Công ty Cổ phần trong môi trường thương mại Việt Nam hiện nay

THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
CÔNG TY CỔ PHẦN TRONG MÔI TRƯỜNG  
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM HIỆN NAY  
Nguyễn Vinh Hưng*  
* TS. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Công ty cổ phần đang là mô hình kinh doanh rất quan trọng và đóng  
góp rất lớn cho sự phát triển của kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, từ thực  
tiễn kinh doanh cho thấy, bên cạnh các ưu điểm nổi trội, công ty cổ phần  
còn tồn tại khá nhiều hạn chế; đặc biệt là các quy định của pháp luật  
điều chỉnh về loại hình công ty này đang tồn tại khá nhiều bất cập, cần  
có những sửa đổi, bổ sung để công ty cổ phần phát triển tốt trong môi  
trường thương mại Việt Nam.  
Từ khóa: Công ty cổ phần,  
thị trường chứng khoán, Luật  
Doanh nghiệp.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 11/12/2020  
: 24/12/2020  
: 28/12/2020  
Article Infomation:  
Abstract:  
A joint-stock company is a very important business model, providing  
significant contributions to the development of Vietnam’s economy.  
However, from practices, there are several shortcomings, along with the  
outstanding advantages, appearing inside the model of the joint-stock  
companies. Especially, the law governing this model company still  
has a number of shortcomings, which need to be reviewed for further  
amendments so that the model of the joint-stock company would be  
more well developed in the commercial environment of Vietnam.  
Keywords: Joint  
stock  
liability,  
company,  
limited  
stock market, Enterprise law,  
company.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 11 Dec. 2020  
: 24 Dec. 2020  
: 28 Dec. 2020  
Approved  
1. Ưu điểm của công ty cổ phần  
hoàn thiện về vốn, trình độ tổ chức và hoạt  
động mang tính xã hội hóa cao, khả năng  
phát triển và mở rộng các quan hệ liên kết  
tư bản…”3 là các ưu điểm rất lớn của công  
ty cổ phần. Vì vậy, pháp luật công ty ở các  
quốc gia có nền kinh tế phát triển trên thế  
giới đều điều chỉnh loại hình công ty này.  
Nói cách khác, công ty cổ phần được xác  
định là sự lựa chọn tối ưu cho các mô hình  
Công ty cổ phần là một trong những  
định chế quan trọng nhất trong thời đại  
kinh doanh toàn cầu1. Công ty cổ phần là  
một loại hình công ty hội tụ nhiều ưu điểm  
trong nền kinh tế thị trường2. Bởi lẽ, công  
ty cổ phần là nơi tập trung tư bản và có  
khả năng sử dụng, điều tiết, luân chuyển  
nguồn vốn rất linh hoạt. Hơn nữa, “tính  
1. Phạm Duy Nghĩa (2015), Giáo trình Luật Kinh tế, Nxb. Công an nhân dân, tr. 244.  
2. Nguyễn Thị Thu Hương (2011), Bàn thêm về chế định vốn của công ty cổ phần, Tạp chí Dân chủ và pháp  
luật, số 7, tr.37.  
3. Friedrich Kubler, Jurgen Simon (1992), Mấy vấn đề pháp luật kinh tế Cộng hòa Liên bang Đức, Nxb. Pháp  
lý, tr.45.  
36  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
kinh doanh với quy mô lớn hay thậm chí  
rất lớn và luôn có nhu cầu huy động vốn  
rộng rãi. Chính vì vậy, tại Việt Nam hiện  
nay, cùng với các loại hình của công ty  
trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần luôn  
chiếm được sự lựa chọn của các nhà kinh  
doanh trong thời gian khá dài4.  
