Thực trạng và tác động của thuế hồng đối với người tiêu dùng nữ giới – Một số hàm ý chính sách

VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 24-34  
Review Article  
Current Situation and Impact of the Pink Tax  
to Female Consumers - Some Policy Implications  
Nguyen Thi Doan Trang  
Business Department, FPT University, FPT Urban Area, Ngu Hanh Son District, Danang City, Vietnam  
Received 28 May 2021  
Revised 05 August 2021; Accepted 10 September 2021  
Abstract: Pink tax refers to the fact that products marketed towards female consumers tend to be  
pricier than male equivalents. This phenomenon has provoked criticism from consumers all over the  
world and become one of the most popular topics of academics in the marketing field in recent years.  
In Vietnam, to the best of the author’s knowledge, no document or study on the topic can be found.  
Given the situation, this paper aims at conducting a literature review on pink tax by examining  
previous studies and then suggesting future research in Vietnam.  
Keywords: Gendered marketing, gender-based pricing, gender segmentation, pink tax, price  
discrimination.  
________  
Corresponding author.  
Email address: [email protected]  
24  
N. T. D. Trang / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 24-34  
25  
Thực trạng và tác động của thuế hồng đối với người tiêu dùng  
nữ giới – Một số hàm ý chính sách  
Nguyễn Thị Đoan Trang  
Đại học FPT, Khu đô thị FPT, Quận Ngũ Hành Sơn, Thành phố Đà Nẵng, Việt Nam  
Nhận ngày 28 tháng 5 năm 2021  
Chỉnh sửa ngày 05 tháng 8 năm 2021; Chấp nhận đăng ngày 10 tháng 9 năm 2021  
Tóm tắt: Thuế hồng là khoản tiền mà người tiêu dùng nữ giới phải trả nhiều hơn so với nam giới  
cho cùng một mặt hàng. Vấn đề này vấp phải sự chỉ trích của người tiêu dùng ở các quốc gia trên  
thế giới và trở thành một trong những chủ đề nghiên cứu nổi bật của giới học thuật trong lĩnh vực  
marketing thời gian gần đây. Tại Việt Nam, theo hiểu biết của tác giả, không có tài liệu hay nghiên  
cứu nào về thuế hồng. Trên cơ sở đó, nghiên cứu này được thực hiện với mục đích trình bày lý  
thuyết tổng quan về thuế hồng thông qua các nghiên cứu đáng chú ý của giới học thuật, từ đó đề  
xuất các hướng nghiên cứu chuyên sâu hơn về thuế hồng tại Việt Nam.  
Từ khóa: Tiếp thị theo giới, định giá theo giới, phân khúc theo giới, thuế hồng, phân biệt giá.  
Có rất nhiều phương thức để định giá sản  
phẩm. Định giá theo phân khúc khách hàng là  
phương thức định giá mà theo đó những đối  
tượng khách hàng khác nhau sẽ chi trả những  
mức giá khác nhau cho cùng một mặt hàng, cho  
dù chi phí sản xuất là như nhau. Những khách  
hàng này được phân khúc theo độ tuổi, giới tính,  
thu nhập, sở thích, lối sống, nhận thức, mức độ  
trung thành đối với nhãn hàng… [2]. Có hai  
luồng nhận định về phương thức định giá theo  
phân khúc khách hàng. Các nhà kinh tế học bảo  
vệ phương thức này khi lập luận rằng khách hàng  
sẵn lòng chi trả mức giá mà họ thấy hợp lý.  
Luồng nhận định còn lại chỉ trích phương thức  
này vì tính không công bằng và vô đạo đức khi  
lợi dụng niềm tin của khách hàng [3-5].  
1. Mở đầu  
Bình đẳng giới là mục tiêu thứ 5 trong 17  
mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp  
Quốc. Theo đó, tất cả các hình thức phân biệt đối  
xử đối với phụ nữ và trẻ em gái khắp nơi trên thế  
giới cần phải chấm dứt [1]. Nhằm hiện thực hóa  
lời kêu gọi của Liên Hợp Quốc, rất nhiều nước  
trên thế giới đã đưa bình đẳng giới vào chính  
sách phát triển chung của quốc gia, và bình đẳng  
giới cũng trở thành đề tài nghiên cứu rộng rãi  
trong giới học thuật. Nội hàm nghiên cứu về bình  
đẳng giới rất đa dạng như bình đẳng giới trong  
công sở, chính trường, giáo dục, y tế, du lịch…  
Tuy nhiên, khía cạnh bình đẳng giới trong  
marketing, cụ thể trong việc định giá sản phẩm –  
một trong bốn thành tố của marketing hỗn hợp -  
chỉ nhận được sự chú ý của giới học thuật trong  
thời gian gần đây. Tại Việt Nam, vấn đề này hầu  
như chưa được nghiên cứu.  
Trong số những cách thức phân khúc khách  
hàng để định giá, phân khúc theo giới nhận được  
sự chú ý rộng rãi của các nhà kinh tế học, các nhà  
làm luật, các nhà hoạt động về quyền bình đẳng  
________  
Tác giả liên hệ.  
Địa chỉ email: [email protected]  
N. T. D. Trang / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 24-34  
26  
giới và giới học thuật nói chung trong thời gian  
nữ giới” (woman tax), “thuế về giới” (gender  
tax) hay “thuế băng vệ sinh” (tampon tax) cũng  
bắt đầu trở nên phổ biến [21].  
gần đây. Rất nhiều nghiên cứu đã được thực hiện  
ở nhiều ngành hàng và dịch vụ khác nhau cho  
thấy cùng một loại hàng hóa hay dịch vụ, nữ giới  
phải trả nhiều tiền hơn so với nam giới [6-17].  
Mức giá cao hơn này có thể bắt nguồn từ việc  
định giá của doanh nghiệp hoặc do tác động gián  
tiếp khi chính phủ áp dụng mức thuế nhập khẩu  
hoặc thuế giá trị gia tăng (GTGT) cho các sản  
phẩm dành cho nữ cao hơn các sản phẩm dành  
cho nam [18, 19]. Cũng giống phương thức định  
giá theo phân khúc khách hàng nói chung, định  
giá theo giới đã vấp phải chỉ trích từ công chúng.  
Vấn đề này được cho là góp phần làm trầm trọng  
thêm sự bất bình đẳng giữa nam và nữ [20, 21].  
