê. Tuy vậy, tính kịp thời của thông tin  
thống kê còn chưa đồng đều giữa các ngành, các nhóm chỉ tiêu. Nhiều chỉ tiêu, báo  
cáo chính thức, đặc biệt là các chỉ tiêu báo cáo năm, số liệu của các cuộc tổng điều  
tra thống kê,... còn chậm đã làm giảm tính thời sự và giá trị của thông tin.  
2.1.4. Khả năng tiếp cận. Số liệu thống kê được biên soạn nhằm mục đích  
hướng tới nhu cầu của người sử dụng và phổ biến rộng rãi dưới nhiều hình thức.  
Trong các hình thức phổ biến khác nhau, trang Web của TCTK được người dùng  
tin đánh giá cao. Tuy vậy, việc cung cấp thông tin thống kê vẫn còn những hạn  
chế. Chưa công bố rộng rãi một số thông tin ước tính và thường tập trung công bố  
một số chỉ tiêu quan trọng, cho một số đối tượng sử dụng chủ yếu như: Chính phủ,  
các Bộ, ngành liên quan trực tiếp. Nhiều thông tin chỉ công bố hạn chế ở mức độ  
tổng hợp và cho phạm vi cả nước. Số lượng và chủng loại các ấn phẩm còn ở mức  
khiêm tốn, chưa đa dạng, chậm được cải tiến cả về hình thức và nội dung thông tin.  
Thông tin để người sử dụng có thể khai thác qua mạng chưa nhiều và chưa được  
cập nhật kịp thời. Công tác tuyên truyền quảng bá về thống kê còn ít. Chưa có cơ  
chế rõ ràng về cung cấp các thông tin chuyên sâu, chi tiết, các cơ sở dữ liệu vi mô.  
10  
Do vậy, việc cung cấp các loại thông tin còn mang tính tự phát, tuỳ tiện và nhiều  
khi không thống nhất giữa các đối tượng khác nhau.  
2.1.5. Khả năng giải thích. Ngành Thống kê đã quan tâm đến khả năng giải  
thích của số liệu và trên thực tế đã đáp ứng được yêu cầu của các đối tượng sử  
dụng về tính công khai, minh bạch đối với phương pháp thu thập thông tin và chế  
độ báo cáo. Phương án của các cuộc tổng điều tra được công khai trên trang Web  
của TCTK để mọi đối tượng có thể tìm hiểu. Phổ biến thông tin thống kê có kèm  
theo các bảng giải thích về khái niệm, nội dung, phương pháp tính. Tuy vậy, vẫn  
còn những tồn tại cần khắc phục nhằm nâng cao hơn nữa khả năng giải thích của  
số liệu thống kê trong thời gian tới với mục tiêu để đa số người sử dụng biết được  
những thông tin nào hiện có, phương pháp thu thập và tính toán các chỉ tiêu cũng  
như thời điểm cung cấp số liệu.  
2.1.6. Tính chặt chẽ. Số liệu thống kê cơ bản đã đảm bảo tính chặt chẽ và  
lôgíc cả về không gian và thời gian. Số liệu sơ cấp được thu thập, tính toán dựa  
trên các khái niệm, định nghĩa và phân tổ theo một chuẩn mực thống nhất nên có  
thể dùng để tổng hợp và liên kết giữa các chỉ tiêu có liên quan. Số liệu tổng hợp  
được sắp xếp theo trình tự khoa học, thống nhất về phạm vi và cách phân tổ.  
Quá trình thiết kế các loại phiếu điều tra được thực hiện một cách đồng bộ ở  
các khâu công việc từ việc xác định nhu cầu, nội dung điều tra đến xây dựng  
phương án, thiết kế mẫu, phiếu điều tra, tài liệu hướng dẫn cũng như các qui trình  
bắt buộc trong điều tra. Chế độ báo cáo thống kê thường xuyên được nghiên cứu,  
bổ sung và sửa đổi cho phù hợp với nhu cầu thông tin trong từng thời kỳ và đặc  
điểm tổ chức sản xuất của các đơn vị đề xuất những nội dung và hình thức báo cáo  
phù hợp. Tuy vậy đi sâu tìm hiểu số liệu chi tiết của ngành còn thấy bất hợp lý.  