hữu hạn6, bức tường trách nhiệm hữu hạn là  
sự đảm bảo an toàn và vững chắc cho các cổ  
đông khi nghĩa vụ về tài sản của cổ đông luôn  
được giới hạn chỉ trong phạm vi số vốn góp  
của họ. Nhờ vậy, khác với công ty hợp danh  
và doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần có  
sự tách bạch rõ ràng tài sản công ty cũng như  
tài sản riêng của các cổ đông. Vì thế, các cổ  
đông và công ty có thể yên tâm, mạnh dạn để  
đầu tư vào các lĩnh vực kinh doanh mà có thể  
chứa đựng sự rủi ro cao như các lĩnh vực tài  
chính, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, bất  
động sản... Đây là lợi thế rất lớn để công ty  
cổ phần có thể phát triển mạnh mẽ, đóng góp  
rất lớn cho sự phát triển kinh tế, xã hội. Nhờ  
khả năng hưởng trách nhiệm hữu hạn về tài  
sản nên đã “làm cho các nhà kinh doanh mạnh  
dạn đầu tư vào bất kỳ lĩnh vực kinh tế nào có  
mang lại lợi ích cho xã hội”7.  
Theo quy định của Điều 111 Luật  
Doanh nghiệp năm 2020 (Luật Doanh  
nghiệp), công ty cổ phần có những đặc  
điểm pháp lý cơ bản sau: vốn điều lệ của  
công ty luôn được chia thành nhiều phần  
bằng nhau; cổ đông của công ty có thể là cá  
nhân hoặc pháp nhân nhưng luôn phải có tối  
thiểu ba cổ đông và pháp luật không khống  
chế số lượng cổ đông tối đa; cổ đông chỉ  
phải chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn  
góp (cổ phần) của họ và có quyền chuyển  
nhượng phần vốn góp đó khá đơn giản, dễ  
dàng; công ty có tư cách pháp nhân và có  
quyền phát hành chứng khoán các loại để  
huy động vốn… Các đặc điểm này cho thấy,  
công ty cổ phần có các ưu điểm sau:  
Thứ hai, công ty cổ phần có khả năng  
mở rộng phạm vi kinh doanh và dễ dàng  
thu hút nguồn vốn  
Gắn liền với tính chịu trách nhiệm hữu  
hạn là khả năng chuyển nhượng tự do của  
cổ phần8; vì vậy, công ty cổ phần là loại  
hình công ty có cấu trúc “vốn mở”. Điều  
này làm cho công ty cổ phần có cấu trúc  
vốn và tài chính linh hoạt9 và luôn “có khả  
năng mở rộng quy mô vốn thông qua thị  
trường chứng khoán”10. Vì thế, giữa “công  
ty cổ phần và thị trường chứng khoán có  
Thứ nhất, công ty cổ phần bảo đảm  
hạn chế rủi ro tài chính cho cổ đông  
Công ty cổ phần là công ty mang bản chất  
của loại hình công ty đối vốn5. Nên thuận lợi  
rất lớn đối với cổ đông đó là được hưởng chế  
độ chịu trách nhiệm hữu hạn về mặt tài sản khi  
tham gia góp vốn vào công ty cổ phần. Nói  
cách khác, tương tự như công ty trách nhiệm  
4. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2020), Thông tin tình hình đăng ký doanh nghiệp, https://dangkykinhdoanh.  
lúc 16:00PM.  
5. Bùi Ngọc Cường (2010), Giáo trình Luật Thương mại tập 1, Nxb. Giáo dục Việt Nam, tr. 55.  
6. Nguyễn Vinh Hưng (2016), Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên trong môi trường kinh  
doanh hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 16, tr. 41.  
7. Friedrich Fubler và Jurgen Simon (1992), Mấy vấn đề pháp luật kinh tế Cộng hòa Liên bang Đức, sđd, tr. 38 - 39.  
8. Phạm Duy Nghĩa (2015), Giáo trình Luật Kinh tế, sđd, tr. 169.  
9. Nguyễn Thanh Bình (2003), Những lợi thế của công ty cổ phần trong nền kinh tế thị trường, Tạp chí Khoa  
học pháp lý, số 1.  
10. Nguyễn Thị Lan Hương (2009), Một số so sánh về công ty cổ phần theo Luật công ty Nhật Bản và Luật  
doanh nghiệp Việt Nam, Tạp chí Khoa học - Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật học 25, tr. 88.  