Thông thường, “thuế” được đặt trước một sự  
vật để giải thích thuế đó đánh vào cái gì, chẳng  
hạn như thuế nhà, thuế đất, thuế xe… Theo cách  
hiểu như vậy, thuế hồng là loại thuế nhắm vào  
nữ giới và các sản phẩm dành riêng cho họ. Tuy  
nhiên, thuế hồng không phải là một loại thuế thông  
thường và không có trong hệ thống thuế ở bất cứ  
nước nào. Thuế hồng là một hình thức định giá sản  
phẩm theo giới, theo đó nữ giới chi trả một khoản  
tiền nhiều hơn nam giới cho những sản phẩm hay  
dịch vụ có chất lượng như nhau nhưng bao bì hay  
hình thức cung cấp khác nhau [6, 8, 14, 21, 22].  
Sự chú ý đặc biệt đối với vấn đề định giá sản  
phẩm theo giới đã dẫn đến sự ra đời của cụm từ  
“thuế hồng” – một loại thuế vô hình áp lên các  
mặt hàng dành cho người tiêu dùng nữ giới, cũng  
chính là khoản tiền mà nữ giới phải trả nhiều hơn  
so với nam giới cho cùng một loại hàng hóa hay  
dịch vụ. Tại Việt Nam, theo như tìm hiểu của tác  
giả, hầu như không thể tìm thấy một tài liệu hay  
nghiên cứu nào về vấn đề thuế hồng. Chính vì lý  
do đó, mục tiêu của nghiên cứu này là trình bày  
tổng quan lý thuyết về thuế hồng thông qua các  
nghiên cứu đã được thực hiện tại một số quốc gia  
trên thế giới trong nhiều ngành hàng khác nhau.  
Trên cơ sở lý thuyết tổng quan đó, nghiên cứu đề  
xuất các hướng nghiên cứu trong tương lai tại  
Việt Nam.  
Tại sao lại là màu hồng? Theo Yazicioglu,  
“màu hồng là biểu tượng của nữ giới được công  
nhận trên phạm vi toàn cầu” [21, tr. 18]. Màu  
hồng gắn liền với phái nữ, cũng như màu xanh  
gắn liền với phái nam. Từ khi sinh ra đời, các bé  
gái sơ sinh đã được mặc áo quần màu hồng, trong  
khi các bé trai mặc áo quần màu xanh. Trẻ em  
luôn được dạy bảo rằng, màu hồng dành cho con  
gái, màu xanh dành cho con trai [23]. Điều này  
cũng đúng đối với ngành đồ chơi cho trẻ em.  
Nghiên cứu của Sweet (2013) cho thấy khi bước  
vào bất cứ một cửa hàng bán đồ chơi nào, chúng  
ta dễ dàng phát hiện ra rằng đồ chơi được xếp  
theo hai lối riêng biệt: một lối màu hồng gồm đồ  
chơi dành cho bé gái như búp bê, đồ chơi bếp  
núc, áo quần làm đẹp và một lối màu xanh gồm  
các nhân vật siêu anh hùng, dụng cụ thiết kế nhà  
cửa và xe cộ dành cho bé trai [24]. Màu hồng  
đồng hành cùng phái nữ trong suốt thời gian từ  
khi trưởng thành đến lúc về già. Các sản phẩm  
dành cho nữ thường có màu hồng hoặc bao bì  
màu hồng để thu hút sự chú ý. Các hãng xe ô tô  
cho ra đời phiên bản màu hồng đặc biệt dành cho  
phái nữ. Các phương tiện vận tải công cộng được  
sơn màu hồng chỉ dành cho nữ giới để đảm bảo  
họ không bị người khác giới quấy rối. Ruy băng  
hồng tượng trưng cho cuộc chiến chống ung thư  
vú của phụ nữ trên khắp thế giới [21].  
2. Cơ sở lý luận về thuế hồng  
2.1. Định nghĩa về thuế hồng  
Tuy không thể biết chính xác cụm từ “thuế  
hồng” xuất hiện lần đầu tiên khi nào và ở đâu,  
các nhà nghiên cứu cho rằng cụm từ này bắt đầu  
được sử dụng phổ biến sau khi một nghiên cứu  
về cách thức định giá theo giới do Cơ quan Xử  
lý các vấn đề của người tiêu dùng của thành phố  
New York (NYDCA) thực hiện vào năm 2015  
được công bố [8]. Từ đó, thuế hồng xuất hiện  
nhiều hơn trên các phương tiện thông tin đại  
chúng hay mạng xã hội. Một vài cụm từ có thể  
được sử dụng thay thế cho thuế hồng như “thuế  
2.2 Nguyên nhân của thuế hồng  
2.2.1 Phân khúc thị trường theo giới  
N. T. D. Trang / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 24-34  
27  
Phân khúc thị trường là một trong bốn nhân  
tố của chiến lược marketing dựa trên khách hàng  
[2]. Mục đích của phân khúc thị trường là nhằm  
phục vụ nhu cầu của khách hàng tốt hơn bằng  
cách phân chia thị trường thành các nhóm nhỏ có  
những điểm tương đồng về nhu cầu, nhận thức,  
văn hóa, lối sống, hành vi và tiềm lực tài chính.  
Có nhiều cách khác nhau để phân khúc thị  
trường, và phân khúc thị trường theo giới từ lâu  
đã là một cách thức phổ biến, đặc biệt đối với các  
ngành như thời trang, mỹ phẩm và chăm sóc sức  
khỏe cá nhân [2].  
đối tượng khách hàng là nam hoặc nữ. Các nhà  
kinh doanh thịt thực hiện các chiến dịch quảng  
cáo theo hướng tiêu thụ sản phẩm từ thịt làm nổi  
bật sự nam tính của người đàn ông. Trên cơ sở  
quan sát thấy phụ nữ có xu hướng ăn uống từ tốn  
để thể hiện đức tính dịu dàng, đoan trang,  
Hershey’s đã tạo ra những thanh sô cô la nhỏ  
hướng đến đối tượng khách hàng nữ giới; chiến  
dịch marketing này được xem là thành công nhất  
trong lịch sử của hãng [27]. Hãng Bic tạo ra các  
sản phẩm bút viết có màu sắc nhẹ nhàng, kích  
thước gọn cho nữ giới với mục tiêu “vừa gọn cho  
bàn tay của phụ nữ” [28]; hay bánh snack Lady  
Doritos của Pepsi với mục tiêu nhắm đến phái nữ  
- những người không thích ăn uống ồn ào nơi  
công cộng [29].  
Mỗi cá nhân, từ khi sinh ra đến lúc trưởng  
thành, chịu sự tác động của xã hội trong việc  
hình thành nhận thức về giới tính của bản thân.  
