Tài liệu Tính minh bạch của doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam
89810
Tính Minh bạch của
Doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam
Thực trạng và ý tưởng cải cách
THE WORLD BANK
WORLD BANK GROUP
IBRD-IDA
Lời nói đầu
Tài liệu nhận định chính sách này đưa ra các
thông tin tổng quan về các yêu cầu công khai
thông tin của các Doanh nghiệp Nhà nước
(DNNN) tại Việt Nam. Tài liệu này là một nội
dung về Phân tích và Tư vấn thuộc Chương
trình tín dụng Quản lý Kinh tế và Năng lực Cạnh
tranh EMCC nhằm hỗ trợ Chính phủ Việt Nam
tăng cường công khai thông tin tài chính và phi
tài chính của các DNNN.
Hồng Quang (Chuyên gia kinh tế cao cấp, Ngân
hàng Thế giới); James Anderson (Chuyên gia
cao cấp về quản trị nhà nước, Ngân hàng Thế
giới); Trần Thị Lan Hương (Chuyên gia về quản trị
nhà nước, Ngân hàng Thế giới); Migara de Silva
(Chuyên gia kinh tế cao cấp, Ngân hàng Thế
giới), và Jhungsoo Park (Tư vấn, Ngân hàng Thế
giới). Hỗ trợ chương trình được thực hiện bởi Vũ
Thị Anh Linh (Trợ lý Chương trình, Ngân hàng
Thế giới).
Tài liệu nhận định chính sách này được tổng
hợp bởi Gregory Smith (Chuyên gia kinh tế,
Ngân hàng Thế giới), Lê Duy Bình (Tư vấn, Ngân
hàngThế giới) và Jim Colvin (Tư vấn, Ngân hàng
Thế giới) dưới sự chỉ đạo chung của Victoria
Kwakwa (Giám đốc quốc gia của Ngân hàng
Thế giới tại Việt Nam), Sudhir Shetty (Giám đốc
PREM của Ngân hàng Thế giới tại Đông Á và
Thái Bình Dương), Deepak Mishra (Chuyên gia
kinh tế trưởng khu vực Đông Á và Thái Bình
Dương), và Sandeep Mahajan (Chuyên gia kinh
tế trưởng Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam);
với sự đóng góp của Sameer Goyal (Trưởng
ban Phát triển Khu vực Tư nhân và Tài chính
của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam); Sunita
Kikeri (Trưởng ban Phát triển Khu vực Tư nhân
của Ngân hàng Thế giới); Habib Rab (Chuyên
gia kinh tế cao cấp, Ngân hàng Thế giới) ; Đoàn
Tài liệu nhận định chính sách này đã được thảo
luận tại các cuộc hội thảo khác nhau tại Việt Nam
với sự tham gia của các đại biểu từ Quốc hội, bộ
ngành của Việt Nam, Doanh nghiệp Nhà nước,
các đối tác phát triển. Nhóm công tác xin chân
thành cảm ơn sự đóng góp quý báu của Cục Tài
chính Doanh nghiệp của Bộ tài chính, Cục Phát
triển Doanh nghiệp của Bộ Kế hoạch và Đầu
tư, Ngân hàng Phát triển Châu Á tại Việt Nam.
Nhóm công tác cũng xin chân thành cảm ơn sự
đóng góp của các đối tác phát triển tham gia
chương trình EMCC: Bộ Ngoại giao và Thương
mại Úc (DFAT), Bộ Phát triển Quốc tế Anh, Cục
Kinh tế liên bang Thụy Sĩ, Bộ Ngoại giao, Thương
mại và Phát triển Canada. Tất cả sai sót thuộc về
các tác giả.