37  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
mối quan hệ chặt chẽ với nhau”11. Có thể  
nói, việc phát hành cổ phiếu là một đặc  
điểm riêng biệt của công ty cổ phần trong  
việc huy động vốn mà không có bất kỳ loại  
hình công ty nào khác có được. Đặc điểm  
này làm cho công ty cổ phần trở thành loại  
hình công ty rất thích hợp để kinh doanh  
lớn và luôn dễ dàng thu hút nguồn vốn huy  
động từ bên ngoài qua việc phát hành cổ  
phiếu. Bên cạnh đó, ngoài việc phát hành  
cổ phiếu, pháp luật còn cho phép công ty cổ  
phần có thể phát hành thêm trái phiếu khi  
cần huy động vốn.  
2. Hạn chế của công ty cổ phần  
Thứ nhất, sự đảm bảo an toàn pháp  
lý của công ty cổ phần đối với chủ nợ và  
khách hàng thấp  
Mặc dù “trách nhiệm hữu hạn” mang lại  
sự an toàn và bảo vệ rất tốt cho các cổ đông  
nhưng lại làm giảm sự đảm bảo an toàn pháp  
lý của công ty cổ phần đối với khách hàng  
hoặc các chủ nợ khi giao dịch với công ty  
này. Friedrich Kubler và Jurgen Simon từng  
giải thích: “chế độ trách nhiệm hữu hạn đồng  
nghĩa mối nguy hiểm dành cho các chủ nợ  
một khi công ty bị phá sản”14. Nếu so sánh  
công ty cổ phần với các loại hình của công ty  
đối nhân, khi các thành viên của công ty đối  
nhân phải chịu trách nhiệm liên đới và vô hạn  
về tài sản thì chính các chủ nợ, khách hàng khi  
giao dịch sẽ luôn nhận được sự đảm bảo tốt  
nhất về tài chính mà công ty đối nhân và các  
thành viên của công ty có được. Ngược lại,  
với “các công ty có tính chất chịu trách nhiệm  
hữu hạn về tài sản thì khi xảy ra tổn thất,  
khách hàng chỉ được đảm bảo trong phạm vi  
số tài sản của công ty”15. Vì thế, chế độ trách  
nhiệm hữu hạn về tài sản của công ty cổ phần  
lại mang đến sự rủi ro, bất lợi về mặt tài chính  
cho các khách hàng và chủ nợ; và trong một  
số trường hợp, công ty cổ phần đã lợi dụng để  
kinh doanh nhưng thiếu tinh thần trách nhiệm  
gây ra nhiều hậu quả bất lợi cho khách hàng.  
Thứ ba, khả năng chuyển nhượng  
vốn thuận lợi  
Là công ty đối vốn, nên công ty cổ  
phần không đề cao sự quen biết hay thân  
thiết giữa các cổ đông mà chỉ quan tâm  
tới yếu tố “vốn góp” của cổ đông. Do đó,  
điều kiện để có thể trở thành cổ đông của  
công ty cổ phần khá thuận lợi. Về nguyên  
tắc, chỉ cần mua ít nhất một cổ phần thì  
nhà đầu tư đã trở thành cổ đông của công  
ty cổ phần. Sự tiện lợi trong việc thu hút,  
mời gọi nhà đầu tư tham gia còn thể hiện  
khi pháp luật cho phép “cả các cán bộ,  
công chức cũng có quyền mua cổ phiếu  
của công ty cổ phần”12. Đối với nhà đầu  
tư, khi cần thiết, họ có thể dễ dàng chuyển  
nhượng “cổ phần” cho người khác thông  
qua việc mua, bán trên thị trường chứng  
khoán. Nhìn chung, pháp luật chỉ đưa ra  
một số trường hợp hạn chế khi chuyển  
nhượng cổ phần13, còn lại, việc mua, bán,  
chuyển nhượng cổ phần được thực hiện  
khá thuận lợi và dễ dàng.  
Thứ hai, dễ phát sinh mâu thuẫn giữa  
các cổ đông hoặc các nhóm cổ đông với  
nhau và việc quản lý cổ đông thường khó  
khăn, phức tạp  
Bản chất của công ty đối vốn, về lý  
thuyết coi nhẹ vấn đề nhân thân cho thấy  
11. Lê Thị Thu Thủy (chủ biên), Giáo trình pháp luật về thị trường chứng khoán, Khoa Luật , Đại học Quốc gia  
Hà Nội, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2015, tr. 31.  
