Tài liệu Tính minh bạch của doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam

89810  
Tính Minh bạch của  
Doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam  
Thực trạng và ý tưởng cải cách  
THE WORLD BANK  
WORLD BANK GROUP  
IBRD-IDA  
Lời nói đầu  
Tài liệu nhận định chính sách này đưa ra các  
thông tin tổng quan về các yêu cầu công khai  
thông tin của các Doanh nghiệp Nhà nước  
(DNNN) tại Việt Nam. Tài liệu này là một nội  
dung về Phân tích và Tư vấn thuộc Chương  
trình tín dụng Quản lý Kinh tế và Năng lực Cạnh  
tranh EMCC nhằm hỗ trợ Chính phủ Việt Nam  
tăng cường công khai thông tin tài chính và phi  
tài chính của các DNNN.  
Hồng Quang (Chuyên gia kinh tế cao cấp, Ngân  
hàng Thế giới); James Anderson (Chuyên gia  
cao cấp về quản trị nhà nước, Ngân hàng Thế  
giới); Trần Thị Lan Hương (Chuyên gia về quản trị  
nhà nước, Ngân hàng Thế giới); Migara de Silva  
(Chuyên gia kinh tế cao cấp, Ngân hàng Thế  
giới), và Jhungsoo Park (Tư vấn, Ngân hàng Thế  
giới). Hỗ trợ chương trình được thực hiện bởi Vũ  
Thị Anh Linh (Trợ lý Chương trình, Ngân hàng  
Thế giới).  
Tài liệu nhận định chính sách này được tổng  
hợp bởi Gregory Smith (Chuyên gia kinh tế,  
Ngân hàng Thế giới), Lê Duy Bình (Tư vấn, Ngân  
hàngThế giới) và Jim Colvin (Tư vấn, Ngân hàng  
Thế giới) dưới sự chỉ đạo chung của Victoria  
Kwakwa (Giám đốc quốc gia của Ngân hàng  
Thế giới tại Việt Nam), Sudhir Shetty (Giám đốc  
PREM của Ngân hàng Thế giới tại Đông Á và  
Thái Bình Dương), Deepak Mishra (Chuyên gia  
kinh tế trưởng khu vực Đông Á và Thái Bình  
Dương), và Sandeep Mahajan (Chuyên gia kinh  
tế trưởng Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam);  
với sự đóng góp của Sameer Goyal (Trưởng  
ban Phát triển Khu vực Tư nhân và Tài chính  
của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam); Sunita  
Kikeri (Trưởng ban Phát triển Khu vực Tư nhân  
của Ngân hàng Thế giới); Habib Rab (Chuyên  
gia kinh tế cao cấp, Ngân hàng Thế giới) ; Đoàn  
Tài liệu nhận định chính sách này đã được thảo  
luận tại các cuộc hội thảo khác nhau tại Việt Nam  
với sự tham gia của các đại biểu từ Quốc hội, bộ  
ngành của Việt Nam, Doanh nghiệp Nhà nước,  
các đối tác phát triển. Nhóm công tác xin chân  
thành cảm ơn sự đóng góp quý báu của Cục Tài  
chính Doanh nghiệp của Bộ tài chính, Cục Phát  
triển Doanh nghiệp của Bộ Kế hoạch và Đầu  
tư, Ngân hàng Phát triển Châu Á tại Việt Nam.  
Nhóm công tác cũng xin chân thành cảm ơn sự  
đóng góp của các đối tác phát triển tham gia  
chương trình EMCC: Bộ Ngoại giao và Thương  
mại Úc (DFAT), Bộ Phát triển Quốc tế Anh, Cục  
Kinh tế liên bang Thụy Sĩ, Bộ Ngoại giao, Thương  
mại và Phát triển Canada. Tất cả sai sót thuộc về  
các tác giả.  