3
Mục lục
Những nội dung chính và ý tưởng cho các bước tiếp theo .........................................................9
1. Giới thiệu ................................................................................................................12
2. Việc công khai thông tin về các DNNN đem lại những lợi ích gì?........................16
3. DNNN tại Việt Nam hiện đang có những nghĩa vụ gì về công khai thông tin? ..20
4. Những thông tin nào hiện đang được công khai tại Việt Nam?..........................24
5. Thông lệ quốc tế về công khai thông tin của các DNNN......................................34
6. Các bước có thể thực hiện? ....................................................................................38
Tài liệu tham khảo............................................................................................................................ 41
Phụ lục I: Đánh giá tác động quy định pháp luật hiện hành về công khai thông tin DNNN .. 43
Phụ lục II: Kiểm tra tình trạng thông tin trên trang web của các DNNN: Tháng 4/2013 ..... 57
Phụ lục III: Kinh nghiệm của Hàn Quốc về công khai thông tin DNNN .................................. 63
5
Từ và thuật ngữ viết tắt tiếng Anh
CIEM
EGs
Viện Quản lý Kinh tế TW
Tập đoàn kinh tế
GCs
Tổng công ty
GSO
IPO
Tổng cục Thống kê
Chào bán lần đầu ra công chúng
Ngân hàng cổ phần
JSB
MARD
MOF
MOIT
MOLISA
MOT
MPI
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Bộ Tài chính
Bộ Công thương
Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội
Bộ Giao thông
Bộ Kế hoạch và Đầu tư
PFM
PPC
Quản lý tài chính công
Ủy ban Nhân dân tỉnh
PREM
SAV
Quản lý kinh tế và giảm nghèo
Kiểm toán Nhà nước Việt Nam
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh Vốn Nhà nước
Kế hoạch Phát triển Kinh tế Xã hội
Ủy ban Chứng khoán
SBV
SCIC
SEDP
SEC
SEG
Tập đoàn kinh tế Nhà nước
Tổng công ty Nhà nước
Ngân hàng thương mại quốc doanh
Ngân hàng Thế giới
SGC
SOCB
WB
7
Những nội dung chính và ý tưởng cho
các bước tiếp theo
Hiện ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy, việc công khai thông tin của
các DNNN, bên cạnh những cải cách khác, có thể góp phần cải thiện hiệu quả.
Thông tin công khai gồm cả dữ liệu tài chính và phi tài chính, có thể thực hiện
nội bộ hoặc ra ngoài (nghĩa là công khai ra công chúng).
Theo quan điểm hiện nay, thực trạng công khai cả thông tin tài chính và phi Xem trang 16
tài chính liên quan đến các DNNN ở Việt Nam nhìn chung đang gây thất vọng.
Thực tế công khai thông tin có sự khác nhau giữa các DNNN, nhưng nhìn chung
chưa đảm bảo về chất lượng, độ chính xác và kịp thời về dữ liệu, khiến cho khả
năng giám sát hiệu quả hoạt động của Chính phủ thực sự bị hạn chế nghiêm
trọng. Những quy định hiện hành cũng chưa tạo được một khung pháp quy
hiệu quả về công khai thông tin và cần tiếp tục hoàn thiện.
Các kết luận của nghiên cứu này cũng ủng hộ cho quan điểm trên và cho thấy Xem trang 24
mặc dù hiện có một số lượng đáng kể các DNNN đang tạo ra thông tin cho
các mục đích nội bộ, nhưng chất lượng thông tin vẫn cần được cải thiện. Đặc
biệt, thông tin cần phải chính xác hơn và những thông tin chính cần cung cấp
thường xuyên hơn để phục vụ giám sát, theo dõi và đánh giá.
Chuẩn mực công khai thông tin cho công chúng hiện còn ở mức thấp so với
các quốc gia tương đương. Trong trường hợp kém nhất, thông tin không được
công khai, còn trong những trường hợp tốt nhất, thì những thông tin công
khai cũng đã cũ, không rõ ràng và mâu thuẫn (ngoại trừ một số DNNN lớn đã
được cổ phần hóa). Việc tăng cường công khai – về số lượng cũng như chất
lượng – có thể đem lại những lợi ích đáng kể, sẽ được phân tích tại Phần 2. Một
điều cũng hiển nhiên nữa là việc đang được công luận quan tâm cũng làm gia
tăng nhu cầu thông tin, nhiều DNNN đang gặp khó khăn được đòi hỏi cao hơn
về công bố thông tin.
9
T í n h M i n h b ạc h c ủ a D oa n h n g h i ệ p n h à n ư ớ c Tạ i V i ệ T n a M : T h ự c T r ạ n g Và ý T ư ở n g c ả i c ác h
Cải cách tại Việt Nam cần phải phù hợp với bối cảnh kinh tế, thể chế và pháp Xem trang 34
lý của quốc gia. Nhưng dù sao, hiện đang có những bài học chính về cải cách
DNNN nói chung cũng như cải cách về công khai thông tin mà Việt Nam có thể
học hỏi từ các quốc gia khác cũng như qua hướng dẫn của OECD (một số bài
học chính được tổng hợp tại Phần 5.)
