Tài liệu Pháp luật cho mọi người (Phần 2)
Chương
3
Trao quyền pháp lý là đường lối chính trị
khôn ngoan và đường lối kinh tế hữu hiệu
ꢀ nhiều nước, những phần tử giàu có, đầy quyền lực thường khống chế đường lối chính trị và
không gian kinh tế. Chính sách công và những kết quả của nó thường được quyết định bởi quyền
lợi của họ chứ không phải bởi quyền lợi của đa số dân nghèo, những người đang phải vật lộn với
cuộc sống để mưu sinh. Những bất bình đẳng về kinh tế và chính trị này có xu thế ngày càng sâu
sꢁc hơn do hệ thống pháp luật và thiết chế không công bằng, thiếu năng lực và dân nghèo thì không
có khả năng tiếp cận công lý. Tình trạng này không chꢂ là bất công, nó còn là biểu hiện của sự
thiển cận. Có thể nó giúp dân giàu ăn trên ngồi chốc vào lúc này nhưng với cái giá phải trả rất lớn.
Nó ăn mòn quyền lực nhà nước, làm chững lại sự tăng trưởng kinh tế và nhen nhóm tình trạng bất
ổn. Tham nhũng và cho thuê cꢁt cổ đặc biệt tai hại47. Trong một số trường hợp tệ hại nhất, các nhà
nước thất bại lao vào xung đột đâm chém nhau. Nhưng thậm chí ở những nước nơi vấn đề chưa
xấu đi tới mức như vậy, thì những hệ thống bất công làm gây hại tới nền an ninh và hạn chế cơ hội
cuối cùng rồi cũng sẽ gây hại không chꢂ cho dân nghèo mà cho toàn xã hội, kể cả các phần tử ưu tú.
Trao quyền pháp lý là đường lối chính trị khôn ngoan
Những nơi luật pháp và thể chế chính thức không phục vụ nhu cầu của dân nghèo thì đường lối
chính trị bị thu hút về phía các kênh không chính thức. Khi các Chính phủ không có khả năng
hoặc không sẵn sàng bảo hộ và tạo cơ hội cho tất cả mọi người thì tính hợp pháp và liên quan của
hệ thống tri thức thường bị bài mòn đi. Vậy là một cái vòng luẩn quẩn hình thành với sự mục rữa
của các thiết chế pháp luật và sự gia tăng của các giao dịch phi chính thức mang tính chất tạm bợ.
Chúng tuỳ thuộc vào nhau. Nhà nước dần dần trở nên trống rỗng còn xã hội thì bị phân hoá. Trong
tình huống xấu nhất, nền kinh tế quốc dân sẽ bị đình đốn. Tình trạng rối ren trong xã hội sẽ nung
nấu chờ thời cơ bột phát. Còn tính hợp pháp và quyền lực của các nhà lãnh đạo chính trị thì bị sứt
mẻ. Quá lꢁm việc này sẽ dẫn tới tình trạng phát triển bị chững lại nhất thời, còn trường hợp xấu
nhất là sụp đổ.
Quản trị quốc gia cũng quan trọng và thường các nước nghèo lại chịu một nền quản trị quốc gia
kém hữu hiệu hơn. Nhân dân nước họ được hưởng ít công lý hơn từ các toà án và dꢃ là nạn nhân
của tội phạm tham nhũng cũng như sự can thiệp của chính phủ vào cuộc sống riêng tư. Nền quản
trị quốc gia tốt với một hệ thống thể chế linh hoạt, công bằng và nhất quán - là yếu tố chủ chốt cho
việc xây dựng được một xã hội công bằng hơn, thịnh vượng hơn và bền vững hơn.
Nhiều người không hiểu nhân quyền của họ là gì và cũng không ý thức được ý nghĩa của việc
có được quyền.
Tham vấn Quốc gia của Mozambique
Trao quyền pháp lý của người nghèo không phải là một trò chơi không tiền trong đó có một số
người thꢁng và những kẻ khác sẽ thua. Như chúng tôi đã nêu rõ ở trên. Trao quyền pháp lý cho một
người bꢁt đầu từ việc xác định vị trí cũng như tiếng nói của họ trong xã hội. Một chiến lược thành
61
Pháp luật cho mọi người - Tập 1
công trong việc xác định chỗ dứng cho tất cả mọi người trong xã hội sẽ giảm cơ hội bóc lột người
nghèo, mà lại không làm ảnh hưởng đến vị trí của bất cứ ai khác. Còn tiếng nói và quyền đại diện
đối với dân nghèo cũng không phủ nhận những người khác như vậy. Tuy nhiên, trong các cuộc
cải cách về trao quyền pháp lý, điều hệ trọng là tiếng nói của dân nghèo không bị giảm đi. Khi cải
cách thể chế làm tăng cường tiếp cận công lý cho người nghèo thì toàn xã hội sẽ được phồn vinh
thịnh vượng. Thực thi quyền sở hữu tài sản sẽ góp phần khuấy động thị trường bất động sản, làm
nâng cao năng suất của đất đai và các tài sản khác và gia tăng lợi ích kinh tế cho dân nghèo. Quyền
sở hữu tài sản là những công cụ pháp lý tối hệ trọng đối với dân nghèo và vì vậy, chúng có thể thu
hút được sự tham gia của họ nhằm làm tăng thêm quyền bình đẳng.
“Chống tham nhũng đòi hỏi phải nâng cao ý thức về những hậu quả tai hại của tham nhũng, đề
cao vai trò của các thiết chế giám sát của chính phủ và phi chính phủ, khẳng định vai trò của
các phương tiện truyền thông đại chúng và tạo dựng một hệ thống tư pháp độc lập và vô tư,
không thiên vị”
Tham vấn Quốc gia ở Jordan
Trao quyền pháp lý không chꢂ là vấn đề giải phóng dân nghèo, nó còn mang lại phồn vinh thịnh
vượng và an ninh lớn hơn cho toàn xã hội. Trao quyền pháp lý đề cao tính hiệu quả và tính hợp
pháp của nhà nước và như vậy, cũng đề cao tính hiệu quả và hợp pháp của các quan chức và đại
diện của nhà nước đó ở các cấp. Những nhà lãnh đạo quả cảm nào dám ủng hộ Trao quyền pháp lý
cho Dân nghèo chꢁc chꢁn sẽ giành được sự ủng hộ rộng rãi của dân chúng.
“Người nghèo vẫn coi luật pháp chủ yếu dành cho người giàu, công nhận thực tế phản dân chủ
là: luật pháp là biểu hiện của hệ tư tưỏng của giới ưu tú thống trị.”
Tham vấn quốc gia Philippin
Một thách thức chính trị có nhiều thành quả
Tuy vậy, rõ ràng cải cách là rất gay go thách thức. Bất cứ một lãnh tụ nào - dù là tổng thống, lãnh
tụ một chính đảng trong Quốc hội, người đứng đầu một tổ chức xã hội dân sự, hoặc một tổ chức
cơ sở cộng đồng, một xã trưởng hoặc một ông tổ trưởng khu nhà ổ chuột - muốn đảm nhận thách
thức này sẽ phải đối mặt với rất nhiều khó khăn gian khổ.
Thoạt đầu, dân nghèo có các lý do chính đáng để không tin tưởng các thiết chế nhà nước và hệ
thống pháp luật. Chính những thiết chế đó với quyền được thiết lập và đề cao những luật lệ chi phối
các hoạt động kinh tế, thường duy trì tình trạng bất bình đẳng kinh tế kéo dài. Những thiết chế ấy
cần được cải cách để hoạt động vì lợi ích của tất cả mọi người. Trong một công trình nghiên cứu
thời kỳ Xô Viết tại một nước Đông Âu, 82% những người chủ kinh doanh đều nói rằng hối lộ các
quan chức là cần thiết để tiếp tục vận hành công việc kinh doanh của họ48. Kinh nghiệm đã dạy
cho dân nghèo bài học phải cảnh giác trước các nhà chính trị hứa hẹn cải cách. Họ cần phải được
nhìn thấy kết quả rõ ràng thì mới tin tưởng hoàn toàn. Các chính trị gia cần phải thể hiện cho dân
nghèo thấy rằng hệ thống chính thức đang thay đổi để đáp ứng nhu cầu của họ. Trường hợp Chợ
Sewa Nagar cho thấy có thể làm được điều này .
Cũng có một quan niệm phổ biến cho rằng đẩy mạnh quyền sở hữu tài sản sẽ làm tăng thêm quyền
lợi của số ít người ưu tú trong xã hội. Điều này không nhất thiết phải đúng. Tất cả đều tuỳ thuộc
vào cách thức những cuộc cải cách ấy được thực hiện như thế nào và liệu quyền lợi của dân nghèo
có được bảo vệ một cách nhất quán ngay từ đầu không. Nếu được thực thi một cách hữu hiệu thì
62
Trao quyền pháp lý là đường lối chính trị khôn ngoan và đường lối kinh tế hữu hiệu
một hệ thống các quyền sở hữu tài sản hoạt động tốt thu hút cả dân nghèo tham gia cũng rất quan
trọng, nếu không muốn nói là quan trọng hơn đối với dân nghèo.
Cũng cần phải hạn chế việc tiếp nhận những tư vấn của chuyên gia về các vấn đề pháp lý và phát
triển trong việc đưa ra giải pháp chuyên môn cho mỗi vấn đề. Những ấn định chuyên môn chóng
vánh có vẻ là hấp dẫn, nhưng chúng sẽ không thể ăn sâu bén rꢃ và tạo được một sự khác biệt, trừ
phi công cuộc cải cách được dựa trên cơ sở các nhu cầu và điều kiện của địa phương, việc đàm
phán và thực thi được tiến hành bằng cách đứng về phía dân nghèo
Có lẽ điều quan trọng nhất là số đông xã hội cần phải được thuyết phục rằng việc xây dựng một
trật tự pháp lý hữu hiệu hơn, thu hút nhiều người nghèo hơn là rất khả thi và cuối cùng đáp ứng
được mong ước của tất cả mọi người. Các đề xuất không tưởng thường gây nên tâm lý yếu thế, còn
các kiến nghị mang tính cách mạng thì lại gây nên sợ hãi. Dân nghèo cần có một tiếng nói, một tổ
chức và cần có thông tin; còn những người giàu có quyền thế thì cần có sự thuyết phục và bảo đảm.
Đường lối chính trị không chꢂ ước mà có được. Những thành tố quyền lực, các nhà lãnh đạo quốc
gia và các Liên minh rộng rãi cần phải hợp tác để phấn đấu cho sự thay đổi.
