Khung pháp luật khu vực về phòng, chống bạo lực trẻ em và vấn đề hoàn thiện pháp luật Việt Nam
KHUNG PHÁP LUẬT KHU VỰC VỀ PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC
TRꢀ EM VÀ VẤN ĐỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM
NGUYỄN LAN NGUYÊN*
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, việc thực thi pháp luật bảo vệ quyền trẻ em, chống lại các
hành vi bạo lực đối vói trẻ em đã và đang tiếp tục trở thành một xu thế tất yếu của các quốc
gia, trong đó có Việt Nam. Nghiên cứu vấn đề phòng, chống bạo lực trẻ em theo các cam kết
quốc tế và trên cơ sở khung pháp luật khu vực luôn có ý nghĩa quan trọng trong việc tiếp tục
tìm ra các biện pháp hiệu quả nhằm phòng, chống bạo lực trẻ em ở Việt Nam hiện nay.
Từ khóa: Khung pháp luật, bạo lực trẻ em, pháp luật quốc gia.
Ngày nhận bài: 19/5/2021; Biên tập xong: 21/5/2021; Duyệt đăng: 28/5/2021
In the context of globalization, Vietnam and other nations continue to implement
laws to protect children rights and prevent from violence against children. Therefore,
it is vital to research on prevention and combating violence against children under
international commitments and regional legal frameworks to find out effective
measures for this maꢀer in Vietnam.
Keywords: Legal framework, violence against children, national law.
ịch sử hợp tác quốc tế cho thấy vấn Development), ghi nhận mục tiêu một thế
đề bảo vệ quyền trꢀ em đã được các
quốc gia quan tâm nghiên cứu từ rất
sớm và đã được ghi nhận trong các Công
ước quốc tế quan trọng trên phạm vi toàn
cầu và khu vực.
giới được giải phóng khỏi bạo lực và sợ
hãi. Chương trình này đặt ra các mục tiêu
riêng biệt, bao gồm việc cam kết chấm dứt
lạm dụng, khai thác, buôn bán và tất cả các
hình thức bạo lực và tra tấn trꢀ em trước
năm 2030.
Trên cơ sở các Công ước mang tính chất
toàn cầu, các khung pháp luật khu vực
cũng được tăng cường. Các tổ chức quốc
tế mang tính chất khu vực đã ký kết, hợp
tác, triển khai các sáng kiến, chia sꢀ kinh
nghiệm cũng như phát huy sự giám sát của
các quốc gia trong khu vực trong vấn đề
phòng, chống bạo lực trꢀ em.
L
Trước hết, phải kể đến Tuyên bố về
quyền trꢀ em năm 1959 của Đại hội đồng
Liên hợp quốc đã ghi nhận quyền của trꢀ
em được bảo vệ trước các hình thức bạo
lực. Tiếp đến là Công ước quốc tế về quyền
trꢀ em năm 1989 (CRC) có hiệu lực năm
1990 (kèm theo hai Nghị định thư không
bắt buộc của Công ước năm 2000 và 2010)
quy định về các quyền cơ bản của trꢀ em,
trong đó có quyền được bảo vệ chống lại
sự ngược đãi, bạo lực, bóc lột hoặc bỏ rơi.
Thêm vào đó, Công ước số 182 của Tổ chức
Lao động quốc tế (ILO) năm 1999 về lao
động trꢀ em đã tuyên bố việc cấm và thực
hiện các hành động khẩn cấp để loại trừ
các hình thức tồi tệ nhất của lao động trꢀ
em (từ Điều 32 đến Điều 36). Đến năm
2015, các quốc gia đã thoả thuận thông
qua Chương trình Phát triển bền vững tới
năm 2030 (2030 Agenda for Sustainable
Khu vực châu Âu
Trên nhiều phương diện như kinh tế,
chính trị an ninh, nhân quyền, Liên minh
châu Âu (EU) đã và đang xây dựng một
chính sách khu vực để đảm bảo và thực
thi quyền trꢀ em. Khoản 3 Điều 3 Hiệp ước
về Liên minh châu Âu nhấn mạnh yêu cầu
Liên minh châu Âu phải có trách nhiệm
* Tiến sĩ, Giảng viên chính, Khoa Luật, Đại học Quốc
gia Hà Nội
Số 03 - 2021
Khoa học Kiểm sát 57
KHUNG PHÁP LUẬT KHU VꢁC VỀ PHꢂNG, CHỐNG BẠO LꢁC...