Phần lớn số liệu chỉ sử dụng được ở mức độ toàn nền kinh tế, phân tổ đối với  
ngành cấp I và cấp II. Các bộ số liệu khác nhau phân tổ chi tiết đến ngành cấp III  
còn có mâu thuẫn. Giữa Tổng cục với các Cục Thống kê và giữa các Cục Thống kê  
với nhau chưa có sự thống nhất về nội dung, phương pháp điều tra thu thập số liệu,  
tổng hợp, tính toán và suy rộng trên địa bàn lãnh thổ. Chưa đảm bảo tính hệ thống  
và thiếu sự chỉ đạo thống nhất, mặc dù nội dung, nguồn thông tin và phương pháp  
11  
tính của nhiều chỉ tiêu đã được xây dựng theo những qui trình chặt chẽ và khoa học  
nhưng trên thực tế việc tổ chức thực hiện chưa nghiêm túc.  
2.2. Thực trạng tại địa phương  
Bắc Giang là một tỉnh miền núi thấp với diện tích 3.844 km2; dân số gần 1,6  
triệu người; kinh tế chậm phát triển, thu ngân sách trên địa bàn hàng năm chỉ đáp  
ứng trên dưới 25% nhu cầu chi của tỉnh, kinh phí hoạt động của ngành Thống kê  
hàng năm chủ yếu là nguồn kinh phí từ trung ương cấp, do vậy: Việc thu thập  
thông tin thông kê trên địa bàn gặp không ít khó khăn, dẫn đến một số tồn tại hạn  
chế trong công tác chuyện môn của ngành là:  
- Những thông tin thống kê hàng tháng, quí, năm mới đảm bảo tính kịp thời,  
chất lượng số liệu chưa cao, nhất là các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế. Còn  
nhiều lĩnh vực thống kê chưa thu thập hết phạm vi như : Hiệu quả sử dụng vốn đầu  
tư XDCB, hiệu quả sử dụng trên 1 đơn vị diện tích đất canh tác; các số liệu về vệ  
sinh môi trường ...(nguyên nhân do một số cuộc điều tra chọn mẫu chỉ đại diện  
được cho cấp quốc gia còn chưa đại diện được cho tỉnh và huyện.)  
- Trong quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý các cơ sở sản xuất kinh doanh  
hoạt động đa dạng, phong phú, song do nguồn lực của Ngành Thống kê còn hạn  
chế nên chưa có được các giải pháp tích cực trong việc cải tiến phương pháp thu  
thập thông tin; nên mới đáp ứng được yêu cầu thông tin của Trung ương chưa đáp  
ứng được đầy đủ yêu cầu quản lý điều hành kinh tế - xã hội của Lãnh đạo địa  
phương.  
- Việc phân tích các số liệu thống kê phục vụ địa phương và kế hoạch thông  
tin của Ngành còn yếu; các hiện tượng kinh tế- xã hội, thiên tai xảy ra đột xuất  
chưa nhạy bén phản ảnh đầy đủ và kịp thời.  
2.3. Các nguyên nhân ảnh hưởng tới chất lượng thông tin thống kê  
2.3.1. Phương pháp thống kê có vai trò quan trọng, không những quyết định  
phương pháp tính các chỉ tiêu cụ thể mà còn quyết định tới các hoạt động thống kê  
có liên quan. Với thực tế hiện nay về phương pháp thống kê của ngành, Tổng cục  
cần rà soát và hoàn thiện phương pháp thống kê thuộc tất cả các lĩnh vực. Đây là  
12  
một nội dung lớn, cần đưa ra thành một chương trình công tác trọng tâm của  
ngành. Ở đây chúng tôi chỉ liệt kê một vài nguyên nhân ảnh hưởng tới chất lượng  
của một số chỉ tiêu kinh tế tổng hợp đó là: Phạm vi tính chưa đầy đủ; đơn vị thống  
kê dùng để thu thập thông tin chưa phù hợp; phương pháp tính còn nhiều bất cập,  
chưa tôn trọng đầy đủ các nguyên tắc cơ bản khi tính chỉ tiêu; qui trình tính chưa  
phù hợp và khoa học.  