Tuy nhiên, Trao quyền pháp lý không đòi hỏi những người chủ trương lãnh đạo chính trị phải là
những vị thánh (mặc dù điều đó có thể rất cần thiết) nhưng chꢂ cần công nhận một quyền tư hữu rõ
ràng. Vốn chính trị quan trọng là rất cần thiết đối với nhà cải cách vì hoạt động kinh tế phi chính
thức thấy được các cơ hội trong khuôn khổ của hệ thống chính thức, cơ sở thuế má cần phải được
mở rộng. Hoạt động kinh tế bổ sung do kết quả của việc Trao quyền pháp lý mà có sẽ tăng hơn
nữa các thu nhập của khu vực công. Vì ngày càng có nhiều người được hưởng lợi trong việc giảm
bớt tội phạm và duy trì điều kiện yên bình cho nên cơ sở chính trị của các nhà chủ trương cải cách
sẽ được mở rộng. Hơn nữa, đội ngũ lãnh đạo cần có một tầm nhìn đáng tin cậy về tương lai. Việc
Trao quyền pháp lý đưa lại những khái niệm mạnh mẽ hơn về tự do, công bằng và đoàn kết và do
đó có thể vẽ nên một viꢃn cảnh hùng hồn hơn, có sức thuyết phục hơn. Mọi người đều quán triệt
ngôn ngữ của việc thu hút người nghèo cùng tham gia, đặc biệt nếu hàng ngày họ phải chịu cảnh
bị gạt ra bên lề. Còn có được một di sản chính trị nào tốt hơn là được đóng góp lâu dài cho việc
phát triển đất nước mình, tạo cho dân chúng có được một cơ hội thực sự để cải thiện đời sống của
họ. Được thể chế hoá bằng pháp luật và thực tiꢃn, công cuộc trao quyền pháp lý chính là một di
sản vững bền.
Một vai trò chủ yếu đối với nền dân chủ
Nỗi thống khổ của người nghèo thường bꢁt nguồn từ việc người dân không được thừa nhận tiếng
nói trong những hệ thống chính trị; các cơ quan của chính phủ không bꢁt buộc phải có nghĩa vụ đáp
ứng các đòi hỏi của người dân, và những nhóm lợi ích đặc biệt khai thác các nguồn lực mà không
e sợ có sự nhòm ngó nào. Một chính thể dân chủ có thể khuyến khích phát triển các chính sách và
triển khai các chương trình đáp ứng mọi đòi hỏi của người dân. Chính thể này có những khuyến
khích và bảo vệ cho phép tất cả mọi công dân ngay cả những người nghèo nhất có thể thưởng công
cho các quan chức nào hành động vì lợi ích của nhân dân và quy trách nhiệm cho những ai không
thể đáp ứng được nhu cầu của họ. Điều đáng chú ý là chưa có một nước dân chủ nào từ xưa đến
nay không phải trải qua nạn đói .
Trong khi Chính phủ các nước phi dân chủ có thể bảo đảm được an ninh và các dịch vụ cơ bản
thì các nước dân chủ chꢁc chꢁn sẽ đáp ứng được các nhu cầu của nhân dân theo cách mà người ta
thấy là hợp pháp. Có nhiều bằng chứng trên thực tế cho thấy rằng các nước dân chủ vượt các nước
chuyên quyền về tăng trưởng GDP tính theo đầu người và các chꢂ số khác về an sinh xã hội.49 ꢀ
các nước đang phát triển, cũng tồn tại sự gꢁn kết chặt chẽ giữa dân chủ và an sinh xã hội, mức thu
63
Pháp luật cho mọi người - Tập 1
thập đầu người như đã được xác định trong Báo cáo về Chꢂ số Phát triển Con người (HDI). Các cơ
chế tự sửa sai của nền dân chủ, rút ra từ những cuộc kiểm tra và những sự cân bằng do các ngành
Chính phủ đặt ra cũng tăng cường tính chịu trách nhiệm, giảm bớt tình trạng lạm quyền và đẩy
mạnh khả năng đáp ứng sự quan tâm của đa số các cử tri. Không gì có thể thay thế được quá trình
thực sự thu hút dân nghèo tham gia và bàn bạc, trong đó các quan điểm khác biệt nhau và lợi ích
của dân nghèo cùng những người bị gạt ra bên lề xã hội được cứu xét. Ba anh thợ giày chꢁc chꢁn
phải khôn ngoan hơn một Gia Cát Lượng.
Chꢁc chꢁn dân nghèo phải chịu đựng nhiều nhất từ tình trạng không có tiếng nói, không có đại
diện và ảnh hưởng - ngay cả trong những chế độ Chính phủ cởi mở và mang tính chất cạnh tranh.
Tình trạng gạt bên lề về chính trị cô đúc lại thành tâm lý an phận thủ thường và tin vào số phận đối
lập với các thể chế chính thức và những quá trình đề ra quyết định. Cần có nhiều nỗ lực để giúp
đỡ người dân tổ chức và tham gia một cách có hiệu quả trong việc gây ảnh hưởng đến các quyết
định tác động trực tiếp vào cuộc sống của họ cũng như tạo khả năng cho các chính Đảng và Quốc
hội đại diện tốt hơn cho những nhu cầu của cử tri. Một chính quyền quá tập trung thường là một
sự ngăn chở bất cứ sự tham gia có ý nghĩa nào của người dân cho nên phân quyền và trao quyền
pháp lý có thể củng cố lẫn nhau bởi vì Chính phủ nào gần dân thì chꢁc chꢁn sẽ là một chính phủ
do dân và vì dân nhiều hơn. Tuy nhiên, ngay cả dưới những chế độ phân quyền nhất, tình trạng gạt
ra bên lề vẫn có thể xảy ra cho nên các cơ chế chịu trách nhiệm giải trình hoạt động hữu hiệu cần
phải được ổn định đâu vào đấy.
Nhiều nền dân chủ rất mong manh. ꢀ đó thừa nhận nhiều vấn đề đặc hữu như nợ nần, dịch bệnh,
phân hoá sꢁc tộc, đói nghèo và cả tham nhũng. ꢀ nhiều nước, chế độ kiểm soát và cân đối đối với
chính quyền vẫn còn rất yếu. Nhưng trong khi vẫn còn tranh cãi xung quanh vấn đề liệu dân chủ
hoá có tạo điều kiện thuận lợi cho pháp quyền không thì vẫn còn sự bất đồng ý kiến rằng chính tiến
bộ trong việc thiết lập pháp quyền lại tạo điều kiện thuận lợi cho dân chủ hoá50. Cho nên, chính xác
hơn phải nói rằng dân chủ hoá và trao quyền pháp lý phải đồng bộ chứ không phải theo chân nhau
bởi vì chúng là những yếu tố tinh thần có quan hệ tương hỗ, có đi có lại tác động lẫn nhau khiến
không được phép rời bỏ nhau. Dân chủ có thể góp phần đẩy tới công cuộc Trao quyền pháp lý và
cả 2 là những thành tố quan trọng với việc phát triển.
Trao quyền pháp lý là đường lối kinh tế hữu hiệu
Trong nhiều năm, Venancio Andrade tần tảo kiếm sống một cách chật vật nhờ bán hàng nồi niêu
xong chảo trên những đường phố bụi bặm của Lima, thủ đô của Peru và cả những trị trấn xung
quanh nữa. Cuối cùng ông nảy ra sáng kiến cung ứng những bếp bằng nhôm và năm 1985, ông đã
thu gom đủ tiền để mua một mảnh đất trong một khu công nghiệp cằn cỗi ở ngoại ô Lima. Quyền
làm chủ tài sản đất đai này đã cho phép Andrade được vay tiền của Ngân hàng giúp cho công ty
bán bếp nhôm của ông phát triển lên. Và giờ đây, ông đang chꢂ đạo hiệp hội kinh doanh Villa El
Salvador, đó là một khu nhà ổ chuột rộng mênh mông gồm 400.000 dân mọc lên ở ngoại vi khu
công nghiệp. Ông Andrade 62 tuổi giờ đây mướn 5 nhân viên làm việc toàn thời gian trong biên
chế của ông. Vào những thời kỳ cao điểm của sản xuất, ông mướn tới 30 người. Theo sự tính toán
của ông, chính nhờ có được quyền sở hữu tài sản chính thức nên ông và nhiều tiểu thương khác
trong Villa El Salvador là những khách hàng lâu dài dưới con mꢁt của những Ngân hàng cho vay
trong tương lai. Ông Andrade giải thích: “Tín dụng cho phép tôi đáp ứng được những nhu cầu tăng
lên đối với những sản phẩm của tôi khi tôi cần mở rộng sản xuất”.51
Rất nhiều công trình nghiên cứu khẳng định rằng các thể chế hữu hiệu quan trọng có tính chất sống
còn đối với thành công lâu dài của các nền kinh tế. Thực vậy, từ xưa đến nay trong lịch sử, một số
còn cho rằng việc bảo đảm quyền sở hữu tài sản đã là yếu tố quyết định nhất đối với tình trạng tại
64
Trao quyền pháp lý là đường lối chính trị khôn ngoan và đường lối kinh tế hữu hiệu
sao một số nước lại trở nên giàu có trong khi những nước khác vẫn nghèo rớt mùng tơi.52 Điều này
không có nghĩa rằng quyền sở hữu tài sản là một bí quyết “Vàng” nhưng trên thực tế nó thường bị
lãng quên, đó chính là một thành tố cốt yếu của việc trao quyền pháp lý rộng rãi và nghị trình phát
triển có khả năng giúp cho các nước phát triển được nền kinh tế hiện đại của họ. Buộc các thể chế
và luật lệ phải phát huy tác dụng phục vụ cho lợi ích của quảng đại quần chúng chính là trung tâm
của chương trình nghị sự này.
Pháp luật có hiệu lực trên thực tế và thu hút được quần chúng dân nghèo được ban hành thông qua
các thiết chế hoạt động hữu hiệu sẽ đem lại rất nhiều các lợi ích kinh tế căn bản tới mức chúng
thường bị lãng quên. Chúng giúp cho các vụ giao dịch kinh tế dꢃ dàng hơn, tốn ít chi phí hơn.
Chúng tăng cường khả năng dự đoán trước, đảm bảo sự an toàn và tin cậy. Chúng tạo điều kiện
thực hiện được các hợp đồng lâu dài giữa những người xa lạ với nhau. Ngược lại, chính điều này
lại cho phép việc chuyên môn hoá và phân công lao động, kinh tế quy mô lớn, thương mại đường
xa và các chức năng tài chính chủ yếu khác như tín dụng và bảo hiểm được thực hiện. Những đặc
trưng như vậy đánh dấu sự khác biệt giữa một nền kinh tế sơ đẳng với một mô hình sản xuất và
trao đổi giản đơn khác biệt với một nền kinh tế được phát triển phức tạp và hiệu quả hơn. Pháp
luật hữu hiệu và công bằng cũng có thể đẩy mạnh cạnh tranh đầu tư và đổi mới. Vấn đề quan trọng
không phải là bản thân việc quy định hay bãi bỏ quy định mà chính là chất lượng của thể chế và
các thiết chế đi kèm.