Các ý tưởng về định hướng tiếp theo: Những nội dung sau nhằm giúp thực
hiện những bước đi đáng tin cậy nhằm cải thiện việc công khai thông tin của
DNNN, góp phần cải thiện hiệu quả DNNN. Các bước đề xuất được liệt kê dưới
đây (từng bước dưới đây đều được chi tiết hóa tại Phần 6):
I. Bắt tay vào thực hiện tiến trình tăng cường công khai bằng cách thí điểm Xem trang 38
tại một số DNNN lựa chọn. Một cách khởi đầu là bắt đầu với các Tập đoàn
kinh tế, sau đó mở rộng ra các Tổng công ty, và cuối cùng thực hiện tại các
DNNN còn lại do nhà nước sở hữu 100%.
II. Tập trung vào việc công khai ra công chúng chứ không chỉ công khai trong
nội bộ.
III. Công khai thông tin có chất lượng về các DNNN tại một nơi tập trung
(cổng thông tin), trong đó có một cơ quan trung ương phụ trách việc điều
phối tiến trình này.
IV. Đơn giản hóa các yêu cầu thông tin và xây dựng một khuôn khổ pháp lý rõ
ràng hơn cũng như một hệ thống công khai thông tin chuẩn hóa.
V. Tạo động lực cho các DNNN tuân thủ theo khuôn khổ pháp lý và pháp quy
nêu trên bằng cách tương thưởng cho những doanh nghiệp tuân thủ và
xử phạt những doanh nghiệp không tuân thủ.
10
1. Giới thiệu
1.1. Việc công khai thông tin của các Doanh
nghiệp nhà nước (DNNN) là một phần của
chương trình nhằm tăng cường minh bạch
của khu vực công nói chung tại Việt Nam.
Những nghiên cứu gần đây của Ngân hàng
Thế giới và các tổ chức khác cho thấy bên
cạnh những tiến bộ đạt được, việc tuân thủ
các yêu cầu pháp lý về minh bạch vẫn còn là
một thách thức trong nhiều lĩnh vực về điều
hành khu vực công tại Việt Nam.1 Tuy nhiên,
lợi ích biên do tăng cường minh bạch đem lại
là rất lớn. Việc công khai kịp thời dữ liệu kinh
tế đáng tin cậy, và truyền thông tốt hơn về
những thay đổi chính sách, có thể giúp giảm
tính bất định trên thị trường cũng như quan
niệm về rủi ro.
Phát triển Việt Nam (2012) với tiêu đề “Kinh
tế thị trường khi Việt Nam trở thành quốc
gia thu nhập trung bình”, các đối tượng khảo
sát coi cải thiện minh bạch là giải pháp cải
cách hàng đầu cho các DNNN tại Việt Nam
bên cạnh việc đẩy mạnh tiến độ cổ phần
hóa (Hình1)2. Quyết định 929 (2012) của Thủ
tướng Chính phủ, phê duyệt kế hoạch tổng
thể nhằm tái cơ cấu các Tập đoàn và Tổng
công ty Nhà nước, đã thể hiện một số cam
kết nhằm cải thiện minh bạch về DNNN.
1.3. Minh bạch hóa các DNNN là một phần
quan trọng của chương trình hỗ trợ qua
nghiệp vụ hỗ trợ ngân sách về Tín dụng Quản
lý Kinh tế và Năng lực Cạnh tranh (EMCC).3 Tài
liệu nhận định chính sách này được lập trong
bối cảnh đó nhằm giúp tăng cường đối thoại
giữa Chính phủ Việt Nam với cách Đối tác
Phát triển trong quá trình tăng cường minh
bạch thông tin về các DNNN.
1.2. Minh bạch về các DNNN có vai trò đặc
biệt quan trọng vì sự hiện diện của chúng
trong nền kinh tế Việt Nam. Trong một khảo
sát được thực hiện năm 2011 cho Báo cáo
1
Tham khảo, chẳng hạn: ‘Báo cáo Phát triển VIệt Nam (2010): Các thể chế hiện đại’; ‘Báo cáo Phát triển VIệt Nam
(2012): Kinh tế thị trường khi Việt Nam trở thành quốc gia thu nhập trung bình’; ‘Báo cáo khảo sát về công khai
thông tin các quy định quản lý đất đai (2010)’; ‘Đánh giá về minh bạch tài khóa tại Việt Nam (2013)’. Bên cạnh đó,
Ngân hàng Thế giới đang bắt đầu Dự án Minh bạch Việt Nam để giúp cải thiện về minh bạch trong các lĩnh vực
khác nhau về điều hành khu vực công.