Xã hội khuyên chúng ta nên mặc gì, cư xử ra sao,  
ăn nói như thế nào… để phù hợp với giới tính  
của mình. Đàn ông cần phải mạnh mẽ, nam tính,  
trong khi phụ nữ cần nhu mì, nữ tính. Chính nhận  
thức về giới khác nhau dẫn đến việc nam và nữ  
có những nhu cầu khác nhau trong cuộc sống và  
những nhu cầu đó nhằm mục đích đáp ứng những  
mong đợi mà xã hội dành cho họ [25]. Nghiên  
cứu cho thấy phụ nữ có xu hướng mua những sản  
phẩm thể hiện được vẻ đẹp ngoại hình hay tính  
nữ trong họ. Nếu đàn ông xem áo quần chỉ đơn  
giản là nhu cầu thiết yếu, phụ nữ xem áo quần là  
sự kết nối bản thân họ với xã hội và những người  
xung quanh, mang lại cảm giác họ thuộc về một  
tập thể nào đó [26].  
2.2.2. Định giá theo giới  
Một trong những cách thức các doanh  
nghiệp, nhãn hàng sử dụng nhằm gia tăng doanh  
số bán hàng và lợi nhuận trên cơ sở nắm bắt được  
tâm lý, hành vi mua sắm của nữ giới là định giá  
sản phẩm theo giới. Nam giới và nữ giới có  
những mức sẵn lòng chi trả khác nhau cho một  
mặt hàng, miễn là sản phẩm đó đáp ứng nhu cầu  
của họ. Từ đó, doanh nghiệp sẽ xem xét sự khác  
biệt trong mức sẵn lòng chi trả đó để định giá sản  
phẩm khác nhau khi bán cho nam giới và nữ giới  
[13]. Thuế hồng hình thành từ việc doanh nghiệp  
lợi dụng sự sẵn lòng đó của nữ giới. Theo  
Yazicioglu, thuế hồng bắt nguồn từ quan điểm  
cho rằng “hãy tạo ra những sản phẩm nhỏ xinh,  
hãy nhuộm hồng những sản phẩm đó và phụ nữ  
sẽ sẵn sàng mua chúng với mức giá cao” [21,  
tr.26].  
Sự khác nhau về giới cũng dẫn đến những  
phản ứng khác nhau của nam và nữ đối với các  
yếu tố tác động đến hành vi tiêu dùng. Nghiên  
cứu cho thấy đối với một thông điệp quảng cáo,  
phụ nữ thường chú tâm đến các chi tiết, dành  
nhiều thời gian xử lý các chi tiết đó, từ đó đưa ra  
đánh giá thì nam giới lại chỉ để tâm đến nội dung  
tổng thể của thông điệp. Do đó, phụ nữ thường  
nhạy cảm hơn nam giới khi tiếp xúc với các  
thông điệp từ doanh nghiệp, nhà sản xuất hay  
nhãn hàng; và thông điệp ở đây có thể bao gồm  
hình ảnh, người mẫu quảng cáo, biểu tượng,  
khẩu hiệu và thậm chí là thành phần cấu tạo nên  
sản phẩm [27].  
Rất nhiều sản phẩm tiêu dùng hằng ngày  
dành cho phụ nữ có mức giá cao hơn so với sản  
phẩm tương tự như vậy dành cho nam giới.  
Nghiên cứu của NYDCA thực hiện năm 2015  
cho thấy trung bình các sản phẩm dành cho nữ  
giới có giá cao hơn các sản phẩm tương tự dành  
cho nam giới 7%. Tỷ lệ này có thể dao động tùy  
theo sản phẩm, ví dụ đồ chơi là 7%, áo quần trẻ  
em là 4%, áo quần người lớn 8% và các sản phẩm  
chăm sóc sức khỏe cá nhân 13% [8]. Tỷ lệ này  
có thể cao hơn nhiều lần khi so sánh giá các sản  
phẩm cụ thể theo màu. Xe hai bánh cho trẻ em  
có mức giá lần lượt 24,99 đô la Mỹ (USD) và  
Hiểu được sự khác biệt trong hành vi mua  
sắm của nam và nữ, các doanh nghiệp, nhãn hàng  
đã xây dựng các chiến lược marketing nhắm vào  
N. T. D. Trang / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 24-34  
28  
49,99 USD cho loại màu đỏ và màu hồng. Mũ  
giống nhau. Tương tự, áo len Valentino được bán  
cho nam giới với mức giá 2.450 USD, cho nữ  
giới 3.290 USD; áo sơ mi trắng của Dolce &  
Gabbana phiên bản nam 265 USD và phiên bản  
nữ 295 USD. Các mức giá khác nhau thay đổi  
tùy hãng và sản phẩm, 1.000 USD là mức chênh  
lệch cao nhất giữa sản phẩm cho nữ và sản phẩm  
tương tự dành cho nam [33].  
bảo hiểm màu xanh cho trẻ em có giá 14,99  
USD, trong khi mũ màu hồng có giá 27,99 USD.  
Tã giấy người lớn cho nữ giới được bán với giá  
11,99 USD cho gói 39 miếng, loại tương tự cho  
nam giới có giá 11,99 USD cho gói 52 miếng.  
Không chỉ riêng hàng hóa tiêu dùng, phụ nữ  
thường trả nhiều tiền hơn cho các dịch vụ mà họ  
sử dụng [14]. Nghiên cứu của NYDCA năm  
1992 cho thấy nữ giới trả nhiều tiền hơn nam giới  
khi sử dụng các dịch vụ như tư vấn mua xe ô tô,  
giặt ủi, cắt tóc. Cụ thể, khi được tư vấn mua xe ô  
tô, nữ giới thường phải trả gấp đôi phí tư vấn so  
với nam giới. Cùng một kiểu tóc, nữ giới phải trả  
phí cao hơn nam giới 25%. Tỷ lệ này trong dịch  
vụ giặt ủi là 27% [30]. Theo Alesina & cộng sự  
(2013), phụ nữ tại Ý trả lãi suất cao hơn nam giới  
cho các khoản vay có các điều kiện vay và rủi ro  
như nhau [31].  
Khi được hỏi về lý do có sự chênh lệch giá  
này, Valentino và Gucci từ chối phản hồi,  
Balmain giữ im lặng, Saint Laurent giải thích  
rằng áo quần dành cho nữ cần nhân công có tay  
nghề cao hơn. Một vài chuyên gia thời trang cho  
rằng sản xuất áo quần cho nữ có nhiều rủi ro hơn  
cho nam vì họ buộc phải sản xuất nhiều kích cỡ,  
màu sắc khác nhau nên dây chuyền sản xuất sẽ  
phức tạp hơn. Tuy nhiên, theo các chuyên gia  
tâm lý người tiêu dùng, giá của các mặt hàng thời  
trang cao cấp không đơn thuần chỉ dựa vào chi  
phí sản xuất. Các hãng thời trang áp mức giá sản  
phẩm dành cho nữ giới cao hơn vì họ cho rằng  
nữ giới xem trọng thương hiệu và mối liên hệ  
giữa giá cả và chất lượng nhiều hơn nam giới.  