Quyền bình đẳng ở đây chính là bình đẳng để bảo vệ và bình đẳng về cơ hội, đòi hỏi dân nghèo có
được sự bảo đảm cần thiết và một cơ hội công bằng tham gia vào nền kinh tế tri thức, nhưng ngay
cả tính hiệu quả cũng có nghĩa như vậy: nếu dân nghèo không thể phát huy hết tài năng của họ thì
chính tăng trưởng kinh tế sẽ chịu thiệt. Những sáng kiến và những khoản đầu tư có lợi sẽ không
được khai thác, tình trạng đói nghèo sẽ ăn sâu bén rꢃ và khả năng tiềm tàng bị lãng quên của người
dân, cuối cùng tăng trưởng kinh tế sẽ chậm lại.53
Tiếp sau cuộc đình công của công nhân dịch vụ vệ sinh môi trường và quản lý chất thải ở
Bogota vào giữa những năm 1990, Chính phủ địa phương đã yêu cầu những người bới rác giúp
đỡ. Đáp ứng lời kêu gọi của thành phố, họ đã xử lý được hơn 700 tấn rác thải hàng ngày. Phát
hiện thấy đây là một cơ hội làm ăn nên họ đã tổ chức nhau lại thành Hiệp hội những người
nhặt rác Bogota, một Hiệp hội của 25 hợp tác xã. Nhưng khi hợp đồng cung ứng các dịch vụ
quản lý rác thải rꢁn được đưa ra đấu thầu thì pháp luật và các điều kiện của cơ quan gọi thầu
đã ngăn trở họ không được tham gia dự thầu. Được sự hỗ trợ của các luật sư có thiện chí, hiệp
hội này đã đòi sửa đổi điều khoản bất công này của Hiến pháp và luật bảo vệ nhân quyền. Toà
án Hiến pháp của Bogota đã chấp nhận những lập luận của họ và đã cho họ khẳng định việc
thu hút dân nghèo tham gia vào các quy trình đấu thầu cạnh tranh có liên quan đến tham gia
quản lý rác thải.
Nguồn: Ruiz-Restrepo 2007
Trao quyền pháp lý có thể tạo nên một sự khác biệt trong phát triển. Tuy nhiên, nó không phải là
một liều thuốc chữa bách bệnh. Các điều kiện kinh tế vĩ mô lành mạnh cũng rất quan trọng, tính
cởi mở đối với thương mại và đối với nước ngoài quan trọng không kém. Đầu tư vào giáo dục đào
tạo, cơ sở hạ tầng và các dịch vụ chủ chốt là tối quan trọng. Được nhấn mạnh bởi công cuộc Tăng
cường Quyền lực Pháp lý, tất cả những yếu tố trên sẽ thúc đẩy sự tăng trưởng và công cuộc xoá
đói giảm nghèo trên quy mô lớn.
65
Pháp luật cho mọi người - Tập 1
Lợi ích của tiếp cận với công lý và pháp quyền
Để gặt hái được tất cả các lợi ích của việc ban hành quyền sở hữu tài sản, quy định rõ các mối
quan hệ lao động và đăng ký hợp pháp các doanh nghiệp, những quyền ấy phải được thể chế hóa
và phải xây dựng các thiết chế chức năng để thực thi pháp luật. Trong khi đo đếm giá trị kinh tế
của việc tiếp cận công lý là vô cùng khó khăn, thì nhiều công trình nghiên cứu nhận thấy rằng pháp
quyền đóng góp một phần có ý nghĩa đối với tăng trưởng kinh tế và xoá đói giảm nghèo. Còn các
công trình nghiên cứu nào chꢂ tập trung chú ý trên diện hẹp vào tác động của pháp quyền đối với
việc bảo đảm đầu tư của nước ngoài là chưa nêu hết được những lợi ích kinh tế thực sự của nó.
Những công trình nghiên cứu như thế thường bỏ qua giá trị đối với dân nghèo có khả năng được
bồi thường cho những thiệt hại của họ.54 Những công trình nghiên cứu ấy bỏ quên mất những lợi
ích lớn hơn của việc làm cho các vụ giao dịch kinh tế và các quan hệ mang tính dự đoán, minh
bạch và công bằng.
Việc tiếp cận công lý và pháp quyền cũng khiến cho việc giải quyết các tranh chấp dꢃ dàng hơn.
Xác định quyền sở hữu tài sản, như đất đai, quyền được khai thác mỏ, nguồn nước thường rất khó.
Các nhiệm vụ phải thực hiện các dịch vụ và những tài sản vô hình như các mối quan hệ khách hàng
có thể khó quy định được. Các mối quan hệ mà các tài sản này tích luỹ trong đó thường khó có thể
điều tiết trong một bản hợp đồng và đặc biệt đối với dân nghèo cũng vậy. Các cuộc tranh chấp chꢁc
chꢁn sẽ phát sinh, đặc biệt khi các mối quan hệ thay đổi. Vì thế, một toà án hoặc một nhà hoà giải
trung lập có thể góp phần tháo ngòi nổ của cuộc xung đột, giảm bớt tình trạng vi phạm và tạo điều
kiện cho dân nghèo có thể đòi được đền bù. Trong khi việc ban hành hợp đồng công bằng có giá
trị vô cùng to lớn thì chủ nghĩa hợp pháp một cách bừa bãi có thể gây nên tính phòng thủ dè chừng
và tình trạng bất chꢁc. Những bị cáo cần phải được bảo vệ chống lại sự đe doạ của những yêu sách
nhỏ nhọn, vô lối, gây nên những khoản tốn kém khổng lồ mà trên thực tế chính là một hình thức
tống tiền. ꢀ đây cần có một sự cân bằng hợp lý.
Lợi ích của quyền sở hữu tài sản
Quyền sở hữu tài sản cần được hiểu như là một tổ hợp các quyền hạn và nghĩa vụ giữa con người
với tài sản, phản ánh tính phong phú đa dạng của các hệ thống tài sản trên toàn thế giới. Trong tất
cả các hệ thống quyền sở hữu tài sản, việc thực hiện được sự bảo đảm và tính tiên đoán là điều
căn bản. Hệ thống tài sản là một khía cạnh trung tâm của chức năng hoạt động của nhà nước và là
những chꢂ số quan trọng của tính hữu hiệu của hoạt động chức năng nói trên. Về mặt kinh tế, để
hoàn toàn có thể sinh lời, các tài sản cần phải được công nhận một cách chính thức bởi hệ thống
quyền sở hữu tài sản một cách hợp pháp. Thể hiện chúng bằng những văn bản quyền sở hữu và hợp
đồng chuẩn theo luật quy định sẽ cho các hộ gia đình và các doanh nghiệp quyền sở hữu được bảo
đảm, bảo vệ họ không bị di chuyển vô lối. Việc giải toả di dời chꢂ có thể cho phép trong những tình
huống ngoại lệ bằng quy trình pháp lý đúng đꢁn và chꢂ trong trường hợp có khả năng thực thi hợp
lý. Quá trình này cần phải được thảo luận và phải mang tính độc lập. Việc giải toả di dời cũng chꢂ
được tiến hành với điều kiện được đền bù, bồi thường đầy đủ và chꢂ trong những tình huống nơi an
toàn về tính mạng và tài sản bị đe doạ, nơi chưa có các cam kết hợp đồng và nơi các thủ tục công
bằng và rõ ràng có thể thực thi được.
66
Trao quyền pháp lý là đường lối chính trị khôn ngoan và đường lối kinh tế hữu hiệu
Quyền hạn của các tộc người bản địa tuỳ thuộc vào, và có quan hệ tương hỗ với một loạt các
biện pháp và chính sách như là các biện pháp chính sách liên quan đến chế độ sở hữu ruộng
đất, chế độ sở hữu đất đai, việc bảo vệ các giống loài có nguy cơ tuyệt chủng, y tế, lương thực
và nông nghiệp, chất lượng nước, quyền tiếp cận và khai thác các nguồn tài nguyên, quản lý
môi trường, bảo tồn trái đất và bảo vệ di sản văn hoá. Trong phạm vi khuôn khổ lớn hơn này,
quyền sở hữu trí tuệ có thể góp phần tạo ra và bảo vệ chính các quyền của dân bản địa. Một
thí dụ minh hoạ việc sử dụng quyền sở hữu trí tuệ liên quan tới các dược phẩm truyền thống ở
nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, trong lĩnh vực này, hàng ngàn bằng phát minh đã được
cấp trong những năm qua.
Nguồn: WIPO 2005
Quyền sở hữu tài sản, kể cả chế độ sở hữu đất đai, không chꢂ được bảo vệ bằng luật pháp mà còn
do việc gꢁn tài sản đó của dân nghèo với lợi ích của xã hội bằng cách tăng phạm vi giá trị của việc
bảo đảm chế độ sở hữu. Chẳng hạn, mở ra khả năng sử dụng chúng như là vật thế chấp để được
vay tín dụng, hoặc một khoản vay kinh doanh hoặc một vật thế chấp nói chung. Những hệ thống
đó khuyến khích việc tuân thủ bằng cách gꢁn chặt chủ sở hữu và người nꢁm giữ tài sản vào tài sản
đó, gꢁn chặt tài sản với địa chꢂ pháp lý và gꢁn chặt địa chꢂ với việc thực thi. Như vậy, cuộc cải cách
về tài sản nếu được thực thi đúng đꢁn, có thể tăng cường tiếp cận với địa vị pháp lý và với công lý.
Các văn bản về tài sản thống nhất các vụ giao dịch rải rác lẻ tẻ thành một hệ thống thống nhất phù
hợp về mặt pháp lý. Việc này có thể thống nhất các thị trường địa phương rải rác, và tạo khả năng
cho các doanh nghiệp có thể tìm ra được những cơ hội mới bên ngoài phạm vi trực tiếp của chúng.
Nếu không có các quyền sở hữu tài sản hữu hiệu quản lý bởi các cơ quan chức năng thì các nền
kinh tế tiên tiến sẽ bị teo đi. Ngược lại, nếu ban hành được thì chúng có thể cho phép những nền
kinh tế đang phát triển tiến những bước nhảy vọt. Ta xét trường hợp của Trung Quốc, một sự thách
thức khổng lồ của tình trạng đói nghèo và bất bình đẳng vẫn còn hiện hữu, cũng như một cuộc
tranh luận lớn có tính chất lịch sử về bản chất và mức độ của cải cách tài sản, nhưng kinh nghiệm
của Trung Hoa rõ ràng cho thấy, tính chất công cụ của quyền sở hữu đất đai trong việc tạo ra của
cải vật chất. Việc này đã được bảo đảm trên thực tế và bằng chứng là nền kinh tế bꢁt đầu được tự
do hoá từ những năm 1980 đã đem lại 7,4 nghìn tỷ đô-la Mỹ về vốn cho việc mở rộng kinh tế của
đất nước này. Con số này vượt ra con số 611 tỷ đô-la Mỹ đầu tư trực tiếp của nước ngoài và gần
46 tỷ đô-la Mỹ viện trợ của nước ngoài mà Trung Hoa đã nhận được.55
Có nhiều bằng chứng cho thấy rằng quyền sở hữu đất đai được bảo đảm sẽ đẩy mạnh đầu tư kinh
doanh. Các cuộc khảo sát ở Balan, Rumani, Nga, Slovenia và Ukraina cho thấy những doanh nhân
nào tin tưởng rằng quyền sở hữu tài sản của họ được bảo đảm thì thường tái đầu tư tới 40% thu
nhập của họ, nhiều hơn so với những người không tin tưởng.
