Áp dụng án lệ về kinh doanh thương mại trong hoạt động xét xử của tòa án tại Việt Nam

ÁP DỤNG ÁN LỆ VỀ KINH DOANH THƯƠNG MẠI TRONG HOẠT ĐỘNG  
XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN TẠI VIỆT NAM  
TS. Lại văn Trình  
Phó Chánh án TAND cấp cao tại Đà Nẵng  
CN. Nguyễn Vĩnh Lộc  
Thẩm phán TAND huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang  
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ÁN LỆ  
Án lệ xuất hiện từ đầu thế kỷ XI, khởi nguồn từ hệ thống Common law. Án lệ đã  
hình thành và được áp dụng tại nước Anh từ cuối thế kỷ XI, từ đó tạo ra hình thức pháp  
luật gọi là Thông luật. Thông luật ở Mỹ năm 1776 kế thừa Thông luật của nước Anh, có  
sự thay đổi phù hợp với tình hình, điều kiện của 13 bang thuộc Mỹ.  
Tại các nước thuộc hệ thống Common Law - Thông Luật (Anh, Mỹ, Canada,  
Úc...), án lệ là nguồn luật chính. Án lệ được hình thành từ tục lệ trong xét xử, sự hình  
thành của án lệ từ sự lặp đi lặp lại một giải pháp cho những vấn đề pháp lý tương tự nhau,  
tạo nên một chuỗi suy nghĩ trùng hợp về cách hiểu và áp dụng pháp luật. Nói cách khác,  
án lệ bao gồm những nguyên tắc rút ra từ vụ án trước đó, hoặc các vụ án mà các Tòa án  
khác phải áp dụng khi những vụ án sau có những tình tiết tương tự. Án lệ theo quan điểm  
của các nước có truyền thống thông luật gắn liền với nguyên tắc bắt buộc tuân theo án lệ.  
Tại các được thuộc hệ thống Civil law-Dân Luật (Pháp, Đức, Nhật Bản ... ), án lệ  
được coi là nguồn luật thứ yếu sau các văn bản thuộc luật thành văn, Tòa án cấp dưới  
không có nghĩa vụ phải tuân theo án lệ của Tòa cấp trên. Đối với các nước thuộc hệ thống  
Civil law, án lệ không có nhiều ý nghĩa trong sự phát triển hệ thống pháp luật các nước  
này mà nền tảng của nó phát triển từ Luật La Mã.  
Theo Từ điển Black’s Law, án lệ ở các nước thuộc hệ thống thông luật được hiểu  
là "các vụ án đã được giải quyết tạo cơ sở cho việc giải quyết các vụ án sau này với  
những sự kiện hoặc vấn đề pháp lý tương tự”.587  
Tại Anh, án lệ được hiểu như sau: “Theo nghĩa rộng, án lệ liên quan đến việc sử  
dụng các quyết định, bản án của các vụ án đã được xét xử trước đó như là những tuyên  
bố có quyền uy trong pháp luật và dùng để làm cơ sở cho giải quyết các vụ việc sau đó.  
Theo nghĩa hẹp, án lệ đòi hỏi Thẩm phán trong mỗi Tòa án cụ thể tôn trọng và tuân theo  
các bản án đã tuyên của các Tòa án cấp trên theo nguyên tắc bắt buộc”.588  
587  
Bryan A.Gamer ed (2004), Black’s Law Dictionary, 8th ed., tr.1102 trích trong tài liệu Nguyễn Bá Bình (2019),  
Án lệ và sử dụng án lệ trong đào tạo luật ở Việt Nam hiện nay, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr.9.  
588 Nguyễn Văn Nam (2012), Lý luận và thực tiễn án lệ trong hệ thống pháp luật của các nước Anh, Mỹ, Pháp, Đức  
và những kiến nghị đối với Việt Nam, NXB Công an nhân dân, tr.44  
337  
Tại Pháp, khái niệm án lệ hiểu theo nghĩa rộng là tất cả các bản án, quyết định của  
Tòa án đã tuyên trên lãnh thổ nước Pháp; theo nghĩa hẹp, án lệ là cách Tòa án giải thích  
và áp dụng pháp luật cho những vấn đề pháp lý lặp lại trong những vụ việc tương tự.589  
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì án lệ được hiểu là “Quyết định hoặc bản án  
của tòa cấp trên có giá trị bắt buộc đối với tỏa cấp dưới, tòa phá án cũng phải tôn trọng  
quyết định trước đó của bản thân mình”.590  
Theo Từ điển Luật học, án lệ là “Bản án đã tuyên hoặc một sự giải thích, áp dụng  
pháp luật được coi là tiền lệ làm cơ sở để các Thẩm phán sau đó có thể áp dụng trong  
các trường hợp tương tự”.591  
Trong thời kỳ phong kiến của Việt Nam, khái niệm án lệ không hiện hữu. Thời  
Pháp thuộc, các học thuyết pháp lý của Pháp ảnh hưởng đến hệ thống pháp luật Việt  
Nam, mang những đặc điểm của truyền thống pháp luật Civil Law. Hòa ước Giáp Thân  
năm 1884 đã phân định Việt Nam chỉ còn lại Bắc Kỳ và Trung Kỳ bị bảo hộ. Nam Kỳ trở  
thành thuộc địa của Pháp. Dân luật Việt Nam thời Pháp thuộc không được áp dụng thống  
nhất, Bắc Kỳ áp dụng Bộ Dân luật năm 1931, Trung Kỳ áp dụng Bộ Dân luật năm 1936,  
Nam Kỳ áp dụng Bộ Dân luật Giản yếu năm 1883592. Thời kỳ này đã xuất hiện án lệ với  
vai trò giải thích pháp luật, bổ sung những thiếu sót của các điều luật đã ban hành nhưng  
chưa được áp dụng nhiều trong thực tiễn. Thời kỳ các chế độ Việt Nam Cộng hòa đã thừa  
nhận án lệ với tư cách nguồn luật bổ sung, vai trò đã được nâng cao. Tuy nhiên, tại những  
thời kỳ này chưa đưa ra khái niệm án lệ cụ thể.  
Từ sau năm 1945, từ “án lệ” đã được sử dụng trong một số văn bản, xác định việc  
sử dụng án lệ có tính hướng dẫn. Thông tư số 422/TTG của Thủ tướng Chính phủ ngày  
19/1/1955, Thông tư số 19-VHH ngày 30/6/1955 của Bộ Tư pháp về áp dụng luật lệ,  
Thông tư số 92-TC ngày 11/11/1959 của Bộ Tư pháp - Tòa án nhân dân Tối cao giải  
thích và quy định cụ thể về nhiệm vụ và quyền hạn của các Tòa án phúc thẩm Hà Nội,  
Hải Phòng và Vinh.  
Tập san tư pháp số 03 năm 1964 có giải thích “Án lệ là một danh từ cũ đã được  
dùng từ thời Pháp thuộc. Án lệ là những quy tắc do các Tòa án trong khi vận dụng pháp  
luật để xét xử các vụ án cụ thể đã hình thành dần dần bằng cách hiểu và có thái độ giải  
quyết giống nhau một số điểm pháp lý, áp dụng luật một cách giống nhau trong nhiều vụ  
án”.  
Theo Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược  
hoàn thiện hệ thống pháp luật định hướng đến năm 2020 và Nghi quyết số 49-NQ/TW  
589 Trần Đức Sơn (2003), “Tìm hiểu hệ thống án lệ của Cộng hòa Pháp”, Thông tin khoa học xét xử số 5 năm 2003,  
TANDTC, tr.25, tr.26, trích trong tài liệu Học viện Tòa án (2019), Giáo trình án lệ và thực tiễn xét xử, NXB Đại  
học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội, tr.24, tr.25.  
590  
Trung tâm biên soạn từ điển Bách khoa Việt Nam (1995), Từ điển Bách khoa Việt Nam , tập 1, NXB Từ điển  
Bách Khoa, Hà Nội, tr.46.  
591  
Viện khoa học pháp lý Bộ Tư Pháp (2006), Từ điển Luật học, NXB Tư pháp và NXB Từ điển Bách khoa, Hà  
Nội, tr.13.  
592 Vũ Văn Mẫu (1961), Dân luật khái luận, NXB Bộ Quốc gia giáo dục, Sài Gòn, tr.279.  
338  
ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 giao cho  
Tòa án nhân dân Tối cao nhiệm vụ phát triển án lệ với nội dung: “Tòa án nhân dân Tối  
cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử , hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật,  
phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm”.  
Tại điểm c khoản 2 Điều 2 của Luật Tổ chức Tòa án quy định nhiệm vụ của Hội  
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: “Lựa chọn quyết định giám đốc thẩm của Hội  
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, có  
tính chuẩn mực của các Tòa án, tổng kết phát triển thành án lệ và công bố án lệ để các  
Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử”.  
