Chống bán phá giá theo pháp luật Việt Nam
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô
Số 09 - 2020
CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Trần Thị Cẩm Vân*, Vũ Thụy Diễm Chi và Võ Khắc Thường**
Trường Đại học Phan Thiết
Ngày nhận: 15/6/2020
Ngày phản biện: 11/8/2020
Ngày duyệt đăng: 17/9/2020
TÓM TẮT
Cùng với sự phát triển ngày càng nhanh trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, những mặt hàng xuất
khẩu của Việt Nam đã và đang đối mặt với các vụ kiện chống bán phá giá gia tăng. Tính đến
thời điểm 30/6/2019, các ngành sản xuất của Việt Nam đã có 86 vụ kiện chống bán phá giá
ở nước ngoài. Bài viết nhằm tìm hiểu các quy định của WTO và Việt Nam về chống bán phá
giá, phân tích, đánh giá những điểm bất cập, chưa hợp lý của các quy định hiện nay, nhằm
đề xuất các giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về chống bán phá giá giúp các
doanh nghiệp Việt Nam trong lĩnh vực này. Trên cơ sở phân tích, chiến lược phát triển kinh
tế và chính sách được đề xuất để đối phó với những vụ kiện bán phá giá ngày càng phức tạp
và khó khăn hơn trong thời gian tới; Đồng thời hoàn chỉnh pháp luật chống bán phá giá tạo
sự ổn định của hàng hóa Việt Nam trên trường quốc tế, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của
đất nước.
Từ khóa: Bán phá giá, chống bán phá giá, giá thông thường, giá xuất khẩu.
Trích dẫn: Trần Thị Cẩm Vân, Vũ Thụy Diễm Chi và Võ Khắc Thường, 2020. Chống bán
phá giá theo pháp luật Việt Nam. Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh
tế Trường Đại học Tây Đô. 09: 196-204.
**PGS.TS. Võ Khắc Thường – Chủ tịch Hội đồng Trường, Hiệu trưởng Trường Đại học Phan Thiết
196
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô
Số 09 - 2020
khẩu của nước khởi kiện như: khóa Inox
(EU), săm lốp xe đạp, xe máy (Thổ Nhĩ
Kỳ), đèn huỳnh quang (Ai Cập),... Mới
đây nhất là vụ kiện chống bán phá giá
mặt hàng nệm mút (mattress) tại Mỹ, Bộ
Thương mại Mỹ đã gửi bảng câu hỏi về
lượng và giá trị đến một số nhà xuất khẩu
đệm mút của Việt Nam nhằm xem xét lựa
chọn bị đơn bắt buộc, thời hạn trả lời câu
hỏi là 06/5/2020 (Tạp chí Tài chính,
2020).
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc
tế vươn ra thế giới, Việt Nam đã và đang
từng bước tự hoàn thiện pháp luật. Đặc
biệt, từ khi trở thành thành viên chính
thức của tổ chức thương mại thế giới
WTO (World Trade Organization), việc
mở cửa nền kinh tế đem lại cho Việt Nam
rất nhiều cơ hội để phát triển nhưng cũng
đặt ra không ít thách thức do sự cạnh
tranh càng trở nên khắc nghiệt.
Dự báo các vụ kiện bán phá giá đối với
hàng xuất khẩu của Việt Nam sẽ còn tiếp
tục xảy ra không chỉ tại các nước phát
triển mà còn từ các nước đang phát triển.
Đối với các mặt hàng có mức tăng trưởng
xuất khẩu cao vào một số thị trường cũng
sẽ có nguy cơ đối đầu với các vụ kiện bán
phá giá trong thời gian tới.