2.3.2. Tính đồng bộ của số liệu thống kê được phản ánh trên hai góc độ:  
đồng bộ giữa số liệu đầu vào và chỉ tiêu đầu ra được đề cập theo các nội dung sau:  
(i) Giữa số liệu trung ương và số liệu địa phương, (ii) Số liệu giữa TCTK và các  
Bộ, Ngành, (iii) Giữa chỉ tiêu tổng hợp và chỉ tiêu chuyên ngành, (iv) Giữa số liệu  
dự báo và số liệu chính thức. Đồng bộ về phương pháp và công cụ dùng trong biên  
soạn các chỉ tiêu được đề cập theo các nội dung sau: (i) Đồng bộ giữa số liệu thống  
kê chuyên ngành và thống kê tổng hợp, (ii) Đồng bộ giữa thống kê tài khoản quốc  
gia thuộc TCTK với các Cục Thống kê, (iii) Đồng bộ của thống kê chuyên ngành,  
giữa TCTK với các Cục Thống kê.  
2.3.3. Cơ chế quản lý và một số yếu tố khác như: quan niệm của người sử  
dụng thông tin, phương thức phổ biến thông tin, sự hiểu biết của người sử dụng về  
qui trình sản xuất số liệu thống kê cũng là những nhân tố tác động tới chất lượng  
của thông tin thống kê. Chẳng hạn, Cục Thống kê các tỉnh, thành phố trực thuộc  
trung ương chịu sự quản lý của TCTK về nghiệp vụ chuyên môn, nhưng hệ thống  
chính trị thuộc sự quản lý của địa phương. Do bệnh thành tích và một số lý do  
khách quan khác, lãnh đạo tỉnh và thành phố đôi khi can thiệp vào số liệu do các  
Cục Thống kê tính.  
III. CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THÔNG  
TIN THỐNG KÊ HIỆN NAY  
3.1. Hoàn thiện phương pháp thống kê  
Phương pháp thống kê có tầm quan trọng đặc biệt vì nó sẽ quyết định tới  
các loại thông tin thống kê đầu vào, tới đối tượng thu thập thông tin, phương  
pháp và công cụ dùng trong tính toán các chỉ tiêu thống kê đầu ra. Trong  
13  
khuôn khổ bài viết, chúng tôi đề xuất một số nội dung cơ bản nhất về hoàn  
thiện phương pháp thống kê trong tổng thể các giải pháp nhằm nâng cao chất  
lượng thông tin thống kê, bao gồm các nội dung sau:  
3.1.1. Đơn vị thống kê. TCTK cần nghiên cứu và hoàn thiện từng loại cụ thể  
đơn vị thống kê với mục đích biên soạn từng chỉ tiêu kinh tế cụ thể. Vụ Phương  
pháp chế độ thống kê phối hợp với các đơn vị có liên quan thực hiện nội dung này.  
3.1.2. Xây dựng và áp dụng các bảng phân loại. Bên cạnh việc rà soát, sửa  
đổi và hoàn thiện các bảng danh mục hiện có TCTK cần tiếp tục nghiên cứu và  
trình Chính phủ ban hành một số bảng phân loại mới. Khi đã xây dựng và ban hành  
các bảng phân loại và danh mục, Tổng cục phải có biện pháp áp dụng vào từng  
lĩnh vực thống kê phù hợp. Việc áp dụng phải đáp ứng hai yêu cầu: (i) áp dụng ở  
mức độ chi tiết, đảm bảo yêu cầu tính chi tiết của các lĩnh vực thống kê và đáp ứng  
khả năng so sánh, (ii) áp dụng thống nhất cho các lĩnh vực thống kê có liên quan.  
