Xu hướng xóa bỏ hình phạt tử hình trên thế giới và ở Việt Nam
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
XU HƯỚNG XÓA BỎ HÌNH PHẠT TỬ HÌNH
TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
Vũ Đình Hoàng*
*Khoa Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính trị khu vực I, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Do tính chất hà khắc của hình phạt tử hình mà từ đầu thế kỷ XVIII, nhiều
quốc gia trên thế giới đã bắt đầu quá trình xóa bỏ hình phạt này. Việc
loại bỏ hình phạt tử hình ra khỏi đạo luật hình sự của quốc gia được cho
là cần thiết. Trong 30 năm qua, Việt Nam đã tích cực, kiên trì thực hiện
chính sách nhân đạo trong pháp luật hình sự. Theo đó, từ năm 1985 đến
nay, tỷ lệ hình phạt tử hình trong Bộ luật Hình sự giảm tới 59%. Đến năm
2015, số tội phạm phải chịu hình phạt tử hình chỉ còn 18 tội danh chiếm
5,7% số điều luật trong Bộ luật Hình sự. Điều này thể hiện Việt Nam tích
cực tiếp thu các tư tưởng tiến bộ, nhân văn của nhân loại một cách có
chọn lọc và có lộ trình trong việc xóa bỏ hình phạt tử hình.
Từ khóa: Phi tội phạm hóa, phi
hình sự hóa, xóa bỏ hình phạt tử
hình, quyền con người, nhân đạo.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 08/3/2021
: 28/3/2021
: 04/4/2021
Article Infomation:
Abstract:
Due tothe harshnature ofthe deathpenalty, from the beginningofthe 18th
century, several countries in the world have applied the abolition of the
death penalty. The removal of the death penalty from the country's penal
code was deemed crucially necessary. Over the past 30 years, Vietnam
has actively and consistently implemented a humanitarian policy in
criminal law. Accordingly, since1985 the death penalty rate in the Penal
Code of Vietnam has decreased by 59%. By 2015, the criminals subject
to the death penalty were recognized in 18 articles, accounting for 5.7%
of the Penal Code articles. This shows that Vietnam is actively absorbing
the progressive and humanistic ideas of humanity selectively and has a
roadmap in the abolition of the death penalty.
Keywords: Decriminalization;
depenalization; abolition of the
death penalty; human rights;
clemency.
Article History:
Received
Edited
: 08 Mar. 2021
: 28 Mar. 2021
: 04 Apr. 2021
Approved
1. Một số vấn đề lý luận về hình phạt
tử hình
loại bỏ hoàn toàn người này khỏi xã hội.
Hình phạt tử hình là sự phản kháng mang
tính khách quan của xã hội đối với những
hành vi xâm phạm đến những quan hệ xã
hội quan trọng nhất.
Tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất
trong hệ thống hình phạt chính của Việt
Nam, tước bỏ quyền sống của người phạm
tội. Vì tính chất nghiêm khắc của hình phạt
này nên tử hình chỉ áp dụng thông qua quyết
định của Tòa án với các tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng, người phạm tội không còn
khả năng được giáo dục, cải tạo nữa, phải
Lịch sử phát triển pháp luật hình sự
trên thế giới cho thấy, tử hình là một trong
những hình phạt xuất hiện từ rất sớm. Sự
ra đời của hình phạt tử hình là quy luật tất
yếu phản ánh quy luật đấu tranh sinh tồn1
1 Mayr, Ernst, The Growth of Biological Thought: Diversity, Evolution, and Inheritance, Harvard University
Press, 1982, p.485.
Số 11(435) - T6/2021
15
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
sơ khai, khắc nghiệt của tự nhiên. Bộ luật
Hamurabi ra đời từ thế kỷ XVIII trước công
nguyên (TCN) là văn kiện pháp lý đầu tiên
chính thức ghi nhận về hình phạt này với
25 tội phạm cụ thể. Sau Bộ luật này, các
luật thành văn khác cũng sớm ghi nhận tử
hình là một hình phạt được áp dụng với mọi
loại phạm tội như luật của người Hittite vào
thế kỷ XIV TCN, Bộ luật Draconian của
Athens vào thế kỷ XVII TCN2.
để từ phía người bị kết án. Hình phạt này
không có mục đích cải tạo, giáo dục người
bị kết án, như vậy nó tước bỏ cơ hội tái hòa
nhập và phục thiện của họ.
Thứ ba, hình phạt tử hình đồng thời có
khả năng đạt được nhiều hiệu quả cao trong
phòng ngừa chung.
Thứ tư, hình phạt tử hình có tính chất
không thay đổi, nó tước đi khả năng khắc
phục sai lầm trong hoạt động tư pháp.