Theo Quan điểm chỉ đạo tại Quyết định phê duyệt đề án “phát triển án lệ của Tòa  
án nhân dân tối cao” số 74/QĐ-TANDTC ngày 31/10/2012 thì “Án lệ là Quyết định giám  
đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Quyết định giám đốc  
thẩm của Tòa tuyên trách Tòa án nhân dân tối cao được Hội đồng Thẩm phán Tòa án  
nhân dân Tối cao thông qua, trở thành án lệ có giá trị tham khảo đối với Thẩm phán khi  
giải quyết các vụ việc cụ thể.  
Tại Điều 1 của Nghi quyết số 04/2019/NQ-HĐTP ngày 18 tháng 6 năm 2019 về  
quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ do Tòa án nhân dân Tối cao ban hành quy  
định “Án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp  
luật của Tòa án về một vụ việc cụ thể được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối  
cao lựa chọn và được Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao công bố là án lệ để các Tòa án  
nghiên cứu, áp dụng trong xét xử”.  
Như vậy, án lệ tại Việt Nam được hiểu là các lập luận, phán quyết trong bản án,  
có tính chuẩn mực, có giá trị làm rõ quy định của pháp luật còn có cách hiểu khác nhau,  
phân tích, giải thích các vấn đề, sự kiện pháp lý và chỉ ra nguyên tắc, đường lối xử lý,  
quy phạm pháp luật cần áp dụng trong một vụ việc cụ thể hoặc thể hiện lẽ công bằng đối  
với những vấn đề chưa có điều luật quy định cụ thể, có giá trị hướng dẫn áp dụng thống  
nhất pháp luật trong xét xử.  
Theo quy định này, án lệ tại Việt Nam không chỉ là những lập luận mà còn là  
phán quyết trong bản án, quyết định. Quan niệm này có sự khác biệt với bản chất của án  
lệ theo quan niệm của nhiều nước trên thế giới, khi mà án lệ là những lập luận, căn cứ để  
Tòa án phán quyết, chứ không phải là phán quyết trong bản án.  
II. KHÁI QUÁT THỰC TRẠNG ÁP DỤNG ÁN LỆ  
Tính đến ngày 30/11/2021, theo số liệu trên Trang thông tin điện tử Án Lệ của  
Tòa án nhân dân tối cao, đã có 43 án lệ các loại vụ việc, trong đó án lệ về tranh chấp dân  
sự gồm 24 án lệ (đối với trường hợp chưa có điều luật áp dụng), chiếm số lượng lớn hơn  
so với án lệ hình sự, án lệ hành chính, nội dung của án lệ dân sự liên quan đến các vấn đề  
về chia thừa kế, hợp đồng, đòi tài sản, tranh chấp về đất đai, lãi suất, bảo hiểm, về tố tụng  
(án lệ số 12 xác định trường hợp đương sự được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất sau khi Tòa  
án đã hoãn phiên tòa). Các án lệ này được lựa chọn và công bố đều xuất phát từ những  
vướng mắc trong thực tiễn xét xử, chủ yếu là những án lệ về quyền tài sản. Tòa án nghiên  
339  
cứu sử dụng án lệ để phán đoán quyết định vụ án, một mặt hỗ trợ cho quá trình tiến hành  
hòa giải giữa các đương sự trong vụ án, mặt khác để áp dụng án lệ khi xét xử theo điều  
kiện và nguyên tắc luật định.  
Sau hơn ba năm thi hành Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP đã phát sinh nhiều  
vướng mắc như: quy trình rà soát, phát hiện bản án, quyết định để phát triển án lệ còn  
chưa hiệu quả do rườm rà, phức tạp, chưa có hướng dẫn cụ thể về cách viện dẫn án lệ dẫn  
đến việc viện dẫn ở các Tòa án không thống nhất, chưa có quy trình thông qua án lệ theo  
thủ tục rút gọn đối với trường hợp đề xuất án lệ của Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao,  
lựa chọn án lệ của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao khi xét xử giám đốc  
thẩm, tái thẩm, một số hướng dẫn của Nghị quyết chưa cụ thể dẫn đến cách hiểu khác  
nhau khi áp dụng trong thực tiễn.593  
Ngày 18/6/2019, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao ban hành Nghị  
quyết 04/2019/NQ-HĐTP về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ chính thức có  
hiệu lực từ 15/7/2019 thay thế Nghị quyết số 03/ 2015/NQ-HĐTP ngày 28-10-2015 có  
một số thay đổi liên quan đến vấn đề áp dụng án lệ.  
Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP đã khắc phục được hạn chế của Nghị quyết số  
03/2015/NQ-HĐTP về việc hướng dẫn nguyên tắc áp dụng án lệ. Tuy nhiên, Tòa án nhân  
dân tối cao cần có hướng dẫn, giải thích chi tiết hơn, như về “tính chuẩn mực” của án lệ,  
việc viện dẫn án lệ (chẳng hạn tại phần “Quyết định” của bản án có ghi căn cứ án lệ  
cùng với các điều luật áp dụng hay không...). Khi xây dựng án lệ, cần cô đọng, khái hóa  
cao yếu tố pháp lý, nhất là tại các mục “Tình huống pháp lý”, “Giải pháp pháp lý”, giúp  
cho việc nghiên cứu, áp dụng án lệ được thuận lợi. Với khuynh hướng phát triển án lệ, số  
lượng án lệ các loại vụ việc thuộc nhiều lĩnh vực sẽ gia tăng, ngay từ đầu Tòa án nhân  
dân tối cao sớm có sự phân loại, hệ thống hóa án lệ, giúp việc tổng hợp, truy cập, nghiên  
cứu... thuận tiện hơn; đồng thời thường xuyên rà soát, đảm bảo tính hiệu lực của án lệ,  
phát hiện kịp thời các trường hợp án lệ bị bãi bỏ để công bố nhằm áp dụng pháp luật  
thống nhất.  
Quá trình tiến hành tố tụng, tính đến thời điểm ngày 30/11/2021, theo số liệu  
thống kê trên Cổng thông tin điện tử Tòa án, tổng số bản án và quyết định (được công bố)  
mà Tòa án có áp dụng án lệ là 1.208, trong đó:  
- Tòa án cấp huyện: 1.012;  
- Tòa án cấp tỉnh: 179;  
- Tòa án cấp cao: 17.  
III. THỰC TRẠNG ÁP DỤNG ÁN LỆ VỀ KINH DOANH THƯƠNG MẠI  
1. Án lệ về Kinh doanh thương mại  
a. Số Án lệ về Kinh doanh thương mại (KDTM):  
593 Học viện Tòa án (2019), Giáo trình án lệ và thực tiễn xét xử, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, tr.101.  
340  
Trong phạm vi chuyên đề này, thuật ngữ “Án lệ về KDTM” được phân định theo  
quyết định, bản án KDTM tạo nên án lệ. Hiện tại có 09 Án lệ về KDTM đã được công bố  
và đang có hiệu lực; tuy nhiên, trong đó có Án lệ số 12 hình thành từ Quyết định giám  
đốc thẩm về KDTM nhưng giải pháp pháp lý hướng dẫn chung về tố tụng dân sự (xác  
định trường hợp đương sự được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất sau khi Tòa án đã hoãn  
phiên tòa) nên tác giả không đề cập đến trong chuyên đề; còn lại 08 Án lệ về KDTM như  
sau:  
- Án lệ số 08/2016 về xác định lãi suất, việc điều chỉnh lãi suất trong hợp đồng tín  
dụng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm.  
- Án lệ 09/2016/AL về xác định lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường và  
việc trả lãi trên số tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại.  
- Án lệ số 11/2017/AL về công nhận hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất mà trên  
đất có tài sản không thuộc sở hữu của bên thế chấp.  
- Án lệ số 13/2017/AL về hiệu lực thanh toán của thư tín dụng (L/C) trong trường  
hợp hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là cơ sở của L/C bị hủy bỏ.  
- Án lệ số 21/2018/AL về lỗi và thiệt hại trong trường hợp đơn phương chấm dứt  
hợp đồng cho thuê tài sản.  
- Án lệ số 36/2020/AL về hiệu lực của hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất khi  
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị thu hồi hủy bỏ.  
- Án lệ số 37/2020/AL về hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm tài sản trong trường hợp  
bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm sau khi kết thúc thời hạn đóng phí bảo hiểm.  