Trong trường hợp này, thuế hồng bắt nguồn từ  
mức giá theo nhu cầu của phụ nữ trong khi bản  
thân họ không nhận thức được vấn đề này [33].  
3. Thực trạng thuế hồng  
3.1 Thuế hồng tại các quốc gia trên thế giới  
3.1.1 Thuế hồng và hàng tiêu dùng  
Rất nhiều nghiên cứu về thuế hồng được  
thực hiện trong lĩnh vực thời trang, từ thời trang  
cao cấp đến thời trang bình dân. Lý giải cho điều  
này, Abnett (2016) cho rằng thời trang có sức  
hấp dẫn lớn đối với cả nam giới và nữ giới, tuy  
nhiên nữ giới được cho là mua sắm nhiều hơn,  
sẵn sàng chi trả nhiều tiền hơn nam giới và vì vậy  
các hãng thời trang cũng định giá sản phẩm cho  
nữ cao hơn sản phẩm cho nam [33].  
NYDCA tiến hành nghiên cứu giá 800 mặt  
hàng tiêu dùng từ 90 nhãn hàng khác nhau được  
bán tại hơn 20 nhà bán lẻ ở New York, cả hình  
thức trực tuyến và tại cửa hàng; các mặt hàng  
được chọn lựa trên cơ sở phiên bản dành cho nam  
và phiên bản dành cho nữ giống nhau nhất có thể  
[8]. Đối với các mặt hàng thời trang bình dân  
dành cho người lớn, nghiên cứu cho thấy trung  
bình áo quần của nữ giới mắc hơn của nam giới  
gần 8%. Tỷ lệ này thay đổi tùy theo loại quần áo.  
Tỷ lệ cao nhất thuộc về áo sơ mi, phiên bản dành  
cho nữ mắc hơn cho nam gần 15%. Chỉ có ở sản  
phẩm quần áo lót thì mức giá cho nam mới cao  
hơn cho nữ. Nghiên cứu này cũng cho thấy rằng,  
xu hướng phiên bản dành cho nữ mắc hơn phiên  
bản dành cho nam thường xảy ra ở các mặt hàng  
có giá trị cao, xu hướng ngược lại xảy ra ở các  
mặt hàng có giá trị thấp. Ở xu hướng đầu tiên,  
giá dành cho nữ cao hơn nam khoảng 13%;  
ở xu hướng ngược lại, giá cho nam chỉ cao hơn  
nữ 3%.  
Tạp chí thời trang The Business of Fashion  
của Anh đã tiến hành so sánh giá của những sản  
phẩm tương tự nhau ở các cửa hàng của Saint  
Laurent, Valentino, Gucci, Dolce & Gabbana,  
Balmain và Alexander Wang – các hãng thời  
trang cao cấp nổi tiếng trên thế giới đến từ các  
quốc gia khác nhau. Kết quả cho thấy có 17  
trường hợp mà sản phẩm tương tự dành cho nam  
và nữ có mức giá khác nhau [33]. Chẳng hạn như  
khăn quàng hiệu Saint Laurent cho nam có giá  
950 USD, cho nữ 1.190 USD. Đáng nói là cả hai  
loại khăn này có thiết kế, màu sắc và chất liệu  
N. T. D. Trang / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 24-34  
29  
Bảng 1. Giá trung bình các sản phẩm thời trang  
Đối với các mặt hàng chăm sóc vệ sinh cá  
nhân, chênh lệch về giá mà nghiên cứu chỉ ra chủ  
yếu do sự khác nhau về số lượng. Chẳng hạn như  
sản phẩm ngăn mùi cơ thể phiên bản cho nam và  
nữ có giá bằng nhau, tuy nhiên khối lượng lại  
khác nhau, lần lượt là 77 gr và 74 gr cho nam và  
nữ. Trong một số trường hợp, giá cả khác nhau  
do màu sắc khác nhau, ví dụ như dao cạo màu  
hồng có giá cao hơn dao cạo màu xanh. Ngoài  
ra, có những sản phẩm mà phiên bản cho nam và  
nữ có thành phần cấu tạo hoàn toàn giống nhau  
nhưng khác nhau về khẩu hiệu trên nhãn dán sản  
phẩm, ví dụ sản phẩm phiên bản nữ có thêm  
dòng chữ “cho làn da nhạy cảm của phụ nữ” [8].  
cho nam và nữ  
Sản  
phẩm  
Giá trung  
bình cho  
nữ (USD)  
Giá trung  
bình cho  
nam  
Tỷ lệ  
chênh  
lệch giá  
(nữ so  
(USD)  
với nam)  
Quần âu  
phục  
Áo sơ mi  
75,66  
58,11  
63,19  
62,75  
71,71  
51,46  
59,45  
57,09  
+6%  
+13%  
+6%  
âu phục  
Áo len  
dài tay  
Trang  
phục jean  
Áo sơ mi  
Tất  
+10%  
Một trong những mặt hàng chăm sóc vệ sinh  
cá nhân nhận được sự chú ý đặc biệt của các nhà  
làm luật, các nhà kinh tế và nữ giới nói chung  
trong thời gian gần đây liên quan đến vấn đề thuế  
hồng là sản phẩm băng vệ sinh. Sản phẩm này  
không có phiên bản tương đương cho nam giới  
nên không thể so sánh chênh lệch về giá. Tuy  
nhiên, sản phẩm này góp phần làm dấy lên phong  
trào nữ quyền trên thế giới bởi lẽ nó được xem là  
mặt hàng xa xỉ và bị áp thuế rất cao ở một số  
nước trên thế giới, cả các nước phát triển và đang  
phát triển [10, 12, 21].  
29,23  
9,98  
8,46  
25,51  
9,73  
10,9  
+15%  
+3%  
-29%  
Quần áo  
lót  
Tổng  
307,38  
285,85  
8%  
cộng  
Nguồn: [8, tr.9]  
Tương tự như nghiên cứu của tạp chí The  
Business of Fashion, các doanh nghiệp và nhãn  
hàng lý giải rằng phiên bản áo quần cho nữ mắc  
hơn phiên bản cho nam vì chi phí sản xuất khác  
nhau. Để sản xuất áo quần dành cho nữ giới,  
doanh nghiệp phải tốn nhiều chi phí hơn cho  
khâu chất liệu vải, tạo màu vải, thay đổi kích cỡ.  
