Hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về cán bộ điều tra
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VỀ CÁN BỘ ĐIỀU TRA
Ngô Văn Vịnh*
Nguyễn Thị Hải Yến**
*TS. Khoa Luật, Học viện Chính trị Công an nhân dân
**ThS. Phòng Quản lý khoa học và Hợp tác quốc tế, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Luật Tổ chức Cơ quan điều tra
hình sự năm 2015 quy định Cán bộ điều tra là người được giao nhiệm vụ
tiến hành một số hoạt động điều tra với những quy định mới, cụ thể. Tuy
nhiên, một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Luật Tổ
chức Cơ quan điều tra hình sự năm 2015 về Cán bộ điều tra còn bất cập,
cần được tiếp tục hoàn thiện.
Từ khóa: Cán bộ điều tra, Bộ
luật Tố tụng hình sự, Luật Tổ
chức Cơ quan điều tra hình sự.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 11/9/2021
: 12/10/2021
: 15/10/2021
Article Infomation:
Abstract:
Abstract: The Criminal Procedure Code of 2015 and the Law on
Organization of Criminal Investigation Agencies of 2015 both define a
provision that an investigating officer is a person assigned to conduct
a number of investigative activities with new and specific regulations.
However, a number of provisions of the Criminal Procedure Code of
2015 and the Law on Organization of Criminal Investigation Agencies
of 2015 on investigating officers are still inadequate and they need to be
further reviewed for improvements.
Keywords: Investigating officers;
Criminal Procedure Code; Law
on Organization of Criminal
Investigation Agencies.
Article History:
Received
Edited
: 11 Sep. 2021
: 12 Oct. 2021
: 15 Oct. 2021
Approved
1. Các quy định của pháp luật tố tụng hình
sự về chức danh Cán bộ điều tra
Theo quy định của Luật Tổ chức Cơ quan
ĐTHS năm 2015, CBĐT là những người
có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ về lĩnh
vực điều tra được bổ nhiệm để giúp Điều tra
viên (ĐTV) hoặc được phân công để giúp
Thủ trưởng cơ quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra thực hiện một
số hoạt động ĐTHS. Việc quy định về chức
danh CBĐT để đáp ứng thực tiễn công tác
đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung
và công tác ĐTHS nói riêng. Thực tiễn cho
thấy, CBĐT ở CQĐT đã giúp ĐTV giải quyết
nguồn tin về tội phạm và giải quyết các vụ án
hình sự được nhanh chóng, thuận lợi. Đối với
các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành
1.1. Tiêu chuẩn của Cán bộ điều tra
Cán bộ điều tra (CBĐT) là chức danh tố
tụng mới được quy định trong Bộ luật Tố tụng
hình sự (TTHS) năm 2015 và Luật Tổ chức Cơ
quan điều tra hình sự (ĐTHS) năm 2015. Trước
khi có Bộ luật TTHS năm 2015, CBĐT trong
thực tế đã tồn tại là cán bộ của Cơ quan điều
tra (CQĐT) tham gia vào một số hoạt động
ĐTHS mang tính chất “sự vụ”, nhưng không
được quy định trong pháp luật TTHS là người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Điều này
gây ra những khó khăn, vướng mắc trong quá
trình tiến hành ĐTHS.
Số 20(444) - T10/2021
13
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
một số hoạt động điều tra, CBĐT giúp Thủ
trưởng các cơ quan này thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn điều tra theo quy định của pháp
luật TTHS.
Theo quy định của Luật Tổ chức Cơ quan
ĐTHS năm 2015, tiêu chuẩn để bổ nhiệm
CBĐT của CQĐT gồm:
(1) Là công dân Việt Nam trung thành với
Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt,
liêm khiết, trung thực, bản lĩnh chính trị vững
vàng, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế
xã hội chủ nghĩa;
Theo Thông tư số 299/2017/TT-BQP, ngày
09/12/2017 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy
định việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức;
cấp, thu hồi Giấy chứng nhận Thủ trưởng, Phó
Thủ trưởng CQĐT, ĐTV và CBĐT trong Quân
đội nhân dân (Thông tư số 299), tiêu chuẩn bổ
nhiệm CBĐT của CQĐT trong Quân đội nhân
dân bao gồm: (1) Là sỹ quan quân đội nhân
dân Việt Nam đang tại ngũ, có tinh thần kiên
quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; (2)
Có trình độ Đại học An ninh, Đại học Cảnh
sát hoặc cử nhân luật trở lên; (3) Đã được
đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ điều tra; (4)
Có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ
được giao.