12. Lê Học Lâm và Lê Ngọc Đức (2010), Luật Kinh doanh, Nxb, Thống kê, tr. 197.  
13. Điều 120 Luật Doanh nghiệp năm 2020.  
14. Friedrich Kubler, Jurgen Simon (1992), Mấy vấn đề pháp luật kinh tế Cộng hòa Liên bang Đức, sđd, tr. 45.  
15. Nguyễn Vinh Hưng (2016), Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên trong môi trường kinh  
doanh hiện nay, sđd, tr. 42.  
38  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
rằng ai cũng có thể trở thành cổ đông công  
ty cổ phần sau mua cổ phần mà không cần  
có sự đồng ý của các cổ đông trong công  
ty16. Khác với công ty hợp danh, các cổ  
đông của công ty cổ phần thường không  
có sự quen biết, tin tưởng và ngoài ra, đại  
đa số không có kiến thức về kinh doanh17.  
Điều này dễ dẫn đến tình trạng, công ty cổ  
phần có quy mô lớn thì lợi ích của các cổ  
đông thường không đồng nhất và dễ gây ra  
sự mâu thuẫn, chia rẽ hoặc thậm chí các cổ  
đông lớn thường lợi dụng quyền lực, ảnh  
hưởng hay sự chi phối của họ để chèn ép  
các cổ đông thiểu số. Do vậy, những cổ  
đông này rất dễ bị thiểu số những người  
nắm quyền lãnh đạo và điều hành công ty  
lợi dụng bóc lột, thậm chí lừa đảo18. Nhiều  
trường hợp, trong công ty cổ phần tồn tại  
sự mâu thuẫn, đối kháng quyết liệt giữa các  
cổ đông hoặc các nhóm cổ đông với nhau  
và điều này làm cản trở hoạt động của công  
ty. Trên thực tế, các công ty cổ phần của  
Việt Nam hiện nay đang phát triển theo xu  
hướng của Hoa Kỳ19. Tức là, quyền lực của  
các công ty tập trung chủ yếu vào các cổ  
đông lớn và những người quản lý điều hành  
công ty (managers)20. Hơn nữa, do số lượng  
cổ đông thường khá lớn nên rất khó khăn để  
kiểm soát các cổ đông và không ít trường  
hợp, công ty cổ phần tồn tại cả các cổ đông  
“ảo” hay “cổ đông danh nghĩa”21, nên đến  
khi cần triệu tập, thông báo về những vấn  
đề liên quan đến hoạt động kinh doanh của  
công ty cho các cổ đông thường rất phức tạp  
và khó khăn.  
Thứ ba, phải chịu nhiều loại thuế  
hơn các công ty đối nhân  
Nghiên cứu cho thấy, lợi thế rất lớn  
đối với các loại hình công ty đối nhân  
như công ty hợp danh chính là pháp luật  
không đánh thuế thu nhập doanh nghiệp  
đối với bản thân công ty này. Hiện nay,  
“nhiều nước không áp dụng thuế thu nhập  
công ty cho mô hình hợp danh. Nếu chọn  
hợp danh, nhà đầu tư có thể chỉ chịu thuế  
thu nhập cá nhân mà tránh bị đánh thuế  
hai lần”22. Nhưng đối với công ty cổ phần,  
theo quy định của Luật Thuế thu nhập cá  
nhân và Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp  
của Việt Nam, cổ đông và bản thân công  
ty cổ phần đều phải chịu thuế thu nhập  
cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp23.  
Hay nói cách khác, “công ty cổ phần phải  
chịu thuế hai lần nghĩa là bản thân công  
16. Maurice Cozian và Alian Viandier (1988), Tổ chức công ty, dịch từ nguyên bản tiếng Pháp “Droit des  
societes: Litec”, Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, 1990, tr. 70.  
17. Friedrich Kubler và Jurgen Simon (1992), Mấy vấn đề pháp luật kinh tế Cộng hòa Liên bang Đức,  
sđd, tr. 45.  