Theo Trung tâm WTO và hội nhập -
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt
Nam (2019) tính đến thời điểm
30/6/2019, các ngành sản xuất của Việt
Nam đã phải đối mặt với 86 vụ kiện
chống bán phá giá ở nước ngoài, khối
Liên minh Châu Âu EU (European
Union) là các nước khởi kiện Việt Nam
nhiều nhất (tám vụ). Trong giai đoạn
1994-2001, Việt Nam chỉ chịu một đến
hai vụ kiện trong năm nhưng đến năm
2004 phải đối phó với bảy vụ kiện liên
tiếp liên quan đến nhiều mặt hàng công
nghiệp xuất khẩu. Các mặt hàng xuất
khẩu của Việt Nam bị áp thuế chống bán
phá giá chưa phải là những mặt hàng
chiến lược, vì vậy ảnh hưởng chưa lớn
đến kim ngạch xuất khẩu của nước ta.
Tuy nhiên từ vụ kiện cá tra, cá ba sa năm
2002 (Lập pháp, 2003) đến nay có thể
thấy không chỉ một số mặt hàng xuất
khẩu chủ lực của Việt Nam (thủy sản,
giày dép,..) mà cả những mặt hàng xuất
khẩu có số lượng chưa lớn nhưng mới
xâm nhập thị trường đều trở thành đối
tượng của kiện bán phá giá. Nguyên nhân
là do phương thức tính gộp tổng lượng
hàng hóa liên quan từ nhiều nguồn nhập
2. TỔNG QUAN QUY ĐỊNH
CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ, MỘT SỐ
BẤT CẬP
Nội dung cơ bản chống bán phá giá
bao gồm nguyên tắc xác định việc bán
phá giá và trình tự thủ tục để điều tra, xử
lý việc chống bán phá giá.
2.1. Nguyên tắc xác định bán phá
giá
Nguyên tắc xác định việc bán phá giá
là những tư tưởng chủ đạo, chi phối các
chủ thể trong quá trình điều tra, xác định
có hay không có hành vi bán phá giá của
hàng hóa nhập khẩu nhằm giúp cho các
nước bảo vệ nền sản xuất. Hàng hóa nhập
khẩu vào Việt Nam có thể áp dụng các
biện pháp chống bán phá giá nếu như cơ
quan chống bán phá giá chứng minh đủ
các điều kiện: Xác định hàng hóa nhập
197
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô
Số 09 - 2020
khẩu có bị bán phá giá; Ngành sản xuất Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt
sản phẩm tương tự của nước nhập khẩu Nam, 2008).
bị thiệt hại đáng kể; Có mối quan hệ nhân
Như vậy, theo Luật Quản lý ngoại
quả giữa việc hàng nhập khẩu bán phá
thương khoảng chênh lệch giữa giá thông
giá và thiệt hại nói trên và các tiêu chí để
thường của hàng hóa nhập khẩu vào Việt
áp dụng các biện pháp chống bán phá giá.
Nam so với giá xuất khẩu hàng hóa đó
khi nhập khẩu vào Việt Nam sẽ được coi
là không đáng kể nếu nó nhỏ hơn hoặc
bằng 2%. Quy định trên có biên độ rộng
hơn so với Hiệp định chung về thuế quan
và thương mại năm 1994 (GATT 1994),
gây bất lợi cho sự cạnh tranh của các
doanh nghiệp nội địa đặc biệt là đối nền
kinh tế mới đang phát triển như nước ta
hiện nay.
2.1.1. Xác định bán phá giá
Theo quy định WTO, việc hàng hoá
khi nhập khẩu vào một nước được xem
là có bán phá giá hay không phải dựa vào
biên độ bán phá giá, biên độ bán phá giá
được coi là không quá mức tối thiểu nếu
1
biên độ đó thấp hơn 2% của giá xuất
khẩu.
Luật Quản lý ngoại thương quy định
không áp dụng biện pháp chống bán phá
giá đối với hàng hóa nhập khẩu có biên
độ bán phá giá không vượt quá 2% giá
xuất khẩu hàng hóa vào Việt Nam. Việc
xác định biên độ bán phá giá được tính
như sau:
Theo GATT 1994, khối lượng hàng
nhập khẩu bán phá giá sẽ được coi là
không đáng kể và sẽ không bị áp thuế
chống bán phá giá nếu như khối lượng
hàng nhập khẩu từ một nước cụ thể nào
đó chiếm “ít hơn 3%” tổng khối lượng,
số lượng hoặc trị giá hàng hóa tương tự
nhập khẩu vào nước nhập khẩu2. Trong
khi Luật Quản lý ngoại thương lại quy
định “không vượt quá 3%”. Điều đó
đồng nghĩa tổng hàng hóa ở mức 3%
không bị áp dụng thuế chống bán phá giá.