bảo vệ quyền của trꢀ em, đặt ra vấn đề bạo
lực trꢀ em gồm 03 nội dung chính:
+ Các quy định về bạo lực tình dục đối với
trẻ em
Theo đó, các quốc gia thành viên (QGTV)
EU phải thực hiện tất cả những biện pháp
cần thiết để đảm bảo trừng phạt bằng pháp
luật hình sự các hành vi tội phạm tình dục
đối với trꢀ em theo thời hạn tối thiểu được
ghi nhận trong Chỉ thị 2011/92 của Nghị viện
và Hội đồng Bộ trưởng ngày 13/12/2011 về
chống lạm dụng tình dục, bạo hành tình dục
trꢀ em và khiêu dâm liên quan đến trꢀ em.
Về mua bán trꢀ em, Điều 5 Hiến chương
về các quyền con người cơ bản của Liên
minh châu Âu quy định “cấm buôn bán
người”. Theo quy định tại Điều 83 Hiệp ước
về chức năng của Liên minh châu Âu, đây
là lĩnh vực thuộc thẩm quyền lập pháp của
Nghị viện và Hội đồng Bộ trưởng. Trách
nhiệm pháp lý trong trường hợp này bao
gồm các hình phạt hình sự hoặc phi hình sự
và có thể bao gồm các hình phạt khác (Điều
6). QGTV có thể tiến hành những biện pháp
hỗ trợ cho gia đình của những trꢀ em là nạn
nhân của tội buôn bán người nếu gia đình ở
trên lãnh thổ của QGTV đó (Điều 14).
Cụ thể, đối với những hành vi cố ý bạo
hành tình dục trꢀ em, QGTV phải quy định
trong luật hình sự của mình hình phạt tối
thiểu là hình phạt tù. Đối với hành vi xúi
giục, hỗ trợ, tiếp tay cho việc thực hiện các
tội bạo hành tình dục trꢀ em, hành vi cố ý
phạm tội liên quan đến các tội phạm tình
dục như trên, Chỉ thị không quy định hình
phạt tối thiểu nhưng vẫn yêu cầu các QGTV
phải thực hiện những biện pháp cần thiết
để trừng phạt các hành vi này (Điều 7).
Về lạm dụng tình dục trꢀ em, theo quy
định tại Chỉ thị 2011/92 của Nghị viện và Hội
đồng Bộ trưởng ngày 13/12/2011 về chống
lạm dụng tình dục, bạo hành tình dục trꢀ
em và khiêu dâm liên quan đến trꢀ em, đối
với những hành vi ép buộc, tuyển dụng trꢀ
em tham gia các chương trình khiêu dâm,
quan hệ tình dục với trꢀ em nhằm mục đích
thực hiện các chương trình khiêu dâm hay
cố ý tham dự các chương trình khiêu dâm có
sự tham gia của trꢀ em thì những vi phạm
này có thể bị xử lý hình sự với mức án lên
tới 10 năm tù giam (Điều 7).
+ Các quy định về bạo hành thể chất, tinh
thần và bỏ mặc trẻ em
Mọi người đều có quyền tôn trọng sự
toàn vẹn về thể chất và tinh thần của mình
(Điều 3 Hiến chương). Các phán quyết của
Toà nhân quyền châu Âu đã khẳng định
quốc gia phải tuân thủ nghĩa vụ chủ động
+ Các quy định của về lạm dụng trẻ em
Về lao động cưỡng bức trꢀ em, Chỉ thị
2011/36/EU về phòng ngừa và chống buôn
bán người đã thừa nhận lao động cưỡng
bức là một hình thức lạm dụng trꢀ em. Hiến
chương về các quyền con người cơ bản của
EU đã khẳng định không ai bị cưỡng bức
lao động (Điều 3) và “cấm lao động trẻ em”
(Điều 32). Chỉ thị 94/33/EC của Hội đồng
Bộ trưởng ngày 22/6/1994 về bảo vệ thiếu trong việc ban hành những biện pháp hiệu
quả để chống lại các hành vi bạo hành thể
chất, tinh thần và tiến hành những hoạt
động điều tra hiệu quả các khiếu nại về
hành vi vi phạm. Quốc gia cần có hành
động bảo vệ trꢀ em trong các trường hợp
trꢀ bị bỏ mặc hoặc khi có đủ bằng chứng về
việc trꢀ em bị bỏ mặc tại nhà hoặc tại các tổ
chức tư nhân.