3
Mục lục  
Những nội dung chính và ý tưởng cho các bước tiếp theo .........................................................9  
1. Giới thiệu ................................................................................................................12  
2. Việc công khai thông tin về các DNNN đem lại những lợi ích gì?........................16  
3. DNNN tại Việt Nam hiện đang có những nghĩa vụ gì về công khai thông tin? ..20  
4. Những thông tin nào hiện đang được công khai tại Việt Nam?..........................24  
5. Thông lệ quốc tế về công khai thông tin của các DNNN......................................34  
6. Các bước có thể thực hiện? ....................................................................................38  
Tài liệu tham khảo............................................................................................................................ 41  
Phụ lục I: Đánh giá tác động quy định pháp luật hiện hành về công khai thông tin DNNN .. 43  
Phụ lục II: Kiểm tra tình trạng thông tin trên trang web của các DNNN: Tháng 4/2013 ..... 57  
Phụ lục III: Kinh nghiệm của Hàn Quốc về công khai thông tin DNNN .................................. 63  
5
Từ và thuật ngữ viết tắt tiếng Anh  
CIEM  
EGs  
Viện Quản lý Kinh tế TW  
Tập đoàn kinh tế  
GCs  
Tổng công ty  
GSO  
IPO  
Tổng cục Thống kê  
Chào bán lần đầu ra công chúng  
Ngân hàng cổ phần  
JSB  
MARD  
MOF  
MOIT  
MOLISA  
MOT  
MPI  
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn  
Bộ Tài chính  
Bộ Công thương  
Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội  
Bộ Giao thông  
Bộ Kế hoạch và Đầu tư  
PFM  
PPC  
Quản lý tài chính công  
Ủy ban Nhân dân tỉnh  
PREM  
SAV  
Quản lý kinh tế và giảm nghèo  
Kiểm toán Nhà nước Việt Nam  
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam  
Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh Vốn Nhà nước  
Kế hoạch Phát triển Kinh tế Xã hội  
Ủy ban Chứng khoán  
SBV  
SCIC  
SEDP  
SEC  
SEG  
Tập đoàn kinh tế Nhà nước  
Tổng công ty Nhà nước  
Ngân hàng thương mại quốc doanh  
Ngân hàng Thế giới  
SGC  
SOCB  
WB  
7
Những nội dung chính và ý tưởng cho  
các bước tiếp theo  
Hiện ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy, việc công khai thông tin của  
các DNNN, bên cạnh những cải cách khác, có thể góp phần cải thiện hiệu quả.  
Thông tin công khai gồm cả dữ liệu tài chính và phi tài chính, có thể thực hiện  
nội bộ hoặc ra ngoài (nghĩa là công khai ra công chúng).  
Theo quan điểm hiện nay, thực trạng công khai cả thông tin tài chính và phi Xem trang 16  
tài chính liên quan đến các DNNN ở Việt Nam nhìn chung đang gây thất vọng.  
Thực tế công khai thông tin có sự khác nhau giữa các DNNN, nhưng nhìn chung  
chưa đảm bảo về chất lượng, độ chính xác và kịp thời về dữ liệu, khiến cho khả  
năng giám sát hiệu quả hoạt động của Chính phủ thực sự bị hạn chế nghiêm  
trọng. Những quy định hiện hành cũng chưa tạo được một khung pháp quy  
hiệu quả về công khai thông tin và cần tiếp tục hoàn thiện.  
Các kết luận của nghiên cứu này cũng ủng hộ cho quan điểm trên và cho thấy Xem trang 24  
mặc dù hiện có một số lượng đáng kể các DNNN đang tạo ra thông tin cho  
các mục đích nội bộ, nhưng chất lượng thông tin vẫn cần được cải thiện. Đặc  
biệt, thông tin cần phải chính xác hơn và những thông tin chính cần cung cấp  
thường xuyên hơn để phục vụ giám sát, theo dõi và đánh giá.  