2
3
Ngân hàng Thế giới, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Tổ chức Viện trợ Ai-len (2012), ‘Việt Nam trong
Quá trình Chuyển đổi – Thay đổi Thái độ về Thị trường và Nhà nước’.
1?lang=en; truy cập ngày 7/7/2013.
12
G i ớ i t h i ệ u
Hình 1: Những giải pháp cải cách DNNN tại Việt Nam
Tăng cường minh bạch
Kiểm toán độc lập nhiều hơn
Tăng tốc độ cổ phần hóa
50
38
4
4
4
44
42
7
5 2
Hiệu quả cao
41
47
4
5 2
Hiệu quả trung bình
Không hiệu quả
Tăng cường thể chế
36
47
6
5
6
Giảm hỗ trợ tài chính từ phía Chính phủ
17
48
5
17
11
Không hiệu quả
mức trung bình
19
35
6
27
7
Chấm dứt ưu tiên tiếp cận tín dụng ngân hàng
Không bảo lãnh của chính phủ
Không hiệu quả cao
16
39
6
20
15
Không biết
0
10
20
30
40
50
60
70
80
90 100
Nguồn: ‘Việt Nam trong Quá trình Chuyển đổi – Thay đổi Thái độ về Thị trường và Nhà nước’.
13
2. Việc công khai thông tin về các
DNNN đem lại những lợi ích gì?
2.1. Công khai thông tin chính xác và kịp
thời là điều cần thiết nhằm đảm bảo trách
nhiệm giải trình, giám sát hiệu quả hoạt
động, và đảm bảo tuân thủ pháp luật và các
quy định của doanh nghiệp. Điều đó góp
phần khiến cho thị trường vận hành tốt hơn
và cải thiện hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp. Mặt khác, thiếu công khai thông tin
có thể dẫn đến những hành vi mờ ám và đem
lại những tác động tiêu cực cho cả nền kinh
tế như được minh chứng qua cuộc khủng
hoảng toàn cầu hiện nay (và trước đó).
2.3. Công khai tốt hơn nhằm cả vào đối
tượng nội bộ và bên ngoài, và đòi hỏi phải
công khai chính xác cả dữ liệu tài chính và
phi tài chính. Công khai trong nội bộ được
coi là “trong Chính phủ” ví dụ như, công khai
qua báo cáo ngân sách, báo cáo tài chính,
báo cáo kiểm toán, báo cáo về hiệu quả hoạt
động và các yêu cầu giám sát và đánh giá
khác của “chủ sở hữu” Nhà nước cũng như
các cơ quan quản lý. Công khai ra bên ngoài
nghĩa là cung cấp thông tin ra công chúng
(ví dụ, qua các trang web, báo cáo thường
niên, các tài liệu công bố, họp báo, thông
tin báo chí, cổng điện tử, và công báo). Việc
công khai có thể thực hiện trực tiếp từ các
DNNN hoặc qua một bên thứ ba (ví dụ qua
Bộ Tài chính hoặc Kiểm toán Nhà nước Việt
Nam).
2.2. Cải thiện công khai thông tin về các
DNNN là một ưu tiên cao tại Việt nam do vai
trò tương đối lớn của những doanh nghiệp
đó trong nền kinh tế. Việc cải thiện công khai
thông tin giúp các nhà đầu tư hiểu hơn về
hiệu quả hoạt động của DNNN, đem lại cho
công chúng quyền được thông tin về việc sử
dụng tài sản công, và giúp Chính phủ có khả
năng khiến các DNNN phải giải trình trách
nhiệm về kết quả. Do đó, nhu cầu cải thiện về
công khai thông tin không chỉ để công khai,
mà vì nó còn đóng một vai trò quan trọng
trong việc phát huy hiệu quả chung của khối
DNNN, nhằm đem lại một môi trường kinh
doanh thuận lợi hơn, đồng thời cải thiện hiệu
quả sử dụng công quỹ và các nguồn lực khan
hiếm như đất đai và vốn.