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, giá bán lẻ áo quần  
không được quyết định bởi nhà sản xuất mà là  
các nhà bán lẻ. Là những người kinh doanh, các  
nhà bán lẻ luôn áp một mức giá sao cho họ có thể  
thu về lợi nhuận. Nữ giới thường sẵn sàng chi trả  
nhiều tiền hơn nam giới cho áo quần, và vì vậy  
họ bị áp mức giá cao hơn [8].  
Thuế băng vệ sinh là loại thuế tiêu dùng áp  
vào các mặt hàng chăm sóc vệ sinh của phụ nữ  
[21]. Tên gọi của loại thuế này thay đổi theo  
quốc gia. Ở một số nước như Úc, Canada, thuế  
này có tên gọi là thuế hàng hóa và dịch vụ. Mức  
áp thuế cũng thay đổi theo quốc gia. Ở khu vực  
Châu Âu, Hungary là quốc gia áp mức thuế băng  
vệ sinh cao nhất, 27%, theo sau là các quốc gia  
ở khu vực Scandinavia với mức 25%. Hy Lạp áp  
mức thuế băng vệ sinh 23% và chính phủ nước  
này xem đây là một trong những chính sách thắt  
lưng buộc bụng. Ireland là quốc gia duy nhất ở  
Châu Âu mà nữ giới không phải trả thuế khi mua  
mặt hàng vệ sinh cá nhân này [34]. Tính đến  
2019, 70% các bang ở Mỹ vẫn áp thuế tiêu thụ  
đặc biệt cho các sản phẩm vệ sinh phụ nữ, trong  
đó có băng vệ sinh, trong khi tại các bang này,  
những sản phẩm như son dưỡng môi, dầu gội trị  
gàu hay bao cao su được miễn thuế vì được xem  
là các mặt hàng thiết yếu.  
Nghiên cứu của NYDCA cũng so sánh giá  
các mặt hàng chăm sóc vệ sinh cá nhân phiên bản  
dành cho nam và nữ. Trung bình các sản phẩm  
dành cho nữ có giá cao hơn các sản phẩm dành  
cho nam 13%. Mặt hàng chăm sóc tóc có mức độ  
chênh lệch cao nhất, gần 48%. Lý do là vì dầu  
gội và dầu xả cho nam giới thường được bán  
chung trong một sản phẩm. Trong khi đó, phụ nữ  
phải trả tiền để mua sản phẩm dầu gội và dầu xả  
riêng lẻ, khiến chi phí chăm sóc tóc của họ cao  
hơn nam giới [8].  
3.1.2 Thuế hồng và dịch vụ  
N. T. D. Trang / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 24-34  
30  
Thuế hồng không chỉ xảy ra trong lĩnh vực  
NYDCA đã tiến hành khảo sát qua điện thoại đối  
với 80 cửa hàng cắt tóc vào năm 1992 và một  
khảo sát tương tự vào năm 1996 đối với 199 cửa  
hàng. Cả hai khảo sát đều cho kết quả tương tự  
nhau, nữ giới trả nhiều hơn nam giới 25% chi phí  
mặc dù hai giới cắt kiểu tóc giống nhau [30, 37].  
Một nghiên cứu khác được thực hiện vào năm  
2011 cho thấy trong số 85/100 cửa hàng được  
khảo sát, nữ giới phải trả nhiều tiền hơn nam giới  
cho cùng một kiểu tóc căn bản, trung bình nhiều  
hơn 54% chi phí. Trung bình nữ giới trả 35,02  
USD, nam giới trả 22,78 USD. Chênh lệch giá  
dao động từ 0 đến 25 USD [20].  
hàng hóa tiêu dùng mà còn trong lĩnh vực dịch  
vụ, nổi bật là dịch vụ giặt ủi. Hầu hết các nghiên  
cứu, khảo sát liên quan đến vấn đề này được thực  
hiện tại Mỹ ở các bang khác nhau từ những năm  
90 cho đến những năm gần đây, cho thấy mối  
quan tâm của các nhà làm luật, các tổ chức dân  
sự và người tiêu dùng ở Mỹ đối với vấn đề này  
đã hình thành từ cách đây khá lâu và vẫn còn tồn  
tại trong xã hội ngày nay.  
Một khảo sát gồm 25 cửa hàng giặt ủi tại  
thành phố Boston năm 1991 cho thấy trung bình  
nữ giới phải chi trả nhiều hơn nam giới từ hai đến  
ba lần cho cùng một loại áo quần [35]. Một  
nghiên cứu được thực hiện tại bang California  
vào năm 1994 cho kết quả tương tự khi cùng giặt  
ủi loại áo sơ mi như nhau nhưng nữ giới phải trả  
gần gấp đôi chi phí so với nam giới [19]. Năm  
2011, một nhóm các nhà nghiên cứu từ trường  
Đại học miền Trung Florida lựa chọn ngẫu nhiên  
100 cửa hàng giặt ủi trong danh sách 784 cửa  
hàng từ nhiều địa điểm khác nhau và thực hiện  
khảo sát qua điện thoại. Kết quả cho thấy không  
có sự chênh lệch về giá cả giữa hai giới khi giặt  
ủi các loại áo quần như com lê, áo blazer hay  
quần; tuy nhiên, nam giới chi trả 2,06 USD và  
nữ giới chi trả 3,95 USD để giặt ủi hai loại áo sơ  
mi tương tự nhau [20]. Kết quả nghiên cứu do  
CBS News thực hiện tại thành phố New York  
cũng không khác biệt. Cùng loại áo sơ mi gài nút  
phía trước làm từ 100% vải bông, khách hàng nữ  
phải trả 7,5 USD, trong khi đó khách hàng nam  
chỉ trả 2,85 USD [36].  
Để kiểm chứng liệu kết quả các nghiên cứu  
được thực hiện tại Mỹ có xảy ra tại các nước  
khác, Liston-Heyes và Neokleous đã thực hiện  
một khảo sát qua điện thoại với 150 cửa hàng cắt  
tóc dành cho cả hai giới tại phía Bắc thành phố  
Luân Đôn vào năm 2000. Liston-Heyes và  
Neokleous lựa chọn cửa hàng dành cho cả hai  
giới thay vì cửa hàng chỉ dành cho nam hoặc nữ  
vì có đến 63% khách hàng được khảo sát nói  
rằng họ thích đến cửa hàng dành cho cả hai giới  
hơn vì trang trí đẹp và hợp thời trang hơn. Khảo  
sát cho thấy, tại các cửa hàng này, trung bình nữ  
giới trả nhiều hơn nam giới 10 bảng Anh cho  
cùng một kiểu tóc cơ bản, cụ thể nam giới trả  
9,23 bảng Anh trong khi nữ giới trả 19,17 bảng  
Anh [13].  