niên khi lao động, trꢀ em có nghĩa là bất kꢁ
người nào dưới 15 tuổi hoặc vẫn còn phải đi
học toàn thời gian bắt buộc theo quy định
của luật quốc gia. Các QGTV phải thông
qua những biện pháp cần thiết để cấm lao
động trꢀ em, trừ một số trường hợp ngoại
lệ. Chỉ thị đặt ra giới hạn thời gian làm việc
là 8h/ngày và các quốc gia phải bảo đảm trꢀ
em không được làm việc trong thời gian từ
8 giờ tối đến 6 giờ sáng (Điều 9).
Điều đáng nói là, EU đã xây dựng những
cơ chế nhằm tăng cường phối hợp giữa các
58 Khoa học Kiểm sát
Số 03 - 2021
NGUYỄN LAN NGUYÊN
cơ quan trong việc phát hiện, xử lý những luật đã kiểm tra các tài sản tư nhân, cơ sở
hành vi vi phạm liên quan đến bạo lực trꢀ thương mại, khách sạn, xe buýt, nhà ga, bến
em. Một trong những cơ chế đó là “Vòng phà, sân bay và khu vực biên giới. Chiến
dịch cũng được tổ chức trong các trường
học để cảnh báo cho trꢀ vị thành niên về
những rủi ro của nạn buôn người. Kết quả
là đã phát hiện 34 vụ bắt giữ vì buôn bán
người và 36 vụ bắt giữ vì các tội danh khác
như cướp, phổ biến tài liệu khai thác tình
dục trꢀ em và tạo điều kiện cho nhập cư bất
hợp pháp. Trong 07 ngày hành động, đã
xác định được 206 người có thể là nạn nhân,
trong đó 53 người được xác nhận là trꢀ vị
thành niên. Những hoạt động này đã hỗ trợ
cho việc tiến hành các hoạt động điều tra,
bắt giữ 31 trường hợp buôn người mới ở các
quốc gia tham gia chiến dịch. Các chuyên
gia về buôn bán người đến từ các cơ quan
thực thi pháp luật, nhân viên bảo vệ trꢀ em,
nhân viên xã hội, đại diện thành phố và các
tổ chức phi chính phủ đã nỗ lực tham gia
xác định những đối tượng có khả năng trở
thành nạn nhân và điều tra các trường hợp
buôn bán trꢀ em. Europol đã tạo điều kiện
cho việc trao đổi thông tin giữa các quốc gia
tham gia và phân tích thông tin hoạt động
để hướng dẫn cho các nhà điều tra.1
tròn chính sách EU 4 năm” để tạo ra những
biện pháp mạnh mꢂ hơn trong cuộc chiến
chống lại những tội phạm có tổ chức và tội
phạm quốc tế nghiêm trọng trên cơ sở kêu
gọi sự phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan
thực thi pháp luật, các cơ quan và thiết chế
của EU và những bên thứ ba có liên quan.
Ngày 27/3/2017, Hội đồng đã quyết định
tiếp tục Vòng tròn chính sách đối với những
tội phạm hình sự quốc tế và tội phạm có tổ
chức giai đoạn 2018 – 2021. Trong 10 lĩnh
vực ưu tiên của Chu kꢁ chính sách giai
đoạn này, có hai lĩnh vực liên quan đến tội
phạm trꢀ em là tội phạm mạng và buôn bán
người. Cụ thể, đối với tội phạm mạng, một
trong những mục tiêu ưu tiên là chống bạo
hành tình dục trꢀ em và lạm dụng tình dục
trꢀ em, bao gồm cả việc sản xuất và phổ
biến những sách báo, tranh ảnh, tư liệu bạo
hành tình dục; đối với tội buôn bán người,
mục tiêu hướng đến là nhằm chống lại việc
buôn bán người dưới mọi hình thức.