Nông dân cũng chăm chꢂ cày sâu cuốc bẫm trên mảnh đất của họ. ꢀ Ghana và Nicaragua, người ta
thấy rằng nông dân nào được bảo đảm quyền sở hữu đất đai thì đầu tư nhiều hơn vào ruộng đất của
họ.56 Đất đai nông thôn ở Brazil, Indonesia, Philippin và Thái Lan tăng vọt về giá trị giữa 43% và
81% sau khi được công nhận quyền sở hữu. Giá trị đất đai tăng lên phản ánh đầu tư phát triển và
làm tăng cả năng suất, sản lượng và thu nhập trên đất đai đó. ꢀ Trung Hoa, tác dụng tổng hợp giữa
việc công nhận quyền sở hữu với tự do hoá giá cả đã làm tăng sản xuất nông nghiệp 42% giữa năm
1978 và năm 1984.57 Nông dân Thái nào được nhận quyền sở hữu đất đai thì sản suất tăng 25%
nhiều hơn so với những nông dân chưa nhận được quyền sở hữu đất đai. Giá trị của đất đai đô thị
cũng tăng lên mạnh mẽ sau khi được công nhân quyền sở hữu - 14% ở Mania, 25% ở Guayaquil,
58% ở Davao.58 Nó cũng khuyến khích người dân thực hiện như vậy đối với nhà cửa của họ. Một
67
Pháp luật cho mọi người - Tập 1
công trình nghiên cứu về một thị trấn ổ chuột ở Argentina cho thấy rằng, khi những người dân nhận
được quyền sở hữu hợp pháp đối với những ngôi nhà của họ thì số ngôi nhà với tường bao có chất
lượng tốt tăng 43% và những ngôi nhà có mái che tốt tăng 47%.59 Việc quy định quyền sở hữu tài
sản bảo đảm đối với đất đai ở Lima làm tăng chi phí về tân trang nhà cửa lên tới 68%.60
Khi các quyền sở hữu đất đai của người dân không được bảo đảm, họ phải giành khá nhiều nguồn
lực quý giá của mình vào việc bảo vệ nó và thường bị sa lầy trong các cuộc xung đột về ranh giới
đất đai. Một công trình nghiên cứu ở Peru thấy rằng gần phần nửa (47%) những ngôi nhà không
có quyền sở hữu lại phải thuê bảo vệ để trông coi. Nhiều gia đình có quyền bảo đảm hơn thì giành
được nhiều thời gian để tìm kiếm cơ hội, công ăn việc làm, vì vậy cũng khá hơn. Nhìn chung, việc
các thành viên trong gia đình dành hơn 45 giờ trong 1 tuần vào công việc sản xuất thì tương đương
với việc bổ sung thu nhập thêm của một người vào gia đình và phụ nữ có thể ở nhà để bảo vệ nhà
có lợi nhất.61
Trẻ em cũng được hưởng lợi. Chẳng hạn, các gia đình thuộc diện chương trình ở Pêru không bꢁt
trẻ em nghꢂ học để đi lao động kiếm sống mà có khả năng gửi chúng đến trường. Vì có thu nhập
cao hơn từ việc tăng thời gian lao động bên ngoài xã hội, nên họ không cần lao động trẻ em62. Tăng
cường quyền sở hữu tài sản với phụ nữ là một điểm nhấn trong đói nghèo và suy dinh dưỡng, vì
phụ nữ kiếm được nhiều tiền sẽ có xu hướng tăng các khoản chi cho việc nuôi con khoẻ, dạy con
ngoan. Do đó, bảo đảm cho phụ nữ có được quyền sở hữu tài sản hữu hiệu trên thực tế sẽ góp phần
củng cố gia đình và các ngành nghề một cách mạnh mẽ. Bảo vệ những tài sản mà họ hiện có là mối
quan tâm hàng đầu của dân nghèo. Mức độ đạt được bản thân nó sẽ trao quyền pháp lý của dân
nghèo, bảo đảm vững chꢁc cuộc sống của họ và khiến cho việc đầu tư vào tương lai của họ hấp
dẫn. Các quyền sở hữu tài sản là cần thiết và căn bản đối với cuộc sống và hoạt động của xã hội. Và
vì thế, không thể bỏ qua cải cách quyền sở hữu tài sản. Cũng chính vì lý do ấy mà cải cách có thể
kéo theo nhiều nguy cơ. Vì vậy, phải đặc biệt chú ý rút ra nhiều bài học từ những sai lầm trong quá
khứ, thời kỳ mà những lợi ích thường bị các nhóm đầu trùm trong xã hội nꢁm giữ chứ không phải
dân nghèo và bảo đảm rằng các cuộc cải cách về quyền sở hữu tài sản không làm suy giảm quyền
phụ nữ và quyền cộng đồng của các nhóm sꢁc tộc bản địa và những nhóm người du mục chăn nuôi
đang gặp khó khăn. Cần phải tìm hiểu nguyện vọng của họ để việc trao quyền pháp lý phải mang
lại kết quả rằng dân nghèo tham gia vào hệ thống các quyền sở hữu tài sản một cách tự nguyện do
họ nhận thấy có lợi nhiều hơn là thiệt. Đây là một chương trình đưa cải cách sát với tình hình thực
tiꢃn của địa phương và gꢁn với nhu cầu cũng như quyền lợi của những người dꢃ bị tổn thương.
Nhiều diện tích đất bản địa xưa nay và ngay cả bây giờ vẫn bị tuyên bố là đất công hoặc đất vô chủ
vì chúng được tập thể nꢁm giữ theo quan niệm về quyền sở hữu và cách tiếp cận không phù hợp
với những hệ thống sở hữu tài sản du nhập từ bên ngoài. Tình trạng thiếu vị thế, công nghệ và đăng
ký quyền sử dụng tập thể hoặc tài sản do một nhóm sở hữu đã để lại nhiều hậu quả đối với những
người nꢁm giữ tài sản bản địa và xã hội nói chung. Đây là một vấn đề then chốt đối với cải cách
sở hữu tài sản trên toàn thế giới. Để giải quyết những vấn đề như vậy ở các khu vực nơi được xoá
bỏ giới hạn và việc xác định các tộc người bản địa là khó khăn gian khổ. Vì vậy, tốt nhất nên tập
trung vào việc bảo đảm rằng các hệ thống đất bản địa được công nhận, được chuẩn hoá và được
lưu trữ hồ sơ phù hợp với pháp luật. Việc này sẽ gạt sang bên việc định nghĩa rꢁc rối ai là bản địa
và ai không phải là bản địa, mà lại có thêm lợi thế là tập trung vào các vấn đề hệ thống của các chế
độ chiếm hữu đất đai theo tập quán từ xưa đến nay.
Một thời người ta đã cho rằng chế độ chiếm hữu đất đai theo tập quán và đã gây ra tình trạng an
ninh không bảo đảm nhưng các công trình nghiên cứu cho thấy rằng chúng có thể linh hoạt và
phù hợp với các hoàn cảnh kinh tế thay đổi63. ꢀ nhiều nước đang phát triển, ở các nước Châu Phi
cận Sahara, chế độ sở hữu đất đai theo tập quán là một cách thích hợp, đỡ tốn kém chi phí đối với
68
Trao quyền pháp lý là đường lối chính trị khôn ngoan và đường lối kinh tế hữu hiệu
người nghèo ở nông thôn để giành được quyền tiếp cận đất đai. Một hộ gia đình, một ngôi làng,
một tộc họ hàng thường cùng nhau bảo đảm chống lại các nguy cơ cũng như tiếp cận tín dụng và
an ninh không chính thức. Như vậy, các chế độ sở hữu đất đai theo tập quán có khả năng cung cấp
một số chức năng kinh tế chủ chốt của một chế độ quyền sở hữu đất đai chính thức. Tuy nhiên,
điều vô cùng quan trọng là quyền của phụ nữ được bảo đảm. Các chế độ theo tập quán phải vượt
qua được thử thách về các nghĩa vụ nhân quyền cơ bản. ꢀ đâu tài sản có thể được đại diện dưới
một hình thức chuẩn thì ở đó chân trời của những hoạt động kinh tế của dân nghèo sẽ được rộng
mở. Khi chế độ sở hữu tài sản địa phương được lưu giữ tài liệu và được bảo vệ bằng luật pháp, thì
chúng có thể được tổng hoà hội nhập vào nền kinh tế quốc dân và quốc tế, bất kể chúng có những
đặc trưng, đặc thù gì.
Dù có thông qua chế độ chiếm giữ đất đai theo tập quán, quyền tập thể hoặc cá nhân cày cấy đất
đai hay không, thì dân nghèo cần phải được sử dụng tài sản của họ một cách hiệu quả. Nếu họ cần
bán nó để đối phó với một cuộc khủng hoảng thì họ rất có thể dꢃ bị đẩy ra khỏi đất đai của mình
hơn trước. Các lĩnh vực tất yếu của quyền lao động và kinh doanh là tối quan trọng đối với những
dân nghèo để kiếm được thu nhập đủ cho họ thông qua lao động và kinh doanh lương thiện để có
thể làm hậu thuẫn cho quyền sở hữu tài sản của mình.
Những lợi ích của quyền lao động
Nhiều người chấp nhận rằng lao động không phải là hàng hoá.64 Thị trường lao động khác với các
thị trường khác ở chỗ nó không những tạo ra giá trị mà còn hình thành sự phân bổ về thu nhập và
giàu có nữa. Trong khi tiến bộ đòi hỏi rằng cạnh tranh sẽ tiêu diệt các ngành kinh doanh thua lỗ thì
con người không thể bị quẳng ra đống rác được.
Không bꢁt trẻ em lao động cần phải khꢁc phục được thành kiến xã hội, xây dựng đủ trường
học với đầy đủ trang thiết bị và bồi thường cho các gia đình nghèo vì bị mất thu nhập do trẻ em
mang lại. Mặc dù các chi phí này cũng khá quan trọng, nhưng những lợi ích kinh tế của việc
xoá bỏ lao động trẻ em - năng suất cao hơn về thu nhập có được nhờ được học hành tốt hơn và
sức khoẻ được cải thiện hơn - sẽ vượt xa những chi phí đó.
Nguồn: UNDP IPC In Focus: Trẻ em trong xã hội đói nghèo, thꢀng 3 năm 2004.