Có rất nhiều lý do được đưa ra nhằm giải  
thích cho sự chênh lệch giá trong ngành chăm  
sóc tóc. Lý do mà Liston-Heyes và Neokleous  
(2000) hay gặp nhất là cắt tóc cho nữ giới thường  
mất nhiều thời gian hơn nam giới. Lý do này đặt  
ra nhiều nghi vấn bởi lẽ khi so sánh giá, nhóm  
nghiên cứu đã lựa chọn các cặp nam nữ có độ dài  
tóc và kiểu tóc như nhau. Một vài lý do khác bao  
gồm phụ nữ thường khó tính hơn, cầu kỳ hơn,  
đòi hỏi nhiều hơn và nói chuyện nhiều hơn nam  
giới. Quản lý của một số cửa hàng tham gia khảo  
sát giải thích rằng thợ cắt tóc cho nữ cần nhiều  
kĩ năng hơn, thời gian đào tạo lâu hơn. Tuy nhiên  
tại Anh, thời gian đào tạo cho thợ cắt tóc nam và  
nữ là như nhau. Đồng thời, mức lương cho cả hai  
giới gần như bằng nhau [13]. Hai nghiên cứu của  
NYDCA vào năm 1992 và 1996 cũng đề cập  
những lý do tương tự.  
Các chủ cửa hàng giặt ủi đưa ra rất nhiều lý  
do khác nhau để giải thích sự chênh lệch giá này,  
chẳng hạn như chất liệu vải áo quần nam và nữ  
khác nhau, trang phục nữ thường kiểu cách, được  
thêu thùa, hoặc đính đá cườm, áo quần nam được  
ủi máy trong khi áo quần nữ phải ủi tay, thời gian  
ủi áo quần của nữ sẽ lâu hơn,… [20, 35]. Tuy  
nhiên, những lý do đưa ra không giải thích được  
trường hợp cả nam và nữ đều giặt ủi các loại áo  
sơ mi giống nhau. Theo một chủ cửa hàng giặt  
ủi, trong rất nhiều trường hợp, thực ra chỉ có áo  
của đàn ông mới được ủi [36].  
Chênh lệch giá cũng xảy ra đối với khách  
hàng nữ giới và nam giới trong dịch vụ cắt tóc.  
N. T. D. Trang / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 24-34  
31  
3.2. Thuế hồng tại Việt Nam  
4. Tác động của thuế hồng  
Theo tìm hiểu của tác giả, chưa có một  
nghiên cứu cụ thể nào về việc định giá sản phẩm  
theo giới tại Việt Nam cũng như việc nữ giới  
đang chi trả nhiều tiền hơn nam giới cho cùng  
một mặt hàng. Tuy nhiên, với việc thu nhập giữa  
nam giới và nữ giới có sự chênh lệch, và sự  
chênh lệch này ngày càng tăng theo thời gian,  
việc chính phủ áp mức thuế suất GTGT cao đối  
với các mặt hàng được cho là thiết yếu đối với  
phụ nữ, cũng được xem như một biểu hiện của  
thuế hồng.  
Chênh lệch về giá giữa sản phẩm phiên bản  
cho nữ giới và nam giới hay sự tồn tại của thuế  
hồng đã góp phần khiến cuộc sống của người phụ  
nữ trở nên đắt đỏ. Theo một nghiên cứu được  
thực hiện tại bang California, Mỹ năm 1994, thuế  
hồng khiến nữ giới phải chi trả nhiều hơn nam  
giới xấp xỉ 1.351 USD (tương đương 2.191 USD  
ở thời điểm hiện tại) cho một năm mua sắm các  
hàng hóa và dịch vụ tương tự nhau. Như vậy  
trung bình trong suốt quãng đời của người phụ  
nữ, họ phải trả hàng trăm ngàn USD cho thuế  
hồng [8].  
Thuế GTGT là loại thuế đánh vào các khoản  
tiền cá nhân chi trả để mua sắm một loại hàng  
hóa nào đó. Tại Việt Nam, thuế GTGT có ý nghĩa  
đặc biệt quan trọng về mặt kinh tế vì loại thuế  
này chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nguồn thu ngân  
sách nhà nước [38]. Việt Nam hiện áp dụng các  
mức thuế GTGT khác nhau, cụ thể 0%, 5%, và  
10% tùy vào mặt hàng, tuy nhiên các mức này là  
như nhau cho những người có thu nhập cao hay  
thấp. Vì đây là loại thuế đánh vào tiêu dùng,  
những đối tượng có thu nhập thấp hoặc không có  
thu nhập như nữ giới sẽ ít có khả năng chi trả cho  
các nhu cầu tiêu dùng cơ bản của họ.  
Trong bối cảnh thu nhập của nữ giới vẫn thấp  
hơn nam giới, việc nữ giới phải chi trả nhiều tiền  
hơn nam giới cho cùng một loại sản phẩm và  
dịch vụ khiến thu nhập của phụ nữ đã thấp lại  
càng thấp hơn. Báo cáo của OECD năm 2020  
cho thấy khoảng cách thu nhập giữa nam và nữ  
tồn tại ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong  
đó cao nhất là Hàn Quốc với thu nhập của nam  
giới cao hơn nữ giới 31,5% [40]. Số liệu năm  
2015 tại Mỹ cho thấy trung bình nữ giới kiếm  
được 80 xu cho mỗi một USD mà nam giới kiếm  
được. Trung bình một năm nữ giới kiếm ít hơn  
nam giới 10.500 USD và 500.000 USD cho suốt  
quãng đời đi làm [14]. Tại Việt Nam, tuy thời  
gian làm việc tương đương nhau và chênh lệch  
về trình độ học vấn giữa hai giới ngày càng được  
thu hẹp, thu nhập của nữ giới vẫn thấp hơn nam  
giới, cụ thể 13.7% trong năm 2019 [41]. Khoảng  
cách thu nhập giới lớn, chi tiêu cho các mặt hàng  
thiết yếu của phụ nữ nhiều hơn nam giới khiến  
khoảng cách tích lũy vốn giữa hai giới ngày càng  
tăng, dẫn đến bất bình đẳng giới về mặt kinh tế  
cũng sẽ tăng [39].  