Hình phạt tử hình mang đầy đủ những
đặc điểm hình phạt của luật hình sự. Trước
hết, nó là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc
nhất của Nhà nước áp dụng đối với người
phạm tội; do tòa án quyết định thông qua
một bản án có hiệu lực pháp luật; mục đích
của hình phạt nhằm trừng trị vào giáo dục
người phạm tội, giáo dục người khác tôn
trọng pháp luật, đấu tranh phòng, chống tội
phạm. Tuy nhiên, với tư cách là một hình
phạt đặc biệt, hình phạt tử hình có những
đặc điểm riêng sau đây3:
2. Xu hướng loại bỏ hình phạt tử hình
trên thế giới
Do tính chất hà khắc của tử hình mà từ
đầu thế kỷ XVIII, các quốc gia trên thế giới
đã bắt đầu quá trình xóa bỏ hình phạt này.
Việc loại bỏ hình phạt tử hình ra khỏi đạo
luật hình sự của quốc gia được cho là cần
thiết dựa trên những luận điểm chính sau4:
(1) Hình phạt tử hình không hẳn là một biện
pháp răn đe hiệu quả5; (2) Hình phạt tử hình
đã thi hành sẽ không thể khắc phục được
hậu quả trong trường hợp oan sai6; (3) Việc
áp dụng hình phạt tù chung thân đối với
những người phạm tội mà bị coi là mối đe
dọa cho xã hội sẽ có tác dụng ngăn ngừa
những người này tái phạm giống như hình
phạt tử hình7; (4) Thực tế việc áp dụng hình
phạt tử hình để trừng trị kẻ phạm tội nhằm
bù đắp cho những mất mát đối với nạn nhân
Thứ nhất, tử hình là một loại hình phạt
nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt,
nó tước đi quyền sống của người bị kết án,
vì thế nó chỉ được quy định áp dụng đối với
người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.
Thứ hai, hình phạt tử hình có mục đích
phòng ngừa tái phạm tội mới một cách triệt
2
Death Penalty Information Center, History of the death penalty, early history of the death penalty, https://
deathpenaltyinfo.org/facts-and-research/history-of-the-death-penalty/early-history-of-the-death-penalty, truy
cập ngày 21/12/2020.
3 Trung tâm nghiên cứu quyền con người - quyền công dân, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, Những điều
cần biết về hình phạt tử hình (Sách tham khảo), Nxb. Lao động - Xã hội, 2010, tr.26-28.
4 MOJ, UNDP và EU, Báo cáo nghiên cứu khả năng của Việt Nam gia nhập nghị định thư tùy chọn thứ hai về
bãi bỏ hình phạt tử hình theo Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR), EUJULE, 2019, tr.1.
5 Jeffrey Fagan, Deterence and the death penalty in the International perspective, in UNHRC, Moving away
from the death penalty: Argument, trend and perspectives, United Nation, 2015, p.98.
6 ThomasSobirkPetersen(Ed),WhyCriminalize?NewPerspectivesonNormativePrinciplesofCriminalization,
Springer, 2020, p.17-110.
7AmnestyInternational,https://www.amnesty.org/en/what-we-do/death-penalty/death-penalty-your-questions-
answered/, truy cập ngày 21/12/2020.
16
Số 11(435) - T6/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
và gia đình của họ là điều không cần thiết8;
(5) Quan điểm cho rằng, hình phạt tử hình
“đỡ tốn kém” hơn so với hình phạt tù chung
thân là không hoàn toàn chính xác9.
sống đối với mỗi con người. Ở những
nước mà hình phạt tử hình chưa được xóa
bỏ thì chỉ được phép áp dụng án tử hình
đối với những tội ác nghiêm trọng nhất,
căn cứ vào luật pháp hiện hành tại thời
điểm tội phạm được thực hiện và không
được trái với những quy định của Nghị
định thư năm 1989 và Công ước về ngăn
ngừa và trừng trị tội diệt chủng. Hình phạt
tử hình chỉ được thi hành trên cơ sở bản
án đã có hiệu lực pháp luật, do một toà
án có thẩm quyền phán quyết. Dù không
buộc các quốc gia phải xóa bỏ ngay hình
phạt tử hình song LHQ nhấn mạnh, không
một quy định nào của Điều 6 Công ước
quốc tế về các quyền dân sự và chính
trị năm 1966 có thể được viện dẫn để trì
hoãn hoặc ngăn cản việc xóa bỏ hình phạt
tử hình tại bất kỳ quốc gia thành viên nào
của Công ước. Điều 1 Nghị định thư năm
1989 quy định trách nhiệm của các quốc
gia trong việc bãi bỏ hình phạt tử hình.
Theo đó, mỗi quốc gia thành viên Nghị
định thư sẽ tiến hành tất cả những biện
pháp cần thiết để bãi bỏ hình phạt tử hình
trong phạm vi quyền tài phán của mình.
Với những nỗ lực không ngừng nghỉ của
LHQ, theo thống kê của Tổ chức Ân xá
quốc tế, tính đến năm 2019, trên thế giới
đã có 106 quốc gia xóa bỏ hình phạt tử
hình với mọi loại tội phạm13.