Chuẩn mực công khai thông tin cho công chúng hiện còn ở mức thấp so với  
các quốc gia tương đương. Trong trường hợp kém nhất, thông tin không được  
công khai, còn trong những trường hợp tốt nhất, thì những thông tin công  
khai cũng đã cũ, không rõ ràng và mâu thuẫn (ngoại trừ một số DNNN lớn đã  
được cổ phần hóa). Việc tăng cường công khai – về số lượng cũng như chất  
lượng – có thể đem lại những lợi ích đáng kể, sẽ được phân tích tại Phần 2. Một  
điều cũng hiển nhiên nữa là việc đang được công luận quan tâm cũng làm gia  
tăng nhu cầu thông tin, nhiều DNNN đang gặp khó khăn được đòi hỏi cao hơn  
về công bố thông tin.  
9
T í n h M i n h b ạc h c ủ a D oa n h n g h i ệ p n h à n ư ớ c Tạ i V i ệ T n a M : T h ự c T r ạ n g Và ý T ư ở n g c ả i c ác h  
Cải cách tại Việt Nam cần phải phù hợp với bối cảnh kinh tế, thể chế và pháp Xem trang 34  
lý của quốc gia. Nhưng dù sao, hiện đang có những bài học chính về cải cách  
DNNN nói chung cũng như cải cách về công khai thông tin mà Việt Nam có thể  
học hỏi từ các quốc gia khác cũng như qua hướng dẫn của OECD (một số bài  
học chính được tổng hợp tại Phần 5.)  
Các ý tưởng về định hướng tiếp theo: Những nội dung sau nhằm giúp thực  
hiện những bước đi đáng tin cậy nhằm cải thiện việc công khai thông tin của  
DNNN, góp phần cải thiện hiệu quả DNNN. Các bước đề xuất được liệt kê dưới  
đây (từng bước dưới đây đều được chi tiết hóa tại Phần 6):  
I. Bắt tay vào thực hiện tiến trình tăng cường công khai bằng cách thí điểm Xem trang 38  
tại một số DNNN lựa chọn. Một cách khởi đầu là bắt đầu với các Tập đoàn  
kinh tế, sau đó mở rộng ra các Tổng công ty, và cuối cùng thực hiện tại các  
DNNN còn lại do nhà nước sở hữu 100%.  
II. Tập trung vào việc công khai ra công chúng chứ không chỉ công khai trong  
nội bộ.  
III. Công khai thông tin có chất lượng về các DNNN tại một nơi tập trung  
(cổng thông tin), trong đó có một cơ quan trung ương phụ trách việc điều  
phối tiến trình này.  
IV. Đơn giản hóa các yêu cầu thông tin và xây dựng một khuôn khổ pháp lý rõ  
ràng hơn cũng như một hệ thống công khai thông tin chuẩn hóa.  
V. Tạo động lực cho các DNNN tuân thủ theo khuôn khổ pháp lý và pháp quy  
nêu trên bằng cách tương thưởng cho những doanh nghiệp tuân thủ và  
xử phạt những doanh nghiệp không tuân thủ.  
10  
1. Giới thiệu  
1.1. Việc công khai thông tin của các Doanh  
nghiệp nhà nước (DNNN) là một phần của  
chương trình nhằm tăng cường minh bạch  
của khu vực công nói chung tại Việt Nam.  
Những nghiên cứu gần đây của Ngân hàng  
Thế giới và các tổ chức khác cho thấy bên  
cạnh những tiến bộ đạt được, việc tuân thủ  
các yêu cầu pháp lý về minh bạch vẫn còn là  
một thách thức trong nhiều lĩnh vực về điều  
hành khu vực công tại Việt Nam.1 Tuy nhiên,  
lợi ích biên do tăng cường minh bạch đem lại  
là rất lớn. Việc công khai kịp thời dữ liệu kinh  
tế đáng tin cậy, và truyền thông tốt hơn về  
những thay đổi chính sách, có thể giúp giảm  
tính bất định trên thị trường cũng như quan  
niệm về rủi ro.  
