Chế độ sở hữu đất đai trên thế giới và ở Việt Nam
Chế độ sở hữu đất đai trên thế giới và ở Việt Nam
ThS Nguyễn Anh Đức - PGS.TS. Vũ Công Giao
Khoa Luật - ĐHQGHN
Dẫn nhập
Chế độ sở hữu đất đai là một vấn đề pháp lý phức tạp, chứa đựng cả những
yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa. Trên thế giới, chế độ sở hữu đất đai có
thể được xác lập dựa trên cơ sở pháp luật hoặc tập quán văn hoá, hoặc cả hai. Chế
độ sở hữu đối với đất đai bao gồm các quy định về quyền sử dụng, kiểm soát và
chuyển nhượng đất, theo đó một cá nhân hoặc một nhóm/cộng đồng, hoặc nhà
nước, có thể là chủ thể của các quyền này.
Ở Việt Nam, đất đai được xem là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực
quan trọng phát triển đất nước, là loại tư liệu sản xuất có ý nghĩa hàng đầu trong đời
sống kinh tế, chính trị, xã hội và an ninh, quốc phòng. Vì vậy, kể từ Hiến pháp
1980, ở Việt Nam chỉ còn lại một hình thức sở hữu đất đai duy nhất - sở hữu toàn
dân về đất đai mà nhà nước là đại diện chủ sở hữu. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng,
việc chỉ công nhận duy nhất một chế độ sở hữu toàn dân về đất đai là một trong
những nguyên nhân làm giảm hiệu quả khai thác, sử dụng đất, đồng thời làm phát
sinh nhiều tranh chấp, khiếu kiện cũng như hành vi tham nhũng về đất đai. Quy
định như vậy phải chăng chỉ phù hợp với giai đoạn trước đây chứ không còn phù
hợp trong bối cảnh hiện nay ở Việt Nam? Bài viết này phân tích chế độ sở hữu đất
đai ở một số quốc gia, qua đó liên hệ và gợi mở phương hướng hoàn thiện chế độ sở
hữu đất đai ở Việt Nam trong thời gian tới.
1. Chế độ sở hữu đất đai trên thế giới
Theo khảo sát của Tổ chức Nông - Lương Liên hợp quốc (FAO), trên thế
giới đang tồn tại 4 chế độ sở hữu đất đai, trong đó có những nước chỉ quy định một
(như Việt Nam) trong khi những nước khác quy định đồng thời nhiều hình thức sở
hữu. Bốn chế độ sở hữu đó bao gồm:1
- Sở hữu tư nhân (Private): đất đai được cấp cho một chủ thể tư nhân (có thể
là một cá nhân, một gia đình, nhóm người hoặc một doanh nghiệp hay tổ chức). Ví
dụ, các cá nhân hay gia đình có thể có quyền sở hữu đối với một thửa đất ở, thửa đất
nông nghiệp nhất định và các thành viên khác của cộng đồng không được tiếp cận,
sử dụng thửa đất đó nếu không có sự đồng ý của chủ sở hữu. Để bảo vệ đất đai
261
thuộc sở hữu tư nhân, pháp luật của các quốc gia liên quan cho phép chủ sở hữu
thực hiện một số biện pháp để ngăn ngừa sự xâm nhập, sử dụng trái phép, trong đó
có những nước thậm chí cho phép công dân sở hữu và sử dụng vũ khí cho việc đó.
- Sở hữu chung cộng đồng (Communal): đất đai thuộc về một cộng đồng xác
định (như thôn, bản…) mà ở đó mỗi thành viên đều có quyền sử dụng một cách độc
lập hoặc cùng chung với các thành viên khác của cộng đồng. Ví dụ, các thành viên
của một cộng đồng có thể cùng có quyền chăn thả gia súc trên một đồng cỏ chung,
hay cùng có quyền chôn cất người thân tại một nghĩa địa chung...Những người bên
ngoài cộng đồng chỉ có thể khai thác, sử dụng các thửa đất thuộc sở hữu chung của
một cộng đồng nếu được phép của tất cả các thành viên của cộng đồng đó.