Nữ giới được cho là dễ bị tổn thương hơn so  
với nam giới khi đối mặt với bất cứ sự tăng giá  
hàng hóa nào. Tại Việt Nam, phụ nữ chịu trách  
nhiệm chính đối với các công việc vệ sinh, chuẩn  
bị bữa ăn và các công việc chăm sóc khác trong  
gia đình. Mức thuế suất 5% mà chính phủ hiện  
đang áp dụng đối với mặt hàng nước sạch, tuy  
không phải mức cao nhất, vẫn được cho là ảnh  
hưởng đến thu nhập của nữ giới. Việc áp dụng  
mức thuế suất 5% cho mặt hàng thực phẩm cũng  
mang lại ảnh hưởng tương tự, bởi nữ giới chi tiêu  
cho mặt hàng này nhiều hơn so với nam giới  
[39]. Đối với các sản phẩm băng vệ sinh phụ nữ,  
hiện Việt Nam áp dụng mức thuế 10%, mức cao  
nhất trong ba mức thuế suất GTGT theo luật hiện  
hành. Như vậy, trong việc tiêu dùng những mặt  
hàng thiết yếu, thuế GTGT tạo gánh nặng cho nữ  
giới nhiều hơn nam giới. Gánh nặng này đặc biệt  
nghiêm trọng hơn đối với những người phụ  
nữ sống dưới mức nghèo đói hoặc ở khu vực  
nông thôn.  
Thuế hồng góp phần làm trầm trọng hơn sự  
phân biệt đối xử đối với nữ giới [19]. Nữ giới chi  
trả nhiều tiền hơn nam giới cho cùng một mặt  
hàng nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn xã hội về giới  
dành cho họ. Điều đáng nói là, vì thuế hồng tồn  
tại vô hình, bản thân người phụ nữ không biết  
được việc họ đang bị phân biệt đối xử. Đối với  
những người phụ nữ không có khả năng mua sắm  
ở các siêu thị lớn với nhiều chủng loại hàng hóa  
hay không thể tiếp cận internet để tìm kiếm  
N. T. D. Trang / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 24-34  
32  
envision2030-goal5.html, n.d. (accessed on: March  
6th, 2021).  
thông tin sản phẩm, việc so sánh giá các sản  
phẩm phiên bản dành cho nam và nữ là điều gần  
như không thể thực hiện được. Một số ý kiến cho  
rằng, để đối phó với thuế hồng, phụ nữ có thể  
chuyển qua mua sắm các sản phẩm dành cho nam  
giới. Tuy nhiên, biện pháp này được cho là đặt phụ  
nữ vào tình thế thử thách xét về khía cạnh giới bởi  
lẽ nó góp phần củng cố các chuẩn mực xã hội của  
người đàn ông, đồng thời buộc người phụ nữ phải  
điều chỉnh nhu cầu, sở thích và hình ảnh của mình  
để hòa nhập vào thế giới của đàn ông [20].  
[2] P. Kotler, G. Armstrong, Principles of Marketing,  
Pearson Education Limited, Essex, 2012.  
[3] J. M. Elegido, The Ethics of Price Discrimination,  
Business Ethics Quarterly, Vol. 21, No. 4, 2011,  
pp.  
633-660,  
[4] The New York Times, Reckonings; What Price  
Fairness?,  
on: March 6th, 2021).  
5. Kết luận  
[5] The Wall Street Journal, Kennedy Pushed Airline  
Deregulation, Changed U.S. Air Travel,  
rica%20travels, 2009 (accessed on: March 6th,  
2021).  
[6] E. N. Atkin, Historical Influences on Modern  
America and the Pink Tax, Senior Honors Theses,  
Vol. 221, 2018.  
[7] P. Bello, Gender Price Discrimination in the  
Annuity Market: Evidence from Chile, 2020.  
[8] New York City Department of Consumer Affairs,  
From Cradle to Cane: The Cost of Being a Female  
Consumer,  
“Một xã hội được đánh giá tốt nhất qua việc  
xã hội đó đánh thuế ai, đánh thuế cái gì và các  
loại thuế đó được tính toán, thu chi như thế nào”  
[42, tr. 448]. Sự tồn tại của thuế hồng ảnh hưởng  
đến quyền lợi của người tiêu dùng, đồng thời đi  
ngược lại với nỗ lực của các quốc gia trong việc  
chấm dứt phân biệt đối xử dưới mọi hình thức  
đối với nữ giới. Vì vậy, tại một số ít bang của  
Mỹ, thuế hồng hay định giá theo giới được xem  
là hành vi vi phạm pháp luật, và các bang này  
ban hành những bộ chỉ dẫn để giúp người tiêu  
dùng hiểu rõ về thuế hồng và hướng dẫn doanh  
nghiệp cách thức loại bỏ định giá sản phẩm theo  
giới trong hoạt động kinh doanh của mình [19,  
36]. Tại Việt Nam, thuế hồng chưa được đề cập  
cụ thể trong bất cứ một văn bản hay nghiên cứu  
nào. Vì vậy, việc thực hiện so sánh giá các sản  
phẩm và dịch vụ tương tự dành cho nam và nữ,  
cũng như so sánh các mức thuế áp vào các mặt  
hàng dành cho nữ giới để kiểm chứng liệu thuế  
hồng có tồn tại ở Việt Nam là hướng nghiên cứu  
cần thiết trong tương lai gần. Kết quả của các  
nghiên cứu sẽ giúp người tiêu dùng, đặc biệt  
người tiêu dùng nữ giới, nhận thức rõ hơn về vấn  
đề thuế hồng, đồng thời hỗ trợ chính phủ trong  
việc xây dựng những chính sách liên quan đến  
giá phù hợp hơn đối với người phụ nữ - đối tượng  
yếu thế trong xã hội Việt Nam hiện nay.  
2015 (accessed on: March 6th, 2021).  
[9] O. C. Ferrell, D. Kapelianis, L. Ferrell, L.  
Rowland, Expectations and Attitudes Toward  
Gender-Based Price, Journal of Business Ethics,  
Vol.  
152,  
2018,  
pp.  
1015-1032,  
[10] L. Hunter, The “Tampon Tax”: Public Discourse of  
Policies Concerning Menstrual Taboo, The  
Hinckley Journal of Politics, Vol. 17, 2016, pp.11-  
19.  
[11] S. M. Kaufman, C. F. Polack, G. A. Campbell, G.  
A, The Pink Tax on Transportation: Women's  
Challenges  
in  
Mobility,  
(accessed on: March 6th, 2021).  