3.1.3. Xác định phương pháp và qui trình tính. Đảm bảo sự nhất quán và  
thống nhất về phương pháp thống kê có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trong kế  
hoạch công tác giai đoạn 2007 - 2010, TCTK nên dành nguồn lực và thời gian thoả  
đáng để xác định các phương pháp thống kê phải áp dụng trong thống kê tổng hợp  
và thống kê chuyên ngành.  
Việc thực hiện phương pháp thống kê có liên quan tới tất cả các nghiệp vụ  
chuyên môn, liên quan giữa TCTK với các Cục Thống kê, giữa TCTK với các Bộ,  
ngành. Để đảm bảo chất lượng thông tin thống kê nói chung, đảm bảo khả năng so  
sánh và độ tin cậy về phương pháp áp dụng đòi hỏi các đơn vị trong Tổng cục phải  
tuân thủ và áp dụng thống nhất phương pháp thống kê. Tổng cục có thể áp dụng  
một số giải pháp nhằm tạo ra sự nhất quán và thống nhất giữa các đơn vị trong  
Tổng cục; giữa các đơn vị trong Tổng cục và các Cục Thống kê; giữa TCTK và các  
Bộ, ngành.  
3.1.4. Qui trình tính toán cần nghiên cứu và đổi mới đối với từng chỉ tiêu  
kinh tế tổng hợp. Đối với GDP Tổng cục nên áp dụng qui trình tính từ trên xuồng.  
Áp dụng qui trình này có các ưu điểm; (i) Kiểm soát được phạm vi thu thập thông  
14  
tin của các Cục Thống kê, (ii) Không mất thời gian và lực lượng cán bộ để kiểm  
soát việc tính toán và áp dụng thống nhất phương pháp tính của các Cục thống kê,  
(iii) loại trừ bệnh thành tích muốn có tốc độ tăng trưởng cao của các tỉnh, thành  
phố, (iv) Với việc áp dụng đơn vị cơ sở làm đơn vị thống kê, Tổng cục Thống kê  
sẽ loại trừ hiện tượng chênh lệch giữa số liệu của trung ương và địa phương, (v)  
Thực hiện đúng Luật Thống kê qui định: "Thủ trưởng cơ quan thông kê trung ương  
công bố thông tin thống kê thuộc hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia", (vi) Tổng  
cục có thể sắp xếp lại đội ngũ cán bộ giữa trung ương và địa phương.  
3.2. Nghiên cứu các giải pháp quản lý chất lượng số liệu thống kê  
3.2.1. Quản lý tính phù hợp. TCTK cần xây dựng kế hoạch rà soát định kỳ  
nhu cầu của người sử dụng. Quá trình rà soát có thể thực hiện theo bốn nhóm hoạt  
động sau:  
a. Xây dựng cơ chế phản hồi của người dùng tin, bao gồm: thành lập Hội  
đồng thống kê quốc gia; thành lập Hội đồng tư vấn chuyên môn cho các lĩnh vực  
thống kê chủ yếu của TCTK; trao đổi định kỳ với phòng Thương mại và Công  
nghiệp Việt Nam để tìm hiểu nhu cầu thông tin của giới doanh nghiệp và thông  
báo cho họ chính sách phục vụ và phổ biến thông tin của TCTK; trao đổi định kỳ  
với các cơ quan Thống kê nước ngoài và các tổ chức quốc tế để tìm hiểu nhu cầu  
mới về thông tin thống kê,…  
b. Rà soát lại các chương trình công tác thống kê nghiệp vụ và thống kê tổng  
hợp nhằm đánh giá mức độ thoả mãn nhu cầu của người sử dụng. Tất cả các đơn vị  
trong Tổng cục phải làm báo cáo định kỳ đề cập rõ việc thực hiện chương trình  
công tác, xác định phương hướng, rà soát tiêu thức tính phù hợp của số liệu thống  
kê và đề xuất những thay đổi trong thời gian tới. Tất cả các đề xuất trong báo cáo  
sẽ được cân nhắc trong quá trình lập kế hoạch công tác thống kê cho giai đoạn tiếp  
theo.  