- Án lệ số 43/2021/AL về hiệu lực của hợp đồng thế chấp trong trường hợp tài sản  
thế chấp là nhà đất do bên thế chấp nhận chuyển nhượng của người khác nhưng chưa  
thanh toán đủ tiền cho bên bán.  
b. Thực tiễn áp dụng:  
Quá trình giải quyết vụ việc kinh doanh thương mại, tính đến ngày 30/11/2021,  
theo số liệu thống kê trên Cổng thông tin điện tử Tòa án, tổng số bản án và quyết định  
(được công bố) mà Tòa án có áp dụng Án lệ về Kinh doanh thương mại là 371, trong đó:  
- Tòa án cấp huyện: 285;  
- Tòa án cấp tỉnh: 85;  
- Tòa án cấp cao: 01.  
2. Nội dung và ý kiến bình luận  
a. Án lệ số 08/2016/AL về xác định lãi suất, việc điều chỉnh lãi suất trong hợp  
đồng tín dụng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm.  
- Tình huống án lệ:  
Trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về lãi suất cho vay, gồm: lãi suất  
341  
cho vay trong hạn, lãi suất nợ quá hạn, việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ  
của Ngân hàng, tổ chức tín dụng cho vay mà đến thời điểm xét xử sơ thẩm khách hàng  
vay chưa thanh toán, hoặc thanh toán không đủ số tiền nợ gốc, lãi theo hợp đồng tín  
dụng.  
- Giải pháp pháp lý:  
Trường hợp này, khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng, tổ chức  
tín dụng khoản tiền nợ gốc chưa thanh toán, tiền lãi trên nợ gốc trong hạn (nếu có), lãi nợ  
quá hạn của số tiền gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong  
hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp các bên có thỏa  
thuận về việc điều chỉnh mức lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng, tổ chức  
tín dụng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán theo quyết định  
của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân  
hàng, tổ chức tín dụng cho vay.  
- Tính thuyết phục:  
Án lệ số 08 đã giải quyết hai vấn đề chính của hợp đồng tín dụng:  
Thứ nhất, đó là tính liên tục của lãi chậm trả trong quá trình xét xử;  
Án lệ theo hướng, lãi chậm trả được tính đến ngày xét xử sơ thẩm và ngay sau  
ngày xét xử sơ thẩm vẫn tiếp tục tính lãi cho đến khi thanh toán xong. Trong thực tiễn,  
nhiều Tòa án xét xử theo hướng chỉ tính lãi đến ngày xét xử sơ thẩm, sau đó trong phần  
quyết định của Tòa án tuyên khoản tiền đó phát sinh lãi kể từ thời điểm“có đơn yêu cầu  
thi hành án”. Điều này sẽ dẫn đến khoản tiền chậm trả bị gián đoạn trong việc tính lãi kể  
từ thời điểm xét xử sơ thẩm đến khi án có hiệu pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án,  
bất lợi cho người có quyền, dẫn đến việc người có nghĩa cố tình dây dưa, kéo dài thời  
gian sau khi xét xử sơ thẩm. Đối chiếu với quy định về trách nhiệm dân sự do chậm thực  
hiện nghĩa vụ dân sự, tại khoản 2 Điều 305 của Bộ luật dân sự (BLDS) 2005 (do Án lệ 08  
hình thành vào thời điểm BLDS 2005 đang có hiệu lực): “Trong trường hợp bên có nghĩa  
vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do  
Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán,  
trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”, trong Luật Thương  
mại 2005 thì được quy định tại Điều 306. Theo đó, nghĩa vụ trả lãi trên số tiền chậm trả  
được tính“tương ứng với thời gian chậm trả”, có nghĩa là khi nào chưa thanh toán xong  
thì khoản tiền đó vẫn còn phát sinh lãi chậm trả.  
Thứ hai, xác định mức lãi sau thời điểm xét xử;  
Thực tiễn xét xử trước khi có Án lệ 08, thì Tòa án địa phương tính lãi đến thời  
điểm xét xử với một mức lãi, sau khi xét xử lại tính lãi chậm trả với một mức lãi khác  
(thông thường theo mức lãi là lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước quy định). Cách  
xác định như vậy là không thống nhất, không đảm bảo về sự thỏa thuận của đương sự về  
mức lãi suất theo hợp đồng tín dụng được ký kết. Ngoài ra, trường hợp các bên có thỏa  
thuận về việc điều chỉnh mức lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng, tổ chức  
tín dụng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán theo quyết định  
342  
của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân  
hàng, tổ chức tín dụng cho vay.  
- Bình luận:  
Thứ nhất, hoàn cảnh tương tự có thể áp dụng Án lệ 08;  
Tranh chấp trong Án lệ 08 là tranh chấp về hợp đồng tín dụng giữa bên cho vay  
là tổ chức tín dụng và bên vay là doanh nghiệp. Hoàn cảnh tương tự cũng được áp dụng  
đối với tranh chấp về hợp đồng tín dụng giữa bên cho vay là tổ chức tín dụng và bên vay  
là cá nhân, hoặc tranh chấp về hợp đồng vay tài sản giữa cá nhân với cá nhân và ngay cả  
đối với các tranh chấp về nghĩa vụ chậm trả một khoản tiền ở một hợp đồng nào khác  
(hợp đồng mua bán, hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng dịch vụ,…) cũng được áp dụng, bởi  
Án lệ 08 được hình thành nhằm xác định tính liên tục của việc tính lãi đối với chậm thực  
hiện nghĩa vụ trả tiền mà không phân biệt nguồn gốc hình thành nghĩa vụ trả tiền.  
Thứ hai, việc tính lãi chậm trả;  
Trong phần nội dung của Án lệ cũng như phần khái quát nội dung Án lệ đề cập đến  
các khoản tiền: nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn trên nợ gốc, phí...; khi tính lãi chậm trả  
thì Án lệ 08 chỉ tính lãi chậm trả đối với nợ gốc, còn lãi chậm trả đối với các khoản tiền  
lãi, phí thì có phải chịu lãi chậm trả hay không, vấn đề này Án lệ không đề cập. Theo xu  
hướng chung, do Án lệ chỉ tính lãi chậm trả trên nợ gốc chưa trả nên các Tòa án đã không  
tính lãi chậm trả đối với tiền lãi chưa trả, đồng thời cũng để tránh tình trạng “lãi chồng  
lãi” trừ khi pháp luật có quy định. Tuy nhiên, do thời điểm xác lập giao dịch trong vụ án  
trên, thời điểm xét xử, thời điểm công bố Án lệ 08 trước ngày có hiệu lực của BLDS  
2015 (ngày 01/01/2017), lúc đó áp dụng BLDS 2005 thì chưa có quy định cụ thể về việc  
tính lãi đối với khoản tiền lãi chậm trả nhưng nay theo quy định mới tại khoản 5 Điều  
466 của BLDS 2015: “Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả  
không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau: a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận  
trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì  
còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này”; tức  
trường hợp chậm trả lãi trong hạn thì còn phải trả lãi trên khoản tiền lãi chưa trả theo mức  
lãi suất pháp luật quy định; điều này còn được thể hiện tại điểm b khoản 2 Điều 8 của  
Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP:“Trường hợp khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi  
trên nợ gốc theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng, thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi  
suất do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá mức lãi suất  
giới hạn mà pháp luật quy định tương ứng với thời gian chậm trả lãi trên nợ gốc trong  
hạn”. Do đó, từ thời điểm BLDS 2015 có hiệu lực, việc áp dụng Án lệ 08 cần phải được  
đối chiếu với quy định của pháp luật hiện hành để áp dụng Án lệ một cách chính xác.  
b. Án lệ 09/2016 về xác định lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường và  
việc trả lãi trên số tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại.  
- Tình huống án lệ 1:  
Hợp đồng mua bán hàng hóa bị vi phạm do bên bán không giao hoặc không giao  
đủ hàng cho bên mua, dẫn đến việc bên bán có nghĩa vụ hoàn trả số tiền ứng trước và  
343  
tiền lãi do chậm thanh toán.  
- Giải pháp pháp lý 1:  
Trường hợp này, tiền lãi do chậm thanh toán được tính theo lãi suất nợ quá hạn  
trung bình trên thị trường bằng mức lãi suất nợ quá hạn trung bình của ít nhất ba Ngân  
hàng tại địa phương tại thời điểm thanh toán (xét xử sơ thẩm), trừ trường hợp có thoả  
thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.  
- Tình huống án lệ 2:  
Hợp đồng mua bán hàng hóa có phát sinh nghĩa vụ trả tiền phạt vi phạm, bồi  
thường thiệt hại.  
- Giải pháp pháp lý 2:  
Trường hợp này, người có nghĩa vụ trả tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại  
không phải trả lãi trên số tiền phạt vi phạm, tiền bồi thường thiệt hại đó.  
- Tính thuyết phục:  
Án lệ số 09 đã giải quyết ba vấn đề:  
Thứ nhất, khoản tiền chậm trả làm phát sinh lãi.  
Trong Quyết định giám đốc thẩm hình thành Án lệ có đề cập đến 03 khoản tiền:  
tiền ứng trước, tiền phạt và tiền bồi thường thiệt hại.  