- Sở hữu mở (Open access): các quyền cụ thể không được trao cho bất kì ai
và không ai có thể bị loại trừ khỏi việc khai thác, sử dụng thửa đất đó. Đất đai thuộc
sở hữu mở có thể là một bãi biển, hay núi rừng, sông ngòi hoặc đồng cỏ…nơi mọi
người đều có thể tiếp cận và sử dụng miễn phí. Như vậy, sở hữu mở giống sở hữu
cộng đồng ở quyền sử dụng chung với đất đai, song khác nhau ở giới hạn về chủ thể
của quyền. Với sở hữu mở, bất kỳ ai cũng có thể tiếp cận và sử dụng đất đai, còn
với sở hữu cộng đồng, chỉ những thành viên của cộng đồng liên quan mới có quyền
này.
- Sở hữu nhà nước (state owned - cũng được hiểu là “sở hữu toàn dân”):
quyền quản lý đất đai được trao cho nhà nước. Nhà nước có thể giao đất cho người
dân, các doanh nghiệp, tổ chức sử dụng, khai thác, nhưng quyền định đoạt đất đai
chỉ thuộc về nhà nước. Về bản chất, đây là hình thức sở hữu chung của quốc gia,
dân tộc trong đó nhà nước chỉ là đại diện. Loại hình sở hữu này được quy định bởi
nhiều quốc gia, nhưng thông thường kết hợp cùng với những hình thức sở hữu khác.
Vấn đề cốt lõi với hình thức sở hữu này nằm ở chỗ cần xác định chính xác vai trò
của nhà nước với tư cách đại diện chủ sở hữu (tức là đại diện quốc gia) - là một thực
thể được trao quyền và chịu trách nhiệm rõ ràng về việc quản lí đất đai, để qua đó
phòng chống tham nhũng và bảo đảm hiệu quả khai thác, sử dụng đất.
Với mỗi loại hình sở hữu nêu trên, các nhà nước có thể đặt ra các chế độ
quản trị đất đai (land administration) khác nhau, cụ thể như:
- Chế độ quản trị về các quyền đối với đất (land rights): thể hiện qua sự phân
bổ các quyền đối với đất đai; sự phân định ranh giới của các thửa đất mà các quyền
được phân bổ; sự chuyển nhượng đất đai từ bên này sang bên khác thông qua bán,
cho thuê, cho vay, tặng cho hoặc thừa kế; và cơ chế xử lý những tranh chấp liên
quan đến quyền và ranh giới thửa đất. Có thể hiểu đây là nhóm quy chế về “chủ
262
quyền” đối với đất đai. Các quyền này được luật định và thậm chí còn được hiến
định. Bên cạnh việc quy định về chủ quyền đối với các loại đất, hiến pháp của một
số quốc gia cũng quy định quyền của nhà nước trong việc thu hồi đất (gồm cả đất
thuộc sở hữu tư nhân) để phục vụ cho các mục đích công cộng.2 Tuy nhiên, quyền
thu hồi đất của nhà nước không đồng nghĩa với việc loại trừ các loại hình sở hữu
khác nhau đối với đất đai.
- Chế độ quản trị về việc sử dụng đất (land-use regulation): liên quan đến
các hoạt động lập kế hoạch và khai thác, sử dụng đất, cũng như xử lý những xung
đột/tranh chấp về sử dụng đất.
- Chế độ quản trị về định giá đất và đánh thuế (land valuation and taxation):
nhằm tạo lập nguồn thu phù hợp từ các loại đất khác nhau.
Sau đây là một số ví dụ điển hình về chế độ sở hữu đất đai ở một số quốc gia:
1.1. Chế độ sở hữu đất đai ở Trung Quốc
Kể từ khi nước Cộng hoà Nhân dân Trung hoa được thành lập vào năm 1949
đến nay, chế độ sở hữu đất đai ở Trung Quốc đã được cải thiện từng bước. Hiến
pháp Trung Quốc hiện ghi nhận hai chế độ sở hữu đất đai gồm sở hữu nhà nước
(state owned) và sở hữu tập thể (collectively owned).3 Trên tinh thần của Hiến pháp,
Luật đất đai năm 1986 diễn giải rõ hơn hai chế độ sở hữu đất đai là “sở hữu bởi toàn
dân” và “sở hữu tập thể bởi những người lao động”, trong đó “sở hữu toàn dân” có
nghĩa là quyền sở hữu được thực hiện bởi Hội đồng Nhà nước (State Council) và
nhân danh nhà nước.4
Trung Quốc không thừa nhận quyền sở hữu tư nhân về đất đai và cách duy
nhất để chuyển quyền sở hữu đất đai là thông qua việc nhà nước trưng dụng đất đai
thuộc sở hữu tập thể. Quyền tài sản đối với đất đai thuộc sở hữu nhà nước được xác
định tương đối rõ hơn, theo đó có thể được chuyển nhượng, trao đổi và thế chấp.5
Điều 8 Hiến pháp hiện hành của Trung Quốc quy định: “Nhân dân lao động là thành
viên của tổ chức kinh tế tập thể ở nông thôn6 có quyền, theo luật định, đối với đất
canh tác và đất sườn đồi trong việc sử dụng cho mục đích cá thể (private) để tăng
2
Liz Alden Wily (2009), Land Rights in Constitutional Law with Respect to Nepal A Resource Document,
tr.2.