Cơ chế vòng tròn chính sách đã có tác
động tích cực trong tăng cường hoạt động
phối hợp giữa các QGTV ở cấp độ khác
nhau trong hoạt động xử lý các hành vi tội
phạm liên quan đến trꢀ em tại EU. Chẳng
hạn, trong năm 2019, Hiệp hội cảnh sát
Liên minh châu Âu (Europol) đã hỗ trợ
một chiến dịch chống lại việc buôn bán trꢀ
vị thành niên nhằm khai thác tình dục, ép
buộc ăn xin và bóc lột sức lao động. Chiến
dịch này do Vương quốc Anh lãnh đạo
cùng sự tham gia của các cơ quan thực thi
pháp luật từ 15 quốc gia thành viên EU
là Áo, Bulgaria, Croatia, Đức, Hungary,
Iceland, Latvia, Lithuania, Hà Lan, Bồ Đào
Nha, Rumania, Slovakia, Slovenia, Tây Ban
Nha và Thụy Sĩ.
Khu vực châu Phi
Điều 16 của Hiến chương châu Phi về
quyền và phúc lợi của trꢀ em đưa ra quy
định cấm “kép” đối với bạo lực trꢀ em;
theo đó, cấm hành vi ngược đãi bởi người
chăm sóc và các hình thức khác của bạo
lực tại cộng đồng. Các quốc gia tại khu
vực Tiểu vùng châu Phi đã thể hiện nỗ lực
trong việc chấm dứt tình trạng bạo lực trꢀ
em bằng việc phê chuẩn các điều ước quốc
tế. Trên cơ sở đó, các quốc gia này đã ban
hành các khung chính sách cấm sử dụng
bạo lực với trꢀ em trong toàn khu vực, góp
phần vào tiến trình 30 năm thực hiện Công
ước CRC và Công ước châu Phi về quyền
Từ ngày 17 đến 23/6/2019, hơn 127.000 cá
nhân, 63.800 phương tiện và 1.100 địa điểm
70-arrests-in-pan-european-action-against-child-
đã được kiểm tra. Cơ quan thực thi pháp trafficking, truy cập ngày 2/4/2020.
Số 03 - 2021
Khoa học Kiểm sát 59
KHUNG PHÁP LUẬT KHU VꢁC VỀ PHꢂNG, CHỐNG BẠO LꢁC...
và phúc lợi của trꢀ em năm 1990. Châu Phi bán người năm 2015, đặc biệt là phụ nữ và
cũng là khu vực cho phép ngoại lệ trong trꢀ em. Công ước nhấn mạnh phụ nữ và trꢀ
kết hôn trꢀ em. Điển hình, vùng châu Phi em là đối tượng dễ bị tổn thương bởi hoạt
động buôn bán người trong khu vực.
hạ Sahara là một trong những khu vực có tỉ
lệ kết hôn trꢀ em cao nhất thế giới với 04/10
phụ nữ trꢀ kết hôn ở độ tuổi dưới 18 (đứng
thứ hai sau Nam Á). Năm 2018, theo một
tổng kết của Liên minh châu Phi về kết hôn
trꢀ em ở 55 quốc gia, đã có 27 quốc gia cho
phép có sự ngoại lệ trong kết hôn trꢀ em,
11 quốc gia quy định độ tuổi tối thiểu để
kết hôn dưới 18 tuổi.2
Việt Nam
Là thành viên tích cực của ASEAN, việc
bảo vệ trꢀ em trước tình trạng bạo lực đã
trở thành một nguyên tắc được ghi nhận
trong Điều 37 Khoản 1 Hiến pháp Việt
Nam năm 2013 và các văn bản luật chuyên
ngành như: Luật Xử lý vi phạm hành chính
năm 2012; Bộ luật hình sự năm 2015; Luật
phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007;
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014...
Quy trình, thủ tục xử lý các hành vi phạm
tội liên quan đến bạo lực trꢀ em được ghi
nhận tại Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015
và được thực hiện đầy đủ như đối với các
hành vi phạm tội khác.