18. Friedrich Kubler và Jurgen Simon (1992), Mấy vấn đề pháp luật kinh tế Cộng hòa Liên bang Đức,  
sđd, tr. 45.  
19. Nguyễn Vinh Hưng (2019), Cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp năm 2014, Tạp  
chí Nghiên cứu lập pháp, số 24, tr. 26 - 27.  
20. Friedrich Fubler, Jurgen Simon (1992), Mấy vấn đề pháp luật kinh tế Cộng hòa Liên bang Đức, sđd, tr. 50.  
21. Hoàng Anh Tuấn (2009), Công ty cổ phần một cổ đông, https://luatminhkhue.vn/kien-thuc-luat-doanh-  
nghiep/cong-ty-co-phan-mot-co-dong.aspx , truy cập ngày 02/10/2020.  
22. Phạm Duy Nghĩa (2006), Giấc mơ nửa triệu doanh nghiệp và một đạo luật chung: Luật Doanh nghiệp năm  
2005 từ một góc nhìn so sánh với Luật Công ty 2005 của CHND Trung Hoa, http://thongtinphapluatdansu.  
edu.vn/2009/09/10/..., truy cập ngày 02/10/2020.  
23. Điểm a, khoản 1, Điều 2 của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2009 (đã được sửa đổi, bổ sung các  
năm 2013 và 2014); và khoản 1, Điều 2 của Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2009 (đã được sửa đổi, bổ sung  
năm 2012 và 2014).  
39  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
ty phải đóng thuế và các cổ đông cũng  
phải chịu thuế thêm một lần nữa”24. Các  
“cổ đông còn phải chịu thuế thu nhập bổ  
sung từ nguồn cổ tức và lãi cổ phần”25. Vì  
thế, nếu chỉ xét về phương diện chịu thuế  
thì đây cũng là một hạn chế của công ty  
cổ phần.  
quy mô rất lớn thì luôn cần phải huy động  
nguồn vốn rộng rãi nên công ty cổ phần là  
loại hình công ty lý tưởng nhất. Hơn nữa,  
thông qua thị trường chứng khoán, công  
ty cổ phần có thể quảng bá rộng rãi và tốt  
hơn về hình ảnh của công ty đến với công  
chúng. Do vậy, trong giai đoạn phát triển  
kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế sâu  
rộng tại Việt Nam hiện nay, sự tồn tại của  
công ty cổ phần là phù hợp.  
Thứ tư, khả năng bảo mật thông tin  
kinh doanh, tài chính thấp  
So với các loại hình công ty có trong  
Luật Doanh nghiệp, công ty cổ phần là  
công ty có nghĩa vụ phải cung cấp nhiều  
loại thông tin nhất. Trong đó, việc công  
khai các thông tin về tình hình hoạt động  
kinh doanh hay các nguồn thu, chi tài chính  
là nghĩa vụ bắt buộc của công ty cổ phần.  
Tuy nhiên, do số lượng cổ đông khá lớn  
nên vấn đề bảo mật thông tin sẽ rất phức  
tạp và khó khăn. Ngoài ra, đến khi niêm  
yết trên thị trường chứng khoán thì công ty  
cổ phần lại còn phải có nghĩa vụ cung cấp  
thêm các loại báo cáo tài chính đã được  
kiểm toán chặt chẽ. Nếu xét dưới góc độ  
kinh doanh thì đã làm lộ các bí mật kinh  
doanh và năng lực tài chính của công ty để  
cho các đối thủ cạnh tranh có thể nắm bắt  
hoặc khai thác.  
Tuy nhiên, cũng vì quy mô hoạt động  
của công ty cổ phần rất lớn, nên công ty  
này dường như lại không phù hợp với  
các nhà đầu tư còn non kinh nghiệm hay  
không có nhu cầu kinh doanh quá lớn  
hoặc thường xuyên phải huy động vốn.  
Hơn nữa, với đặc thù riêng, người Việt  
Nam thường coi trọng sự thân quen, tin  
tưởng khi tiến hành sản xuất, kinh doanh.  