Đối với khoản tiền bên mua ứng trước cho bên bán nhưng sau đó bên bán không  
thực hiện đúng hợp đồng dẫn đến bên bán phải hoàn trả khoản tiền đã nhận cho bên  
mua. Theo Điều 306 của Luật Thương mại quy định:“Trường hợp bên vi phạm hợp đồng  
chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và chi phí hợp lý khác thì  
bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi  
suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán....”; như vậy đối với  
việc chậm hoàn trả tiền ứng trước thì có được xem là chậm thanh toán tiến hàng không.  
Án lệ số 09 đã xác định rằng chậm trả khoản tiền này sẽ làm phát sinh lãi chậm trả. Việc  
buộc bên bán phải trả lãi trên số tiền hoàn trả là thuyết phục, việc không thực hiện đúng  
hợp đồng là do lỗi bên bán trong khi bên bán đã nhận và khai thác khoản tiền đó nên khi  
chậm hoàn trả lại khoản tiền ứng trước thì bên bán phải trả lãi trên số tiền chậm hoàn trả.  
Còn đối với khoản tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại thì không làm phát sinh lãi chậm  
trả.  
Thứ hai, đối với lãi suất quá hạn do chậm thanh toán theo Điều 306 của Luật  
Thương mại;  
Tòa án thiết lập cách tính lãi suất nợ quá hạn này như sau: Lãi suất nợ quá hạn do  
chậm thanh toán = lãi suất nợ quá hạn trung bình của ít nhất ba ngân hàng tại địa phương  
(Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, Ngân hàng thương mại cổ  
phần Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam...).  
Án lệ này ra đời đã giải quyết những vướng mắc tại Điều 306 của Luật Thương mại liên  
344  
quan đến cách xác định lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh  
toán.  
Thứ ba, về mức lãi suất tại thời điểm thanh toán;  
Lãi suất của các ngân hàng biến động theo thời gian, trong khi đó theo Điều 306  
nêu trên quy định lấy mức lãi suất nợ quá hạn trung bình tại thời điểm thanh toán, vậy  
“thời điểm thanh toán” được xác định như thế nào. Án lệ 09 đã xem thời điểm thanh toán  
là thời điểm xét xử sơ thẩm; nội dung này hoàn toàn thuyết phục và sau này đã được  
hướng dẫn tại Điều 11 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP.  
- Bình luận:  
Thứ nhất, về phạm vi áp dụng án lệ;  
Trong Án lệ 09, hoàn cảnh phát sinh từ vụ án“Tranh chấp về hợp đồng mua bán  
hàng hóa”, chịu sự điều chỉnh của Luật Thương mại. Tại phần nội dung khái quát Án lệ có  
nêu cụm từ:“Hợp đồng mua bán hàng hóa”, cho nên có quan điểm cho rằng Án lệ chỉ được  
áp dụng đối với tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa. Tuy nhiên, cần phải hiểu đúng  
giải pháp pháp lý mà Án lệ đưa ra cũng như tình huống pháp lý tương tự được áp dụng án lệ,  
không nhất thiết phải là tình tiết, sự kiện pháp lý như nhau mới áp dụng án lệ (theo hướng  
dẫn trước đây tại khoản 3 Điều 2 của Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP, nay hướng dẫn này  
đã được thay thế bởi Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP). Cần hiểu Án lệ số 09 được hình  
thành nhằm bổ khuyết cho việc tính lãi do chậm hoàn trả tiền ứng trước; đồng thời chỉ rõ  
việc không tính lãi chậm trả đối với “khoản tiền phạt vi phạm” và “tiền bồi thường thiệt  
hại”. Như vậy, đối với các tranh chấp về hợp đồng kinh doanh thương mại không phải là  
hợp đồng mua bán hàng hóa, chẳng hạn như hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng dịch vụ... kể  
cả các tranh chấp về hợp đồng dân sự mà có tình huống pháp lý tương tự thì Án lệ này  
vẫn được áp dụng (dĩ nhiên về mức lãi suất thì được xác định theo sự điều chỉnh của luật  
tương ứng).  
Thứ hai, về mức lãi suất chậm trả tại thời điểm thanh toán;  
Trong vụ án tạo ra án lệ thì vấn đề xác định mức lãi suất chậm trả tại thời điểm  
thanh toán được xem xét ở thời điểm Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và án lệ theo hướng áp  
dụng mức lãi suất tại thời điểm“xét xử sơ thẩm”; với hoàn cảnh tương tự cũng có thể  
được áp dụng trong thực tiễn đối với vụ án được xét xử ở cấp phúc thẩm hoặc giám đốc  
thẩm trong trường hợp sữa bản án của Tòa án cấp dưới bởi lý do khác nào đó.  
Thứ ba, về thời điểm bắt đầu tính tiền lãi chậm trả;  
Án lệ 09 xác định bên bán có nghĩa vụ hoàn trả số tiền ứng trước và tiền lãi do  
chậm thanh toán cho bên mua, tuy nhiên Án lệ không đề cập đến thời điểm bắt đầu tính  
tiền lãi chậm trả. Thực tiễn, có quan điểm cho rằng tiền lãi chậm trả được tính từ thời  
điểm bên bán nhận tiền tạm ứng. Về nguyên tắc, tiền lãi chậm trả được tính từ thời điểm  
vi phạm nghĩa vụ trả tiền, cho nên cần phải xem xét, đánh giá trong từng trường hợp cụ  
thể.  
Theo quy định tại khoản 1 Điều 55 của Luật Thương mại về thời hạn thanh toán:  
345  
“Trừ trường hợp có thoả thuận khác, thời hạn thanh toán được quy định như sau:  
1. Bên mua phải thanh toán cho bên bán vào thời điểm bên bán giao hàng hoặc  
giao chứng từ liên quan đến hàng hoá;...”  
Qua đó, cho thấy trong trường hợp các bên không có thỏa thuận về thời hạn thanh  
toán, thì kể từ thời điểm bên bán giao hàng thì bên mua phải thanh toán tiền; do đó khi  
bên bán không giao được hàng thì bên mua không phải thanh toán tiền, nếu trước đó bên  
bán đã nhận tiền tạm ứng thì nghĩa vụ hoàn trả lại tiền tạm ứng cho bên mua sẽ phát sinh  
và thực hiện tại thời điểm giao hàng mà bên bán không giao, nếu chậm trả tiền thì tiền lãi  
chậm trả được tính từ thời điểm này trở đi, chứ không thể tính từ lúc bên bán nhận tiền  
tạm ứng (trừ khi các bên có thuận khác).  
c. Án lệ số 11/2017/AL về công nhận hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất mà  
trên đất có tài sản không thuộc sở hữu của bên thế chấp.  
- Tình huống án lệ 1:  
Một bên thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc sở hữu của  
mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự nhưng trên đất còn có tài sản thuộc sở hữu  
của người khác; hình thức và nội dung của hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật.  
- Giải pháp pháp lý 1:  
Trường hợp này, Tòa án phải xác định hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật.  
- Tình huống án lệ 2:  
Bên thế chấp và bên nhận thế chấp thỏa thuận bên nhận thế chấp được bán tài sản  
bảo đảm là quyền sử dụng đất mà trên đất có nhà không thuộc sở hữu của người sử dụng  
đất.  
- Giải pháp pháp lý 2:  
Trường hợp này, khi giải quyết Tòa án phải dành cho chủ sở hữu nhà trên đất được  
quyền ưu tiên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đó nếu họ có nhu cầu.  
- Tính thuyết phục:  
Thứ nhất, về hiệu lực của hợp đồng thế chấp;  
Trước khi có Án lệ 11, rất nhiều Tòa án địa phương đã có những hướng xử lý khác  
nhau; đa số theo xu hướng trong trường hợp này thì hợp đồng thế chấp không thực hiện  
được nên đã tuyên bố vô hiệu hợp đồng thế chấp do hợp đồng có đối tượng không thể  
thực hiện được theo quy định tại Điều 411 của BLDS 2005 (nay là Điều 408 của BLDS  
2015). Hướng xử lý vô hiệu hợp đồng thế chấp là không thuyết phục, không bảo đảm  
được quyền lợi của người nhận thế chấp, đồng thời cũng không phù hợp với các văn bản  
quy phạm pháp luật (Điều 68 của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung  
bởi khoản 19 Điều 1 của Nghị định 11/2012/NĐ-CP, nay được luật hóa tại khoản 2 Điều  
325 của BLDS 2015). Án lệ ra đời đã tạo nên sự thống nhất trong đường lối xét xử của  
các cấp Tòa án, cân bằng được lợi ích của các chủ thể liên quan.  