Phát triển Việt Nam (2012) với tiêu đề “Kinh  
tế thị trường khi Việt Nam trở thành quốc  
gia thu nhập trung bình”, các đối tượng khảo  
sát coi cải thiện minh bạch là giải pháp cải  
cách hàng đầu cho các DNNN tại Việt Nam  
bên cạnh việc đẩy mạnh tiến độ cổ phần  
hóa (Hình1)2. Quyết định 929 (2012) của Thủ  
tướng Chính phủ, phê duyệt kế hoạch tổng  
thể nhằm tái cơ cấu các Tập đoàn và Tổng  
công ty Nhà nước, đã thể hiện một số cam  
kết nhằm cải thiện minh bạch về DNNN.  
1.3. Minh bạch hóa các DNNN là một phần  
quan trọng của chương trình hỗ trợ qua  
nghiệp vụ hỗ trợ ngân sách về Tín dụng Quản  
lý Kinh tế và Năng lực Cạnh tranh (EMCC).3 Tài  
liệu nhận định chính sách này được lập trong  
bối cảnh đó nhằm giúp tăng cường đối thoại  
giữa Chính phủ Việt Nam với cách Đối tác  
Phát triển trong quá trình tăng cường minh  
bạch thông tin về các DNNN.  
1.2. Minh bạch về các DNNN có vai trò đặc  
biệt quan trọng vì sự hiện diện của chúng  
trong nền kinh tế Việt Nam. Trong một khảo  
sát được thực hiện năm 2011 cho Báo cáo  
1
Tham khảo, chẳng hạn: ‘Báo cáo Phát triển VIệt Nam (2010): Các thể chế hiện đại’; ‘Báo cáo Phát triển VIệt Nam  
(2012): Kinh tế thị trường khi Việt Nam trở thành quốc gia thu nhập trung bình’; ‘Báo cáo khảo sát về công khai  
thông tin các quy định quản lý đất đai (2010)’; ‘Đánh giá về minh bạch tài khóa tại Việt Nam (2013)’. Bên cạnh đó,  
Ngân hàng Thế giới đang bắt đầu Dự án Minh bạch Việt Nam để giúp cải thiện về minh bạch trong các lĩnh vực  
khác nhau về điều hành khu vực công.  
2
3
Ngân hàng Thế giới, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Tổ chức Viện trợ Ai-len (2012), ‘Việt Nam trong  
Quá trình Chuyển đổi – Thay đổi Thái độ về Thị trường và Nhà nước’.  
1?lang=en; truy cập ngày 7/7/2013.  
12  
G i ớ i t h i ệ u  
Hình 1: Những giải pháp cải cách DNNN tại Việt Nam  
Tăng cường minh bạch  
Kiểm toán độc lập nhiều hơn  
Tăng tốc độ cổ phần hóa  
50  
38  
4
4
4
44  
42  
7
5 2  
Hiệu quả cao  
41  
47  
4
5 2  
Hiệu quả trung bình  
Không hiệu quả  
Tăng cường thể chế  
36  
47  
6
5
6
Giảm hỗ trợ tài chính từ phía Chính phủ  
17  
48  
5
17  
11  
Không hiệu quả  
mức trung bình  
19  
35  
6
27  
7
Chấm dứt ưu tiên tiếp cận tín dụng ngân hàng  
Không bảo lãnh của chính phủ  
Không hiệu quả cao  
16  
39  
6
20  
15  
Không biết  
0
10  
20  
30  
40  
50  
60  
70  
80  
90 100  
Nguồn: ‘Việt Nam trong Quá trình Chuyển đổi – Thay đổi Thái độ về Thị trường và Nhà nước’.  
13  
2. Việc công khai thông tin về các  
DNNN đem lại những lợi ích gì?  
2.1. Công khai thông tin chính xác và kịp  
thời là điều cần thiết nhằm đảm bảo trách  
nhiệm giải trình, giám sát hiệu quả hoạt  
động, và đảm bảo tuân thủ pháp luật và các  
quy định của doanh nghiệp. Điều đó góp  
phần khiến cho thị trường vận hành tốt hơn  
và cải thiện hiệu quả hoạt động của doanh  
nghiệp. Mặt khác, thiếu công khai thông tin  
có thể dẫn đến những hành vi mờ ám và đem  
lại những tác động tiêu cực cho cả nền kinh  
tế như được minh chứng qua cuộc khủng  
hoảng toàn cầu hiện nay (và trước đó).  