Biên độ phá giá = (giá thông thường -
giá xuất khẩu)/giá xuất khẩu (x 100%)
- Nếu biên độ phá giá > 0 là có bán phá
giá;
- Nếu biên độ phá giá <= 2% được coi
Để xác định được biên độ phá giá của
một mặt hàng nhập khẩu cần xác định 02
yếu tố: giá thông thường và giá xuất
khẩu. Theo định nghĩa tại GATT 1994 và
Luật Quản lý ngoại thương thì giá thông
là không đáng kể
(Trung tâm WTO và hội nhập - Phòng
Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
1 Khoản 08, Điều 5 Hiệp định thực thi Điều VI của Hiệp phá giá từ một nước cụ thể nào đó chiếm ít hơn 3% tổng
định chung về thuế quan và thương mại 1994.
nhập khẩu các sản phẩm tương tự vào nước nhập khẩu,
ngoại trừ trường hợp số lượng nhập khẩu của các sản
phẩm tương tự từ mỗi nước có khối lượng nhập dưới
3%,…”
2 Khoản 08, Điều 5 Hiệp định thực thi Điều VI của Hiệp
định chung về thuế quan và thương mại 1994: “…Khối
lượng hàng nhập khẩu bán phá giá sẽ được coi là không
đáng kể nếu như khối lượng hàng nhập khẩu được bán
198
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô
Số 09 - 2020
thường là giá có thể so sánh được của sản quy định, trong trường hợp không có giá
phẩm tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu hoặc tồn tại một liên kết hay
xuất khẩu trong điều kiện thương mại một thỏa thuận đền bù giữa nhà xuất
bình thường. Giá thông thường được xác khẩu và nhà nhập khẩu hoặc một bên thứ
định theo giá bán của sản phẩm tương tự ba thì giá xuất khẩu bằng giá bán lại cho
tại thị trường nước xuất khẩu. Đây là người mua độc lập đầu tiên. Trong
cách tính giá thông thường chuẩn, được trường hợp sản phẩm nhập khẩu không
ưu tiên áp dụng trước. Nếu không áp được bán lại cho người mua độc lập hoặc
dụng được cách tính chuẩn thì giá thông không được bán lại trong điều kiện như
thường được áp dụng theo 2 cách:
khi nhập khẩu thì cơ quan điều tra có
quyền quyết định mức giá xuất khẩu dựa
trên một cơ sở hợp lý. Theo Luật Quản lý
ngoại thương bên cạnh các căn cứ giống
Hiệp định ADA nêu trên, giá dựa trên
chứng từ giao dịch hợp pháp cũng được
xem là căn cứ để xác định giá nhập khẩu.
- Giá thông thường xác định theo giá
bán của sản phẩm tương tự từ nước xuất
khẩu liên quan sang thị trường một nước
thứ ba;
- Giá thông thường theo xác định trị
giá tính toán bằng tổng giá thành sản xuất
cộng với chi phí bán hàng, hành chính và
lợi nhuận.
2.1.2. Nguyên tắc xác định thiệt hại
Theo quy định của WTO tại Điều VI
Hiệp định chung về thuế quan và thương
mại (GATT 1994), việc xác định tổn hại
được tiến hành dựa trên bằng chứng xác
thực và thông qua điều tra khách quan về
cả hai khía cạnh: (1) Khối lượng hàng
hóa nhập khẩu được BPG và ảnh hưởng
của hàng hóa được bán phá giá đến giá
trên thị trường của sản phẩm tương tự;
(2) Hậu quả của việc nhập khẩu này đối
với các nhà sản xuất các sản phẩm trên ở
trong nước.