Cho tới nay, các tranh luận về sự cần
thiết của hình phạt tử hình vẫn chưa ngã
ngũ10. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, cùng
với sự phát triển của nhà nước pháp quyền
và sự tiến bộ của xã hội, xu hướng nhân
đạo hóa pháp luật hình sự trên thế giới
đã khuyến khích các quốc gia hạn chế
việc sử dụng hình phạt tử hình, tiến tới
loại bỏ hoàn toàn hình phạt này ra khỏi
luật hình sự11. Qua các năm 2007, 2008,
2010, 2012 và năm 2014, Đại hội đồng
Liên hợp quốc (LHQ) đã tiến hành kêu
gọi các quốc gia trên thế giới đình chỉ tử
hình toàn cầu, hướng đến việc bãi bỏ hoàn
toàn hình phạt này. Tuy nhiên, LHQ cũng
không ràng buộc các quốc gia phải loại bỏ
hoàn toàn hình phạt này12 . Nhằm thúc đẩy
việc loại bỏ hình phạt tử hình ở các quốc
gia, Liên hợp quốc đã ban hành nhiều văn
kiện quan trọng. Trong đó, có thể kể đến
như: Công ước quốc tế về các quyền dân
sự và chính trị năm 1966 và Nghị định thư
tùy chọn thứ hai về bãi bỏ hình phạt tử
hình theo Công ước quốc tế về các quyền
dân sự và chính trị năm 1989 (Nghị định
thư năm 1989). Theo đó, các văn kiện
này khẳng định tầm quan trọng của quyền
8 Corey Daniel, Burton, “Families of murder victims’perceptions of capital punishment: a content analysis of
what family members say following executions”, Electronic Theses and Dissertations, paper 184, 2012, p.31
9
Matthew Rousu, “The Death Penalty vs. Life Incarceration: A Financial Analysis” 7(4) Susquehanna
University Political Review, 2016, p.25.
10 Nguyễn Đăng Dung, Phạm Hồng Thái, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng, Những điều cần biết về hình phạt
tử hình, Nxb. Lao động, 2010, tr. 40.
11 MOJ, UNDP và EU, Báo cáo nghiên cứu khả năng của Việt Nam gia nhập Nghị định thư tùy chọn thứ hai về
bãi bỏ hình phạt tử hình theo Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR), EUJULE, 2019, tr.1.
12
Maria Donatelli, 117 countries vote for a global moratorium on executions, http://www.worldcoalition.
org/united-nations-resolution-moratorium-death-penalty-xecutions-general-assembly.html, truy cập ngày
21/12/2020.
13
questions-answered/, truy cập ngày 21/12/2020.
Số 11(435) - T6/2021
17
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
3. Mối quan hệ giữa loại bỏ hình phạt tử
hình với quá trình phi tội phạm hóa và
phi hình sự hóa
Hai là, việc xóa bỏ hình phạt tử hình
có thể tiến hành thông qua hoạt động phi
tội phạm hóa. Phi tội phạm hóa là một
khái niệm chưa được chú ý nghiên cứu
trong giới khoa học pháp lý. Nhiều công
trình cho rằng, phi tội phạm hóa là một
bộ phận nằm trong nội hàm của khái niệm
tội phạm hóa14. Hơn nữa, đối với các quốc
gia có theo truyền thống Civil law, việc
nghiên cứu về tội phạm hóa và phi tội
phạm hóa không phải là một chủ đề dành
được sự quan tâm nghiên cứu15. Điều
này có ảnh hưởng đến việc nghiên cứu
hạn chế hình phạt tử hình thông qua hoạt
động lập pháp. Ở Việt Nam, các nhà khoa
học tiếp cận khái niệm này dưới góc độ
là một hoạt động lập pháp thu hẹp phạm
vi trấn áp của pháp luật hình sự thông
qua việc loại trừ ra khỏi đạo luật hình sự
hiện hành một hành vi nào đó (mà trước
đây đã bị coi là tội phạm) và hủy bỏ trách
nhiệm hình sự đối với cá nhân hoặc pháp
nhân thương mại thực hiện hành vi đó16.
Dựa trên các cơ sở khoa học, nhà lập pháp
sẽ xem xét một hành vi có còn đầy đủ các
dấu hiệu của tội phạm không, nếu nhận
thấy hành vi đó không cần thiết phải coi
là tội phạm nữa thì xóa bỏ trách nhiệm
hình sự với hành vi đó. Điều này đồng
nghĩa với việc các hình phạt được quy
định trước đây áp dụng với loại tội phạm
này bị bãi bỏ. Thông qua đó, hình phạt
tử hình được xóa bỏ với người thực hiện
hành vi được phi tội phạm hóa.