346  
Thứ hai, về xử lý tài sản thế chấp;  
Án lệ đã ghi nhận hiệu lực của hợp đồng thế chấp, do đó khi người có nghĩa vụ  
không thực hiện nghĩa vụ thì tài sản thế chấp phải bị xử lý để thực hiện nghĩa vụ. Lúc  
này, người có tài sản trên đất có được quyền ưu tiên nhận chuyển nhượng đối với đất là  
đối tượng của hợp đồng thế chấp hay không? Án lệ đã theo hướng người có tài sản trên  
đất được quyền ưu tiên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đó nếu họ có nhu cầu.  
Điều này hoàn toàn thuyết phục, hài hòa lợi ích của các bên liên quan. Án lệ đã định  
hướng đường lối xử lý đối với những vấn đề chưa có điều luật quy định cụ thể.  
- Bình luận:  
Thứ nhất, tình tiết tạo ra Án lệ thì hợp đồng thế chấp chịu sự điều chỉnh của BLDS  
2005, hoàn cảnh tương tự nếu hợp đồng các bên xác lập chịu sự điều chỉnh của BLDS  
1995 hoặc BLDS 2015 Án lệ vẫn được áp dụng  
Thứ hai, sự kiện trong vụ án là bên thế chấp và bên nhận thế chấp thỏa thuận bên  
nhận thế chấp được bán tài sản bảo đảm, hoàn cảnh tương tự xảy ra nhưng tài sản thế  
chấp được xử lý, không phải theo các bên thỏa thuận mà theo quyết định của cơ quan có  
thẩm quyền (như kê biên bán đấu giá) thì Án lệ vẫn được áp dụng; có thể nói, người có  
tài sản trên đất được quyền ưu tiên nhận chuyển nhượng phần đất có tài sản của mình gắn  
liền dù phương thức xử lý tài sản thế chấp có khác.  
Thứ ba, tình tiết của Án lệ là hợp đồng thế chấp, sau đó tài sản thế chấp được xử lý,  
như vậy bản chất tình huống pháp lý (2) ở đây là việc chuyển dịch quyền sử dụng đất thế  
chấp phải đảm bảo quyền ưu tiên nhận chuyển nhượng của chủ sở hữu tài sản (nhà) trên  
đất; thực tiễn đó là trường hợp như giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà trên  
đất có tài sản (nhà) hợp pháp của người khác.  
Thứ tư, Án lệ cho phép người có tài sản trên đất được quyền ưu tiên nhận chuyển  
nhượng quyền sử dụng đất đó nếu họ có nhu cầu. Tuy nhiên, hoàn cảnh trong Án lệ chưa  
đề cập đến phạm vi của quyền ưu tiên nhận chuyển nhượng của người có tài sản trên đất,  
trong đó quyền ưu tiên nhận chuyển nhượng đối với toàn bộ diện tích đất chuyển nhượng  
hay chỉ tương ứng với diện tích đất có tài sản là nhà trên đất. Theo tác giả, vấn đề này còn  
phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như tình trạng sử dụng đất, việc tách thửa như thế nào  
(được hay không), từ đó mới có phương thức xử lý cho phù hợp.  
d. Án lệ số 13/2017/AL về hiệu lực thanh toán của thư tín dụng (L/C) trong  
trường hợp hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là cơ sở của L/C bị hủy bỏ.  
- Tình huống án lệ:  
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có thỏa thuận phương thức thanh toán bằng  
thư tín dụng (L/C), thỏa thuận thực hiện L/C theo tập quán thương mại quốc tế (Quy tắc  
thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ lần thứ 6 năm 2007 (UCP 600) của Phòng  
Thương mại Quốc tế) và phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam. Hợp đồng mua  
bán hàng hóa quốc tế là cơ sở của L/C bị hủy bỏ.  
- Giải pháp pháp lý:  
347  
Trường hợp này, Tòa án phải xác định thư tín dụng (L/C) không bị mất hiệu lực  
thanh toán vì lý do hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là cơ sở của thư tín dụng (L/C) bị  
hủy bỏ.  
- Tính thuyết phục:  
Trong điều kiện phát triển của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, các  
hoạt động thương mại có sự tham gia của tổ chức, cá nhân nước ngoài, trong đó có hoạt  
động mua bán hàng hóa quốc tế diễn ra ngày càng phong phú, đa dạng. Cơ sở pháp lý để  
điều chỉnh hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế không chỉ bao gồm các quy định của  
pháp luật, điều ước quốc tế mà nhiều trường hợp các bên giao kết hợp đồng còn thỏa  
thuận áp dụng tập quán thương mại quốc tế như: thỏa thuận phương thức thanh toán bằng  
thư tín dụng (L/C), thỏa thuận L/C theo tập quán thương mại quốc tế (Quy tắc thực hành  
thống nhất về tín dụng chứng từ lần thứ 6 năm 2007 (UCP 600) của Phòng Thương mại  
Quốc tế),…  
Vụ việc tạo lập nên Án lệ 13 thuộc trường hợp nêu trên. Vấn đề pháp lý đặt ra là  
trong trường hợp hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là cơ sở của L/C bị hủy bỏ thì L/C  
có bị mất hiệu lực thanh toán hay không? Theo quy định tại Điều 2, Điều 4 của Bản sửa  
đổi về Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ lần thứ 6 năm 2007 (UCP 600)  
của Phòng Thương mại Quốc tế thì L/C không thể bị hủy bỏ và theo đó là một sự cam kết  
chắc chắn của Ngân hàng phát hành để thanh toán khi xuất trình chứng từ phù hợp, L/C  
là một giao dịch riêng biệt với hợp đồng mua bán và các hợp đồng khác là cơ sở của L/C.  
Tuy nhiên có quan điểm cho rằng theo quy định của BLDS năm 2005 thì thỏa thuận về  
phương thức thanh toán là một trong những nội dung cơ bản của hợp đồng (Điều 402  
BLDS năm 2005, tương ứng với Điều 398 BLDS năm 2015), trong trường hợp này  
phương thức thanh toán bằng L/C là một phần không thể tách rời của hợp đồng mua bán  
hàng hóa; do vậy, khi hợp đồng mua bán hàng hóa bị hủy bỏ thì các bên không phải tiếp  
tục thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng nên L/C không còn hiệu lực thanh toán. Để giải  
quyết những vướng mắc nêu trên, TANDTC đã ban hành Án lệ số 43 về hiệu lực thanh  
toán của thư tín dụng (L/C) trong trường hợp hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là cơ  
sở của L/C bị hủy bỏ, nhằm hướng dẫn các Tòa án áp dụng thống nhất quy định của pháp  
luật, tập quán quốc tế còn có cách hiểu khác nhau trong giải quyết tranh chấp về hợp  
đồng mua bán hàng hóa quốc tế.  
- Bình luận:  
Án lệ 13 được đưa ra nhằm hướng dẫn các Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng  
mua bán hàng hóa quốc tế liên quan đến xác định hiệu lực của thu tín dụng (L/C) trong  
trường hợp hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là cơ sở của L/C bị hủy bỏ. Theo đó,  
trường hợp hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có thỏa thuận phương thức thanh toán  
bằng thư tín dụng (L/C), thỏa thuận thực hiện L/C theo tập quán thương mại quốc tế (Quy  
tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ lần thứ 6 năm 2007 (UCP 600) của Phòng  
Thương mại Quốc tế) và phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam mà hợp đồng mua  
bán hàng hóa quốc tế đó bị hủy bỏ thì Tòa án phải xác định thư tín dụng (L/C) không bị  
348  
mất hiệu lực thanh toán và hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là cơ sở của L/C bị hủy  
bỏ594.  
e. Án lệ số 21/2018/AL về lỗi và thiệt hại trong trường hợp đơn phương chấm dứt  
hợp đồng cho thuê tài sản.  
- Tình huống án lệ:  
Hợp đồng cho thuê tài sản có thời hạn, không có thỏa thuận về điều kiện chấm dứt  
hợp đồng. Bên thuê chấm dứt hợp đồng trước thời hạn nhưng không được bên cho thuê  
đồng ý.  
Thời gian từ khi bên thuê có văn bản thông báo đến khi chấm dứt hợp đồng quá  
ngắn dẫn đến bên cho thuê không thể có hợp đồng khác thay thế ngay trong thời gian còn  
lại của hợp đồng thuê.  
Bên cho thuê yêu cầu bên thuê phải thanh toán tiền thuê tài sản trong thời gian còn  
lại của hợp đồng.  
- Giải pháp pháp lý:  
Trường hợp này, phải xác định bên thuê có lỗi và phải chịu trách nhiệm đối với thiệt  
hại gây ra cho bên cho thuê. Thiệt hại thực tế cần xem xét là khoản tiền cho thuê phương  
tiện trong thời gian còn lại của hợp đồng.  