c. Phân tích số liệu. Hoạt động phân tích số liệu sẽ phát hiện ra bản chất bên  
trong của số liệu hiện có và sẽ biết được số liệu thuộc đơn vị nào để đưa thành  
15  
nhiệm vụ công tác cho một số Vụ thống kê có liên quan, hoặc có thể thành lập các  
tổ phân tích với cơ chế linh hoạt.  
d. Lập kế hoạch phát triển công tác số liệu của ngành thống kê cho giai đoạn  
trung và dài hạn sẽ được cung cấp một lược đồ chiến lược phát triển một cách bài  
bản và làm cơ sở đưa ra những thay đổi trong chương trình công tác của ngành  
trong các năm tiếp theo. TCTK nên đưa việc lập kế hoạch phát triển công tác thông  
tin nên trở thành một chương trình nghị sự quan trọng trong Hội nghị Tổng kết  
công tác thống kê hàng năm. Lãnh đạo các cấp trong Ngành xác định những công  
việc nào chưa cần thiết thực hiện trong năm tới và vài năm tiếp theo, đồng thời  
khuyến khích mọi ý kiến đề xuất những công việc cần làm nhằm đáp ứng nhu cầu  
của người dùng tin.  
3.2.2. Quản lý tính chính xác. Chất lượng thông tin đầu vào quyết định tính  
chính xác của số liệu thống kê. Hiện nay, thông tin thống kê đầu vào chủ yếu dựa  
vào các cuộc điều tra, các giải pháp nâng cao chất lượng thông tin điều tra, bao  
gồm các nội dung phù hợp với qui trình điều tra: (i) Thiết kế chương trình điều tra;  
(ii) Thực hiện điều tra; (iii) Đánh giá chất lượng của số liệu điều tra; (iv) Đánh giá  
việc tuân thủ phương án điều tra.  
3.2.3. Quản lý tính kịp thời. Tổng cục Thống kê cần nghiên cứu, áp dụng  
một số giải pháp sau: (i) Phân loại số liệu và xác định thời điểm công bố đối với  
từng loại số liệu; (ii) Rà soát và hoàn thiện chính sách phổ biến thông tin đối với  
từng chỉ tiêu thống kê; (iii) Thông báo trước kế hoạch, trong đó nêu rõ thời điểm  
công bố các loại số liệu; (iv) Xây dựng kế hoạch, xác định thời gian hoàn thành và  
xây dựng chương trình giám sát việc thực hiện kế hoạch cho từng hoạt động thống  
kê của từng lĩnh vực hoạt động cụ thể; (v) Nghiên cứu và tiến tới áp dụng hoàn  
thiện công nghệ thông tin vào mọi khâu và mọi quá trình hoạt động thống kê để  
nâng cao năng lực, giảm thời gian xử lý và truyền đưa thông tin.  
3.2.4. Quản lý khả năng tiếp cận. TCTK cần thực hiện một số giải pháp như  
sau; (i) Tìm hiểu sở thích của người dùng tin và thành lập Tổ nghiên cứu thị  
trường; (i) Tiến hành lập hồ sơ của các đối tượng sử dụng thông tin thống kê; (iii)  
Xây dựng trang Web trở thành phương thức phổ biến số liệu chủ yếu của Tổng cục  
16  
và đưa trang Web trở thành một thư viện thông tin; (iv) Xây dựng mối liên hệ phổ  
biến thông tin thống kê qua hệ thống thư viện quốc gia, hệ thống thư viện của  
trung tâm thông tin quốc gia của Bộ Khoa học và Công nghệ, hệ thống thư viện  
của các trường Đại học; (v) Quản lý tập trung và thống nhất hoạt động công bố và  
phổ biến số liệu qua "Qui chế công bố thông tin thống kê"; (iv) Đẩy mạnh hoạt  
động dịch vụ thống kê qua việc thành lập một bộ phận khách hàng.  