xem
tại:
https://www.researchgate.net/publication/270956305_Land_Rights_in_Constitutional_Law_with_Respect_to
_Nepal_A_Resource_Document
3
Các điều 8, 9, 10 Hiến pháp Trung Quốc 1982 (sửa đổi mới nhất năm 2018). Xem tại:
4 Điều 2 Luật về quản trị đất đai năm 1986 (sửa đổi vào các năm 1988, 1998 và 2004).
5
Michael Kirk (Chủ biên, 2014), Land Tenure Security in Selected Countries, Báo cáo tổng hợp
HS/039/14E, tr. 17.
6 Việt Nam gọi là các “Hợp tác xã”.
263
gia và chăn thả gia súc thuộc sở hữu tư (raise privately owned livestock)”. Đối với
chế độ sở hữu tập thể về đất đai, từng thành viên của tập thể đó đóng hai vai trò,
vừa là đồng chủ sở hữu của toàn bộ diện tích khu đất và vừa là chủ sở hữu quyền sử
dụng thửa đất cụ thể nằm trong đó.7 Theo quy định tại Điều 9 Hiến pháp hiện hành,
Nhà nước giữ quyền sở hữu đối với các loại “tài nguyên khoáng sản, nước, rừng,
núi, đồng cỏ, đất hoang, bãi bồi và các tài nguyên thiên nhiên khác” trừ các khu vực
đất rừng, núi, đồng cỏ, đất hoang và bãi bồi được luật định thuộc về sở hữu tập thể.
Điều 10 của Hiến pháp khẳng định đất ở các đô thị8 thuộc sở hữu nhà nước, đất đai
vùng nông thôn và các vùng ven đô thuộc sở hữu tập thể. Về mặt pháp lý, kể cả các
khu nhà ở và đất canh tác và sườn đồi được giao cho mục đích tư nhân cũng thuộc
sở hữu của tập thể, trừ những địa điểm được luật định thuộc về sở hữu nhà nước.
Nhà nước có thể tiến hành sung công hoặc trưng dụng đất thuộc sở hữu tập thể có
bồi thường theo quy định của luật để sử dụng cho các mục đích công cộng.
1.2. Chế độ sở hữu đất đai ở In-đô-nê-xi-a
In-đô-nê-xi-a duy trì nhiều chế độ sở hữu khác nhau với đất đai. Quyền sở
hữu cá nhân trao cho chủ đất quyền tối cao đối với đất đai, bao gồm sử dụng, quản
lí, chuyển nhượng tạm thời và lâu dài. Những loại đất này có thể được đăng kí hoặc
không. Đối với đất thuộc sở hữu của nhà nước (chủ yếu là rừng) thì nhà nước có thể
thực hiện toàn quyền quản lý, hoặc ở một số khu vực có thể được giao cho cá nhân
hoặc tổ chức thuê. Bên cạnh đó, In-đô-nê-xi-a quy định quyền sở hữu đất đai của
cộng đồng, song quy định có sự khác nhau ít nhiều giữa các vùng, vì đây là quốc gia
có nhiều dân tộc. Dù vậy, trong vấn đề này, hình thức chủ yếu, cơ bản là đất đai
thuộc sở hữu của cả cộng đồng. Ví dụ như trường hợp Wakaf (một hệ thống tôn
giáo), trong đó đất đai được dành cho các hoạt động tôn giáo và không được bán.
Ở In-đô-nê-xi-a, nhà nước có vai trò điều tiết và quản lí quyền sở hữu đất
đai. Nhà nước có toàn quyền kiểm soát đất đai cho các mục đích thương mại và sử
dụng tài nguyên, và có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các quyết định về đất đai của khu
vực tư nhân. Việc quản lí đất đai được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác
nhau song Luật Nông nghiệp cơ bản (Basic Agrarian Law9) 1960 là nền tảng. Cơ
quan Quản lí Đất đai Quốc gia (BPN) là thiết chế chính cung cấp dịch vụ pháp lí về
quản lí đất đai, bao gồm việc hỗ trợ tiếp cận quyền sở hữu cá nhân với đất đai. Nhà
7 Liz Alden Wily (2009), Land Rights in Constitutional Law with Respect to Nepal A Resource Document, tr.
7.