- Tính thuyết phục:  
Khoản 2 Điều 302 của Luật Thương mại năm 2005 có quy định: “Giá trị bồi  
thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do  
bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu  
không có hành vi vi phạm”. Thiệt hại này phải xác định như thế nào. Luật Thương mại  
2005 và BLDS 2015 chưa có hướng dẫn cụ thể để xác định đối với khoản lợi trực tiếp  
này. Việc Án lệ ra đời đã giúp định hướng cách xác định đối với “khoản lợi trực tiếp mà  
bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm” đối với hợp đồng  
thuê bị chấm dứt trước thời hạn. Cụ thể, Án lệ đã khẳng định “Thiệt hại thực tế cần xem  
xét là khoản tiền cho thuê phương tiện trong thời gian còn lại của hợp đồng.”.  
- Bình luận:  
Thứ nhất, Án lệ chỉ nêu:“ Thiệt hại thực tế cần xem xét là khoản tiền cho thuê  
phương tiện trong thời gian còn lại của hợp đồng”, Án lệ không khẳng định khoản tiền  
cho thuê phương tiện trong thời gian còn lại của hợp đồng là thiệt hại; đây chỉ là yếu tố  
để đưa vào xem xét chứ không phải là khoản bồi thường được ấn định. Mức bồi thường  
bao nhiêu còn phải tính toán đến các yếu tố khác (việc trừ đi chi phí sử dụng tài sản để  
cho thuê cũng như các yếu tố bù trừ khác, nghĩa vụ hạn chế tổn thất theo Điều 305 của  
Luật Thương mại…)  
594 Xem Án lệ và Bình luận, quyển I, án lệ số 13/2017/AL, TAND tối cao.  
349  
Thứ hai, theo nội dung của Án lệ, thời gian Công ty C ra văn bản thông báo chỉ  
trước 03 ngày so với thời điểm chấm dứt hợp đồng là quá ngắn. Từ đây, chúng ta có thể  
thấy rằng thời hạn thông báo trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng từ 03 ngày trở  
xuống sẽ được coi là không hợp lý. Nếu bất kỳ một bên tham gia trong hợp đồng chỉ  
thông báo trước 03 ngày việc đơn phương chấm dứt hợp đồng thì sẽ bị xác định là thời  
hạn thông báo trước không hợp lý và bị xác định có lỗi trong việc chấm dứt hợp đồng.  
Tuy nhiên, Án lệ không xác định thời hạn thông báo trước bao lâu sẽ được xem là thời  
hạn hợp lý. Do đó đối với nội dung này, tùy từng trường hợp cụ thể mà Thẩm phán có sự  
cân nhắc, đánh giá về khoản thời gian hợp lý.  
Thứ ba, tình tiết trong Án lệ là hợp đồng cho thuê tài sản, chịu sự điều chỉnh của  
Luật Thương mại, hoàn cảnh tương tự có thể xảy ra đối với các loại hợp đồng khác mà  
một bên sử dụng tài sản của người khác trong một thời gian và có đền bù thì Án lệ cũng  
có thể được áp dụng kể cả đối với hợp đồng dân sự nếu pháp luật không có quy định  
khác.  
f. Án lệ số 36/2020/AL về hiệu lực của hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất khi  
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị thu hồi, hủy bỏ.  
- Tình huống án lệ:  
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất tuân thủ quy định của pháp luật nhưng sau đó  
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị thu hồi, hủy bỏ do sai sót về diện tích đất và trình  
tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận  
quyền sử dụng đất không làm mất đi quyền sử dụng đất hợp pháp của người sử dụng đất.  
- Giải pháp pháp lý:  
Trường hợp này, phải xác định hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất có hiệu lực  
pháp luật.  
- Tính thuyết phục:  
Hiện nay, theo quy định của Luật Đất đai thì người sử dụng đất chỉ được phép giao  
dịch về quyền sử dụng đất khi có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (khoản 1 Điều 188  
của Luật Đất đai 2013). Tuy nhiên, pháp luật hiện nay chưa cho biết hệ quả của giao dịch  
mà ở thời điểm xác lập thì người sử dụng đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất  
nhưng sau khi xác lập giao dịch thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị thu hồi, hủy bỏ  
nhưng không làm mất đi quyền sử dụng đất hợp pháp của người sử dụng đất. Do đó, thực  
tiễn xét xử có nhiều hướng giải quyết khác nhau, trong đó có hướng tuyên bố vô hiệu hợp  
đồng thế chấp do hợp đồng có đối tượng không thực hiện được. Tuy nhiên, hướng giải  
quyết này đã không được TANDTC chấp nhận và Án lệ số 36 ra đời đã định hướng  
đường lối xét xử cho Tòa án các cấp cũng như bổ sung cho sự khiếm khuyết của văn bản  
pháp luật. Theo đó, trong trường hợp này, hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật.  
Hướng xử lý của Án lệ là thuyết phục, bảo vệ được quyền lợi của người nhận thế chấp  
ngay tình, cũng như khẳng định quyền sử dụng đất hợp pháp của người sử dụng đất và  
đây mới là đối tượng của giao dịch chứ không phải là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất  
là đối tượng của giao dịch.  
350  
- Bình luận:  
Thứ nhất, tình tiết tạo ra Án lệ thì hợp đồng thế chấp chịu sự điều chỉnh của BLDS  
2005 và Luật Đất đai 2003, hoàn cảnh tương tự nếu hợp đồng các bên xác lập chịu sự  
điều chỉnh của Luật Đất đai 2013 và BLDS 2015 thì Án lệ vẫn được áp dụng.  
Thứ hai, thực tiễn có trường hợp người sử dụng đất khi có giấy chứng nhận quyền sử  
dụng đất, họ làm giả thêm 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khác và đem giấy  
chứng nhận quyền sử dụng đất giả để giao dịch với ngân hàng. Hợp đồng thế chấp được  
công chứng và đăng ký phù hợp với quy định của pháp luật. Sau đó, ngân hàng hoặc cơ  
quan chức năng phát hiện ra giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã giao dịch với ngân  
hàng là giấy giả. Trường hợp đặt ra, nếu không có giao dịch nào khác liên quan đến  
quyền sử dụng đất trên, đồng thời hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất tuân thủ trình tự,  
thủ tục theo quy định của pháp luật, thì hợp đồng thế chấp đó có bị vô hiệu bởi yếu tố này  
hay không? Theo tác giả, hợp đồng thế chấp không bị vô hiệu với lý do trên; bởi lẽ, cũng  
như phân tích từ án lệ, đối tượng của các bên giao dịch không phải là giấy chứng nhận  
quyền sử dụng đất mà là quyền sử dụng đất; do đó cho dù giấy chứng nhận giả bị tiêu  
hủy nhưng người sử dụng đất vẫn là chủ sở hữu trên thực tế, đối tượng của giao dịch vẫn  
không thay đổi, chưa kể đến giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thật trong vụ án này vẫn  
còn, trong khi so với tình huống của Án lệ thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không  
còn tồn tại mà hợp đồng thế chấp vẫn được công nhận hiệu lực.  
g. Án lệ số 37/2020/AL về hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm tài sản trong trường  
hợp bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm sau khi kết thúc thời hạn đóng phí bảo  
hiểm.  
- Tình huống án lệ:  
Sau khi kết thúc thời hạn đóng phí bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo  
hiểm tài sản, bên mua bảo hiểm mới đóng phí bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm.  
Doanh nghiệp bảo hiểm không có ý kiến gì, không có văn bản thông báo cho bên mua  
bảo hiểm về việc chấm dứt hợp đồng mà vẫn nhận phí bảo hiểm, xuất hóa đơn giá trị gia  
tăng và báo cáo thuế về khoản tiền đóng phí bảo hiểm. Sau đó, sự kiện bảo hiểm xảy ra.  
- Giải pháp pháp lý:  
Trường hợp này, hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực thi hành, doanh nghiệp bảo hiểm  
phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người được bảo hiểm.  
- Tính thuyết phục:  
Thực tiễn khi giải quyết tranh chấp, việc xác định hợp đồng bảo hiểm trong trường  
hợp trên có hiệu lực hay không còn có quan điểm giải quyết khác nhau. Để khắc phục  
tình trạng các Tòa án còn chưa thống nhất trong việc giải quyết các tranh chấp hợp đồng  
bảo hiểm, Tòa án nhân dân tối cao đã lựa chọn, công bố án lệ 37 nhằm hướng dẫn các  
Tòa án thống nhất trong đường lối xử lý.  
- Bình luận:  
351  
Trước hết phải căn cứ vào thảo thuận của hai bên tại hợp đồng bảo hiểm và đối chiếu  
với các quy định của pháp luật và bảo hiểm để từ đó xác định bên mua bảo hiểm có vi  
phạm các quy định của hợp đồng và pháp luật về bảo hiểm hay không?  