Nhìn một cách tổng thể, pháp luật Việt
Nam đã có các quy định tương đối đa dạng
và toàn diện để trừng trị các hành vi bạo
lực. Tuy nhiên, có thể nhận thấy một số
thiếu sót trong hệ thống các quy định về
xử lý các hành vi bạo lực sau:
Trước hết, pháp luật trong lĩnh vực này
còn chưa bắt kịp với thực tiễn xã hội hiện
nay, đặc biệt trong môi trường mạng ngày
càng phát triển. Trong các văn bản đã nêu
còn “vắng bóng” các quy định liên quan
đến hành vi bạo lực đối với trꢀ em trong
môi trường kỹ thuật số. Hiện Luật An ninh
mạng năm 2018 mới chỉ đưa ra các hành
vi bị nghiêm cấm về an ninh mạng nói
chung, trong đó có “hoạt động mại dâm, tệ
nạn xã hội, mua bán người; đăng tải thông
tin dâm ô, đồi trụy, tội ác; phá hoại thuần
phong, mỹ tục của dân tộc, đạo đức xã hội,
sức khỏe của cộng đồng” và “sản xuất, đưa
vào sử dụng công cụ, phương tiện, phần
mềm hoặc có hành vi cản trở, gây rối loạn
hoạt động của mạng viễn thông, mạng
Internet, mạng máy tính, hệ thống thông
tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin,
Khu vực Đông Nam Á
Bằng những hành động mạnh mꢂ trong
việc đẩy lùi bạo lực trꢀ em phù hợp với các
tiêu chuẩn của Công ước CRC, năm 2013,
ASEAN đã thông qua Tuyên bố về xoá bỏ
bạo lực đối với phụ nữ và xoá bỏ bạo lực
đối với trꢀ em tại ASEAN, ghi nhận những
biện pháp nhằm đạt được mục tiêu này,
đồng thời tăng cường các cơ chế quốc gia.
Các cơ quan thực thi pháp luật xây dựng
cơ sở dữ liệu và nghiên cứu kinh nghiệm
phòng chống bạo lực trꢀ em tại các QGTV.3
Vào tháng 12 năm 2015, Kế hoạch hành
động khu vực về xoá bỏ bạo lực chống lại
trꢀ em giai đoạn 2016-2025 đã được các
nhà lãnh đạo ASEAN nhất trí thông qua,
ghi nhận chi tiết nhất các vấn đề về bạo lực
chống lại trꢀ em trong khuôn khổ ASEAN.
Chiến lược khu vực này thống nhất với
Chương trình hành động tới năm 2030, đề
xuất các hành động cụ thể để có thể đạt
được mục tiêu đề ra với các mốc thời gian
rõ ràng trong việc bảo vệ trꢀ em một cách
hiệu quả.
Một thành tựu nổi bật khác của ASEAN
trong việc bảo vệ trꢀ em trước tình trạng
buôn bán người phải kể đến là Công ước
ASEAN về phòng chống tội phạm buôn
2ꢃ United Nation, 2019, tlđd, tr. 36
3ꢃ Tuyên bố về xóa bỏ bạo lực đối với phụ nữ và xóa
bỏ bạo lực đối với trꢀ em tại ASEAN (Declaration on
the Elimination of Violence against Women and Violence
against Children in ASEAN).
60 Khoa học Kiểm sát
Số 03 - 2021
NGUYỄN LAN NGUYÊN
phương tiện điện tử; phát tán chương trình đồng lao động vẫn chưa được coi là “lao
tin học gây hại cho hoạt động của mạng
viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính,
hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều
khiển thông tin, phương tiện điện tử; xâm
nhập trái phép vào mạng viễn thông, mạng
máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử
lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu,
phương tiện điện tử của người khác” (Điều
8). Đây là những hành vi liên quan trực
tiếp đến bạo lực tình dục.
Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ
sung năm 2017 cũng đưa ra hình phạt dành
cho hành vi “lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc người
dưới 16 tuổi trình diễn khiêu dâm hoặc trực
tiếp chứng kiến việc trình diễn khiêu dâm
dưới mọi hình thức” (Điều 147) và hành vi
“làm ra, sao chép, lưu hành, vận chuyển,
mua bán, tàng trữ nhằm phổ biến sách,
báo, tranh, ảnh, phim, nhạc hoặc những
vật phẩm khác có nội dung khiêu dâm, đồi
trụy hoặc hành vi khác truyền bá vật phẩm
đồi trụy” (Điều 326) với khung hình phạt
tối đa là 12 năm tù nếu những hành vi này
được thực hiện đối với người dưới 18 tuổi.
Đồng thời, hành vi sử dụng mạng máy tính
hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện
tử để làm nhục người khác (bạo lực tinh
thần) cũng được ghi nhận tại Điều 155 Bộ
luật hình sự năm 2015. Đây là những nỗ lực
đáng kể của Việt Nam trong quá trình lập
pháp; tuy nhiên, những quy định này áp
dụng chung đối với đối tượng là người đã
thành niên và trꢀ em chứ không có những
quy định đặc thù cho trꢀ em.