Do việc bãi bỏ hình phạt tử hình không
mang tính chất bắt buộc, chỉ mang tính
khuyến nghị, nên để tiến hành bãi bỏ hình
phạt tử hình, các quốc gia sẽ tiến hành các
hoạt động lập pháp trên cơ sở xem xét các
điều kiện phù hợp với thực tiễn yêu cầu
phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm ở
quốc gia của mình. Trong hoạt động lập
pháp ấy, việc loại bỏ hình phạt tử hình có
mối quan hệ chặt chẽ với quá phi phạm hóa
và phi hóa. Mối quan hệ ấy được thể hiện
qua một số điểm sau.
Một là, việc xóa bỏ hình phạt tử hình
với một tội phạm chỉ có thể được thực hiện
thông qua phi tội phạm hóa và phi hình sự
hóa. Trong pháp luật hình sự Việt Nam,
nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ
nghĩa (XHCN) là một trong hai nguyên tắc
quan trọng nhất, là kim chỉ nam cho mọi
hoạt động từ xây dựng, giải thích đến áp
dụng các quy định của Bộ luật Hình sự
(BLHS) trong thực tiễn. Theo nguyên tắc
này, BLHS là văn bản duy nhất được quy
định tội phạm và trách nhiệm hình sự với
người hoặc pháp nhân thương mại thực hiện
tội phạm đó. Không một văn bản nào khác
ngoài BLHS được phép bãi bỏ hình phạt tử
hình. Hay nói cách khác, xóa bỏ hình phạt
tử hình thông qua việc tuyên bố một hành vi
không còn là tội phạm nữa hoặc bằng việc
thay thế tử hình bằng một hình phạt khác ít
nghiêm khắc hơn chỉ có thể được thực hiện
trong khuôn khổ của hoạt động lập pháp
hình sự.
Ba là, hình phạt tử hình có thể được
xóa bỏ thông qua quá trình phi hình phạt
hóa hay phi hình sự hóa. Giống như phi
14 Luke Namara (Ed), Theorising Criminalisation: The Value of Modalities approach, Crime Justice Journal,
7(3), 2018, p.92-96.
15 Nina Peršak, Criminalising Harmful Conduct, Springer, 2020, p.23.
16 Lê Văn Cảm, Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự - Phần chung (Giáo trình Sau đại học), Nxb.
Đại học Quốc gia Hà Nội, 2019, tr.41.
18
Số 11(435) - T6/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
tội phạm hóa, phi hình sự hóa là khái niệm
không phổ biến trong các nghiên cứu
quốc tế về luật hình sự. Phi hình sự hóa
được nhìn nhận như một dạng hình thức
thực hiện chính sách17; qua đó, giảm nhẹ
tính chất, mức độ trấn áp của luật hình sự
thông qua việc làm nhẹ hơn trách nhiệm
hình sự với tội phạm. Việc thu hẹp này
có thể được diễn ra ở mức tuyệt đối, loại
bỏ hoàn toàn trách nhiệm hình sự với một
hành vi; do vậy hành vi đó không còn là
tội phạm nữa18 (tức phi tội phạm hóa). Việc
thu hẹp mức độ trấn áp còn được hiểu là sự
thay thế một hình phạt đang được áp dụng
với tội phạm này bằng một hình phạt khác
có tính chất nhẹ hơn19 hoặc bổ sung các
quy phạm mang tính chất miễn, giảm trách
nhiệm hình sự.
(2) Căn cứ về tính phổ biến tương đối
của hành vi: Một tội phạm được phi tội
phạm hóa khi nó không còn tồn tại trên thực
tế nữa. Ngoài ra, việc phi tội phạm hóa và
phi tội phạm hóa một tội phạm có thể xem
xét khi hành vi đó trở nên không phổ biến
trong xã hội nữa.
(3) Căn cứ về khả năng phòng, chống,
ngăn chặn hiệu quả của các biện pháp pháp
lý hành chính, dân sự lên hành vi nguy hiểm
cho xã hội được phi tội phạm hóa: Các tội
phạm được phi tội phạm hóa có thể vẫn là
các hành vi trái pháp luật được quy định
trong các văn bản pháp luật khác. Chính vì
vậy, khi xem xét phi tội phạm hóa của một
hành vi, nhà làm luật cần tính toán đến mức
độ hiệu quả của pháp luật trong việc phòng
ngừa, ngăn chặn hành vi trái pháp luật đó.
Nếu có thể ngăn chặn hiệu quả, nhà làm luật
có thể tiến hành phi tội phạm hóa với tội
phạm đó.
Bốn là, khi xóa bỏ hình phạt tử hình
phải xem xét dựa trên căn cứ khoa học chặt
chẽ áp dụng khi cân nhắc phi tội phạm hóa
hoặc phi hình sự hóa một hành vi. Việc
xem xét bãi bỏ hình phạt này dựa trên các
căn cứ sau:
(4) Khả năng tác động tích cực của các
biện pháp pháp lý hình sự ít nghiêm khắc
hơn hình phạt tử hình lên hành vi nguy hiểm
cho xã hội được phi hình sự hóa: Trong
trường hợp phi hình sự hóa, hình phạt tử
hình được thay thế bằng một hình phạt ít
nghiêm khắc hơn. Điều này làm tính răn đe
của hình phạt cũng giảm xuống tác động
đến mức độ hiệu quả của việc áp dụng hình
phạt. Vì vậy, cần phải xem xét tính hiệu quả
của các hình phạt thay thế hình phạt tử hình
để bảo đảm tội phạm đó phải được kiểm
soát hiệu quả.