2.4. Có rất nhiều bằng chứng từ khu vực tư
nhân cho thấy vai trò của công khai thông
tin nhằm đem lại những chuyển biến về
hiệu quả hoạt động, bao gồm hiệu quả hoạt
động tài chính tốt hơn và giá trị thị trường
tốt hơn. Chẳng hạn, một nghiên cứu gần đây
tại tám thị trường chứng khoán lớn nhất ở
Mỹ La-tinh cho thấy, tăng cường công khai
tự nguyện qua internet đem lại giá trị thị
trường tốt hơn và hệ số thu nhập trên tài
16
V i ệ c c ô n g k h a i t h ô n g t i n V ề c ác D n n n đ e m l ạ i n h ữ n g lợ i í c h g ì ?
sản (ROA) tốt hơn4. Mặc dù quyền sở hữu
hợp của các DNNN đã tăng theo tốc độ
gộp trên 18%, và thu nhập trên danh
mục đầu tư vốn cổ phần là trên 11% một
năm.5
được tách ra khỏi quyền kiểm soát, nhưng
thông tin đến với các nhà quản lý trong nội
bộ doanh nghiệp vẫn nhiều hơn đáng kể so
với thông tin đến với các cổ đông bên ngoài.
Điều này dẫn đến cái gọi là chi phí lệ thuộc,
và làm tăng cảm giác rủi ro. Những cải thiện
về công khai có thể làm giảm những chi phí
và rủi ro đó, và làm tăng giá trị doanh nghiệp.
Tại Li-thua-nia, cải thiện cơ chế công khai
là một nội dung chính trong chương
trình cải cách DNNN được bắt đầu từ năm
2009. Kết quả đem lại hết sức ấn tượng và
trực quan. Năm 2009, danh mục DNNN
có lỗ hoạt động là 276 triệu Lita (105 triệu
USD), năm 2010, lợi nhuận đem lại là 40
triệu Lita (15 triệu USD) và đến năm 2011
lợi nhuận đã lên đến 142 triệu Lita (54
triệu USD). Cổ tức đã tăng đến gần năm
lần.6
2.5. Đối với các DNNN, lợi ích tiềm năng
thậm chí còn lớn hơn vì sự thiếu hụt về thông
tin giữa các cán bộ quản lý và chủ sở hữu
có thể còn lớn hơn. Nhưng bằng chứng về
những lợi ích đó khó thu thập hơn, vì những
cải thiện về công khai thường kèm theo
những thay đổi khác về điều hành (chẳng
hạn, những cải thiện trong Ban giám đốc,
cải cách về thể chế, tái cơ cấu tài chính). Tuy
nhiên, gần dây đã có những điển hình tốt về
việc những cải thiện về công khai thông tin,
bên cạnh những cải cách khác, đã đem lại cải
thiện về hiệu quả hoạt động của DNNN:
2.6. Tại Việt Nam, hiện có nhu cầu mạnh về
cải thiện minh bạch và trách nhiệm giải trình.
Tháng 1/2013, khi chủ trì một phiên họp với
lãnh đạo các DNNN, Thủ tướng Nguyễn Tấn
Dũng đã yêu cầu: “Các doanh nghiệp Nhà
nước phải tăng cường minh bạch hóa về hoạt
động” và “kết quả sản xuất kinh doanh phải
được công khai một cách minh bạch, trung
thực và kịp thời để công chúng nắm được tình
hình hoạt động của DNNN”7. Các DNNN đang
phải chịu sức ép về cung cấp thông tin nhiều
hơn và có chất lượng tốt hơn cho Chính phủ,
bao gồm: các chiến lược kinh doanh, báo cáo
tài chính, danh mục đầu tư, và tiến độ các dự
Tại Ma-lay-sia, Chính phủ đã triển khai
một chương trình cải cách toàn diện tại
những Doanh nghiệp có quan hệ với
Chính phủ vào năm 2004, trên cơ sở cải
thiện về công khai và giám sát hiệu quả
hoạt động. Kể từ khi chương trình được
bắt đầu, thu nhập (lợi nhuận) ròng tổng
4
Garay, Urbi, Gonzalez, Maximiliano, Guzman, Alexander và Trujillo (2012) “Công khai Doanh nghiệp qua Internet và
Giá trị thị trường: Bằng chứng từ Mỹ La-tinh”.
5
Để có thêm thông tin, tham khảo tại:
6
7
cập ngày 24/4/2013.