3.2.5. Quản lý khả năng giải thích. TCTK có trách nhiệm giải thích cho  
người sử dụng hiểu rõ các loại số liệu thống kê hiện có. Khi công bố bất kỳ một chỉ  
tiêu hay một loại số liệu thống kê nào, Tổng cục phải cung cấp các thông tin có  
liên quan như khái niệm, phân loại hiện đang áp dụng để biên soạn số liệu; phương  
pháp thu thập số liệu và phương pháp tính các chỉ tiêu; đánh giá tính chính xác của  
số liệu. Nên đưa ra danh mục những chỉ tiêu đã được tính toán, đồng thời cũng chỉ  
ra những tồn tại của phương pháp và đánh giá cách tính tốt đến mức nào. Biên  
soạn các bản siêu dữ liệu của hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia và các chỉ tiêu  
thống kê khác.  
TCTK cần xây dựng và thực hiện chính sách phổ biến kiến thức cho những  
người dùng tin. Mỗi loại đối tượng phải có phương thức và nội dung phổ biến phù  
hợp. Đối với các đại biểu Quốc hội, Tổng cục nên có những buổi báo cáo khái  
niệm, nội dung chủ yếu của một số chỉ tiêu kinh tế xã hội quan trọng; đối với các  
Bộ, ngành, Tổng cục có thể tổ chức các buổi tập huấn chuyên đề về khái niệm, nội  
dung và phương pháp tính một số chỉ tiêu thống kê có liên quan; đối với đông đảo  
công chúng, Tổng cục có thể thực hiện chương trình phổ biến kiến thức qua các  
phương tiện thông tin đại chúng.  
3.2.6. Quản lý tính chặt chẽ bao gồm ba nhóm giải pháp: (i) Xây dựng và áp  
dụng thống nhất khái niệm, phân loại nhằm đảm bảo tính thống nhất trong tính  
toán của toàn bộ hệ thống thống kê; (ii) Thống nhất các qui trình tính; (iii) Phân  
tích, so sánh và tổng hợp số liệu nhằm tìm ra các sai lệch và sự bất hợp lý của số  
liệu thống kê.  
3.2.7. Thực hiện các nguyên tắc của thống kê nhà nước.  
17  
Thực hiện đầy đủ 10 nguyên tắc của thống kê nhà nước là cơ sở nâng cao vị  
trí, vai trò và uy tín của TCTK, đồng thời cũng góp phần nâng cao chất lượng của  
thông tin thống kê. Tổng cục cần đưa ra những giải pháp cụ thể 10 nguyên tắc  
thành những hành động nhằm thực hiện trong thực tế công tác của ngành đối với tất  
cả các lĩnh vực có liên quan.  
3.2.8. Xây dựng hệ thống đánh giá chất lượng thông tin thống kê  
Tổng cục nên xây dựng Hệ thống đánh giá chất lượng thông tin thống kê  
theo sáu lĩnh vực trong hệ thống đánh giá chất lượng và cần thực hiện một số công  
việc theo các bước: (i) Thành lập nhóm chuyên trách đánh giá và quản lý chất  
lượng số liệu thống kê; (ii) Nghiên cứu và đề xuất các lĩnh vực cần đánh giá chất  
lượng, phù hợp với tình hình thực tế của ngành Thống kê nước ta hiện nay; (iii)  
Nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu dùng để đánh giá chất lượng số liệu của  
từng lĩnh vực; (iv) Triển khai đánh giá chất lượng tại Tổng cục cho các lĩnh vực  
lựa chọn cho thời kỳ 2008 - 2010. Tổng kết, rút kinh nghiệm cho giai đoạn sau.  