Trước đây, đã có nghiên cứu chỉ rõ: “phù  
hợp với truyền thống của người Việt Nam  
là quan hệ họ hàng bền chặt. Với tư tưởng,  
một giọt máu đào hơn ao nước lã, những  
người họ hàng với nhau họ tin tưởng vào  
nhau hơn. Đặc biệt là trong điều kiện có ít  
vốn, họ chỉ muốn liên kết lại với nhau để  
kinh doanh chung, lấy công ty làm lãi là  
chủ yếu, do đó rất thích hợp với loại hình  
công ty đối nhân”27. Chính vì vậy, có quan  
điểm cho rằng, “cơ sở để một loại hình  
doanh nghiệp có thể phát triển tốt tại Việt  
Nam thì loại hình doanh nghiệp đó phải  
thỏa mãn các điều kiện sau (i) quy mô của  
doanh nghiệp không quá lớn nhưng lại  
có thể dễ dàng mở rộng quy mô trong dài  
hạn; (ii) giữa các thành viên của doanh  
nghiệp phải luôn tồn tại sự tin tưởng lẫn  
3. Sự phù hợp giữa công ty cổ phần  
với môi trường thương mại Việt Nam  
hiện nay  
Không thể phủ nhận tầm quan trọng,  
vai trò và ảnh hưởng của công ty cổ phần  
đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay.  
Thực tiễn cho thấy, công ty cổ phần đã  
trở thành mô hình kinh doanh phổ biến  
nhất cho các doanh nghiệp quy mô lớn26.  
Bởi lẽ, khi doanh nghiệp kinh doanh với  
24. Friedrich Kubler và Jurgen Simon (1992), Mấy vấn đề pháp luật kinh tế Cộng hòa Liên bang Đức,  
sđd, tr. 30.  
25. Nguyễn Vinh Hưng (2013), Công ty hợp vốn đơn giản trong các loại hình công ty so sánh và kiến nghị,  
Tạp chí Nghề Luật, sđd, tr. 63.  
26. Phạm Duy Nghĩa (2015), Giáo trình Luật Kinh tế, sđd, tr. 161.  
27. Nguyễn Thị Khế, Bùi Thị Khuyên, Luật kinh doanh, Nxb. Thống kê, 1999, tr. 195.  
40  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
nhau; (iii) doanh nghiệp phải đảm bảo sự  
an toàn về mặt pháp lý trước pháp luật,  
tạo niềm tin cho các khách hàng và cơ  
cấu tổ chức, quản trị điều hành không  
quá phức tạp”28. Vì vậy, đối với công ty  
cổ phần, khi hầu hết các cổ đông thường  
không hiểu biết về nhau thì sẽ khó khăn  
cho những người vốn đã có tư tưởng kinh  
doanh thận trọng và lại luôn đề cao sự tin  
tưởng, tín nhiệm lẫn nhau.  
vì quy định phải đáp ứng đủ số lượng cổ  
đông tối thiểu (ba cổ đông) nên không  
thành lập được. Cũng có thể để đối phó  
với quy định ba cổ đông tối thiểu, các nhà  
đầu tư phải tìm cách nhờ vả những người  
thân để đứng tên cho đủ số lượng cổ đông  
tối thiểu theo quy định. Trong các trường  
hợp này, thực chất, công ty cổ phần đó  
chỉ hoạt động với một cổ đông duy nhất,  
vì các cổ đông “ảo”, cổ đông “ma” hay  
cổ đông “danh nghĩa” đó không có đóng  
góp gì trong công ty. Thậm chí, còn làm  
khó khăn, rắc rối, phức tạp cho chính  
công ty cổ phần vì về nguyên tắc, những  
quyết định quan trọng của công ty đều  
phải được bàn thảo và quyết định bởi tập  
thể cổ đông. Khác với Việt Nam, Cộng  
hòa Liên bang Đức hiện đang quy định  
loại hình công ty cổ phần một thành viên  
(Konzern) và công ty này mang lại sự  
thuận lợi rất lớn cho người chủ của nó32.  
Trên thực tế, tại Việt Nam, cũng từng có  
ý kiến cho rằng, pháp luật nên cho phép  
thành lập công ty cổ phần một cổ đông33.  