8 Ở điểm này, Hiến pháp ghi là “Land in cities” còn Luật đất đai 1986 ghi rõ hơn là “Land in the urban areas
of cities” tại Điều 8.
9
faoc003920/
264
nước khuyến khích người dân đăng kí ruộng đất.10 Điều 1 Luật Nông nghiệp cơ bản
năm 1960 quy định toàn bộ vùng đất, vùng biển, vùng trời (bao gồm các nguồn tài
nguyên trong đó) là tài sản quốc gia (the wealth of the nation). Điều 4 của Luật này
nêu rằng, trên tinh thần thẩm quyền quản lí tối cao của Nhà nước (theo Điều 2) đất
đai có thể được cấp quyền sở hữu cho các cá nhân hoặc các tổ chức, trong khi Điều
7 nghiêm cấm việc sở hữu hoặc kiểm soát đất đai quá mức để đảm bảo không làm
hại tới các lợi ích công. Đây có thể là một ví dụ hữu ích để tham khảo về việc nhà
nước hạn chế đầu cơ đất đai bởi tư nhân nhằm ngăn ngừa sự bất bình đẳng xã hội về
sở hữu loại tư liệu sản xuất quan trọng này.
1.3. Chế độ sở hữu đất đai ở Thái Lan11
Từ năm 1901, Thái Lan đã thiết lập chế độ sở hữu đất đai và thành lập Cơ
quan Quản lí Đất đai (Department of Lands). Sau đó, các quy định pháp luật về đất
đai được hợp nhất thành Bộ luật Đất đai vào năm 1954.12 Chế độ sở hữu đất đai chia
đất đai thành hai loại chính: đất thuộc quyền sở hữu tư và đất thuộc sở hữu công.
Đất của nhà nước hoặc đất công nằm dưới sự kiểm soát của chính phủ và cũng có
thể được cấp chủ quyền. Quyền sở hữu tư nhân với đất đai được áp dụng ở cả nông
thôn và thành thị; chủ sở hữu trong loại hình này được cấp giấy chứng nhận quyền
sở hữu. Trong chế độ sở hữu tư nhân có hai loại: quyền sở hữu đầy đủ và quyền
chiếm hữu đối với đất đai, được công nhận với cả cá nhân và tổ chức. Trong đó,
quyền sở hữu (ownership) có nghĩa là độc quyền với đất đai; còn đối với quyền
chiếm hữu, chủ thể nắm quyền chỉ được phép sử dụng và quản lý đất nhưng không
được bán. Do đó, trong chế độ sở hữu tư nhân về đất đai tồn tại các loại giấy chứng
nhận khác nhau. Theo luật Thái Lan, người nước ngoài không có quyền sở hữu hoặc
chiếm hữu đất; chỉ có những trường hợp ngoại lệ khi đã đầu tư vào Thái Lan đạt
mức tối thiểu luật định, hoặc đã được chứng minh hoặc chấp nhận là liên doanh với
các đối tác Thái Lan thì mới được hưởng một phần các quyền này.
1.4. Chế độ sở hữu đất đai ở Bô-li-vi-a
Bô-li-vi-a là một trong những quốc gia nghèo nhất ở Mỹ La-tinh. Vào thập
niên 1950, chỉ khoảng 4% chủ sở hữu đất đã kiểm soát hơn 80% diện tích đất đai của
nước này.13 Chế độ sở hữu đất đai của nước này có sự khác nhau ở các khu vực nông
thôn và thành thị, trong đó bao gồm các loại: sở hữu tư nhân, sở hữu nhà nước và sở
10 Xem Michael Kirk (Chủ biên, 2014), tài liệu đã dẫn, tr. 19-20.
11 Xem Michael Kirk (Chủ biên, 2014), tài liệu đã dẫn, tr. 23.
12
Xem Anthony Burns (2004), Thailand’s 20 year program to title rural land, Background paper prepared
for the World Development Report 2005, tr. 2.