động chưa thành niên”, trong khi số lượng
này nhiều hơn số lượng lao động chưa
thành niên chính thức làm việc có hợp đồng.
Những thiếu sót này, đặc biệt là lỗ hổng đối
với các hành vi bạo lực tại các bối cảnh cụ
thể là một trong những nguyên nhân khiến
tình trạng bạo lực học đường và bạo lực tại
nơi làm việc ngày càng diễn ra phổ biến và
dẫn đến những hậu quả rất thương tâm.
Thêm vào đó, một số quy định trong Bộ
luật hình sự hiện hành còn chưa rõ ràng,
gây khó khăn cho công tác xử lý hành vi vi
phạm. Chưa có một văn bản pháp luật nào
làm rõ khái niệm “nội dung khiêu dâm, đồi
trụy” và “vật phẩm đồi trụy” tại Điều 326.
Ngoài ra, một số yếu tố cấu thành các tội
phạm liên quan đến bạo lực tình dục còn
chưa rõ ràng như yếu tố “trái với ý muốn”
của nạn nhân tại Điều 142, yếu tố “không
nhằm mục đích giao cấu” tại Điều 146,
“hành vi quan hệ tình dục khác” tại Điều
145. Những yếu tố này đều rất khó chứng
minh trong quá trình tố tụng, đặc biệt khi
nạn nhân là trꢀ em thì việc xác định ý muốn,
tâm tư, tình cảm của nạn nhân rất phức tạp.
Thứ ba, mặc dù quy trình tố tụng đã
tương đối chặt chꢂ và đầy đủ nhưng bạo
lực đối với trꢀ em chưa trở thành một trong
các yếu tố để áp dụng thủ tục rút gọn theo
Điều 456 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Các cơ quan chức năng buộc phải tuân thủ
một quy trình tố tụng kéo dài, điều này có
thể làm mất đi tính chính xác của chứng cứ.
Thứ hai, các quy định pháp luật hiện
hành còn chưa đầy đủ. Cụ thể, pháp luật
Việt Nam chưa hình sự hóa hành vi dụ dỗ,
lôi kéo trꢀ em nhằm mục đích quan hệ tình
dục, cũng như chưa có các quy định về xử
lý bạo lực đối với trꢀ em tại các bối cảnh cụ
thể. Ví dụ như chưa có quy định về cấm sử
dụng hình phạt thể chất đối với trꢀ em tại
trường học hay tại nơi làm việc – khi trꢀ
Trong bối cảnh bạo lực đang ngày càng
trở nên phổ biến đối với trꢀ em, những lỗ
hổng pháp lý nói trên cần phải được bổ
sung và điều chỉnh kịp thời để phù hợp với
thực tiễn.
Báo cáo của Bộ Công an cho thấy cơ
quan điều tra đã khởi tố 7.119 vụ và 7.211 bị
can có liên quan đến xâm hại trꢀ em, trong
em thực hiện các công việc không theo hợp đó hầu hết các trường hợp bắt, tạm giữ đều
Số 03 - 2021
Khoa học Kiểm sát 61
KHUNG PHÁP LUẬT KHU VꢁC VỀ PHꢂNG, CHỐNG BẠO LꢁC...
được chuyển xử lý hình sự4. Tuy nhiên, khi Lao động, Thương binh và xã hội quản lý;
tiếp nhận các tố giác về bạo lực về thể chất
tại gia đình, cơ quan công an thường có xu
hướng coi đây là việc trong gia đình5 và yêu
cầu hòa giải giữa người tố giác và đối tượng
bị tố giác, dẫn đến chậm trễ khó khăn trong
xử lý sau này. Liên quan đến xử lý hình sự
đối với các hành vi bạo lực, Tòa án đã thụ
lý 7.078 vụ án về xâm hại trꢀ em, tuyên án
chung thân và tử hình 44 bị cáo, xử phạt tù
từ 15 năm đến 20 năm với 381 bị cáo, xử
phạt tù từ 07 năm đến 15 năm với 1.332 bị
cáo, còn lại là các mức hình phạt khác6.