Các vấn đề tư tưởng về xây dựng hoặc xoá bỏ quy chế xưa nay vẫn được bàn cãi chưa dứt. Tuy
nhiên, điều quan trọng hơn là vấn đề quy chế có thể được sử dụng như thế nào để đẩy mạnh công
việc tử tế, lương thiện cho dân nghèo lao động. Cần tập trung chú ý vào việc tìm kiếm đúng một thế
cân bằng giữa bảo đảm an ninh, các cơ cấu hỗ trợ và tính linh hoạt đối với các xí nghiệp cả trong
nền kinh tế chính thức lẫn phi chính thức, trong khi vẫn tiến hành các cuộc cải cách giảm bớt chi
phí của việc tham gia vào nền kinh tế chính thức đối với các doanh nghiệp nhỏ để cho quyền lao
động có thể được ban hành một cách hữu hiệu hơn. Và việc làm chính đáng có mang lại thu nhập
có thể đưa các cá nhân thoát được cảnh nghèo đói.65
Để đẩy mạnh làm ăn lương thiện, cần phải xoá bỏ tất cả các khía cạnh tiêu cực của tính cách phi
chính thức. Đồng thời, bảo đảm rằng các cơ hội mang lại đời sống và kinh doanh không bị triệt bỏ,
và tăng cường việc bảo vệ người lao động và các đơn vị kinh tế trong nền kinh tế phi chính thức
và việc hội nhập của họ vào nền kinh tế chính thức.66
Cung cấp cho người lao động quyền lao động vững chꢁc sẽ khuyến khích họ (và cả chủ mướn) đầu
tư vào những kỹ năng mới có thể tăng năng suất lao động của họ. Nó sẽ giúp cho họ có được khả
năng thương thảo mạnh hơn và cuối cùng là đồng lương cao hơn, phù hợp với năng suất lao động
69
Pháp luật cho mọi người - Tập 1
tăng lên của họ. Nó cũng giúp cho họ giành được một phần công bằng hơn về những lợi nhuận của
công việc kinh doanh, bảo vệ họ khỏi bị bóc lột và bảo đảm họ có được điều kiện lao động tốt hơn.
Người dân Uganda rất sợ phá sản và dẫn đến hậu quả là mất quyền tài sản cá nhân
Tham vấn quốc gia ở Uganda
Những người lao động được bảo đảm công ăn việc làm thường có động cơ nhiệt tình hơn. Họ muốn
đầu tư vào tương lai của họ và của con cái họ. Nếu họ cảm thấy rằng họ có 1 phần trong xã hội thì
họ sẽ đóng góp nhiều hơn cho cái phần đó, do đó quyền lao động hữu hiệu không chꢂ về người lao
động mà chúng còn làm phát triển nền kinh tế và xã hội.
Trong khi các quy chế lao động không phù hợp, không thích đáng có thể kìm hãm năng suất lao
động và khả năng tiếp cận công ăn việc làm tử tế, việc xoá bỏ quy chế có thể không có lợi cho sản
xuất và đẩy công nhân đến chỗ dꢃ bị tổn thương hơn, bất an hơn. Các quy chế lao động cần phải
tăng cường công ăn việc làm lương thiện mà không khuyến khích các doanh nghiệp xúi bẩy thuê
mướn người lao động một cách hợp pháp. Như vậy, trao quyền pháp lý có thể nâng cao năng suất
lao động cũng như điều kiện lao động tử tế.
Những lợi ích của quyền kinh doanh
Đăng ký hợp pháp có thể nâng cao năng suất lao động và khả năng sinh lời của các ngành kinh
doanh phi chính thức lên rất nhiều. Đăng ký có thể giúp họ định rõ ngôi thứ, tạo điều kiện cho việc
phân công và chuyên môn hoá lao động. Nó giúp họ tranh thủ được vốn mới, đồng thời tích luỹ
vốn mà họ kiếm được. Nó cho phép họ dám đương đầu với những rủi ro lớn hơn. Và do đó có thể
tận dụng được các cơ hội mới tiềm tàng có lợi hơn. Trong khi các ngành nghề truyền thống và phi
chính thức chꢁc chꢁn là có những điểm mạnh của chúng, dân nghèo cần phải có những cơ hội đăng
ký chính thức các ngành nghề kinh doanh của họ nếu họ muốn.
Các công ty trách nhiệm hữu hạn có khả năng nhiều nhất trong việc phát triển thể chế pháp lý.
Chúng cho phép một ngành kinh doanh là một thực thể pháp lý khác biệt với chủ sở hữu của nó.
Nó tách biệt tiền bạc cá nhân của những nhà kinh doanh với ngân quỹ của các ngành kinh doanh.
Nếu công việc kinh doanh đổ bể, thì gia đình người kinh doanh sẽ không bị mất gì; nếu nhà kinh
doanh gặp thời vận khó khăn thì ngành nghề kinh doanh vẫn còn tồn tại hoặc có thể đem bán cho
người khác. Nó khuyến khích những nhà kinh doanh nam cũng như nữ dám chấp nhận rủi ro lớn
hơn và do đó có thu nhập cao hơn.
Phần lớn là các ngành nghề kinh doanh phi chính thức hoạt động đối với khoản vốn rất hạn chế
của gia đình. Các nghề kinh doanh đôi khi có thể vay những khoản nhỏ từ tay những nhà tín dụng
phi chính thức, nhưng chꢂ được trong kỳ hạn ngꢁn và lãi suất rất cao. Những điều hạn chế về tín
dụng này ngăn trở các ngành kinh doanh phi chính thức không mở rộng được và đẩy chúng tới
những nguy cơ lớn hơn về tài chính cũng như trong vận hành. Các công ty đăng ký hợp pháp sẽ rất
dꢃ dàng trong việc gọi vốn. Thay vì dựa vào họ hàng và bè bạn để có đủ vốn, họ có thể phát hành
cổ phiếu để mở rộng sản xuất và vay mượn các cơ quan tài chính vi mô, ngân hàng và cuối cùng
là các thị trường vốn. Chi phí về vốn của họ thấp hơn nhiều vì họ có thể khai thác một nguồn tài
chính rộng lớn hơn, các nhà cho vay cảm thấy chꢁc chꢁn hơn vì họ sẽ được hoàn trả, và các nhà
đầu tư có thể buôn bán các cổ phiếu một cách dꢃ dàng hơn. Khi các hạn chế về vốn được giải toả
thì những khoản đầu tư mới bỗng nhiên trở nên dꢃ dàng hơn. Có thể đa dạng hoá các rủi ro của họ
và các cơ hội nꢁm vững hơn không bị lỡ như trước đây.
70
Trao quyền pháp lý là đường lối chính trị khôn ngoan và đường lối kinh tế hữu hiệu
Các chính sách đầu tư công đẩy mạnh việc sử dụng các công nghệ đòi hỏi nhiều lao động cải
thiện khả năng tiếp cận các hợp đồng công về mua sꢁm đối với các nhà thầu nhỏ địa phương ở
các nước dọc theo dãy núi Andes ở Nam Mỹ. Các hoạt động nằm trong biên độ từ các doanh
nghiệp vi mô phục vụ việc duy tu bảo dưỡng thường xuyên các đường bộ ở các vùng nông thôn
cho đến thu hút các doanh nghiệp vi mô tham gia vào việc thu gom rác thải và vệ sinh đường
phố ở các khu đô thị… Tuy nhiên, một công trình nghiên cứu của Tổ chức Lao động Quốc tế
cho thấy rằng tiếp cận việc mua sꢁm công đối với các nhà thầu địa phương nhỏ vẫn còn rất hạn
chế do các rào cản pháp lý và thể chế. Ví dụ, các nước có thể giới hạn các hợp đồng đối với
các doanh nghiệp có tên trong đăng ký nhà thầu quốc gia hoặc dành cho các kỹ sư công chính
hoặc các kiến trúc sư đã được công nhận. Do đó, một số khu vực đã phát hành một loại “thẻ
nhà thầu quy mô nhỏ” và đăng ký cho các nhà thầu địa phương tạo khả năng khai thác nhà thầu
nhỏ có thể triển khai các công trình cỡ nhỏ và vừa ở khu vực địa phương chꢂ đòi hỏi ở mức tối
thiểu nhất định
Nguồn: Yeng và Cartier van Dissel 2004, Tổ chức Lao động Quốc tế.
Các công ty chính thức cũng có thể nhận các hợp đồng và giữ các hợp đồng khác cho họ. Họ không
nhất thiết phải giành nhiều thời gian vào nguồn lực, theo dõi các đại lý và các đối tác của họ. Họ
thấy tốn kém ít hơn, dꢃ dàng hơn khi giao dịch trao đổi với những đối tác xa lạ và không phải dựa
vào họ hàng, bạn bè thân thiết hoặc các mối liên hệ địa phương. Nhiều thị trường mới mở ra đối
với họ. Nhiều công ty chính thức cũng mạnh hơn và có nhiều khả năng thích nghi hơn. Vì vốn của
một công ty gồm có tài sản hữu hình và vô hình như mối quan hệ tốt đẹp với khách hàng, cho nên
giá trị của nó lớn hơn là tổng số những gì nó có. Nếu người chủ sở hữu của một ngành kinh doanh
được đăng ký chính thức quyết định ra đi bằng cách bán các cổ phần của mình thì giá trị của nó
có thể chuyển giao ngay lập tức. Nhưng trong một ngành kinh doanh không chính thức, điều đó
không thể làm dꢃ dàng được. Tài sản của công ty là tài sản cá nhân của chủ công ty, cũng như các
mối quan hệ thương mại của công ty. Kết quả là hoạt động của các công ty phi chính thức thường
bị giải tán và vốn tích luỹ của những công ty ấy bị mất. Chẳng hạn, khi người chủ sở hữu một
công ty đăng ký chính thức qua đời thì con cháu của người đó được thừa hưởng cổ phần ở công ty
nhưng trong trường hợp một ngành kinh doanh phi chính thức, các con cháu chꢂ thừa hưởng các
của cải vật chất của công ty thôi. Do vậy, không lấy gì làm ngạc nhiên rằng các ngành kinh doanh
phi chính thức thường có tuổi thọ ngꢁn và phần lớn vốn tích luỹ bị mất.
Làm cho thương mại cân bằng và thu hút người nghèo tham gia
Trong nhiều thập kỷ gần đây, thương mại thế giới đã gia tăng, đem lại những lợi ích to lớn cho
phần lớn số dân trên thế giới. Tuy nhiên, nó còn có thể làm được nhiều hơn nữa để xoá đói giảm
nghèo và cải thiện cơ hội cho tất cả mọi người. Những thị trường mở bị chi phối bởi những luật
lệ chꢁc chꢁn cho phép những người mới tham gia, mới triển khai một cách đối xử công bằng
hơn, do đó tạo cho họ nhiều cơ hội hơn, kể cả những người sống trong cảnh nghèo nàn nhưng
trước đây bị gạt ở bên ngoài. Do đó, một hệ thống thương mại quốc gia và quốc tế dựa trên cơ
sở pháp luật là một người cầm chịch và một công cụ phát triển rất có ích.