3.2.9. Các giải pháp về môi trường thống kê  
Trong nhóm giải pháp này gồm:  
+ Các giải pháp về nâng cao trình độ cán bộ thống kê  
Từng bước chuẩn hóa chất lượng, trình độ cán bộ thống kê từ các khâu như  
tiêu chuẩn của thí sinh dự thi vào ngành, đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ bổ sung cho  
cán bộ trong ngành một cách đều đặn và đẩy đủ.  
+ Các giải pháp nhằm phổ biến rộng rãi Luật Thống kê và các văn bản liên  
quan cho mọi đối tượng.  
Tăng cường tuyên truyền phổ biến rộng rãi Luật Thống kê trên các phương  
tiện thông tin đại chúng và bằng các hình thức khác, nâng cao vai trò và tiếng nói  
của ngành Thống kê cho mọi đối tượng.  
+ Các giải pháp trong khâu tổ chức thu thập thông tin  
Thực hiện tốt khâu tập huấn của các cuộc điều tra, tiến hành thanh tra, giám  
sát một cách đầy đủ và nghiêm túc.  
18  
+ Các giải pháp trong khâu kiểm tra xử lý số liệu  
Hoàn thiện các chương trình, phần mềm nhập tin và xử lý kết quả các cuộc  
điều tra thống kê; đơn giản hóa các chương trình xử lý thông qua sự kết nối giữa  
các phần mềm như giữa các phần mềm xử lý và phần mềm excel.  
+ Các giải pháp trong tổng hợp, phân tích, phổ biến thông tin  
Ngoài xây dựng và hoàn thiện các chương trình, phần mềm nhập tin và xử lý  
kết quả các cuộc điều tra thống kê, để nâng cao chất lượng trong tổng hợp, phân  
tích, phổ biến thông tin chúng ta phải nâng cao trình độ tin học, trình độ phân tích  
thống kê của cán bộ chuyên môn, đưa ra số lượng tối thiểu các chỉ tiêu cần phân  
tích trong một cuộc điều tra.  
+ Tăng cường xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành Thống kê  
+ Tăng cường nguồn kinh phí phục vụ công tác thống kê  
+ Tăng cường Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thống kê.  
19  
PHẦN C - KẾT LUẬN  
Nghiên cứu vấn đề nâng cao chất lượng thông tin thống kê giúp chúng ta có  
cái nhìn thẳng thắn về thực trạng chất lượng thông tin của ngành và từ đó chúng ta  
đưa ra được các giải pháp khắc phục, từng bước nâng cao vai trò và tiếng nói của  
ngành Thống kê trong thời kỳ hội nhập.  
Nâng cao chất lượng thông tin thống kê là công việc không chỉ của riêng  
ngành thống kê mà còn là của tất cả hệ thống chính trị, của lãnh đạo và chính  
quyền các cấp, cũng như của tất cả các đối tượng và các thành phần kinh tế. Các  
giải pháp và định hướng đưa ra để giải quyết vấn đề này đỏi hỏi sự thực hiện đồng  
bộ của cả hệ thống chính trị, chính quyền các cấp, của các đối tượng trong xã hội  
chứ không phải của riêng ngành và cán bộ thống kê.  
Vì vấn đề nghiên cứu là một vấn đề rộng, trong bài viết có sử dụng tư liệu  
của đồng nghiệp ở một số khía cạnh, hơn nữa vấn đề này là một bài toán và là một  
thách thức lớn đối với ngành Thống kê trong quá trình hội nhập, vậy nên trong bài  
viết không tránh khỏi các thiết sót. Rất mong quý bạn đọc góp ý, bổ sung để vấn đề  
được làm sáng tỏ hơn.  
20  
doc 20 trang Thùy Anh 16160 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đề tài Nâng cao chất lượng thông tin và khả năng đáp ứng nhu cầu thông tin của ngành Thống kê", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • docde_tai_nang_cao_chat_luong_thong_tin_va_kha_nang_dap_ung_nhu.doc