Hạn cuối cùng đóng phí bảo hiểm trước ngày 01/5/2015 nhưng đến thời điểm ngày  
07/5/2015, Bên bảo hiểm mới nhận phí bảo hiểm là 91.179.000 đồng do bên mua bảo  
hiểm nộp. Án lệ đặt ra vấn đề cần giải quyết là việc bên mua bảo hiểm chậm đóng phí  
bảo hiểm có được bên bảo hiểm chấp nhận hay không? Hợp đồng bảo hiểm có phát sinh  
hiệu lực hay không? Hợp đồng bảo hiểm có bị chấm dứt hay không?  
Trường hợp này nếu bên mua bảo hiểm đã vi phạm điều kiện có hiệu lực của hợp  
đồng bảo hiểm thì hợp đồng đương nhiên không phát sinh hiệu lực. Khi xem xét cần xác  
định sau khi bên bảo hiểm nhận được tiền phí bảo hiểm do bên mua bảo hiểm đóng sau  
thời hạn quy định, thì về phía bên bảo hiểm có ý kiến gì không? Nếu có thì ý kiến đó như  
thế nào? Thực tế, khi bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm chậm nhưng bên bảo hiểm  
vẫn nhận, xuất hóa đơn giá trị gia tăng và các báo cáo thuế về khoản tiền đóng phí bảo  
hiểm của bên mua bảo hiểm; đồng thời, hoàn toàn không có văn bản thông báo về việc  
đóng phí bảo hiểm chậm thì sẽ dẫn đến các hợp đồng bảo hiểm trên không còn hiệu lực  
từ ngày 01/5/2015, cùng không có bất cứ ý kiến phản đối gì khác, tức về phía bên bảo  
hiểm đã đồng ý, chấp nhận cho bên mua bảo hiểm đóng tiền phí bảo hiểm chậm, tức mặc  
nhiên thừa nhận các hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực thi hành. Điều này có ý nghĩa là  
trong trường hợp bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm chậm so với quy định nhưng do-  
anh nghiệp bảo hiểm vẫn nhận phí bảo hiểm đó và không có ý kiến phản đối, thì phải coi  
là doanh nghiệp bảo hiểm đã đồng ý chấp nhận cho bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm  
chậm và thừa nhận hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực.  
Vụ việc tạo lập Án lệ xuất phát từ hợp đồng bảo hiểm tài sản. Đối với các hợp đồng  
khác, tại thời điểm hết hạn thực hiện nghĩa vụ làm phát sinh hiệu lực của hợp đồng bên  
có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ nhưng sau đó thực hiện và được bên kia tiếp nhận  
không có ý kiến gì, không có thông báo gì về việc chấm dứt hợp đồng và chủ động thực  
hiện các công việc tiếp theo (xác nhận bằng văn bản, hoàn thiện các thủ tục hợp đồng,  
cấp giấy đã thực hiện xong nghĩa vụ,…) thì được coi là mặc nhiên chấp nhận việc thực  
hiện nghĩa vụ và hợp đồng phát sinh hiệu lực595.  
h. Án lệ số 43/2021/AL Về hiệu lực của hợp đồng thế chấp trong trường hợp tài  
sản thế chấp là nhà đất do bên thế chấp nhận chuyển nhượng của người khác nhưng  
chưa thanh toán đủ tiền cho bên bán.  
- Tình huống án lệ:  
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đã được  
công chứng, bên mua đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử  
dụng đất ở nhưng mới thanh toán được một phần tiền mua nhà đất; các bên chưa thực  
hiện việc giao nhận nhà. Bên mua thế chấp nhà đất cho Ngân hàng, có đăng ký thế chấp  
595 Xem Án lệ và Bình luận, quyển III, án lệ số 37/2020/AL, TAND tối cao.  
352  
theo đúng quy định của pháp luật; bên bán biết và đồng ý để bên mua thế chấp nhà đất  
nhưng sau đó lại có yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở và quyền  
sử dụng đất ở.  
- Giải pháp pháp lý:  
Trường hợp này, phải xác định hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật, không chấp  
nhận yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở.  
- Tính thuyết phục:  
Án lệ đã ghi nhận hiệu lực pháp luật của hợp đồng thế chấp khi hợp đồng này được  
xem xét, đánh giá không vướng các điều kiện có hiệu lực của một giao dịch, bảo vệ  
quyền lợi của người ngay tình tham gia giao dịch, giữ ổn định cho các quan hệ giao dịch  
kế tiếp.  
- Bình luận:  
Thứ nhất, với hoàn cảnh tương tự, trong đó đơn thuần là hợp đồng mua bán nhà ở, thì  
vẫn áp dụng án lệ 43. Thời điểm đó, hợp đồng được điều chỉnh bởi quy định của Bộ luật  
Dân sự năm 2005 và Luật Nhà ở năm 2005. Theo quy định tại khoản 5 Điều 93 của Luật  
Nhà ở năm 2005 thì “...Quyền sở hữu nhà ở được chuyển cho bên mua, bên nhận tặng  
cho, bên thuê mua, bên nhận đổi nhà ở kể từ thời điểm hợp đồng được công chứng đối  
với giao dịch nhà ở giữa cá nhân với cá nhân...”; do đó trong trường hợp này, quyền sở  
hữu nhà ở đã chuyển cho bên mua nên bà L có quyền dùng hai nhà đất này thế chấp cho  
Ngân hàng để vay tiền. Tuy nhiên, theo quy định mới tại khoản 1 Điều 12 của Luật Nhà ở  
năm 2014 thì: “... thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở là kể từ thời điểm bên mua, bên  
thuê mua đã thanh toán đủ tiền mua, tiền thuê mua và đã nhận bàn giao nhà ở, trừ  
trường hợp các bên có thỏa thuận khác”. Như vậy, nếu hoàn cảnh tương tự của vụ án xảy  
ra tại thời điểm Luật Nhà ở năm 2014 có hiệu lực thì bên mua chưa thanh toán đủ tiền  
mua và chưa nhận bàn giao nhà ở nên chưa là chủ sở hữu nhà ở, từ đó chiếu theo khoản 4  
Điều 3, Điều 123 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì giao dịch thế chấp nhà trên là vô hiệu.  
Án lệ được hình thành đã đưa ra một đường lối xử lý, theo đó trong trường hợp này, hợp  
đồng thế chấp tài sản sẽ không bị vô hiệu nếu“Bên mua thế chấp nhà đất cho Ngân hàng,  
có đăng ký thế chấp theo đúng quy định của pháp luật, đồng thời bên bán biết và đồng ý  
để bên mua thế chấp nhà đất”. Việc công nhận hiệu lực của hợp đồng thế chấp tài sản  
với các tình tiết nêu trên là thuyết phục. Tình tiết “bên bán biết và đồng ý để bên mua thế  
chấp nhà đất” là tình tiết để khắc phục vấn đề quyền sỡ hữu nhà ở chưa được chuyển cho  
bên mua do bên bán chưa bàn giao nhà cho bên mua.  
Thứ hai, ngoài việc công nhận hiệu lực của hợp đồng thế chấp tài sản, Án lệ còn theo  
hướng “không chấp nhận yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở”.  
Liệu việc Án lệ không cho phép hủy hợp đồng chuyển nhượng nhà ở có thuyết phục  
không? Thực tiễn, trường hợp trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở, các  
bên có thỏa thuận về điều kiện hủy bỏ hợp đồng và điều kiện này đã xảy ra thì có được  
hủy bỏ hợp đồng hay không? Phương án này có thực sự bảo vệ quyền lợi của người có  
quyền yêu cầu hủy bỏ hợp đồng không? Thiết nghĩ, chúng ta nên theo hướng được phép  
353  
hủy bỏ hợp đồng nhưng khi xử lý hậu quả pháp lý của việc hủy bỏ hợp đồng thì phải theo  
hướng không làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba (ngân hàng),  
chẳng hạn không buộc hoàn trả nhà mà trị giá thành tiền để hoàn trả theo quy định tại  
khoản 2 Điều 427 của BLDS 2015 (khoản 3 Điều 425 của BLDS 2005), như vậy việc hủy  
hợp đồng chuyển nhượng nhà ở cũng không ảnh hưởng đến việc xử lý tài sản thế chấp  
của Ngân hàng (tương tự như cách xử lý hậu quả pháp lý đối với giao dịch vô hiệu khi  
bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình). Với cách xử lý trên, thì việc hủy hay không  
hủy hợp đồng cũng làm không ảnh hưởng đến người thứ ba cho nên khi xem xét việc hủy  
hợp đồng thì chỉ cần căn cứ vào quy định pháp luật về hủy hợp đồng cũng như các quy  
định pháp luật liên quan để xử lý.  