Bên cạnh các khiếm khuyết kể trên,
nhiều ý kiến cho rằng các quy định về xử
lý vi phạm hành chính đối với các hành vi
bạo lực đối với trꢀ em còn chưa đủ tính răn
đe so với hậu quả mà các hành vi này gây
ra. Theo Báo cáo của Bộ Tư pháp, công tác
phát hiện, xử lý vi phạm hành chính được
tăng cường hơn. Trong giai đoạn này có
1.236 vụ xâm hại trꢀ em bị xử lý vi phạm
hành chính. Các hành vi xâm hại trꢀ em
bị xử lý hành chính chủ yếu là bạo lực thể
chất đối với trꢀ em.
Việc tiếp nhận thông tin về bạo lực trꢀ
em và hỗ trợ tư vấn về kiến thức, kỹ năng
cho trꢀ em và những người có ảnh hưởng
đến trꢀ em; áp dụng các biện pháp cần
thiết để hỗ trợ trꢀ em nhằm loại bỏ hoặc
giảm thiểu nguy cơ trꢀ em bị bạo lực được
thông qua các thiết chế Trợ giúp pháp lý;
các tổ chức hành nghề luật sư và các Trung
tâm tư vấn pháp luật; Tổng đài 111; Cơ sở
tạm lánh như cơ sở bảo trợ xã hội, trung
tâm công tác xã hội và nhà xã hội do Bộ
các Trung tâm, Hội, Nhóm, cơ quan bảo vệ
và chăm sóc trꢀ em.
Trong thời gian tới, Việt Nam cần tiếp
tục hoàn thiện pháp luật về phòng, chống
bạo lực đối với trꢀ em, ban hành quy chế
phối hợp liên ngành trong hỗ trợ, can thiệp
và xử lý các hành vi bạo lực đối với trꢀ em,
ban hành các văn bản pháp luật liên quan
đến việc xử lý hành vi bạo lực đối với trꢀ em
tại các cơ sở giáo dục, hành vi bạo lực đối
với trꢀ em trong môi trường số và trong môi
trường làm việc. Cần sửa đổi quy trình tố
tụng cho phù hợp với đặc thù của các vụ bạo
lực đối với trꢀ em như đẩy nhanh quá trình
giám định thương tích, giám định pháp y
trong những trường hợp này; cho phép áp
dụng thủ tục rút gọn đối với những vụ việc
hình sự có nạn nhân là trꢀ em.
Thêm vào đó, cần tăng cường việc giám
sát, truyền thông trên các phương tiện
thông tin đại chúng về các kênh hỗ trợ nạn
nhân của bạo lực trꢀ em như Tổng đài 111
và các tổ chức trợ giúp pháp lý, nâng cao
hiệu quả tuyên truyền về phòng, chống
bạo lực trꢀ em tới toàn xã hội./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Công ước quốc tế về quyền trꢀ em năm 1989;
2. Công ước số 182 của Tổ chức Lao động quốc
tế năm 1999 về lao động trꢀ em;
3. Unicef, Implementation Handbook for the
Convention on the Rights of the Child, 2007;
4. Luật trꢀ em năm 2016;
5. Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007;
6. Bộ luật hình sự năm 2015;
7. Bộ luật dân sự năm 2015;
4ꢃ Báo cáo số 69/BC-ĐGS về Kết quả giám sát “Việc
thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống xâm
hại trꢀ em” của Đoàn giám sát của Quốc hội ngày
19/5/2020, tr.31-32
8. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
news/70-arrests-in-pan-european-action-against-
child-trafficking;
5ꢃ GS.TS. Nguyễn Hữu Minh, Hoạt động can thiệp, hỗ
trợ về phòng, chống bạo lực gia đình ở Việt Nam và khuyến
nghị chính sách, Kỷ yếu Hội thảo khoa học “10 năm thi
hành Luật Phòng, chống bạo lực gia đình - Thực trạng
và giải pháp”, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, tr.45
6ꢃ Báo cáo số 69/BC-ĐGS, tr.34
10. Báo cáo số 69/BC-ĐGS về Kết quả giám sát
“Việc thực hiện chính sách, pháp luật về phòng,
chống xâm hại trꢀ em” của Đoàn giám sát của
Quốc hội ngày 19/5/2020.
62 Khoa học Kiểm sát
Số 03 - 2021
Bạn đang xem tài liệu "Khung pháp luật khu vực về phòng, chống bạo lực trẻ em và vấn đề hoàn thiện pháp luật Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
khung_phap_luat_khu_vuc_ve_phong_chong_bao_luc_tre_em_va_van.pdf