13 Xem World Bank (1995), Bolivia: National Land administration Project, tr. 8.
265
hữu cộng đồng. Sở hữu cộng đồng về đất đai chủ yếu áp dụng cho các cộng đồng bản
địa. Quyền sở hữu tư nhân về đất đai là hình thức phổ biến nhất, trong khi quyền sở
hữu của nhà nước áp dụng đối với đất đai do chính quyền quản lý. Đất đai thuộc sở
hữu nhà nước có thể cho tư nhân thuê hoặc để sử dụng vào mục đích công cộng.
Từ nửa sau thập niên 1990, Bô-li-vi-a đã tiến hành cải cách chế độ sở hữu
đất đai để làm giảm mức độ tích tụ đất của tư nhân và hiện đã đạt được một số kết
quả. Đồng thời, do một số khu vực của nước này có lịch sử sở hữu đất theo phong
tục từ lâu đời nên chính quyền đã tạo ra các cơ chế để công nhận loại hình đất đai
của tổ tiên nhằm bổ sung thêm vào hai cơ chế chính về sở hữu đất đai là sở hữu của
tư nhân và sở hữu của nhà nước.14
1.5. Chế độ sở hữu đất đai ở Nê-pan15
Quốc gia này hiện duy trì cả bốn chế độ sở hữu đối với các loại đất khác
nhau, bao gồm: sở hữu quốc gia, sở hữu của nhà nước, sở hữu cộng đồng và sở hữu
tư nhân. Sở hữu quốc gia đối với đất đai bao gồm khoáng sản, rừng, đồng cỏ, đất
hoang, núi và các khu vực và tài nguyên khác. Những dạng đất đai này thuộc quyền
sở hữu chung của toàn dân và được sử dụng cho lợi ích của mọi công dân. Sở hữu
của nhà nước được áp dụng đối với đường xá, đất đai, các tòa nhà hoặc các nguồn
lực hoặc công trình khác do chính quyền trung ương hoặc địa phương nắm giữ để
phục vụ công chúng. Sở hữu cộng đồng áp dụng với các loại rừng, vùng đất ngập
nước và đồng cỏ mà được cộng đồng dành làm tài sản tập thể để sử dụng và quản lí
chung theo các quy tắc mà cộng đồng xây dựng lên, phù hợp với luật pháp quốc gia.
Quyền sở hữu tư nhân với đất đai được công nhận đối với các nguồn đất khác.
Quyền này có thể thuộc về một cá nhân, cặp vợ chồng, gia đình, công ty, cộng đồng
hoặc pháp nhân khác.
2. Chế độ sở hữu đất đai ở Việt Nam
Kể từ khi giành được độc lập (1945), Việt Nam đã có 5 bản hiến pháp chính
thức (1946, 1959, 1980, 1992, 2015).16 Hiến pháp 1946 không quy định cụ thể về
14 Xem Michael Kirk (Chủ biên, 2014), tài liệu đã dẫn, tr.24-25.
15
Liz Alden Wily (2009), Land Rights in Constitutional Law with Respect to Nepal A Resource Document,
tr. 30.
16
Hai bản hiến pháp không được thừa nhận là của Việt Nam Cộng hoà, gồm Hiến pháp năm 1956 và Hiến
pháp 1967. Hiến pháp 1956 tại Điều 20 quy định về việc nhà nước bảo đảm quyền tư hữu, còn Điều 21 quy
định cụ thể hơn về quyền sở hữu đất đai: “Quốc gia tán trợ việc nhân dân sử dụng của để dành để thủ đắc nhà
ở, ruộng cày, và cổ phần trong các xí nghiệp”. Hiến pháp 1967 tại Điều 19 quy định chung về quyền tư hữu:
1. Quốc gia công nhận và bảo đảm quyền tư hữu. 2. Quốc gia chủ trương hữu sản hóa nhân dân. 3. Sở hữu
chủ các tài sản bị truất hữu hoặc trưng dụng vì lý do công ích phải được bồi thường nhanh chóng và thoả
đáng theo thời giá”. Như vậy, qua quy định này có thể hiểu là quyền tư hữu bao gồm cả tư hữu về đất đai.
266
chế độ sở hữu đất đai, song Điều thứ 12 nêu rằng: “Quyền tư hữu tài sản của công
dân Việt Nam được bảo đảm”. Từ điều này có thể suy ra rằng theo Hiến pháp 1946,
nhà nước thừa nhận cả quyền sở hữu tư nhân về đất đai, vì đất đai về bản chất cũng
là một dạng tài sản.