Vì vậy, tác giả cho rằng, cần nghiên cứu  
sửa đổi Luật Doanh nghiệp theo hướng  
bổ sung quy định về công ty cổ phần một  
cổ đông.  
Bên cạnh đó, nhiều phân tích chỉ rõ môi  
trường kinh doanh của Việt Nam chưa thực  
sự chín muồi cho sự ra đời của những công  
ty lớn29. Các công ty tư nhân Việt Nam hiện  
nay về cơ bản vẫn huy động vốn trong khu  
vực kinh tế gia đình, chúng chưa có dáng  
dấp của các công ty đối vốn thật sự30; các  
doanh nghiệp ở Việt Nam phát triển nhanh  
nhưng chủ yếu vẫn là các doanh nghiệp có  
quy mô vừa và nhỏ31. Do vậy, nếu các nhà  
đầu tư chỉ có nhu cầu thành lập công ty với  
quy mô vừa hoặc nhỏ và đồng thời luôn  
mong muốn giữa họ phải có mối quan hệ  
thân thiết, tin cậy thì công ty cổ phần lại  
càng không phù hợp.  
4. Một số kiến nghị  
Tác giả cho rằng, để công ty cổ phần  
có thể phát triển mạnh mẽ và phù hợp với  
môi trường thương mại tại Việt Nam thì  
cần thực hiện một số giải pháp sau:  
Thứ hai, hạn chế một số lĩnh vực  
kinh doanh của công ty cổ phần  
Thứ nhất, bổ sung thêm loại hình  
công ty cổ phần một cổ đông  
Tác giả cho rằng, các nhóm ngành,  
nghề, lĩnh vực kinh doanh như: y tế (mở  
phòng khám chữa bệnh tư nhân, cửa hàng  
bán thuốc, các vật tư ngành y tế…), nhóm  
tư vấn thiết kế (xây dựng, kiến trúc, thi  
Từ thực tiễn kinh doanh tại Việt Nam  
cho thấy, khá nhiều nhà đầu tư có nhu  
cầu thành lập công ty cổ phần nhưng chỉ  
28. Nguyễn Vinh Hưng (2015), Cần xây dựng loại hình doanh nghiệp phù hợp với nền kinh tế Việt Nam, Tạp  
chí Dân chủ và pháp luật, sđd, tr. 33.  
29. Phạm Duy Nghĩa, Luật về mua bán doanh nghiệp: bình luận ngắn từ góc nhìn quản trị công ty, Tạp chí  
Nghiên cứu lập pháp số 10 (171) tháng 5/2010, tr. 47.  
30. Phạm Duy Nghĩa (2015), Giáo trình Luật Kinh tế, sđd, tr. 49.  
31. Tổng cục Thống kê, Doanh nghiệp Việt Nam 9 năm đầu thế kỷ 21, Nxb. Thống kê, tr. 15.  
32. Friedrich Fubler, Jurgen Simon (1992), Mấy vấn đề pháp luật kinh tế Cộng hòa Liên bang Đức, sđd, tr. 44.  
33. Hoàng Anh Tuấn (2009), Công ty cổ phần một cổ đông, tlđd, truy cập ngày 05/10/2020.  
41  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
công…), hay kiểm toán, dược phẩm, hóa  
chất, các dịch vụ liên quan đến lĩnh vực  
pháp lý… là những ngành, nghề không  
nên cho phép đăng ký thành lập, hoạt động  
dưới hình thức của công ty cổ phần. Bởi  
lẽ, đây đều là những ngành, nghề gây ảnh  
hưởng lớn đến xã hội, nếu doanh nghiệp  
kinh doanh các dịch vụ trên thiếu tinh  
thần trách nhiệm hay chủ quan, liều lĩnh,  
tắc trách sẽ dẫn đến những hậu quả rất lớn  
mà khó có thể sửa chữa, khắc phục. Vì  
vậy, doanh nghiệp cần phải bị ràng buộc  
trách nhiệm vô hạn về tài sản. Có ý kiến  
cho rằng, nếu để các lĩnh vực này được  
phép kinh doanh dưới hình thức công ty  
cổ phần hay công ty trách nhiệm hữu hạn  
sẽ mang lại sự chủ quan, thiếu trách nhiệm  
vì những người chủ kinh doanh được xác  
định sẽ chỉ phải chịu những hậu quả trong  
phạm vi số vốn giới hạn của họ34. Trong  
trường hợp này, “tính chịu trách nhiệm  
hữu hạn đã trở thành bức tường che chắn  
cho thành viên trước yêu cầu đòi nợ của  
các bạn hàng làm ăn với công ty… Bức  
tường trách nhiệm hữu hạn giới hạn được  
rủi ro cho người kinh doanh, vì lẽ ấy, nó  
cũng có thể đẩy một phần rủi ro sang cho  
khách hàng, người làm công và các chủ  
nợ khác của công ty35.  