Tiếc thay, Vòng Đàm phán Phát triển Doha của WTO đã bị chững lại, những vấn đề cấp bách
của việc tiếp cận thị trường được cải thiện đối với các nước đang phát triển và các cơ hội được
đẩy mạnh đối với các nước nghèo nhất đã không tiến triển được. Mặc dù có những nỗ lực rất
đáng khen để nâng cao năng lực liên quan đến thương mại. ꢀ nhiều quốc gia, các chính sách
kinh tế đã không kích thích để tạo công ăn việc làm và tăng trưởng một cách công bằng. Ví dụ,
71
Pháp luật cho mọi người - Tập 1
nhiều nước dựa vào việc khai thác các tài nguyên thiên nhiên một cách cấp tập để kiếm ngoại
hối nhưng đã không kết hợp việc này với các chính sách tạo nên những ngành nghề mới, công
ăn việc làm mới xung quanh nó. Việc mở các thị trường phải được bổ sung bằng việc đổi mới
quản lý một cách thích đáng. Mở cửa thị trường sẽ dẫn đến tình trạng có kẻ thꢁng người thua
mặc dù các biện pháp đi kèm như phát triển kỹ năng, cơ sở hạ tầng, các mạng lưới an toàn có
thể góp phần giảm thiểu các tác động tiêu cực. Vì thế, các chính sách liên quan đến thương mại
là những động lực quan trọng trong việc tăng cường thay đổi và năng suất lao động.
Trao quyền pháp lý có thể đóng một vai trò trong vấn đề này. Việc bị gạt ra ngoài lề không
được hưởng các quyền sở hữu tài sản, kinh doanh, và lao động khiến mọi người, mọi ngành
kinh doanh không được hưởng lợi từ việc nꢁm bꢁt được các cơ hội kinh doanh xuyên biên
giới. Chẳng hạn ở Mexico, chꢂ có 7% các doanh nghiệp có tư thế pháp nhân và giấy tờ cần
thiết để buôn bán với Hoa Kỳ và Canada theo Hiệp định Thương mại Tự do Khu vực Bꢁc Mỹ
(NAFTA). Đối với Peru, chꢂ có 2% có thể giao dịch thương mại quốc tế mà thôi. Mở rộng sự
tiếp cận các quyền hạn pháp lý sẽ cho thêm nhiều nhà kinh doanh địa phương cơ hội được
hưởng lợi ích của thương mại.
Các doanh nghiệp có đăng ký được quyền tiếp cận lớn hơn, không những với các thị trường
mà còn với các nguồn lực cần thiết để tăng trưởng kinh doanh và gặt hái các lợi ích kinh tế to
lớn và do đó có khả năng cạnh tranh hơn. Tiếp cận nguồn tài chính là rất quan trọng nhưng tiếp
cận với việc chia sẻ rủi ro thông tin và đào tạo cũng quan trọng không kém. Phần lớn các tiểu
nông và các nhà doanh nghiệp nhỏ cảm thấy khó có thể tham gia xuất khẩu. Việc họ không có
khả năng thâm nhập các thị trường nước ngoài thường làm tăng lên tình trạng bất bình đẳng về
giới, vì phụ nữ chiếm một tỷ lệ rất cao trong các loại hình này. Họ cần có những cuộc cải cách
về quyền sở hữu tài sản, kinh doanh và lao động để có được cơ hội tham gia thương mại. Họ
cần những sản phẩm, dịch vụ và các biện pháp tài chính đổi mới để bảo vệ những người lao
động phi chính thức thông qua các Dự án việc làm và bảo hiểm y tế được bảo đảm, được điều
tiết về mặt pháp lý.
Một nhược điểm khác nữa của các doanh nghiệp phi chính thức chính là họ thường không có
ngôi thứ và các vai trò chuyên môn hoá rõ ràng bởi vì thuê mướn lao động là tốn kém và các hợp
đồng không thể thực thi, phần lớn các nhiệm vụ lại tập trung trong tay của gia đình hoặc bè bạn
thân thiết. Ngôi thứ trong gia đình thường chiếm chỗ ngôi thứ trong kinh doanh và việc này có xu
hướng ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh. Vì các công ty pháp lý có thể thực thi các hợp đồng,
cho nên họ có thể thuê mướn những người nước ngoài. Việc này giúp họ có khả năng tiếp cận với
nguồn tài năng to lớn hơn rất nhiều. Việc đăng ký pháp lý cũng cho phép các công ty phân công
trách nhiệm giữa các lao động có chuyên môn được tổ chức thông qua các thứ bậc kinh doanh, tận
dụng được tối đa khả năng của nhân viên. Việc này sẽ làm tăng năng suất lao động lên rất nhiều.
Nhân viên được chuyên môn hoá ở những lĩnh vực mà họ làm được tốt nhất trong khi chi phí xử lý
thông tin viꢃn thông phối hợp các hoạt động sản xuất, thu thập và phổ biến tri thức được giảm bớt.
Lợi ích của việc trao quyền pháp lý của người nghèo
Những lợi ích của việc trao quyền pháp lý rất sâu xa, giải phóng tiềm năng của con người để đem
lại những kết quả khiến mọi người phải ngỡ ngàng, cũng ngang như quy mô của vấn đề. Hơn nữa,
Uỷ ban cũng đã có được một nghị trình tổng hợp cho thay đổi.
72
Không hề có những ấn định về kỹ thuật
cho phát triển vì các bối cảnh quốc gia
và địa phương khác nhau, cho nên điều
tối quan trọng là nghị trình cải cách phải
xuất phát từ những điều kiện của địa
phương và từ những thực tiễn và nhu cầu
của dân nghèo
Chương
4
Nghị trình cho thay đổi
Nhà nước có nhiệm vụ phải bảo vệ các công dân và công dân có quyền được bảo vệ. Như vậy các
hệ thống pháp lý cần phải thay đổi và thay đổi này phải có tính chất hệ thống nhằm thiết lập được
một cân bằng mới giữa quyền lực của chính phủ và quyền hạn của công dân. Những điều kiện
khung cơ bản của các xã hội – đó là hệ thống pháp luật quốc gia cũng như quy trình ban hành
luật - đều phải được cải cách.
Chương này đề ra một nghị trình cho thay đổi với một loạt các biện pháp cho 4 trụ cột của công
cuộc trao quyền pháp lý. Nghị trình này rút ra từ công việc của 4 nhóm công tác theo chủ đề của
Uỷ ban, những báo cáo của họ đều được ấn hành riêng rẽ. Nghị trình này trình bày những giải
pháp thay thế vững chꢁc cho các cơ quan chính phủ, khu vực tư nhân, xã hội dân sự (kể cả các
việc nghiên cứu) và các tổ chức cộng đồng. Một nghị trình cải cách tổng hợp sẽ có ảnh hưởng lớn
nhất tới đời sống của dân nghèo. Tuy nhiên do tình hình các nước khác nhau, cả về phương diện
bối cảnh quốc gia lẫn các thách thức đối với dân nghèo, cho nên, điều tối quan trọng là nghị trình
cải cách phải xuất phát từ những điều kiện ở trong nước. Không hề có một con đường đúng đꢁn
thống nhất tiến lên phía trước cho tất cả được. ꢀ một số nước các biện pháp chính sách nhất định
sẽ mang tính bức xúc hơn các nước khác và thời hạn cũng như trình tự của quá trình cải cách cũng
khác nhau. Mọi quốc gia, mọi cộng đồng phải tự tìm cho mình con đường riêng trong quá trình
trao quyền pháp lý. Những người nghèo cải thiện mạnh mẽ đời sống của họ; trong mỗi giai đoạn,
cần phải có một sự kết hợp cần thiết với quá trình cải cách về trao quyền pháp lý và phải được áp
dụng đối với tất cả mọi người.
Nghị trình cho tiếp cận công lý
Để hệ thống pháp lý đóng một vai trò quan trọng trong việc trao quyền pháp lý cho dân nghèo thoát
khỏi nghèo đói thì cần phải có luật lệ quy định cho họ các quyền hạn một cách tổng hoà thích đáng.
Quyền lực, các đặc quyền đặc lợi và các quyền miꢃn trừ - giống như các cuộc cải cách trong các
thể chế công và một hệ thống thể chế và thiết chế có thể làm cho các quyền lực pháp lý này trở
nên có ý nghĩa trong thực tế. Là một phần của việc tiếp cận các nỗ lực pháp lý, cần phải rà soát,
đánh giá tất cả hệ thống thể chế. Các luật nào còn mang tính phân biệt đối xử với quyền lợi và cuộc
sống của dân nghèo cần phải được đánh giá và sửa đổi, bổ sung sát xao.
Các khả năng cải cách
Công lý
Các hệ thống đăng ký địa vị pháp lý được cải tiến và miꢃn phí đối với người sử dụng
Các hệ thống hữu hiệu dꢃ tiếp cận, dꢃ hiểu về giải quyết tranh chấp
Đơn giản hoá và tiêu chuẩn hoá pháp lý và các chiến dịch phổ biến pháp lý phục vụ dân nghèo
Các hệ thống hỗ trợ dân nghèo mạnh mẽ với các khung dịch vụ pháp lý mở rộng bằng các trợ
lý luật sư và các sinh viên luật
Cải cách cơ cấu tạo khả năng cho các nhóm cộng đồng chia sẻ các nguy cơ pháp lý
75
Pháp luật cho mọi người - Tập 1
Tài sản
Thể chế hoá một hệ thống quản trị quốc gia các quyền sở hữu tài sản có hiệu quả để đưa nền
kinh tế ngoài pháp luật vào trong nền kinh tế chính thức một cách hệ thống và mạnh mẽ, bảo
đảm rằng nó dꢃ dàng tiếp cận đối với mọi công dân
Đẩy mạnh một hệ thống quyền sở hữu tài sản bao gồm cho cả những dân nghèo, hệ thống này
tự động công nhận động sản và bất động sản do người chồng mua sꢁm được coi là tài sản chung
của những người vợ, kể cả người vợ ngoài hôn nhân cũng như kèm theo đó là pháp luật rõ ràng
về thừa kề
Tạo một thị trường chức năng hoạt động tốt cho việc trao đổi tài sản minh bạch và có khả năng
giải trình trách nhiệm tài chính
Bảo đảm rằng tất cả tài sản được mỗi nước công nhận đều được thực thi về mặt pháp lý bởi
luật pháp và rằng tất cả những chủ sở hữu đều có quyền tiếp cận cùng những quyền hạn và tiêu
chuẩn ấy
Tăng cường quyền sở hữu tài sản, bao gồm bảo đảm chế độ sở hữu đất đai, thông qua các chính
sách công về xã hội và các chính sách khác, như là tiếp cận nhà ở, những khoản vay lãi suất
thấp và sự phân phối đất công
Các hướng dẫn pháp luật cho việc giải toả cưỡng bức, bao gồm cả những khoản như bồi thường
công bằng
Công nhận một loạt chế độ sở hữu đất đai, gồm cả các quyền theo tập quán, các quyền của
những tộc người bản địa, quyền của các nhóm người, các giấy chứng nhận…, kể cả việc tiêu
chuẩn hoá và thể chế hóa các tập tục này vào trong hệ thống pháp luật
Các vụ kiểm toán với những kiến nghị được in ấn, phát hành để giảm bớt các vụ xâm chiếm
đất công một cách phi pháp
Các thủ tục được đơn giản hoá để đăng ký và chuyển giao đất và tài sản
Lao động
Các quyền cơ bản tại nơi lao động, đặc biệt quyền tự do lập hội, thảo luận tập thể và không
phân biệt đối xử
Chất lượng quy chế lao động được cải thiện và việc ban hành quy chế đó
Sự tiếp cận của dân nghèo với việc bảo hộ xã hội tách khỏi quan hệ việc làm, quyền lao động
(như chăm sóc y tế và an toàn lao động), số giờ lao động, thu nhập tối thiểu) áp dụng với các
lao động trong nền kinh tế không chính thức.