Hiến pháp 1959 có một số quy định cụ thể về chế độ sở hữu đất đai. Theo
Điều 11, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà thừa nhận 4 hình thức sở hữu về tư
liệu sản xuất (gồm đất đai), đó là: hình thức sở hữu của Nhà nước tức là của toàn
dân, hình thức sở hữu của hợp tác xã tức là hình thức sở hữu tập thể của nhân dân
lao động, hình thức sở hữu của người lao động riêng lẻ, và hình thức sở hữu của nhà
tư sản dân tộc. Trong đó, Điều 12 quy định rõ: “Các hầm mỏ, sông ngòi, và những
rừng cây, đất hoang, tài nguyên khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước, đều
thuộc sở hữu của toàn dân”, còn theo các Điều 14, 15 và 16, nhà nước bảo hộ quyền
sở hữu về ruộng đất và các tư liệu sản xuất khác của nông dân, quyền sở hữu về tư
liệu sản xuất và của cải khác của tư sản dân tộc, những người làm nghề thủ công và
những người lao động riêng lẻ khác.
Dù vậy, kể từ Hiến pháp 1980 đến nay, Việt Nam chỉ thừa nhận duy nhất
một chế độ sở hữu đất đai là sở hữu toàn dân. Lí giải về quy định này, nguyên Tổng
bí thư Lê Duẩn giải thích rằng, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai là: “..hoàn toàn
đúng với quy luật tiến lên chủ nghĩa xã hội, đúng với thực trạng ruộng đất nước ta,
phù hợp với lợi ích toàn xã hội và cũng phù hợp lợi ích của chính nông dân”17. Ông
giải thích thêm rằng, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai “..đúng với nguyên tắc của
chủ nghĩa xã hội là tất cả những tư liệu sản xuất cơ bản phải thuộc về của
chung…”18, và chỉ với điều kiện chuyển toàn bộ đất đai thành sở hữu toàn dân thì
nhà nước mới có thể làm được việc “.. thống nhất quy hoạch và có chính sách khai
thác hợp lí, đầu tư thích đáng, bảo vệ và bồi bổ đất đai trên phạm vi cả nước cũng
như ở từng vùng kinh tế, làm sao cho toàn bộ đất đai bảo đảm nuôi sống hơn 50
triệu người, làm sao đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa để phục vụ
đắc lực sự nghiệp công nghiệp hoá nước nhà”.19
Trong thực tế, tuy là sở hữu toàn dân nhưng trong suốt thời kỳ bao cấp ở
Việt Nam, phần lớn đất đai là đất nông nghiệp được giao cho các tập thể hợp tác xã
17
Bài nói của Tổng bí thư Lê Duẩn tại Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IV năm
1980.
Xem
tại:
uong/khoa-iv/bai-noi-cua-dong-chi-tong-bi-thu-le-duan-tai-hoi-nghi-lan-thu-tam-ban-chap-hanh-trung-uong-
dang-1079
18 Bài nói của Tổng bí thư Lê Duẩn, tài liệu đã dẫn.
19 Bài nói của Tổng bí thư Lê Duẩn, tài liệu đã dẫn.
267
quản lý, sử dụng. Nhà nước trực tiếp quản lý các loại đất khác như rừng, biển, đất
đai ở các đô thị, các công trình giao thông, công trình công cộng…
Kể từ Đổi mới (1986), trong quá trình thực hiện hình thức sở hữu toàn dân về
đất đai, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành nhiều chủ trương, đường lối để định
hướng, trên cơ sở đó, Quốc hội đã nhiều lần thực hiện việc sửa đổi Luật Đất đai.
Gần đây nhất, Nghị quyết số 19 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI năm
2012 về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh
toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở
thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại đã đưa ra những định hướng để Quốc
hội sửa đổi và ban hành Luật Đất đai năm 2013. Nhưng đến nay, sau gần 10 năm
thực hiện, Luật Đất đai năm 2013 vẫn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, đặc biệt liên
quan đến việc thực hiện quyền của người sử dụng đất và trách nhiệm quản lý đất đai
của đại diện chủ sở hữu. Vì vậy, vào tháng 8/2021, Ban Chỉ đạo Trung ương tổng
kết Nghị quyết số 19-NQ/TW đã tổ chức Hội nghị góp ý kiến dự thảo báo cáo tổng
kết, trên cơ sở đó đề ra những chủ trương và định hướng tiếp tục sửa đổi, bổ sung
Luật Đất đai hiện hành.