(1) Căn cứ về tính nguy hiểm cho xã hội
của hành vi: Tội phạm được phi tội phạm
hóa phải là những hành vi không còn nguy
hiểm cho xã hội nữa; hoặc tính nguy hiểm
cho xã hội của hành vi đó đã giảm đáng kể
khiến việc sử dụng pháp luật hình sự để
xử lý các hành vi này là không cần thiết
nữa. Để được xem xét phi hình sự hóa, tính
nguy hiểm cho xã hội của một tội phạm đã
giảm khiến việc áp dụng một hình phạt ít
nghiêm khắc hơn hình phạt tử hình đã đủ
sức răn đe.
(5) Căn cứ kinh tế - chính trị - văn hóa -
xã hội: Tội phạm là một khái niệm có tính
17 Adda, J., McConnell, B., & Rasul, I. “Crime and the Depenalization of Cannabis Possession: Evidence from
a Policing Experiment”, Journal of Political Economy, 122(5), 2014, Soviet, p.1131.
18 Hồ Trọng Ngũ, Một số vấn đề về hình sự hóa, phi hình sự hóa các hành vi phạm pháp trên lĩnh vực kinh tế
trong chính sách hình sự hiện nay, http://www.hids.hochiminhcity.gov.vn/, truy cập ngày 01/12/2020.
19 Donohue, Ewing, and Peloquin, Rethinking America’s Illegal Drug Policy. In Controlling Crime: Strategies
and Tradeoffs, edited Chicago: Univ. Chicago Press, 2012, p.216.
Số 11(435) - T6/2021
19
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
chất xã hội pháp lý; chính vì vậy việc phi
tội phạm hóa và phi hình sự hóa phải được
thực hiện căn cứ vào các yêu cầu xuất phát
từ tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội. Việc
tiến hành các hoạt động lập pháp này không
gắn với căn cứ kinh tế - văn hóa - xã hội sẽ
dẫn đến tình trạng bỏ lọt tội phạm hoặc làm
giảm tính răn đe của luật hình sự, tác động
tiêu cực với xã hội.
định hướng cho hoạt động lập pháp nhằm
điều chỉnh mức độ cưỡng chế của luật
hình sự với những hành vi nguy hiểm cho
xã hội. Tội phạm là một hiện tượng mang
bản chất pháp lý xã hội; vì vậy, tùy vào
từng giai đoạn của xã hội, chính sách của
Nhà nước mà tính nguy hiểm cho xã hội
của một số loại tội phạm có sự biến đổi.
Một số hành vi có thể không còn tính nguy
hiểm cho xã hội nữa, một số hành vi trước
đây có thể được quy định là tội phạm đặc
biệt nghiêm trọng với khung hình phạt cao
nhất là tử hình nhưng tới giai đoạn hiện
nay tính nguy hiểm đã giảm bớt mà việc
áp dụng một hình phạt khác bớt nghiêm
khắc hơn đã có thể phòng ngừa hiệu quả.
Hay dưới góc độ hình phạt, với một số
loại tội phạm cụ thể mà việc áp dụng hình
phạt tử hình lại tỏ ra kém hiệu quả hơn so
với các hình phạt khác cũng dẫn đến yêu
cầu thay thế hình phạt tử hình bằng một
loại hình phạt khác... Trong những trường
hợp này, để pháp luật hình sự có sự linh
hoạt, đáp ứng yêu cầu phòng ngừa, đấu
tranh chống tội phạm, phi tội phạm hóa
và phi hình sự hóa đóng một vai trò không
thể thay thế được.
(6) Căn cứ tội phạm học: Căn cứ này đặt
ra yêu cầu phải xem xét toàn diện các yếu tố
như nhân thân của người phạm tội, nguyên
nhân, điều kiện phạm tội; diễn biến, động
thái tình hình tội phạm; nhân thân của nạn
nhân để xem xét phi tội phạm hóa hoặc phi
hình sự hóa. Chẳng hạn, bằng các nghiên
cứu về tội phạm học, các nhà khoa học đã
chỉ ra việc tăng cường các hình phạt tử hình
không hề liên quan đến hiệu quả của việc
ngăn chặn tội phạm hay việc giảm tỷ lệ tội
phạm nghiêm trọng20.
(7) Căn cứ hội nhập quốc tế: Việc tiến
hành phi tội phạm hóa hoặc phi hình sự hóa
phải dựa vào những chuẩn mực quốc tế trên
cơ sở phù hợp với điều kiện thực tiễn tại
Việt Nam. Chẳng hạn, việc xóa bỏ hình phạt
tử hình chưa thể thực hiện một cách triệt để,
song Việt Nam vẫn ghi nhận tư tưởng tiến
bộ này của quốc tế và đưa ra các chính sách
nhân đạo phù hợp để từng bước xóa bỏ hình
phạt này khỏi pháp luật hình sự.