(2) Có trình độ Đại học An ninh, Đại học
Cảnh sát hoặc cử nhân luật trở lên;
(3) Có thời gian làm công tác pháp luật theo
quy định của Luật Tổ chức Cơ quan ĐTHS;
(4) Có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm
vụ được giao.
Theo Quyết định số 323/QĐ-VKSTC,
ngày 09/7/2018 của Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao ban hành Quy định về
việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức CBĐT
trong ngành Kiểm sát nhân dân (Quyết định số
323), công chức đang công tác tại CQĐT Viện
kiểm sát nhân dân tối cao và sỹ quan Quân đội
nhân dân Việt Nam đang công tác tại CQĐT
Viện kiểm sát quân sự trung ương có đủ các
điều kiện sau đây thì có thể được bổ nhiệm làm
CBĐT: (1) Có đủ các điều kiện quy định tại các
khoản 1, 2, 4 và 5 Điều 46 của Luật Tổ chức
cơ quan ĐTHS; (2) Có thời gian làm công tác
pháp luật từ 01 năm trở lên.
Như vậy, có thể thấy tiêu chuẩn bổ nhiệm
CBĐT của CQĐT rất sát với tiêu chuẩn chung
của ĐTV. Bên cạnh đó, điểm b khoản 1 Điều
59 Luật Tổ chức Cơ quan ĐTHS năm 2015 quy
định: “Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cấp, thu hồi
Giấy chứng nhận Cán bộ điều tra thuộc Công
an nhân dân do Bộ trưởng Bộ Công an quy
định, thuộc Quân đội nhân dân do Bộ trưởng
Bộ Quốc phòng quy định, ở Viện kiểm sát nhân
dân tối cao do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao quy định”.
Theo Thông tư số 39/2017/TT-BCA, ngày
10/10/2017 của Bộ trưởng Bộ Công an quy
định về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức
và cấp, thu hồi Giấy chứng nhận Thủ trưởng,
Phó Thủ trưởng CQĐT, ĐTV, CBĐT trong
Công an nhân dân (Thông tư số 39), tiêu chuẩn
bổ nhiệm CBĐT của CQĐT trong Công an
nhân dân bao gồm: (1) Là công dân Việt Nam
trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm
chất đạo đức tốt, liêm khiết, trung thực, bản lĩnh
chính trị vững vàng, có tinh thần kiên quyết bảo
vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; (2) Có trình độ
Đại học An ninh, Đại học Cảnh sát hoặc cử
nhân luật trở lên; (3) Có thời gian làm công tác
pháp luật từ 01 năm trở lên; (4) Đã được đào
tạo về nghiệp vụ điều tra; (5) Có sức khỏe bảo
đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao.
1.2. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm
của Cán bộ điều tra
1.2.1. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm
của Cán bộ điều tra của Cơ quan điều tra
Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của
CBĐT của CQĐT được quy định tại Điều 38
Bộ luật TTHS năm 2015. Theo đó, CBĐT thực
hiện những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây theo
sự phân công của ĐTV:
- Ghi biên bản lấy lời khai, ghi biên bản hỏi
cung và ghi các biên bản khác khi ĐTV tiến
hành kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm
và điều tra vụ án hình sự;
- Giao, chuyển, gửi các lệnh, quyết định và
các văn bản tố tụng khác theo quy định của Bộ
luật TTHS;
- Giúp ĐTV trong việc lập hồ sơ giải quyết
nguồn tin về tội phạm, hồ sơ vụ án và thực hiện
hoạt động tố tụng khác.
14
Số 20(444) - T10/2021
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
Có thể thấy, nhiệm vụ, quyền hạn của
CBĐT của CQĐT là thực hiện những
hoạt động không phức tạp, mang tính chất
trợ giúp cho ĐTV trong giải quyết nguồn
tin về tội phạm, khởi tố và điều tra vụ án
hình sự.
Về trách nhiệm, CBĐT phải chịu trách
nhiệm trước pháp luật và trước Thủ trưởng,
Phó Thủ trưởng CQĐT, ĐTV về hành vi
của mình1.