3. Một số nhận xét, gợi ý
Qua những phân tích nêu trên, có thể thấy Việt Nam là một trong số rất ít
quốc gia hiện chỉ thừa nhận duy nhất một chế độ sở hữu đất đai (cùng với
CHDCND Lào). Việc này trong thực tế có thể xem là một nguyên nhân dẫn đến
những khó khăn, hạn chế trong quản lí, khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên đất.20
Ngoài khó khăn, hạn chế trong quản lí, khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên
đất, mô hình một chế độ sở hữu toàn dân về đất đai như hiện nay còn có bất cập là
chưa làm rõ được phạm vi thẩm quyền cũng như chế độ trách nhiệm của nhà nước
khi đóng vai trò đại diện chủ sở hữu21, dẫn đến tình trạng tham nhũng liên quan đến
quản lý đất đai xảy ra rất nghiêm trọng.
Để giải quyết khó khăn, hạn chế nêu trên, cần thực hiện nhiều biện pháp,
trong đó có việc nghiên cứu điều chỉnh chế độ sở hữu đất đai theo hướng công nhận
đa hình thức sở hữu. Về vấn đề này, Báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường năm
2012 cũng khẳng định chế độ đa sở hữu về đất đai “được ghi nhận trong luật pháp
20 Chính phủ (2012), Tờ trình số 302/TTr-CP ngày 24/10/2012 về Dự án Luật đất đai sửa đổi, tr.3.
21 World Bank (1995), Cải thiện quản lý đất đai ở Việt Nam (Dự thảo báo cáo), Đặng Hùng Võ, Nguyễn Văn
Thắng, T&C Consultings.
268
của rất nhiều quốc gia đang phát triển thuộc các khu vực địa lí khác nhau”,22 trong
đó nổi bật là sở hữu tư nhân và sở hữu nhà nước.
Cần thấy rằng việc xác lập một chế độ sở hữu duy nhất là sở hữu toàn dân
đối với đất đai diễn ra vào giai đoạn sau khi đất nước thống nhất (1975), khi mà
phần lớn người dân còn làm nông nghiệp và nhà nước cần bảo đảm mục tiêu nuôi
sống 50 triệu người, cũng như “đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa”.
Hiện tại và trong những năm tới ở nước ta, khu vực nông nghiệp ngày càng thu hẹp,
các khu vực công nghiệp, dịch vụ ngày càng mở rộng, đời sống của ngày càng
nhiều người dân Việt Nam không còn phụ thuộc vào nông nghiệp và đất đai nông
nghiệp, và nông nghiệp của nước ta cần phát triển theo mô hình khác, vì thế việc
duy trì một chế độ sở hữu duy nhất là sở hữu toàn dân về đất đai tỏ ra không còn
cần thiết, cũng như không còn phù hợp nữa. Như đã đề cập, việc tiếp tục duy trì quy
định này gây ra nhiều hạn chế, có thể làm cản trở sự phát triển của đất nước xét từ
nhiều khía cạnh, cả về phương diện kinh tế và xã hội.
Từ những phân tích ở trên, có thể thấy Nhà nước nên cân nhắc việc công
nhận chế độ đa sở hữu về đất đai mà đã được quy định ở nhiều nước, và đã từng
được ghi nhận cụ thể trong Hiến pháp 1959 (và trước đó là Luật cải cách ruộng đất
năm 1953) của Việt Nam. Cụ thể, bên cạnh hình thức sở hữu toàn dân về đất đai,
Nhà nước nên nghiên cứu công nhận cả hình thức sở hữu chung của cộng đồng và
sở hữu tư nhân với một số loại đất đai, kèm theo những giới hạn để phòng chống
khả năng đầu cơ, tích tụ đất đai với diện tích lớn gây bất bình đẳng và lãng phí
trong sử dụng đất. Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy, việc công nhận đa hình
thức sở hữu đất đai không làm triệt tiêu hay làm suy yếu vai trò và các quyền của
nhà nước với đất đai. Ngược lại, việc này chính là để làm tăng hiệu quả thực hiện
quyền quản lý đất đai của nhà nước. Cùng với các hình thức sở hữu khác như sở
hữu cộng đồng và sở hữu tư nhân, hình thức sở hữu toàn dân với đất đai vẫn cần
được duy trì, và quyền của nhà nước trong việc thu hồi có đền bù đất đai (kể cả đất
đai thuộc sở hữu chung của cộng đồng và sở hữu tư nhân) để bảo đảm các lợi ích
công cộng vẫn được bảo vệ.