“Sản phẩm tương tự” là sản phẩm
giống hệt, tức là sản phẩm có tất cả các
đặc tính giống với sản phẩm đang được
xem xét. Hiệp định ADA quy định việc
xác định sản phẩm tương tự theo thứ tự
ưu tiên: (1) Sản phẩm có tất cả các đặc
tính giống với hàng hóa bị điều tra; (2)
sản phẩm có nhiều đặc tính cơ bản giống
với hàng hóa bị điều tra 3.
Hiệp định ADA không đưa ra định
nghĩa hay đề cập đến cách tính giá xuất
khẩu. Tuy nhiên, theo thông lệ giá xuất
khẩu được hiểu là giá bán sản phẩm từ
nước sản xuất (nước xuất khẩu) sang
nước nhập khẩu (Trung tâm WTO và hội
nhập - Phòng Thương mại và Công
nghiệp Việt Nam, 2008). Hiệp định ADA
Để xác minh được tổn thấy thiệt hại
đối với ngành hàng trong nước thì vấn để
chứng cứ đề chứng minh có hành vi bán
phá giá đóng vai trò hết sức quan trọng.
Theo đó chứng cứ được khái niệm như
sau: “Chứng cứ là những gì có thật được
3
Điều 2.6 Hiệp định về chống bán phá giá (ADA-
Agreement on Antidumping Practices)
199
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô
Số 09 - 2020
Cơ quan điều tra phòng vệ thương mại định chưa mang tính định lượng thiệt hại,
dùng làm căn cứ xác định cho việc giải ở mức như thế nào mới được xem là
4
quyết vụ việc phòng vệ thương mại” , “thiệt hại đáng kể”.
quy định như trên chưa đầy đủ nội hàm
2.1.3. Nguyên tắc xác định mối quan
về khái niệm chứng cứ như tính khách
hệ nhân quả
quan của chứng cứ, đánh giá chứng cứ…
Quan hệ nhân quả là một trong các
điều kiện quan trọng để chứng minh rằng
hàng hóa nhập khẩu bán phá giá là
nguyên nhân trực tiếp gây ra hoặc đe dọa
gây ra thiệt hại đáng kể cho các nước sản
xuất hàng hóa tương tự.
khi các nguồn chứng cứ có nội dung
không giống nhau về một vấn đề việc thứ
tự ưu tiên trong việc lựa chọn chứng cứ
sẽ thực hiện như thế nào (Kim Thị Hạnh,
2012) cần quy định rõ ràng cụ thể, việc
quy định khung như hiện nay khó áp
dụng vào thực tiễn.
Về xác định mối quan hệ nhân quả,
Điều 3 Hiệp định ADA và Luật Quản lý
ngoại thương chỉ quy định chung rằng cơ
quan điều tra phải xác định hàng hóa bán
phá giá nhập khẩu, thông qua các tác
động của nó đến các yếu tố, chỉ số kinh
tế, gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản
xuất trong nước trên cơ sở kiểm tra tất cả
các bằng chứng liên quan là căn cứ để
xác định quan hệ nhân quả: mối quan hệ
giữa việc bán phá giá hàng hóa nhập
khẩu với chứng cứ về thiệt hại đáng kể
hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho
ngành sản xuất trong nước; Mức độ giảm
sút của cầu hoặc thay đổi về hình thức
tiêu dùng đối với hàng hóa tương tự sản
xuất trong nước để xác định.