1.2.2. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm
của Cán bộ điều tra của các cơ quan được giao
nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
Theo quy định của Bộ luật TTHS năm 2015
và Luật Tổ chức Cơ quan ĐTHS năm 2015 thì
nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của CBĐT
của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành
một số hoạt động điều tra khác với nhiệm
vụ, quyền hạn và trách nhiệm của CBĐT của
CQĐT. CBĐT của các cơ quan được giao tiến
hành một số hoạt động điều ra do Thủ trưởng
cơ quan phân công theo từng vụ, việc. Nhiệm
vụ, quyền hạn của CBĐT của các cơ quan này
cũng không giống nhau, có thể phân thành 2
nhóm như sau:
có liên quan để kiểm tra, xác minh nguồn tin
về tội phạm; (ii) lập hồ sơ vụ án hình sự; (iii)
hỏi cung bị can; lấy lời khai người tố giác,
báo tin về tội phạm, người bị tố giác, người bị
kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường
hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ,
người làm chứng, bị hại, đương sự; (iv) tiến
hành khám nghiệm hiện trường; thi hành lệnh
khám xét, thu giữ, tạm giữ và bảo quản vật
chứng, tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án.
Nhóm 2: CBĐT của các cơ quan khác của
Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra.
Theo khoản 3 Điều 40 Bộ luật TTHS năm
2015, CBĐT nhóm 2 có những nhiệm vụ,
quyền hạn sau: (i) lập hồ sơ giải quyết nguồn
tin về tội phạm; lấy lời khai của những người
có liên quan để kiểm tra, xác minh nguồn tin
về tội phạm; (ii) lập hồ sơ vụ án hình sự; (iii)
lấy lời khai người tố giác, báo tin về tội phạm,
người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố,
người làm chứng, bị hại, đương sự; (iv) tiến
hành khám nghiệm hiện trường; thi hành lệnh
khám xét, thu giữ, tạm giữ và bảo quản vật
chứng, tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án;
(v) giao, gửi các lệnh, quyết định và các văn
bản tố tụng khác theo quy định của Bộ luật
TTHS.
Nhóm 1: CBĐT của các cơ quan của
Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm,
lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra.
Theo khoản 4 Điều 39 Bộ luật TTHS năm
2015, CBĐT nhóm 1 có những nhiệm vụ,
quyền hạn sau: (i) lập hồ sơ giải quyết nguồn
tin về tội phạm; lấy lời khai của những người
Có thể thấy, nhiệm vụ, quyền hạn của
CBĐT nhóm 2 hạn chế hơn so với nhóm 1,
họ chỉ thực hiện các hoạt động về thụ lý giải
quyết tố giác, tin báo về tội phạm, một số hoạt
động điều tra ban đầu2.
1 Xem khoản 2 Điều 38 Bộ luật TTHS năm 2015.
2 Điều này được giải thích dựa vào nhiệm vụ, quyền hạn của của các cơ quan của Bộ đội biên phòng, Hải quan,
Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư và cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân
được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Cụ thể, theo Điều 164 Bộ luật TTHS năm 2015, khi
phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm trong lĩnh vực và địa bàn quản lý của mình thì các cơ quan của Bộ đội
biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư được giao nhiệm vụ tiến hành một số
hoạt động điều tra có nhiệm vụ, quyền hạn: Một là, đối với tội phạm ít nghiêm trọng trong trường hợp phạm tội
quả tang, chứng cứ và lý lịch người phạm tội rõ ràng thì quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, tiến
hành điều tra và chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát có thẩm quyền trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày ra
quyết định khởi tố vụ án hình sự; Hai là, đối với tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm
đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội phạm ít nghiêm trọng nhưng phức tạp thì quyết định khởi tố vụ án hình sự, tiến
hành hoạt động điều tra ban đầu và chuyển hồ sơ vụ án cho CQĐT có thẩm quyền trong thời hạn 07 ngày kể
từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. Trong khi đó, cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân
dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong khi làm nhiệm vụ của mình, nếu phát hiện sự
việc có dấu hiệu tội phạm thì có quyền khởi tố vụ án hình sự, tiến hành hoạt động điều tra ban đầu và chuyển
hồ sơ vụ án cho CQĐT có thẩm quyền trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án hình sự.
Số 20(444) - T10/2021
15
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
Về trách nhiệm, CBĐT của các cơ quan
được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra trong phạm vi trách nhiệm của mình
đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về
hành vi, quyết định của mình3; chịu trách nhiệm
trước Thủ trưởng về việc thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn của mình4.