Nhiều cơ hội hơn cho giáo dục, đào tạo và tái đào tạo
Kinh doanh
Các khuôn khổ đúng đꢁn về pháp luật, gồm các hợp đồng thương mại có khả năng thực thi, các
quyền sở hữu tài sản tư nhân, sử dụng các vị trí công cộng
Các giao dịch thương mại công bằng giữa các doanh nghiệp phi chính thức và các công ty
chính thức. Các dịch vụ tài chính, phát triển kinh doanh và tiếp thị đối với các doanh nghiệp
phi chính thức
Các khuyến khích vật chất đối với doanh nghiệp vi mô, gồm việc mua sꢁm của Chính phủ,
giảm thuế, và trợ cấp. Bảo trợ xã hội cho các kinh doanh phi chính thức
76
Nghị trình cho thay đổi
Bảo đảm mọi người đều có địa vị pháp lý
Địa vị pháp lý là hòn đá tảng của việc tiếp cận công lý. Để bảo đảm địa vị pháp lý cho tất cả mọi
người cần giải quyết một số vấn đề như thiếu năng lực trong các hệ thống đăng ký hộ khẩu của nhà
nước, xoá bỏ các loại phí đánh vào người sử dụng có liên quan đến hệ thống này, hỗ trợ việc mở
rộng phạm vi, và nếu cần thiết, kết hợp các dịch vụ đăng ký với các dịch vụ xã hội khác hoặc các
hoạt động truyền thống. Nó cũng đòi hỏi đề ra được những khuyến khích vật chất để đăng ký địa
vị pháp lý với nhà nước bằng cách cung cấp thông tin, hoạt động thông qua các bên trung gian địa
phương đáng tin cậy và giảm thiểu bất cứ hậu quả có hại nào của việc đăng ký chính thức. Mục
tiêu cuối cùng là không phải tăng tỷ lệ đăng ký mà là cải thiện khả năng tiếp cận việc bảo hộ và
các cơ hội. Mặc dù việc phân phối chꢂ riêng các giấy khai sinh thôi cũng không thể dẫn tới những
mục tiêu này nhưng nó phải được hiểu là một thành tố của một chương trình nghị sự rộng lớn của
công cuộc trao quyền pháp lý.
Cải thiện khả năng tiếp cận công lý trong bộ máy quan liêu của Chính phủ
Rất nhiều người nghèo đang phải trông dựa vào hệ thống hành chính quan liêu, dù nó liên quan đến
địa chính, quy hoạch đô thị, đăng ký tài sản và kinh doanh hay tiếp cận các đề án tín dụng công.
“Luật pháp không phải là một thứ ta phát minh ra ở một trường đại học; luật pháp chính là cái
ta tự khám phá ra. Những người nghèo đã có những sự đồng tâm nhất trí giữa họ với nhau, các
khế ước xã hội và những gì ta cần phải làm là tiêu chuẩn hoá về chuyên môn những khế ước đó
để tạo dựng được một hệ thống pháp lý mà mọi người đều công nhận và tôn trọng”
Hernando de Soto
Có thể những hệ thống này dꢃ bị lạm dụng bởi những người có chức có quyền, phục vụ lợi ích của
số ít người thông qua tham nhũng và tình trạng thiếu minh bạch chứ không phát huy tác dụng là
một khuôn khổ cho việc trao quyền pháp lý của đa số người. Do vậy, cải cách cần bao gồm cả việc
tiếp cận công lý về hệ thống pháp luật được cải tiến mà cả tiếp cận công lý được cải tiến ngay trong
chính bộ máy quan liêu của Chính phủ. Giải quyết các vấn đề của hệ thống quan liêu hành chính
có thể kéo theo các cuộc cải cách hành chính như là cải tiến quá trình xét xử của bộ máy quan liêu
cùng các thủ tục khiếu nại, theo đuổi cải cách dịch vụ dân sự nhằm mở rộng các cơ hội cho việc
khuyến khích về thực hiện trong việc quản lý của Chính phủ và tăng phân quyền và tình trạng dôi
dư trong việc cung ứng dịch vụ của bộ máy quan liêu. Cải cách pháp luật hành chính gồm việc mở
rộng một cách đúng mức quyền tự do của pháp luật về thông tin, các yêu cầu về những lời tuyên
bố có ảnh hưởng và bảo hộ cũng như việc giám sát tư pháp có giới hạn nhưng đúng mức đối với các
thủ tục hành chính cũng có thể quan trọng trong việc tăng cường tiếp cận với công lý hành chính.
Mở rộng quy mô các dịch vụ pháp lý cho dân nghèo
Tiếp cận công lý phần lớn phụ thuộc vào tiếp cận hợp lý các dịch vụ pháp luật. Có thể thực hiện
việc này bằng nhiều cách mà một cách là tự do hoá từng bước thị trường dịch vụ pháp lý bằng cách
giảm bớt các rào cản về quy chế - như là các hạn chế đối với việc hành nghề luật trái phép – đối
với những người cung ứng dịch vụ kể cả những người không phải là luật sư – những người muốn
được cung cấp các dịch vụ pháp lý cho dân nghèo. Một cách khác nữa là thiết kế các hệ thống trợ
giúp pháp lý hữu hiệu, chúng có thể mang lại nhiều hơn sự trợ giúp pháp lý của những luật sư67 và
các sinh viên luật cũng như việc kết hợp trợ giúp pháp lý với các dịch vụ khác.
Xét vai trò của các hiệp hội luật gia trong nước và quốc tế và tầm quan trọng của việc tăng cường
mối quan hệ hiệu quả với các hiệp hội luật, cần phải phát triển các chương trìnhtrợ giúp pháp lý
có trọng tâm, chủ đích và có thể phát huy tác dụng. Các tổ chức luật có thể góp phần thu thập và
77
Pháp luật cho mọi người - Tập 1
phổ biến thông tin trong cộng đồng pháp lý về các vấn đề tiếp cận công lý, cung cấp việc giám
sát hữu ích và hỗ trợ chính trị cho việc tiếp cận các cải cách tư pháp, tăng tài trợ cho các dịch vụ
trợ giúp pháp lý cần thiết. Chúng cũng có thể góp phần xác định những ứng viên xứng đáng nhất
cho việctrợ giúp pháp lý và cũng có thể đăng cai, chủ trì các chương trình giáo dục pháp luật theo
hướng đáp ứng các nhu cầu của dân nghèo.
Chẳng hạn ở Bangladesh, việc ly hôn bằng miệng bị Hiến pháp nghiêm cấm nhưng vẫn còn
phổ biến ở các cộng đồng nông thôn nghèo khổ. Một tổ chức phi Chính phủ ở Bangladesh cho
thấy rằng chꢂ riêng việc thông báo cho các thành viên của Toà địa phương chuyên xử theo tập
quán rằng việc ly hôn bằng miệng là không hợp pháp cũng đã giảm được đáng kể tập tục này.
Cũng có thể giới thiệu và áp dụng các quy định của pháp luật quốc gia vào thực tiꢃn hòa giải ở
cộng đồng dựa trên tập quán và các chuẩn mực truyền thống.
Các cải cách có liên quan bao gồm tăng khả năng tài chính của dân nghèo cho các khiếu kiện mang
tính tích cực và mở rộng cơ hội cho hình thức đại diện các khiếu kiện mang tính đại diện như các
vụ kiện tập thể đồng loạt. Việc tăng khả năng tài chính của dân nghèo đòi hỏi phải có sự tự do hoá
thích hợp cho tài trợ, có thể bao gồm việc tăng cường bảo đảm cho các phí phát sinh, tạo cơ hội
cho bên thứ ba đầu tư hỗ trợ cho các khiếu kiện. Bên cạnh việc các vụ kiện tập thể còn có một số
khiếm khuyết thì sự kiện nơi nhiều nạn nhân cùng chịu tổn thương tương tự về mặt pháp lý (thường
là nhỏ) có thể cùng nhau phát đơn kiện cũng có những ưu điểm xét trên khía cạnh có được cơ hội
cho các nạn nhân cùng đồng loạt tham gia khiếu kiện, và bằng cách đó cải thiện được sự tiếp cận
của họ với công lý.
Việc quản lý Toà án
Tất cả mọi người, trước hết là dân nghèo phải có quyền thực sự tiếp cận toà án để giải quyết các vụ
tranh chấp dân sự và thực thi các quyền của họ chống lại việc lạm dụng từ các nhóm quyền lợi có
thế lực tư nhân hay nhà nước. Trước hết điều này đòi hỏi các toà án phải được phân bổ hợp lý về
mặt địa lý theo số dân và tất cả các công dân phải quán triệt được các quy trình vụ kiện. Cải cách
về quản lý và tổ chức các toà án có thể đạt nhiều tiến bộ theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho
việc sử dụng các toà án, kể cả việc bố trí các phòng ban và kiốt thông tin để giúp cho các công dân
có thêm tin tức về vụ kiện của họ và về quy trình xét xử của toà án. Việc đòi hỏi phải tạo dựng và
cải tiến hệ thống toà án của quốc gia là rất khó khăn và mất nhiều thời gian, và nhiều dự án trước
đây đã không tới được dân nghèo.
Tuy nhiên, một số dự án thành công đã được triển khai đặc biệt là ở những nước có thu nhập trung
bình, nó làm tăng tính vô tư, tiến độ và khả năng đáng tin cậy của hệ thống các toà án.
Năm 2004, Chính phủ Serbia bꢁt đầu triển khai một hệ thống quản lý vụ án tự động trong hệ
thống toà án thương mại của mình, từ lâu vẫn là một pháo đài của tham nhũng. Hệ thống mới
này chọn lựa ngẫu nhiên các thẩm phán, người tham gia tố tụng phải nộp một mức phí, và cho
phép công dân theo dõi tiến độ các vụ án của họ trên mạng. Kết quả là có một sự tăng đáng kể
về tính minh bạch, hiệu quả và công bằng, đem lại việc giảm bớt 24% trong số các vụ án chưa
được giải quyết trong năm 2006, và giữa năm 2004 – 2006 giảm 38% thời gian cần có để thực
thi một hợp đồng.