Sáu là, việc nghiên cứu phạm trù hình
sự hóa và phi hình sự hóa đặt ra yêu cầu
phải đồng thời đánh giá được hiệu quả
của việc áp dụng hệ thống hình phạt nói
chung và hình phạt tử hình nói riêng cùng
các biện pháp pháp lý xã hội khác để
có sự điều chỉnh phù hợp các biện pháp
cưỡng chế hình sự với tội phạm. Trên cơ
sở đánh giá một cách khách quan mức độ
hiệu quả của hình phạt tử hình, các quốc
gia sẽ xem xét cùng với những điều kiện
đặc thù của mình để xúc tiến việc xóa bỏ
hình phạt tử hình.
Năm là, việc nhận thức đúng đắn về vị
trí và vai trò của quá trình phi tội phạm
hóa và phi hình sự hóa có vai trò quan
trọng trong quá trình thúc đẩy sự xóa bỏ
hình phạt tử hình ở Việt Nam cũng như
các quốc gia khác trên thế giới. Sự nhận
thức đúng đắn về vai trò của quá trình phi
tội phạm hóa và phi hình sự hóa góp phần
20 Trung tâm Nghiên cứu quyền con người - quyền công dân, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, Những điều
cần biết về hình phạt tử hình (Sách tham khảo), Nxb. Lao động - Xã hội, 2010, tr.26-28.
20
Số 11(435) - T6/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
4. Việc xóa bỏ hình phạt tử hình đối với
một số tội danh trong pháp luật hình sự
Việt Nam giai đoạn 1999 - 2015
dụng hình phạt tử hình được thể hiện cả
trong phần các quy định chung và phần các
tội phạm của BLHS năm 1999. Theo đó,
hình phạt tử hình không còn được áp dụng
đối với các tội phạm sau: Tội xâm phạm
an ninh lãnh thổ (Điều 81), Tội chống phá
trại giam (Điều 90), Tội trộm cắp tài sản
(Điều 138), Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư
hỏng tài sản (Điều 143), Tội vận chuyển
trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới
(Điều 154), Tội buôn bán hàng giả không
phải là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa
bệnh, phòng bệnh (Điều 156 và 158 - trong
BLHS 1985 được quy định tại 1 tội danh),
Tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng
trái phép chất ma túy (Điều 200), Tội chế
tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép
hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương
tiện kỹ thuật quân sự (Điều 230), Tội lạm
dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài
sản của công dân (Điều 280), Tội bỏ vị trí
chiến đấu (Điều 324).
- Xóa bỏ hình phạt tử hình đối với một số
tội danh qua BLHS năm 1999
Sau khi BLHS năm 1985 có hiệu lực,
qua các lần sửa đổi, bổ sung các năm 1989,
1991, 1992, 1997 đã cho thấy một xu
hướng gia tăng đang kể số các tội phạm có
khung hình phạt cao nhất là tử hình. Đến
năm 1997, hình phạt tử hình lại được quy
định với tổng cộng 44 tội danh, tăng 15 tội
so với BLHS năm 1985, chiếm 20,3% trên
tổng số 216 điều luật về tội phạm. Việc
gia tăng hình phạt tử hình do thực tiễn xã
hội trong giai đoạn này phát sinh nhiều
loại hành vi nguy hiểm mới cho xã hội mà
điển hình như nhóm các hành vi liên quan
đến ma túy tại các điều từ Điều 185b đến
Điều 185đ. Bên cạnh đó, BLHS năm 1985
(sửa đổi, bổ sung các năm 1989, 1991,
1992, 1997) cũng quy định hình phạt tử
hình đối với một số nhóm tội phạm riêng
biệt đặc trưng của thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam giai đoạn những
năm 80 của thế kỷ XX như Tội lợi dụng
chức vụ, quyền hạn lừa đảo chiếm đoạt
tài sản XHCN (Điều 134a); Tội lừa đảo
chiếm đoạt tài sản XHCN (Điều 134)…
Với việc quy định hình phạt tử hình với
hơn 40 tội danh thể hiện một chính sách
hình sự nghiêm khắc của Nhà nước đối với
tội phạm.
Việc thu hẹp phạm vi áp dụng hình phạt
tử hình của BLHS năm 1999 cho thấy sự
thay đổi trong nhận thức của nhà làm luật
về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã
hội; tính phổ biến của các tội phạm này.
Đồng thời, thực tiễn phòng ngừa, đấu tranh
chống các loại tội phạm này cho thấy không
cần thiết phải áp dụng hình phạt đặc biệt
nghiêm khắc này nữa (Ví dụ, trong trường
hợp tội trộm cắp tài sản, tội lạm dụng chức
vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của công
dân). Một số trường hợp do sự chuyển biến
của tình hình kinh tế - văn hóa - xã hội như
trong trường hợp tội bỏ vị trí chiến đấu
(Điều 258 BLHS năm 1985).