17
T í n h M i n h b ạc h c ủ a D oa n h n g h i ệ p n h à n ư ớ c Tạ i V i ệ T n a M : T h ự c T r ạ n g Và ý T ư ở n g c ả i c ác h
án đầu tư. Thông tin yêu cầu còn bao gồm
trình độ và chuyên môn của các cán bộ quản
lý, cũng như tiêu chí bổ nhiệm các vị trí lãnh
đạo.
năm trước khi gặp khủng hoảng. Tuy nhiên,
không có sai trái và yếu kém nào trong quản
lý được công khai ra công chúng cho đến khi
Tập đoàn kinh tế đó suy sụp. Việc thanh tra
và kiểm toán chỉ tập trung vào một phần nhỏ
của công ty, cho thấy có sự thất bại trong quy
trình kiểm soát và trong điều hành các DNNN
nói chung. Nếu như các báo cáo thanh tra và
kiểm toán được công khai ra công chúng,
những bất cập trong các quy trình thanh tra
và kiểm toán có thể được xác định sớm hơn,
và còn khuyến khích phải giám sát nhiều hơn
đối với doanh nghiệp đó.8
2.7. Một phần của những lý do cần cải thiện
về công khai là những bất cập liên quan đến
tình trạng hiện tại ở Việt Nam. Ví dụ, phần
lớn đều công nhận rằng minh bạch và công
khai đã tốt hơn, nhưng những vấn đề gần
đây của Vinashin có thể đã không nghiêm
trọng đến thế nếu như các cơ quan có thẩm
quyền hành động sớm hơn. Vinashin được
thanh tra và kiểm toán 11 lần trong vòng hai
8
18
3. DNNN tại Việt Nam hiện đang có những
nghĩa vụ gì trong công khai thông tin?
3.1. Để có thông tin cho báo cáo nhận định
này, chúng tôi đã thực hiện nghiên cứu để
đánh giá và ghi nhận lại những yêu cầu về
công khai đối với DNNN tại Việt Nam. Hoạt
động đánh giá này được trình bày tại Phụ lục
1. Nghiên cứu cho thấy các yêu cầu báo cáo
đã tăng lên một cách tự nhiên và bao gồm
yêu cầu công khai các loại thông tin khác
nhau cho các cơ quan khác nhau. Do đó, mặc
dù có nhiều bên chịu trách nhiệm giám sát ở
các khía cạnh khác nhau, điều này làm giảm
trách nhiệm chung về hiệu quả hoạt động
tổng thể của các DNNN.
3.2. Chẳng hạn, một văn bản hướng dẫn
quan trọng là Nghị định 99/2012, qua đó
các DNNN có nghĩa vụ phải công cấp những
thông tin sau lên Thủ tướng Chính phủ và
các bộ chủ quản khác nhau (xem Bảng 1
dưới đây).
Bảng 1: Các yêu cầu báo cáo hiện tại đối với các DNNN tại Việt Nam
Lên Thủ tướng Chính phủ
•
•
Những thay đổi và sửa đổi bất kỳ về Điều lệ;
Những thay đổi và sửa đổi bất kỳ về mục tiêu, sứ mệnh, lĩnh vực kinh doanh, tái cơ cấu doanh
nghiệp, giải thể hoặc phá sản.
•
•
Tăng giảm vốn cổ phần, huy động vốn, cổ phiếu và bán cổ phiếu ra công chúng, mua lại trên
10% cổ phần đã bán.
Chiến lược năm năm, kế hoạch kinh doanh.
Lên Bộ chủ quản và/hoặc Ủy ban Nhân dân tỉnh (UBND)
•
•
•
•
•
•
Hiệu quả công việc của người đại diện, lương và phúc lợi của người đại diện, đánh giá về
người đại diện.
Báo cáo về hiệu quả hoạt động của Ban giám đốc, các vị trí quản lý chủ chốt (Tổng giám đốc
và phó tổng giám đốc).
Những thay đổi và sửa đổi bất kỳ về mục tiêu, sứ mệnh, lĩnh vực kinh doanh, tái cơ cấu doanh
nghiệp, giải thể hoặc phá sản.
Những thay đổi và sửa đổi bất kỳ về mục tiêu, sứ mệnh, lĩnh vực kinh doanh, tái cơ cấu doanh
nghiệp, giải thể hoặc phá sản.
Tăng giảm vốn cổ phần, huy động vốn, cổ phiếu và bán cổ phiếu ra công chúng, mua lại trên
10% cổ phần đã bán.
Chiến lược năm năm, kế hoạch kinh doanh.
20
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu Tính minh bạch của doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tai_lieu_tinh_minh_bach_cua_doanh_nghiep_nha_nuoc_tai_viet_n.pdf