Từ một khía cạnh khác, việc thừa nhận đa hình thức sở hữu đất đai cũng
không có nghĩa là xa rời hay đối lập với mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa đã được xác định trong Hiến pháp nước ta. Ngược lại, việc thừa nhận
đa hình thức sở hữu đất đai chính là góp phần củng cố pháp quyền vì sẽ góp phần
khắc phục tình trạng lạm dụng quyền quản lý đất đai để tham nhũng đang diễn ra rất
22 Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012), Kinh nghiệm nước ngoài về quản lí và pháp luật đất đai, tr. 6.
269
nhức nhối hiện nay. Ngoài ra, thực tế cho thấy quan điểm cứng nhắc cho rằng trong
chủ nghĩa xã hội, tất cả những tư liệu sản xuất cơ bản, về mặt hình thức pháp lý,
phải thuộc về sở hữu toàn dân đã tỏ ra không còn phù hợp nữa, đặc biệt khi mà
năng lực quản lý của nhà nước – người đại diện cho các tư liệu sản xuất thuộc sở
hữu toàn dân – còn hạn chế dẫn đến việc khai thác, sử dụng các tư liệu sản xuất đó
thiếu hiệu quả. Từ kinh nghiệm của Trung Quốc, có thể thấy rõ rằng, việc theo đuổi
mô hình chủ nghĩa xã hội không hẳn là rào cản cho việc thừa nhận chế độ đa sở hữu
về ruộng đất. Còn từ kinh nghiệm của In-đô-nê-xi-a, có thể thấy rằng việc khẳng
định toàn bộ mặt đất, mặt nước, vùng trời đều là tài sản quốc gia và nhà nước có
thẩm quyền quản lí tối cao đối với tài sản quốc gia (một cách nói khác của sở hữu
toàn dân) cũng không mặc nhiên loại trừ khả năng thừa nhận chế độ đa sở hữu đối
với đất đai./.
Tài liệu tham khảo
1. Anthony Burns (2004), Thailand’s 20 year program to title rural land,
Background paper prepared for the World Development Report 2005.
2. Bài nói của Tổng bí thư Lê Duẩn tại Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung
ương
Đảng
khóa
IV
năm
1980,
xem
tại:
trung-uong/khoa-iv/bai-noi-cua-dong-chi-tong-bi-thu-le-duan-tai-hoi-nghi-
lan-thu-tam-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-1079
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012), Kinh nghiệm nước ngoài về quản lí và
pháp luật đất đai.
4. Chính phủ (2012), Tờ trình số 302/TTr-CP ngày 24/10/2012 về Dự án Luật
đất đai sửa đổi.
6. Hiến pháp Trung Quốc 1982 (sửa đổi mới nhất năm 2018), tại:
d3a2793875d19b5b29.shtml
7. Hiến pháp Nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà năm 1946
8. Hiến pháp Nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà năm 1959
9. Hiến pháp Nước Cộng hoà XHCN Việt Nam năm 1980
10. Hiến pháp Nước Cộng hoà XHCN Việt Nam năm 1992
270
11. Hiến pháp Nước Cộng hoà XHCN Việt Nam năm 2013
12. Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà năm 1956
13. Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà năm 1967
14. Michael Kirk (chủ biên, 2014), Land Tenure Security in Selected Countries,
Báo cáo tổng hợp HS/039/14E, tr. 17.
15. Luật về quản trị đất đai năm 1986 của Trung Quốc (sửa đổi vào các năm
1988, 1998 và 2004).
16. Luật Nông nghiệp cơ bản (Basic Agrarian Law) của Indonesia, xem tại:
lex-faoc003920/
17. Liz Alden Wily (2009), Land Rights in Constitutional Law with Respect to
Nepal
A
Resource
Document,
tại:
itutional_Law_with_Respect_to_Nepal_A_Resource_Document
18. World Bank (1995), Bolivia: National Land administration Project,
07.pdf
19. World Bank (1995), Cải thiện quản lý đất đai ở Việt Nam (Dự thảo báo cáo),
Đặng Hùng Võ, Nguyễn Văn Thắng, T&C Consultings.
271
Bạn đang xem tài liệu "Chế độ sở hữu đất đai trên thế giới và ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
che_do_so_huu_dat_dai_tren_the_gioi_va_o_viet_nam.pdf