Khuyến khích các Toà án chú ý tới quyền lợi của dân nghèo
Các toà án ở các nước kể cả của các nước theo luật án lệ hay luật dân sự đều tìm ra những cách thức
mới để sửa sai các bất công. Các thẩm phán đều có khả năng biến các quyền con người – quyền
78
Nghị trình cho thay đổi
công dân và chính trị, cũng như là kinh tế, xã hội và văn hoá – thành các đối tượng của luật. Luật
về tố tụng về các vụ án xã hội và luật về lợi ích công cộng ở Nam Á và Nam Phi đã cho thấy cần
phải tăng cường quyền lực của các toà án như thế nào để trở thành một tiếng nói thể chế đối với
dân nghèo. Những đổi mới này cần phải được thừa nhận và đưa vào các chính sách để cải tiến khả
năng tiếp cận công lý ở tất cả các nước68. Tạo khả năng cho các bộ máy tư pháp có thể áp dụng
được các chuẩn mực và tiêu chuẩn quốc tế về nhân quyền khi xét xử các vụ tranh chấp phát sinh
theo luật quốc gia hoặc trong nước sẽ phải tiến một bước dài theo hướng làm cho hệ thống pháp lý
có khả năng hơn về tăng cường quyền của dân nghèo.
Cải tiến cách giải quyết tranh chấp phi chính thức và theo tập quán
Mặc dù phần lớn trọng tâm của nghị trình trao quyền pháp lý là đặt vào cách thức làm thế nào để
đạt được trao quyền pháp lý thông qua các thể chế chính thức của nhà nước, nhưng đại da số dân
nghèo trên thế giới đều dựa vào thể chế phi nhà nước, tức các hệ thống công lý phi chính thức. Do
đó, điều quan trọng có tính chất sống còn là phải cứu xét công lý phi nhà nước và thiết lập cơ cấu
mối quan hệ giữa các hệ thống nhà nước và phi nhà nước một cách phù hợp. Các cuộc cải cách
trong diện các hệ thống pháp lý theo số đông có thể bao gồm cả việc kết hợp sự công nhận ngầm
hoặc chính thức đối với hệ thống công lý phi nhà nước bằng cách triển khai các chiến dịch giáo
dục và nâng cao nhận thức nhằm đẩy mạnh bước tiến của hệ thống công lý phi chính thức. Sự câu
thúc có mục tiêu đối với hệ thống phi nhà nước cũng quan trọng, đặc biệt về phương diện hạn chế
đối với các tập tục kéo dài tình trạng “nô dịch” đối với phụ nữ. Các hệ thống này cũng có thể được
tăng cường với sự hỗ trợ của xã hội dân sự và các tổ chức tại cộng đồng.
Trong nhiều trường hợp, cơ chế giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài với tư cꢀch là bên thứ 3 có
thể được coi là thành công. Những cơ chế này bảo vệ hữu hiệu các quyền hạn và/hoặc giải quyết
hiệu quả các vụ tranh chấp tài sản, đặc biệt đối với các phụ nữ bị tước quyền công dân. Nhìn chung,
thành công của việc giải quyết các vụ tranh chấp hoặc theo diện hệ thống nhà nước hoặc phi nhà
nước tuỳ thuộc vào tiêu chuẩn và tập quán nhất định, như quyền của dân nghèo được chꢂ định luật
sư bào chữa theo cách lựa chọn của họ để giải quyết vụ tranh chấp. Tuy nhiên, điều quan trọng ở
đây là các cơ chế giải quyết tranh chấp kể cả nhà nước hoặc phi nhà nước phải được công nhận là
hợp pháp và gꢁn với việc thực thi chính thức, và rằng các cơ chế đó không hoạt động hoàn toàn
bên ngoài cương vực của hệ thống pháp lý69.
Tạo khả năng tự bảo vệ bằng thông tin và tổ chức cộng đồng
Trong khi có một xu hướng nhất định cào bằng khả năng tiếp cận công lý với khả năng tiếp cận các
dịch vụ pháp lý, theo giả định cho rằng con đường duy nhất tiến tới công lý đều thông qua các luật
sư và các toà án, thường là cách lựa chọn đầu tiên (và đôi khi cũng là duy nhất) của người nghèo
là được thấy những gì mà người ta có thể tự làm được cho mình. Tăng cường quyền lực của dân
nghèo thông qua cách phổ biến thông tin chính thức đã được cải tiến và sự thành lập nhóm những
người đồng cảnh ngộ (tự bảo vệ ) là những chiến lược bước đầu tiến tới công lý. Rất có thể dân
nghèo không nhận được sự bảo vệ, cơ hội mà họ hoàn toàn có quyền được hưởng bởi họ không
nꢁm được luật pháp hoặc không biết cách xoay xở để giành lấy sự giúp đỡ của người nào đó, thì
người khác có thể cung ứng sự giúp đỡ cần thiết. Các công nghệ thông tin viꢃn thông hiện đại đặc
biệt phù hợp với sự can thiệp có tính chất hỗ trợ hướng theo việc tăng cường các nhóm cùng chia
sẻ thông tin, dạy cho dân nghèo biết về quyền hạn của họ và khuyến khích giáo dục thể chế phi
chính thức.
79
Pháp luật cho mọi người - Tập 1
Nghị trình cho quyền sở hữu tài sản
Xúc tiến một hệ thống quyền sở hữu tài sản thu hút được tất cả các dân nghèo
Một hệ thống quyền sở hữu tài sản ủng hộ dân nghèo và thu hút được tất cả dân nghèo tham gia
đòi hỏi có những luật lệ định rõ tập hợp các quyền hạn và nghĩa vụ giữa con người với tài sản.
Luật về tài sản cũng phải đề ra được những khả năng lựa chọn rõ ràng và đơn giản đối với tư cách
pháp nhân và quyền sở hữu công ty đối với các doanh nghiệp nhỏ và các hiệp hội theo tập quán
của người nghèo. Bảo vệ pháp lý về tính trách nhiệm hữu hạn cần phải được mở rộng tới các doanh
nhân vi mô nghèo khổ và các quyền sở hữu của cải hữu hình và vô hình của họ phải được công
nhận chính thức. Các khuôn khổ pháp lý tạo khả năng cho các hiệp hội nhà ở và đất đai cần phải
được tăng cường, cho phép tài sản cá nhân của những người có số tài sản hạn chế phải được kết
hợp với nhau.. Việc lưu trữ các văn bản giấy tờ về sở hữu tài sản được công nhận chính thức phải
được đặt dưới hình thức giấy chứng nhận đơn giản. Giấy này được công nhận chính thức đối với
các tập quán xã hội và chế độ chiếm giữ đất đai theo tập quán.
Nhà nước cần phải đề cao cơ sở tài sản của dân nghèo bằng cách tạo khả năng thực thi quyền làm
chủ trên cơ sở cộng đồng. Trong một số môi trường pháp lý, quyền sở hữu tài sản theo cộng đồng
đối với các tài nguyên thiên nhiên như đồng cỏ phục vụ chăn nuôi, núi rừng, sông suối, đánh bꢁt
thuỷ sản và khoáng sản lộ thiên là những cách thức truyền thống, hữu hiệu về các quyền kiểm soát
và quyền nꢁm giữ cho những ai có ít hoặc không có tài sản khác. Các hệ thống này cần phải được
công nhận và hoàn toàn được trân trọng chống lại việc chiếm giữ theo cách chuyên quyền độc
đoán. Đồng thời các cộng đồng phải được có cơ hội công nhận quyền sở hữu tài sản cá nhân trong
phạm vi cộng đồng và mở rộng ra cho những người bên ngoài cộng đồng. Tuy nhiên tuỳ bối cảnh,
nếu các doanh nghiệp tư nhân muốn khai thác các nguồn lực này, hoặc/và tìm cách đưa chúng ra
khỏi vòng kiểm soát của cộng đồng, trong khi cộng đồng có liên quan đang phải dựa vào các nguồn
lực đó để sống, thì theo đòi hỏi của cộng đồng, nhà nước có thể đại diện cho cộng đồng này tiến
hành can thiệp. Nhìn chung, việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên này cần phải được điều
tiết bằng những luật lệ và tiêu chuẩn rõ ràng, thấy trước được, có khả năng thực thi được, không
những đối với cộng đồng mà còn đối với chủ sở hữu tư nhân.
Cần nỗ lực giành quyền sở hữu tài sản cho một số chủ hộ ở các khu ổ chuột đô thị và những người
sống trong các khu nhà lụp xụp ở nông thôn thuộc diện đất của nhà nước bằng cách áp dụng một
loạt các biện pháp bao gồm các cơ chế tài chính, cung cấp cho họ những văn bản cần thiết cho
mảnh đất mà họ đã chiếm dụng hoặc bằng cách cung ứng cho họ những giải pháp thay thế phù hợp.
Các thị trường cho thuê đất đai thường đi bước đầu vượt ra khỏi tình trạng không có đất đai đối
với dân nghèo. Có các bảo đảm mạnh mẽ, minh bạch hơn nhằm tăng cường vị trí của dân nghèo ở
nông thôn và thành phố trong các vụ giao dịch cho thuê. Trong hôn nhân hoặc chung sống tự do,
các động sản và bất động sản do người đàn ông nꢁm giữ hoặc đã mua cần nghiꢃm nhiên được coi
là tài sản chung kể cả của người phụ nữ. Nguyên tꢁc thừa kế cần phải quy định rõ những người
thừa kế nam và nữ để ngăn chặn tình trạng phụ nữ và các trẻ em gái bị tước quyền thừa kế, nhằm
mục đích đảm bảo công bằng trong việc chia đất đai theo di chúc.
Pháp luật về ly hôn cũng phải đối xử công bằng giữa nam và nữ. Đẩy mạnh một hệ thống quyền sở
hữu tài sản có sự tham gia của dân nghèo trong việc lồng ghép các biện pháp nhằm tăng cường bảo
đảm chế độ chiếm hữu đất đai cần phải học hỏi từ những kinh nghiệm tổng hợp của các chương
trình đã có về quyền sở hữu kinh doanh nhằm bảo đảm thu hút được người nghèo nhất tham gia.
Một loạt các biện pháp chính thức cần phải được đưa ra nghiên cứu, xem xét. Những biện pháp
này bao gồm công nhận chính thức, đại diện đúng mức và thống nhất một loạt các hình thức chiếm
giữ đất đai như có quyền theo tập quán, các quyền của các tộc người bản địa, các quyền của nhóm
80
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu Pháp luật cho mọi người (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tai_lieu_phap_luat_cho_moi_nguoi_phan_2.pdf