[12] M. Lafferty, The Pink Tax: The Persistence of  
Gender Price Disparity, Midwest Journal of  
Undergraduate Research, Vol. 11, 2019, pp. 56-72.  
Tài liệu tham khảo  
[13] C. Liston-Heyes, E. Neokleous, Gender-based  
Pricing in the Hairdressing Industry, Journal of  
[1] United Nations, #Envision2030 Goal 5: Gender  
Equality,  
N. T. D. Trang / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 24-34  
33  
Consumer Policy, Vol. 23, 2000, pp. 107-126,  
[24] E. V. Sweet, Boy Builders and Pink Princesses:  
Gender, Toys, and Inequality over the Twentieth  
Century, University of California, 2013.  
[14] C. B. Maloney, The Pink Tax: How Gender-based  
Pricing Hurts Women's Buying Power,  
power.pdf, 2016 (accessed on: March 6th, 2021).  
[25] L. Penaloza, Crossing Boundaries/drawing Lines:  
A Look at the Nature of Gender Boundaries and  
Their Impact on Marketing Research, International  
Journal of Research in Marketing, Vol. 11, 1994,  
pp.  
359-379,  
8116(94)90012-4.  
[15] S. O'Connor, B. Norwood, M. Kim, L. Shen, L,  
Gender Price Differentials in the Housing Market:  
Evidence from a Repeat-Sales Approach, 2018,  
[16] D. Salman, M. Nagy, Using Big Data to  
Discriminate Charged Price in the Car Insurance  
Industry: Evidence from United States,  
Proceedings of Business and Economic Studies,  
[26] H. Dittmar, J. Beattie, S. Friese, Gender Identity  
and Material Symbols: Objects and Decision  
Considerations in Impulse Purchases, Journal of  
Economic Psychology, Vol. 16, 1995, pp. 491-511,  
https://doi.org/10.1016/0167-4870(95)00023-H.  
[27] M. Solomon, G. Bamossy, S. Askegaard, M. K.  
Hoog, Consumer Behaviour:  
A
European  
Vol.  
2,  
2019,  
Perspective, Pearson Education, Edinburgh Gate,  
England, 2006.  
[17] M. R. Wehner, K. T. Nead, J. B. Lipoff,  
Association between Gender and Drug Cost for  
Over-the-counter Minoxidil, Vol. 153, 2017, pp.  
825-826,  
[28] The Telegraph, BIC Ridiculed over “Comfortable”  
Pink  
Pens  
for  
Women,  
.1394.  
2012  
(accessed on: March 6th, 2021).  
[18] T. Betz, D. Fortunato, D. Z. O'Brien, Women's  
Descriptive Representation and Gendered Import  
Tax Discrimination, American Political Science  
Review, Vol. 115, 2021, pp. 307-315,  
[29] The Guardian, “Lady Doritos”: A Solution to a  
Problem  
that  
Doesn’t  
Exist,  
problem-that-doesnt-exist, 2018 (accessed on:  
March 6th, 2021).  
[19] State of Vermont, Guidance on the Use of Gender  
in  
Pricing  
of  
Goods  
and  
Services,  
[30] Department of Consumer Affairs of New York,  
Gypped by Gender: A Study of Price Bias Against  
Women in the Marketplace, 1992.  
(accessed on: March 6th, 2021).  
2016  
[31] A. F. Alesina, P. E. Mistrulli, F. Lotti, Do Women  
Pay More for Credit? Evidence From Italy, Journal  
of the European Economic Association, Vol. 11,  
2013, pp. 45-66.  
[20] M. Duesterhaus, L. Grauerholz, R. Weichsel, N. A.  
Guittar, N. A, The Cost of Doing Femininity:  
Gendered Disparities in Pricing of Personal Care  
Products and Services, Gender Issues, Vol. 28,  
011-9106-3.  
[21] A. E. Yazicioglu, Pink Tax and the Law:  
Discriminating Against Women Consumers,  
Routledge, New York, 2018.  
[32] The Business of Fashion, Why Fashion’s ‘Pink  
Tax’  
Means  
Women  
Pay  
More,  
more, 2016 (accessed on: March 6th, 2021).  
[33] Statista, Where the "Tampon Tax" is Highest and  
[22] D. Salman, S. E. Ayoubi, Gender-based Price  
Discrimination: The Cost of Being a Woman,  
Proceedings of Business and Economic Studies,  
Lowest  
in  
Europe,  
2020 (accessed on: March 6th, 2021).  
Vol.  
2,  
2019,  
pp.  
32-38,  
[34] CASEAW, Legal Database, https://caselaw.vn/chi-  
tiet-ma-hs/96190019, n.d. (accessed on: March 6th,  
2021) (in Vietnamese).  
[35] K. A. Jacobsen, Rolling Back the “Pink Tax”: Dim  
Prospects for Eliminating Gender-Based Price  
Discrimination in the Sale of Consumer Goods and  
[23] A. D. Adomaitis, R. Raskin, D. Saiki, Appearance  
Discrimination: Lookism and the Cost to the  
American Women, The Seneca Falls Dialogues  
Journal, Vol. 2, 2017.  
N. T. D. Trang / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 24-34  
34  
Services, California Western Law Review, Vol. 54,  
2018.  
[39] UN WOMEN, Gender Equality and Taxation in  
Vietnam: Issues and Recommendations,  
(accessed on: March 6th, 2021) (In Vietnamese).  
[36] Huffpost, Women Pay More For Dry Cleaning  
Because They’re Women,  
(accessed on: March 6th, 2021).  
[40]  
OECD,  
Gender  
Wage  
Gap,  
2016  
gap.htm, 2020 (accessed on: March 6th, 2021).  
[37] Department of Consumer Affairs of New York, The  
Price is not Right: Gender-based Price  
Discrimination in the New York City Haircutting,  
Clothing Alteration, and DryCleaning Industries,  
New York, 1996.  
[41] T. Van, Impact of Covid-19 to Gender Inequality in  
o-viet-nam-11003-3.html, 2021 (accessed on:  
August 6th, 2021) (In Vietnamese).  
[38] International Monetary Fund, Tax Reform in  
Vietnam,  
[42] C. Adams, For Good and Evil: The Impact of Taxes  
on the Course of Civilization, Madison Books,  
2000.  
rr/2012/031412a.pdf, 2015 (accessed on: March 6th,  
2021).  
pdf 11 trang Thùy Anh 14680 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng và tác động của thuế hồng đối với người tiêu dùng nữ giới – Một số hàm ý chính sách", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthuc_trang_va_tac_dong_cua_thue_hong_doi_voi_nguoi_tieu_dung.pdf