của con người và an toàn xã hội, hay nói  
cách khác, không cần yêu cầu chủ doanh  
nghiệp phải chịu trách nhiệm vô hạn thì  
mới cho phép thành lập dưới hình thức  
của công ty cổ phần. Thời gian trước đây,  
pháp luật đã từng có quy định, khi kinh  
doanh các dịch vụ pháp lý thì bắt buộc  
phải kinh doanh dưới hình thức là các  
văn phòng luật hoặc phải thành lập theo  
mô hình công ty luật hợp danh và mô  
hình này được tổ chức gần như theo mô  
hình công ty hợp danh trong Luật Doanh  
nghiệp36. Hoặc quy định hiện nay đối với  
Văn phòng Thừa phát lại, nếu do một  
Thừa phát lại thành lập thì phải được tổ  
chức và hoạt động theo loại hình doanh  
nghiệp tư nhân, còn nếu do hai Thừa phát  
lại trở lên thành lập thì sẽ tổ chức và hoạt  
động theo mô hình công ty hợp danh37.  
Hay đối với văn phòng công chứng cũng  
được tổ chức và hoạt động theo mô hình  
của công ty hợp danh38. Điều này cho  
thấy, pháp luật ngày càng quan tâm đến  
vấn đề định hướng ngành, nghề, lĩnh vực  
kinh doanh theo đặc thù riêng của từng  
loại hình công ty.  
Việc quy định cụ thể các ngành, nghề,  
lĩnh vực kinh doanh dưới hình thức công ty  
cổ phần không làm hạn chế hay giảm bớt  
quyền tự do, sáng tạo trong kinh doanh.  
Bởi lẽ, chỉ với mục đích định hướng các  
ngành, nghề, lĩnh vực kinh doanh đi theo  
đúng trật tự, hoạt động an toàn, hiệu quả  
và để phù hợp với thế mạnh của loại hình  
Chúng tôi cho rằng, cần quy định  
việc kinh doanh các lĩnh vực trên sẽ chỉ  
thuộc về các loại hình công ty có tính chất  
chịu trách nhiệm vô hạn như công ty hợp  
danh hay doanh nghiệp tư nhân. Chỉ đối  
với các ngành, nghề, lĩnh vực kinh doanh  
không gây ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe  
công ty cổ phần  
34. Nguyễn Vinh Hưng (2016), Hoàn thiện chế định pháp luật về công ty hợp danh trong Luật Doanh nghiệp  
năm 2014, Tạp chí Kinh tế đối ngoại, số 88/2016, tr. 103 - 104.  
35. Phạm Duy Nghĩa (2015), Giáo trình Luật Kinh tế, sđd, tr. 202 - 204.  
36. Điều 17 và Điều 19, Pháp lệnh Luật sư năm 2001.  
37. Khoản 4, Điều 1, Quyết định 224/QĐ-TTg ngày 19/2/2009 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt đề án  
“Thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại Thành phố Hồ Chí Minh”.  
38. Điều 22, Luật Công chứng năm 2014.  
42  
pdf 7 trang Thùy Anh 9860 Free
Bạn đang xem tài liệu "Công ty Cổ phần trong môi trường thương mại Việt Nam hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcong_ty_co_phan_trong_moi_truong_thuong_mai_viet_nam_hien_na.pdf