BLHS năm 1999 đánh dấu sự chuyển
hóa rõ rệt trong chính sách hình sự của
Việt Nam theo hướng mềm hóa (phi hình
sự hóa) bằng việc quy định thu hẹp và xác
định rõ ràng phạm vi và điều kiện áp dụng
hình phạt này21. Việc giảm bớt phạm vi áp
Bên cạnh đó, bằng quá trình phi tội
phạm hóa, BLHS năm 1999 bãi bỏ các tội
phạm bao gồm: Tội cướp tài sản XHCN
21 TS. Trịnh Quốc Toản, Hình phạt tử hình trong Luật Hình sự Việt Nam - Một số kiến nghị hoàn thiện, http://
Số 11(435) - T6/2021
21
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
(Điều 129); Tội tham ô tài sản XHCN
(Điều 133); Tội lợi dụng chức vụ, quyền
hạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản XHCN
(Điều 134a); Tội lừa đảo chiếm đoạt tài
sản XHCN (Điều 134); Tội hủy hoại hoặc
cố ý làm hư hỏng tài sản XHCN (Điều
138) cùng một loạt các tội phạm khác xâm
phạm đến tài sản XHCN của BLHS năm
1985 do khách thể mà tội phạm này xâm
phạm (tài sản XHCN) không còn nữa.
Tuy nhiên về mặt hành vi khách quan,
các tội phạm này vẫn thỏa mãn dấu hiệu
cấu thành tội phạm của các tội phạm cụ
thể trong BLHS năm 1999. Như vậy, sau
khi BLHS năm 1999 được ban hành, số
điều luật quy định hình phạt tử hình giảm
xuống còn 29 điều, chiếm 11% tổng số
điều luật trong Bộ luật.
48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính
trị về Chiếc lược xây dựng và hoàn thiện
pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định
hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49/
NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị
về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm
2020 đã khẳng định chủ trương từng bước
hạn chế phạm vi áp dụng hình phạt tử hình,
giảm tối đa quy định hình phạt tử hình đối
với các tội phạm22. Tinh thần của các nghị
quyết này phù hợp với Công ước về quyền
chính trị và dân sự năm 1966 mà nước ta
là thành viên, đồng thời phù hợp với xu
hướng chung của thế giới.
Lần sửa đổi, bổ sung BLHS năm 2009
đã thể chế hóa rất rõ định hướng tiếp tục
thu hẹp phạm vi áp dụng hình phạt tử hình
trong pháp luật hình sự. Thông qua quá
trình phi hình sự hóa BLHS năm 1999 bỏ
hình phạt tử hình trong khung phạt cao
nhất đối với 08 tội danh gồm Tội hiếp dâm
(Điều 111); Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
(Điều 139); Tội buôn lậu (Điều 153); Tội
làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền
giả, ngân phiếu giả, công trái giả (Điều
180); Tội tổ chức sử dụng trái phép chất
ma túy (Điều 197); Tội chiếm đoạt tàu bay,
tàu thủy (Điều 221); Tội đưa hối lộ (Điều
289); Tội hủy hoại vũ khí quân dụng,
phương tiện kỹ thuật quân sự (Điều 334).
Việc xóa bỏ hình phạt tử hình đối với các
tội danh trên là phù hợp đáp ứng với yêu
cầu phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm
trong thực tế. Như vậy, sau lần sửa đổi, bổ
sung năm 2009, hình phạt tử hình chỉ còn
được áp dụng đối với 22 hành vi23, chiếm
8% trong tổng số các điều luật của BLHS.
- Xóa bỏ hình phạt tử hình đối với một số
tội danh qua BLHS năm 1999 đã được sửa
đổi, bổ sung một số điều năm 2009
Giai đoạn những năm 80 của thể kỷ XX,
thập niên đầu tiên của thể kỷ XXI chứng
kiến sự tham gia mạnh mẽ của Việt Nam
vào quá trình hội nhập quốc tế. Nhận thức
rõ tầm quan trọng của việc tiếp thu một
cách chọn lọc những tinh thần, tư tưởng
tiến bộ của quốc tế vào quá trình xây dựng
đất nước trong đó có việc thu hẹp phạm vi
áp dụng hình phạt tử hình, Đảng Cộng sản
Việt Nam đã ban hành nhiều nghị quyết
quan trọng định hướng cho quá trình cải
cách tư pháp nói chung và hoàn thiện pháp
luật hình sự nói riêng. Nghị quyết số 08/
NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính
trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác
tư pháp trong thời gian tới, Nghị quyết số
22
Phương Thảo, Thu hẹp phạm vi áp dụng hình phạt tử hình trong Bộ luật Hình sự năm 1999, https://
noichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/201312/thu-hep-pham-vi-ap-dung-hinh-phat-tu-hinh-trong-bo-luat-hinh-su-
nam-1999-293434/, truy cập ngày 22/12/2020.