Quyết định số 323 quy định thời gian làm công
tác pháp luật để bổ nhiệm CBĐT của CQĐT
của Viện kiểm sát nhân dân tối cao là từ 01 năm
trở lên; Thông tư số 299 không quy định thời
gian làm công tác pháp luật để bổ nhiệm CBĐT
của CQĐT trong Quân đội nhân dân. Tác giả
cho rằng, việc quy định thời gian làm công tác
pháp luật từ 01 năm trở lên là hợp lý. Bởi lẽ, với
thời gian này, người được bổ nhiệm làm CBĐT
đã có những kiến thức, kỹ năng nhất định giúp
việc cho ĐTV, hơn nữa sau khi được bổ nhiệm
CBĐT, họ sẽ có khoảng thời gian đủ dài để tích
luỹ, nâng cao trình độ về công tác ĐTHS trước
khi được bổ nhiệm làm ĐTV. Để đảm bảo
tính thống nhất của hệ thống pháp luật, điểm a
khoản 1 Điều 59 Luật Tổ chức Cơ quan ĐTHS
năm 2015 cần quy định rõ thời gian bổ nhiệm
CBĐT. Theo đó, điểm a khoản 1 Điều 59 Luật
Tổ chức Cơ quan ĐTHS năm 2015 cần được
sửa đổi như sau:
Tóm lại, CBĐT của các cơ quan được giao
nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
được trao rất nhiều nhiệm vụ, quyền hạn, trong
đó có nhiều nhiệm vụ, quyền hạn mang tính độc
lập đòi hỏi sự chủ động cao như lập hồ sơ giải
quyết nguồn tin về tội phạm; lấy lời khai; lập hồ
sơ vụ án hình sự... Do đó, CBĐT cần phải trang
bị cho mình đầy đủ kiến thức chuyên môn, khả
năng làm việc chủ động, độc lập, quyết đoán để
xử lý đảm bảo chính xác trong thời gian nhanh
nhất, mà vẫn đạt chất lượng, hiệu quả.
2. Một số hạn chế, bất cập trong các quy định
của pháp luật tố tụng hình sự về chức danh
Cán bộ điều tra và kiến nghị hoàn thiện
“Người có đủ tiêu chuꢀn quy định tại các
khoản 1, 2 và 5 Điều 46 của Luật này và có thời
gian làm công tác pháp luật từ 01 năm trở lên
có thể được bổ nhiệm làm Cán bộ điều tra để
giúp Điều tra viên thực hiện một số hoạt động
điều tra hình sự”.
Bên cạnh những kết quả nêu trên, các
quy định của pháp luật TTHS hiện hành về
chức danh CBĐT còn một số hạn chế, bất
cập như sau:
Thứ nhất, về tiêu chuẩn chức danh CBĐT:
Đối với CBĐT của các cơ quan được giao
nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra,
Luật Tổ chức Cơ quan ĐTHS năm 2015 không
quy định tiêu chuẩn đối với CBĐT được phân
công. Như đã phân tích ở trên, CBĐT của các
cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra được trao nhiều nhiệm
vụ, quyền hạn hơn so với CBĐT của CQĐT,
trong đó có nhiều nhiệm vụ, quyền hạn phức
tạp, khó khăn hơn, chẳng hạn như trực tiếp
lập hồ sơ vụ án hình sự, trực tiếp lấy lời khai,
tiến hành khám nghiệm hiện trường...6. Vì vậy,
Khoản 3 Điều 46 Luật Tổ chức Cơ quan
ĐTHS năm 2015 quy định, một trong những
tiêu chuẩn của chức danh CBĐT là: “Có thời
gian làm công tác pháp luật theo quy định của
Luật này”. Tuy nhiên, Luật Tổ chức Cơ quan
ĐTHS năm 2015 không quy định thời gian cụ
thể để bổ nhiệm CBĐT5. Điều này dẫn đến sự
chưa thống nhất trong các quy định của các văn
bản dưới luật về thời gian bổ nhiệm CBĐT. Cụ
thể, Thông tư số 39 quy định thời gian làm công
tác pháp luật để bổ nhiệm CBĐT của CQĐT
của Công an nhân dân là từ 01 năm trở lên;
3 Xem khoản 5 Điều 39 và khoản 4 Điều 40 Bộ luật TTHS năm 2015.
4 Xem khoản 3 Điều 59 Luật Tổ chức Cơ quan ĐTHS năm 2015.
5 Đối với việc bổ nhiệm ĐTV (ĐTV sơ cấp), Luật Tổ chức cơ quan ĐTHS quy định thời gian này là từ 04 năm
trở lên.