Hiệp định ADA và Luật Quản lý ngoại
thương quy định ba loại thiệt hại bao
gồm thiệt hại vật chất cho ngành sản xuất
nội địa; nguy cơ gây ra thiệt hại vật chất
cho ngành sản xuất nội địa; và làm ngăn
cản đáng kể sự hình thành một ngành sản
xuất nội địa. Về mức độ thiệt hại thì có
hai mức độ là thiệt hại đáng kể và đe dọa
gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất
trong nước. Thiệt hại đáng kể cho ngành
sản xuất trong nước là bao gồm mức suy
giảm thực tế, suy giảm tiềm ẩn của doanh
thu, lượng bán hàng, lợi nhuận, sản
lượng, thị phần, công suất, năng suất, đầu
tư; các yếu tố ảnh hưởng đến giá bán
trong nước; độ lớn của biên độ bán phá
giá, mức trợ cấp; và ảnh hưởng bất lợi
thực tế và tiềm ẩn đối với dòng tiền, tồn
kho, lao động, tiền lương, khả năng huy
2.2. Thủ tục điều tra và các biện
pháp chống bán phá giá
Theo quy định của WTO, Luật Quản
lý ngoại thương chống bán phá giá là một
trong các biện pháp phòng vệ thương
mại, quy trình gồm: Khiếu kiện - điều tra
- kết luận - áp dụng các biện pháp chống
5
động vốn ; So với quy định của Pháp
lệnh Chống bán phá giá hàng hóa nhập
khẩu vào Việt Nam thì quy định trên cụ
thể, đầy đủ hơn. Tuy nhiên quy định chỉ
dừng lại ở mức độ là “các yếu tố” để xác
4 Điều 3, Nghị định số 10/2018/NĐ-CP;
5 Điều 23, Luật Quản lý ngoại thương.
200
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô
Số 09 - 2020
bán phá giá (nếu có) là một thủ tục hành quan có thẩm quyền thấy được rằng tổn
chính do cơ quan nhà nước nhập khẩu hại do việc bán phá giá gây ra hoặc đã
thực hiện theo quy định tại Điều 70 Luật được loại bỏ.
Quản lý ngoại thương.
+ Áp thuế chống bán phá giá: khi một
- Giai đoạn nộp hồ sơ yêu cầu: Căn cứ sản phẩm bị điều tra và có kết luận là bán
để bắt đầu điều tra dựa trên đơn khiếu phá giá vào thị trường nước nhập khẩu
kiện, cơ quan điều tra tự mình bắt đầu thì nước nhập khẩu có quyền quyết định
cuộc điều tra nếu thấy đủ các dấu hiệu có đánh thuế hay không đánh thuế tương
hoặc theo yêu cầu của bên thứ ba.
đương hay nhỏ hơn biên độ phá giá.
- Giai đoạn bắt đầu điều tra: Ở giai
đoạn này cơ quan điều tra sẽ tiến hành
kiểm tra chứng cứ của việc bán phá giá
và tổn hại do nó gây ra cùng một lúc.
Thông báo cho các bên có quyền lợi có
liên quan biết; tiếp đến thiết lập bảng câu
hỏi làm cơ sở cho việc thu thập thông tin
và tạo ra sản phẩm của cuộc điều tra theo
3. KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN
Việc mở cửa thị trường giúp hàng hóa
Việt Nam có cơ hội cạnh tranh với các
nước trên trường quốc tế. Tuy nhiên,
nguy cơ các mặt hàng xuất khẩu của Việt
Nam phải đối mặt với các vụ kiện bán phá
giá cũng từ đó tăng lên. Việc đề ra các
giải pháp hoàn thiện pháp luật chống bán
- Giai đoạn tiến hành điều tra: theo đó, phá giá là điều cần thiết, để nâng cao khả
bên có yêu cầu đệ trình đơn khiếu nại, năng thực thi pháp luật. Việc hoàn thiện
đơn khiếu nại phải được đệ trình bởi một pháp luật chống bán phá giá cần được đặt
cộng đồng công nghiệp bao gồm các trong mối quan hệ tương thích với Hiệp
chứng cứ về bán phá giá; gây tổn thương; định chống bán phá giá của WTO. Do đó,
mối quan hệ nhân quả.