2.3. Công khai tốt hơn nhằm cả vào đối  
tượng nội bộ và bên ngoài, và đòi hỏi phải  
công khai chính xác cả dữ liệu tài chính và  
phi tài chính. Công khai trong nội bộ được  
coi là “trong Chính phủ” ví dụ như, công khai  
qua báo cáo ngân sách, báo cáo tài chính,  
báo cáo kiểm toán, báo cáo về hiệu quả hoạt  
động và các yêu cầu giám sát và đánh giá  
khác của “chủ sở hữu” Nhà nước cũng như  
các cơ quan quản lý. Công khai ra bên ngoài  
nghĩa là cung cấp thông tin ra công chúng  
(ví dụ, qua các trang web, báo cáo thường  
niên, các tài liệu công bố, họp báo, thông  
tin báo chí, cổng điện tử, và công báo). Việc  
công khai có thể thực hiện trực tiếp từ các  
DNNN hoặc qua một bên thứ ba (ví dụ qua  
Bộ Tài chính hoặc Kiểm toán Nhà nước Việt  
Nam).  
2.2. Cải thiện công khai thông tin về các  
DNNN là một ưu tiên cao tại Việt nam do vai  
trò tương đối lớn của những doanh nghiệp  
đó trong nền kinh tế. Việc cải thiện công khai  
thông tin giúp các nhà đầu tư hiểu hơn về  
hiệu quả hoạt động của DNNN, đem lại cho  
công chúng quyền được thông tin về việc sử  
dụng tài sản công, và giúp Chính phủ có khả  
năng khiến các DNNN phải giải trình trách  
nhiệm về kết quả. Do đó, nhu cầu cải thiện về  
công khai thông tin không chỉ để công khai,  
mà vì nó còn đóng một vai trò quan trọng  
trong việc phát huy hiệu quả chung của khối  
DNNN, nhằm đem lại một môi trường kinh  
doanh thuận lợi hơn, đồng thời cải thiện hiệu  
quả sử dụng công quỹ và các nguồn lực khan  
hiếm như đất đai và vốn.  
2.4. Có rất nhiều bằng chứng từ khu vực tư  
nhân cho thấy vai trò của công khai thông  
tin nhằm đem lại những chuyển biến về  
hiệu quả hoạt động, bao gồm hiệu quả hoạt  
động tài chính tốt hơn và giá trị thị trường  
tốt hơn. Chẳng hạn, một nghiên cứu gần đây  
tại tám thị trường chứng khoán lớn nhất ở  
Mỹ La-tinh cho thấy, tăng cường công khai  
tự nguyện qua internet đem lại giá trị thị  
trường tốt hơn và hệ số thu nhập trên tài  
16  
V i ệ c c ô n g k h a i t h ô n g t i n V ề c ác D n n n đ e m l ạ i n h ữ n g lợ i í c h g ì ?  
sản (ROA) tốt hơn4. Mặc dù quyền sở hữu  
hợp của các DNNN đã tăng theo tốc độ  
gộp trên 18%, và thu nhập trên danh  
mục đầu tư vốn cổ phần là trên 11% một  
năm.5  
được tách ra khỏi quyền kiểm soát, nhưng  
thông tin đến với các nhà quản lý trong nội  
bộ doanh nghiệp vẫn nhiều hơn đáng kể so  
với thông tin đến với các cổ đông bên ngoài.  
Điều này dẫn đến cái gọi là chi phí lệ thuộc,  
và làm tăng cảm giác rủi ro. Những cải thiện  
về công khai có thể làm giảm những chi phí  
và rủi ro đó, và làm tăng giá trị doanh nghiệp.  