6 Xem khoản 4 Điều 39 và khoản 3 Điều 40 Bộ luật TTHS năm 2015.
16
Số 20(444) - T10/2021
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
CBĐT của các cơ quan được giao nhiệm vụ
tiến hành một số hoạt động điều tra cũng cần
phải đáp ứng được những tiêu chuẩn tương tự
như đối với CBĐT của CQĐT. Do đó, tác giả
cho rằng, cần sửa đổi khoản 2 Điều 59 Luật Tổ
chức Cơ quan ĐTHS năm 2015 theo hướng
bổ sung tiêu chuẩn đối với CBĐT của các cơ
quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số
hoạt động điều tra. Theo đó, khoản 2 Điều 59
Luật Tổ chức Cơ quan ĐTHS năm 2015 cần
được sửa đổi như sau:
Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực
lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư. Theo đó, điểm
đ khoản 4 Điều 39 Bộ luật TTHS năm 2015
cần được bổ sung có nội dung như sau: “Giao,
chuyển, gửi các lệnh, quyết định và các văn
bản tố tụng khác theo quy định của Bộ luật
này”.
Thứ ba, về trách nhiệm của CBĐT:
Khoản 3 Điều 59 Luật Tổ chức Cơ quan
ĐTHS năm 2015 quy định: “Cán bộ điều tra
chịu trách nhiệm trước Điều tra viên, Thủ
trưởng Cơ quan điều tra, Thủ trưởng cơ quan
được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra và trước pháp luật về việc thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn của mình”. Có thể thấy,
quy định này chưa đảm bảo tính thống nhất với
quy định về trách nhiệm của CBĐT trong Bộ
luật TTHS năm 2015. Cụ thể, khoản 2 Điều 38
Bộ luật TTHS năm 2015 quy định: “Cán bộ
điều tra phải chịu trách nhiệm trước pháp luật
và trước Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan
điều tra, Điều tra viên về hành vi của mình”.
Hơn nữa, theo quy định của khoản 1 Điều
397 và khoản 1 Điều 408 Bộ luật TTHS năm
2015, khi cấp trưởng vắng, một cấp phó được
uỷ quyền thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của
cấp trưởng; do đó, CBĐT của cơ quan này còn
phải chịu trách nhiệm trước cấp phó. Để bảo
đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật,
tác giả cho rằng, cần sửa đổi khoản 3 Điều 59
Luật Tổ chức Cơ quan ĐTHS năm 2015 cho
phù hợp với Bộ luật TTHS năm 2015. Theo
đó, khoản 3 Điều 59 Luật Tổ chức Cơ quan
ĐTHS năm 2015 cần được sửa đổi như sau:
“Khi tiến hành điều tra vụ án, Thủ trưởng
cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra phân công người thuộc
cơ quan, đơn vị có đủ tiêu chuꢀn quy định tại
điểm a khoản 1 Điều này làm Cán bộ điều tra
giúp mình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn điều
tra theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự
và Luật này...”.
Thứ hai, về nhiệm vụ, quyền hạn của
CBĐT:
Theo quy định của điểm b khoản 1 Điều 38
và điểm đ khoản 3 Điều 40 Bộ luật TTHS năm
2015, CBĐT của CQĐT và CBĐT của các cơ
quan khác của Công an nhân dân, Quân đội
nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số
hoạt động điều tra đều có nhiệm vụ, quyền hạn
là: “Giao, chuyển, gửi các lệnh, quyết định và
các văn bản tố tụng khác theo quy định của Bộ
luật này”. Tuy nhiên, CBĐT của các cơ quan
của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm,
lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư được giao
nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
lại không được trao nhiệm vụ, quyền hạn này.
Vì vậy, tác giả cho rằng, cần bổ sung điểm đ
vào khoản 4 Điều 39 Bộ luật TTHS năm 2015
theo hướng bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn
“Giao, chuyển, gửi các lệnh, quyết định và
các văn bản tố tụng khác theo quy định của
Bộ luật này” cho CBĐT của các cơ quan của
“Cán bộ điều tra chịu trách nhiệm trước
Điều tra viên, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ
quan điều tra, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng
cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số
hoạt động điều tra và trước pháp luật về việc
thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình”
7 “Khi vắng mặt, cấp trưởng ủy quyền cho một cấp phó được thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cấp trưởng...”.
8 “Khi cấp trưởng vắng mặt, một cấp phó được ủy quyền thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cấp trưởng và
chịu trách nhiệm trước cấp trưởng về nhiệm vụ được ủy quyền...”.
Số 20(444) - T10/2021
17
Bạn đang xem tài liệu "Hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về cán bộ điều tra", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
hoan_thien_cac_quy_dinh_cua_phap_luat_to_tung_hinh_su_ve_can.pdf