kiến nghị điều chỉnh các nội dung sau:
- Giai đoạn kết thúc điều tra: Nếu cuộc
Thứ nhất, Cách xác định biên độ phá
điều tra đưa ra kết luận là hàng hóa giá như đã phân tích nêu trên việc quy
không bị bán phá giá, sẽ không áp dụng định biên độ như khoản 02, Điều 78 Luật
bất kỳ một loại thuế chống bán phá giá. Quản lý ngoại thương như hiện nay là
Ngược lại, nếu có kết luận là hàng hóa đã rộng hơn so với Hiệp định GATT 1994
bị bán phá giá vào nước nhập khẩu thì do đó nên điều chỉnh việc xác định biên
nước nhập khẩu có quyền áp dụng các độ phá giá “không vượt quá 2%” thành
biện pháp chống bán phá giá theo quy “dưới 2%”. Đồng thời, nên điều chỉnh
định tại Điều 77 Luật Quản Lý ngoại quy định về khối lượng, số lượng hoặc giá
thương:
trị bán phá giá nhập khẩu vào Việt Nam
tại khoản 03, Điều 79 Luật Quản lý ngoại
thương được xem là không đáng kể từ
“vượt quá 3%” thành “ dưới 3%”.
+ Cam kết về các biện pháp loại trừ
bán phá giá: nhà sản xuất có cam kết ở
mức thỏa đáng sẽ điều chỉnh giá của
mình hoặc đình chỉ hành động bán phá
Đề xuất điều chỉnh các nội dung nêu
giá vào khu vực đang điều tra để các cơ trên nhằm đảm bảo sự thống nhất về các
201
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô
Số 09 - 2020
quy định giữa pháp luật nội địa với các chống bán phá giá cũng góp phần quan
hiệp định tương ứng mà Việt Nam là trọng trong việc áp dụng và phát huy hiệu
thành viên, tránh sự quy định khác nhau quả chế định chống bán phá giá tạo sự
về một vấn đề giữa pháp luật trong nước cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh trên thị
và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành trường quốc tế.
viên 6.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Thứ hai, về khái niệm giá thông
1. Chính phủ, 2018. Nghị định số
thường tại khoản 01, Điều 16, Nghị định
10/2018/NĐ-CP ngày 15/01/2018: Quy
số 10/2018/NĐ-CP nên điều chỉnh cụm
định chi tiết một số điều của Luật Quản
từ “đang được bán trên thị trường nội
lý ngoại thương về các biện pháp phòng
địa” thành “đang được tiêu thụ trên thị
vệ thương mại. Truy cập
trường nội địa” phù hợp với thuật ngữ
ban/thuong-mai/Nghi-dinh-10-2018-
ND-CP-huong-dan-Luat-Quan-ly-ngoai-
kinh tế đồng thời phù hợp với Hiệp định
ADA.
Thứ ba, căn cứ xác định thiệt hại của thuong-bien-phap-phong-ve-thuong-
ngành sản xuất trong nước cần có sự quy mai-359554.aspx, ngày truy cập
định theo tính định lượng, mức thiệt hại 03/8/2020.
như thế nào thì được xác định là đáng kể,
2. Hiệp định chống bán phá giá của
không nên quy định mang tính liệt kê như
WTO (ADA), 1994. Truy cập
tại Điều 23, Nghị định số 10/2018/NĐ-
al/btc/r/lvtc/htqt/hnvhttc/wto/wtoctthd/w
hatwto36/wtoctthd_chitiet5335?dDocNa
me=BTC345648&_afrLoop=727996811
29821738#!%40%40%3F_afrLoop%3D
72799681129821738%26dDocName%3
DBTC345648%26_adf.ctrl-
CP về quy định chi tiết một số điều của
Luật Quản lý ngoại thương về các biện
pháp phòng vệ thương mại, đồng thời nêu
rõ cần một trong các yếu tố hoặc là tất cả
các yếu tố được quy định làm căn cứ xác
định thiệt hại.
Song song với việc hoàn thiện các chế state%3Dlki2c6vx8_83, ngày truy cập:
định pháp luật về chống bán phá giá, việc 06/7/2020.
đẩy mạnh hoạt động đối ngoại để nâng
3. Hiệp định chung về thuế quan và
cao vị thế của Việt Nam trong quan hệ
thương mại (GATT), 1994. Truy cập
thương mại - chính trị trên các diễn đàn
ve-thue-quan-va-thuong-mai-gatt-
quốc tế và khu vực cần được thực hiện.