Tại Li-thua-nia, cải thiện cơ chế công khai  
là một nội dung chính trong chương  
trình cải cách DNNN được bắt đầu từ năm  
2009. Kết quả đem lại hết sức ấn tượng và  
trực quan. Năm 2009, danh mục DNNN  
có lỗ hoạt động là 276 triệu Lita (105 triệu  
USD), năm 2010, lợi nhuận đem lại là 40  
triệu Lita (15 triệu USD) và đến năm 2011  
lợi nhuận đã lên đến 142 triệu Lita (54  
triệu USD). Cổ tức đã tăng đến gần năm  
lần.6  
2.5. Đối với các DNNN, lợi ích tiềm năng  
thậm chí còn lớn hơn vì sự thiếu hụt về thông  
tin giữa các cán bộ quản lý và chủ sở hữu  
có thể còn lớn hơn. Nhưng bằng chứng về  
những lợi ích đó khó thu thập hơn, vì những  
cải thiện về công khai thường kèm theo  
những thay đổi khác về điều hành (chẳng  
hạn, những cải thiện trong Ban giám đốc,  
cải cách về thể chế, tái cơ cấu tài chính). Tuy  
nhiên, gần dây đã có những điển hình tốt về  
việc những cải thiện về công khai thông tin,  
bên cạnh những cải cách khác, đã đem lại cải  
thiện về hiệu quả hoạt động của DNNN:  
2.6. Tại Việt Nam, hiện có nhu cầu mạnh về  
cải thiện minh bạch và trách nhiệm giải trình.  
Tháng 1/2013, khi chủ trì một phiên họp với  
lãnh đạo các DNNN, Thủ tướng Nguyễn Tấn  
Dũng đã yêu cầu: “Các doanh nghiệp Nhà  
nước phải tăng cường minh bạch hóa về hoạt  
động” và “kết quả sản xuất kinh doanh phải  
được công khai một cách minh bạch, trung  
thực và kịp thời để công chúng nắm được tình  
hình hoạt động của DNNN”7. Các DNNN đang  
phải chịu sức ép về cung cấp thông tin nhiều  
hơn và có chất lượng tốt hơn cho Chính phủ,  
bao gồm: các chiến lược kinh doanh, báo cáo  
tài chính, danh mục đầu tư, và tiến độ các dự  
Tại Ma-lay-sia, Chính phủ đã triển khai  
một chương trình cải cách toàn diện tại  
những Doanh nghiệp có quan hệ với  
Chính phủ vào năm 2004, trên cơ sở cải  
thiện về công khai và giám sát hiệu quả  
hoạt động. Kể từ khi chương trình được  
bắt đầu, thu nhập (lợi nhuận) ròng tổng  
4
Garay, Urbi, Gonzalez, Maximiliano, Guzman, Alexander và Trujillo (2012) “Công khai Doanh nghiệp qua Internet và  
Giá trị thị trường: Bằng chứng từ Mỹ La-tinh”.  
5
Để có thêm thông tin, tham khảo tại:  
6
7
cập ngày 24/4/2013.  
17  
T í n h M i n h b ạc h c ủ a D oa n h n g h i ệ p n h à n ư ớ c Tạ i V i ệ T n a M : T h ự c T r ạ n g Và ý T ư ở n g c ả i c ác h  
án đầu tư. Thông tin yêu cầu còn bao gồm  
trình độ và chuyên môn của các cán bộ quản  
lý, cũng như tiêu chí bổ nhiệm các vị trí lãnh  
đạo.  