23 Dù loại bỏ hình phạt tử hình đối với 8 tội phạm nhưng vẫn còn tới 22 hành vi bị áp dụng hình phạt tử hình
(thay vì 21) do Tội hiếp dâm trẻ em tại Điều 112 Bộ luật Hình sự năm 1999 áp dụng hình phạt tử hình với các
hành vi quy định tại khoản 1 và khoản 4.
22
Số 11(435) - T6/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Điều này cho thấy xu hướng giảm rõ rệt
trong việc áp dụng hình phạt tử hình tính
sau 10 năm giai đoạn 1999 - 2009 ở Việt
Nam so với xu hướng tăng mạnh của giai
đoạn trước đó.
phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc
lập công lớn. Việc thu hẹp phạm vi hình
phạt tử hình của BLHS năm 2015 cho
thấy tính nhân đạo trong chính sách hình
sự của Việt Nam.
- Xóa bỏ hình phạt tử hình đối với một số
tội danh qua BLHS năm 2015 đã được sửa
đổi, bổ sung một số điều năm 2017
Trong phần các tội phạm, BLHS năm
2015 xóa bỏ hình phạt tử hình ở 07 tội: Tội
cướp tài sản (Điều 168); Tội sản xuất, buôn
bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ
gia thực phẩm (Điều 193); Tội tàng trữ trái
phép chất ma túy (Điều 249), Tội chiếm
đoạt trái phép chất ma túy (Điều 252);
Tội phá hủy công trình, cơ sở, phương
tiện quan trọng về an ninh quốc gia (Điều
303); Tội chống mệnh lệnh (Điều 394) và
Tội đầu hàng địch (Điều 399). Trong đó,
có 3 tội bỏ hình phạt tử hình trên cơ sở
tách từ các tội có quy định hình phạt tử
hình trước đó, gồm: Tội buôn bán, sản xuất
hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia
thực phẩm; Tội tàng trữ trái phép chất ma
túy; Tội chiếm đoạt chất ma túy. Bên cạnh
đó, BLHS năm 2015 cũng bãi bỏ Tội hoạt
động phỉ được quy định tại Điều 83 BLHS
năm 1999, hình phạt tử hình từ đó cũng
được xóa bỏ.
BLHS năm 2015 đã được sửa đổi, bổ
sung một số điều năm 2017 (BLHS năm
2015) tiếp tục thể chế hóa chủ trương hạn
chế áp dụng hình phạt tử hình được khẳng
định tại các Nghị quyết của Đảng về cải
cách tư pháp.
Tại phần các quy định chung của Bộ
luật, Điều 40 đã khẳng định hình phạt
tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng
đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm
trọng. Trong đó, so với BLHS năm 1999,
Điều 40 BLHS năm 2015 quy định rõ
nhóm các tội phạm bị áp dụng hình phạt
tử hình. Theo đó, một số tội phạm thuộc
nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia,
xâm phạm tính mạng con người, các tội
phạm về ma túy, tham nhũng và một số
tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do
Bộ luật quy định gồm: Tội sản xuất, buôn
bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc
phòng bệnh; Tội khủng bố; Tội phá hoại
hòa bình, gây chiến tranh xâm lược; Tội
chống loài người; Tội phạm chiến tranh.
Khoản 2 và khoản 3 Điều 40 BLHS năm
2015 bổ sung thêm các trường hợp không
áp dụng hình phạt tử hình đối với người
đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi
xét xử; quy định không thi hành hình phạt
tử hình đối với người bị kết án đủ 75 tuổi
trở lên hoặc người bị kết án tử hình về
tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ nhưng
đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài
sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích
cực với cơ quan chức năng trong việc
Như vậy, số các tội còn áp dụng hình
phạt tử hình trong BLHS năm 2015 giảm
xuống 18, chiếm 5,7% tổng số điều luật
trong Bộ luật.
Có thể thấy trong giai đoạn 30 năm
1985 - 2015, tỷ lệ hình phạt tử hình đã
giảm đáng kể từ mức 20,3% năm 1985
xuống 5,7% năm 2015. Số hình phạt tử
hình giảm mạnh từ 44 tội xuống 18 tội
vào năm 2015 (giảm 26 tội tương đương
với 59% tổng số hình phạt tử hình). Điều
này thể hiện nỗ lực lớn của toàn bộ hệ
thống chính trị của Việt Nam trong quá
trình hạn chế áp dụng hình phạt tử hình,
tiến tới loại bỏ hoàn toàn hình phạt này ra
khỏi pháp luật hình sự
Số 11(435) - T6/2021
23
Bạn đang xem tài liệu "Xu hướng xóa bỏ hình phạt tử hình trên thế giới và ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
xu_huong_xoa_bo_hinh_phat_tu_hinh_tren_the_gioi_va_o_viet_na.pdf