Các chính sách hỗ trợ của cơ quan nhà
364a.html, ngày truy cập: 06/7/2020.
nước có thẩm quyền, sự hiểu biết của
4. Kim Thị Hạnh, 2012. Hoàn thiện
pháp luật chống bán phá giá. Tạp chí
cộng đồng doanh nghiệp về pháp luật về
6 Khoản 05, Điều 156 Luật ban hành văn bản quy phạm
pháp luật năm 2015.
202
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô
Số 09 - 2020
Nghiên cứu Lập pháp, số 22 (230), tháng ietnam322045.html?fbclid=IwAR3dqW
11/2012.
cxASOwFrHHQ4Q_DEAEhmk_JSCFsh
7b_GaltCU7VY1qme4cJCru2A, ngày
truy cập 06/7/2020.
5. Lập pháp, 2003. Vụ cá basa nhìn từ
góc độ pháp lý. Truy cập
hitiet.aspx?tintucid=208946, ngày truy
cập 04/8/2020.
9. Trung tâm WTO và hội nhập -
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt
Nam, 2008. Biên độ phá giá. Truy cập:
giabien-pha-gia-dumping-margin-
6. Quốc hội, 2015. Luật số
80/2015/QH13 ngày 22/6/2015: Ban
hành văn bản quy phạm pháp luật 2015.
Truy cập:
may-hanh-chinh/Luat-ban-hanh-van-
ban-quy-pham-phap-luat-2015-
282382.aspx, ngày truy cập 04/8/2020.
n272.html, ngày truy cập 06/7/2020;
10. Trung tâm WTO và hội nhập -
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt
Nam, 2008. Giá xuất khẩu (export price)
là gì và được tính như thế nào. Truy cập:
export-price-la-gi-va-duoc-tinh-nhu-the-
nao-n731.html, ngày truy cập 04/8/2020.
7. Quốc hội, 2017. Luật số
05/2017/QH14: Luật Quản lý ngoại
thương. Truy cập:
ban/thuong-mai/Luat-Quan-ly-ngoai-
thuong-2017-322219.aspx, ngày
03/8/2020.
11. Trung tâm WTO và hội nhập -
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt
Nam, 2019. Thống kê các vụ điều tra
chống bán phá giá đối với hàng hóa Việt
Nam tại thị trường nước ngoài. Truy
cac-vu-dieu-tra-chong-ban-pha-gia-doi-
voi-hang-hoa-viet-nam-tai-thi-truong-
nuoc-ngoai-tinh-den
8. Tạp chí Tài chính, 2020. Mỹ điều
tra chống bán phá giá và chống trợ cấp
đệm mút Việt Nam. Truy cập
luat/my-dieu-tra-
30062019%20n19663.html, ngày truy
cập 06/7/2020.
chongbanphagiavachongtrocapdemmutv
203
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô
Số 09 - 2020
ANTI - DUMPING IN ACCORDANCE WITH VIETNAMESE LAW
Tran Thi Cam Van*, Vu Thuy Diem Chi and Vo Khac Thuong
University of Phan Thiet
ABSTRACT
In accordance with rapid development of import and export industry, Vietnam’s exports have
been facing an inceasing amount of anti - dumping lawsuits. As of June 30, 2019, Vietnam' s
export industry were involved with 86 foreign anti-dumping lawsuits. This paper foccused on
the anti-dumping regulations of WTO and Vietnam, regarding analysis and evaluation of
inadequacy in order to refine and consolidate such regulations to help Vietnamese
enterprises understand the nature of every anti-dumping lawsuits from the very beginning,
also to support the economic strategies and policies to deal with more complex upcoming
anti-dumping lawsuits. In addition, comprehensive regulations on anti - dumping were
suggested to create the stability for Vietnam’s goods exporting to international market for
promoting the development of national socioeconomic.
Keywords: Anti – dumping, dumping, export price, normal price
204
Bạn đang xem tài liệu "Chống bán phá giá theo pháp luật Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
chong_ban_pha_gia_theo_phap_luat_viet_nam.pdf