năm trước khi gặp khủng hoảng. Tuy nhiên,  
không có sai trái và yếu kém nào trong quản  
lý được công khai ra công chúng cho đến khi  
Tập đoàn kinh tế đó suy sụp. Việc thanh tra  
và kiểm toán chỉ tập trung vào một phần nhỏ  
của công ty, cho thấy có sự thất bại trong quy  
trình kiểm soát và trong điều hành các DNNN  
nói chung. Nếu như các báo cáo thanh tra và  
kiểm toán được công khai ra công chúng,  
những bất cập trong các quy trình thanh tra  
và kiểm toán có thể được xác định sớm hơn,  
và còn khuyến khích phải giám sát nhiều hơn  
đối với doanh nghiệp đó.8  
2.7. Một phần của những lý do cần cải thiện  
về công khai là những bất cập liên quan đến  
tình trạng hiện tại ở Việt Nam. Ví dụ, phần  
lớn đều công nhận rằng minh bạch và công  
khai đã tốt hơn, nhưng những vấn đề gần  
đây của Vinashin có thể đã không nghiêm  
trọng đến thế nếu như các cơ quan có thẩm  
quyền hành động sớm hơn. Vinashin được  
thanh tra và kiểm toán 11 lần trong vòng hai  
8
18  
3. DNNN tại Việt Nam hiện đang có những  
nghĩa vụ gì trong công khai thông tin?  
3.1. Để có thông tin cho báo cáo nhận định  
này, chúng tôi đã thực hiện nghiên cứu để  
đánh giá và ghi nhận lại những yêu cầu về  
công khai đối với DNNN tại Việt Nam. Hoạt  
động đánh giá này được trình bày tại Phụ lục  
1. Nghiên cứu cho thấy các yêu cầu báo cáo  
đã tăng lên một cách tự nhiên và bao gồm  
yêu cầu công khai các loại thông tin khác  
nhau cho các cơ quan khác nhau. Do đó, mặc  
dù có nhiều bên chịu trách nhiệm giám sát ở  
các khía cạnh khác nhau, điều này làm giảm  
trách nhiệm chung về hiệu quả hoạt động  
tổng thể của các DNNN.  
3.2. Chẳng hạn, một văn bản hướng dẫn  
quan trọng là Nghị định 99/2012, qua đó  
các DNNN có nghĩa vụ phải công cấp những  
thông tin sau lên Thủ tướng Chính phủ và  
các bộ chủ quản khác nhau (xem Bảng 1  
dưới đây).  
Bảng 1: Các yêu cầu báo cáo hiện tại đối với các DNNN tại Việt Nam  
Lên Thủ tướng Chính phủ  
•
•
Những thay đổi và sửa đổi bất kỳ về Điều lệ;  
Những thay đổi và sửa đổi bất kỳ về mục tiêu, sứ mệnh, lĩnh vực kinh doanh, tái cơ cấu doanh  
nghiệp, giải thể hoặc phá sản.  
•
•
Tăng giảm vốn cổ phần, huy động vốn, cổ phiếu và bán cổ phiếu ra công chúng, mua lại trên  
10% cổ phần đã bán.  
Chiến lược năm năm, kế hoạch kinh doanh.  
Lên Bộ chủ quản và/hoặc Ủy ban Nhân dân tỉnh (UBND)  
•
•
•
•
•
•
Hiệu quả công việc của người đại diện, lương và phúc lợi của người đại diện, đánh giá về  
người đại diện.  
Báo cáo về hiệu quả hoạt động của Ban giám đốc, các vị trí quản lý chủ chốt (Tổng giám đốc  
và phó tổng giám đốc).  
Những thay đổi và sửa đổi bất kỳ về mục tiêu, sứ mệnh, lĩnh vực kinh doanh, tái cơ cấu doanh  
nghiệp, giải thể hoặc phá sản.  
Những thay đổi và sửa đổi bất kỳ về mục tiêu, sứ mệnh, lĩnh vực kinh doanh, tái cơ cấu doanh  
nghiệp, giải thể hoặc phá sản.  
Tăng giảm vốn cổ phần, huy động vốn, cổ phiếu và bán cổ phiếu ra công chúng, mua lại trên  
10% cổ phần đã bán.  
Chiến lược năm năm, kế hoạch kinh doanh.  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 67 trang Thùy Anh 16780 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu Tính minh bạch của doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftai_lieu_tinh_minh_bach_cua_doanh_nghiep_nha_nuoc_tai_viet_n.pdf