3. Một số vấn đề pháp lý trao đổi qua thực tiễn tố tụng xem xét áp dụng án lệ  
- Việc nhầm lẫn khi vận dụng các nội dung khác trong bản án, quyết định với nội  
dung án lệ:  
Trong một bản án, quyết định được lựa chọn làm án lệ có rất nhiều nội dung mà  
Tòa án nhận định, phán quyết, tuy nhiên không phải nội dung nào cũng được sử dụng làm  
nội dung án lệ. Chỉ những nội dung được Hội đồng Thẩm phán lựa chọn thì mới là nội  
dung án lệ. Những nội dung còn lại mặc dù tồn tại trong bản án, quyết định nhưng không  
thuộc nội dung án lệ, thì không được viện dẫn làm căn cứ để xem xét việc áp dụng án lệ.  
Ví dụ: Án lệ số 08 thì chỉ có nội dung: “Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc  
thẩm quyết định:“Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có  
đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án còn phải trả lãi đối với số tiền chậm thi  
hành án theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian  
chậm thi hành án” cũng là không đúng....”(Đoạn 16 phần “Xét thấy” của quyết định  
giám đốc thẩm) là nội dung Án lệ. Các nội dung ở các đoạn khác không phải là nội dung  
Án lệ 08 thì không được vận dụng thành nội dung Án lệ.596  
- Không thuộc trường hợp áp dụng án lệ;  
Ví dụ: vụ án giữa nguyên đơn Bùi Thị Nh ở tỉnh Phú Yên và bị đơn Lê Kim L là Việt  
kiều Mỹ, tranh chấp về quyền sở hữu nhà 55 Lê Lợi, thị trấn C. Bà Nh yêu cầu công  
nhận bà là chủ sở hữu nhà 55 Lê Lợi vì là người mua ngôi nhà này và đã được cấp giấy  
chứng nhận quyền sở hữu từ năm 2001. Bà L cũng yêu cầu công nhận bà L là chủ sở hữu  
nhà 53 Lê Lợi vì bà mới là người mua và chỉ nhờ bà Nh đứng tên hộ do thời điểm đó bà  
L là người Việt Nam định cư ở nước ngoài chưa đủ điều kiện được mua nhà tại Việt  
Nam. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đều quyết định công nhận nhà 53 Lê  
Lợi thuộc sở hữu của vợ chồng bà L và công nhận việc vợ chồng bà L tặng cho nhà này  
cho anh Đ.  
Bản án phúc thẩm (số 79/2016/DS-PT ngày 26/10/2016 của TAND cấp cao tại Đà  
Nẵng) đã bị Viện trưởng VKSNDTC kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm; đề nghị  
596  
Xem Quyết định giám đốc thẩm số 08/2020/KDTM-GĐT ngày 08/7/2020 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng; xem  
Bản án số 02/2019/KDTM-PT ngày 22/4/2019 của TAND tỉnh Thừa Thiên Huế.  
354  
Hội đồng Thẩm phán TANDTC hủy bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm để giải quyết sơ  
thẩm lại với lý do: Vợ chồng bà L là người Việt Nam ở nước ngoài nhờ bà Nh đứng tên  
nhà dùm. Tuy bà Nh không yêu cầu trả công sức quản lý tài sản nhưng bà Nh yêu cầu  
công nhận quyền sở hữu nhà là yêu cầu lớn hơn. Do vậy, lẽ ra Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa  
án cấp phúc thẩm phải xác định công sức của bà Nh trong việc quản lý làm tăng giá trị  
nhà như án lệ số 02/2016 mới đúng.  
Án lệ 02/2016 là án lệ cũng về tranh chấp giữa người ở trong nước đứng tên hộ người  
Việt Nam định cư ở nước ngoài đối với bất động sản. Trong trường hợp này, giá trị chênh  
lệch giữa khoản tiền đầu tư ban đầu với giá tài sản ở thời điểm tranh chấp được coi là lợi  
nhuận chung, người quản lý tài sản (đứng tên hộ) cũng được chia phần chênh lệch này  
cùng với người đầu tư. Trong trường hợp không xác định được ai có công sức nhiều hơn  
thì chia ngang nhau phần chênh lệch.  
Tại phiên họp ngày 18/3/2019, Hội đồng Thẩm phán TANDTC đã không chấp nhận  
kháng nghị của VKSNDTC, giữ nguyên bản án phúc thẩm. Các lý do không chấp nhận  
kháng nghị là:  
Án lệ 02/2016 là án lệ về cách xác định mức đền bù công sức được chia trong trường  
hợp đứng tên hộ. Tuy nhiên, do bà Nh chưa có yêu cầu về đền bù công sức, Tòa án chưa  
giải quyết về công sức nên chưa thể áp dụng Án lệ 02/2016.  
Kháng nghị của VKSNDTC có nhận định: “Bà Nh không yêu cầu trả công sức quản  
lý tài sản nhưng bà Nh yêu cầu công nhận quyền sử dụng nhà đất là yêu cầu lớn hơn”.  
Nhận định này có nội dung gần gũi với Án lệ 05/2016. Án lệ 05/2016 là án lệ có nội dung  
hướng dẫn cách xác định phạm vi xét xử. Tại Án lệ 05/2016, người quản lý di sản thừa kế  
cho rằng đã hết thời hiệu yêu cầu chia thừa kế nên yêu cầu xác định họ là người được  
hưởng toàn bộ bất động sản mà họ đang quản lý. Án lệ 05/2016 chỉ ra rằng tuy người  
quản lý không yêu cầu trả công sức quản lý nhưng họ yêu cầu hưởng toàn bộ tài sản là  
yêu cầu lớn hơn nên phải coi là họ có yêu cầu trả công sức quản lý. Tuy nhiên, trường  
hợp của vụ án này không giống với tình huống của Án lệ 05/2016. Trong vụ án này, Tòa  
án đã hỏi bà Nh rằng nếu không được công nhận sở hữu nhà thì có yêu cầu Tòa án giải  
quyết công sức quản lý không, bà Nh đã trả lời là không. Như vậy, trong trường hợp Tòa  
án đã hỏi mà đương sự vẫn không yêu cầu thì Tòa án không giải quyết về công sức  
(không thuộc trường hợp Án lệ 05/2016); sau này đương sự có quyền khởi kiện đòi công  
sức bằng vụ án khác. Có như vậy mới phù hợp nguyên tắc về quyền tự định đoạt của  
đương sự quy định tại Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự597.  
- Áp dụng giải pháp pháp lý của án lệ không phù hợp;  
Như nội dung đã phân tích trong việc áp dụng Án lệ số 08 nêu trên, về vấn đề tính lãi  
đối với lãi trong hạn chậm trả thì kể từ sau ngày 01/01/2017 được phép tính theo quy  
định mới (khoản 5 Điều 466 của Bộ luật Dân sự; điểm b khoản 2 Điều 5 của Nghị quyết  
số 01/2019 áp dụng đối với hợp đồng vay tài sản; điểm b khoản 2 Điều 8 của Nghị quyết  
597  
Thẩm phán TANDTC Chu Xuân Minh, một số vấn đề nghiệp vụ từ các phiên tòa giám đốc thẩm của HĐTP  
TANDTC tháng 3/2019, Báo Công lý điện tử.  
355  
số 01/2019 áp dụng đối với hợp đồng tín dụng) nhưng có bản án ban hành sau ngày  
01/01/2017 đã viện dẫn Án lệ 08 tại phần quyết định, trong đó chỉ đề cập đến lãi quá hạn  
đối với nợ gốc chưa thanh toán mà không đề cập đến lãi chậm trả đối với tiền lãi trong  
hạn thể hiện qua việc không tuyên:“Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người  
được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản  
tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án (tiền lãi trong hạn) theo mức lãi suất quy  
định....” 598, điều này ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành  
án.  
- Thiếu áp dụng án lệ trong trường hợp có tình huống pháp lý tương tự;  
Một số trường hợp khi xét xử vụ án, có tình huống pháp lý tương tự án lệ đã được  
công bố nhưng Tòa án không áp dụng án lệ để giải quyết do nhận diện, đánh giá tính chất  
sự việc không đầy đủ, chính xác..., dẫn đến bản án bị hủy, sửa.  
Ví dụ: vụ án giữa nguyên đơn là Công ty VAMC với bị đơn là Công ty cổ phần  
thương mại Y tranh chấp về hợp đồng tín dụng, có tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất  
(QSDĐ) của hộ ông Bùi Doãn L (bên bảo lãnh). Trên đất có các căn nhà là tài sản chung  
của các thành viên hộ gia đình (là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án).  
Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán nợ, trường hợp không trả được nợ thì phát mại  
toàn bộ tài sản thế chấp bảo đảm cho việc thanh toán nợ. Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị đơn  
trả nợ cho nguyên đơn và tuyên xử lý tài sản thế chấp. Tòa án cấp phúc thẩm xét xử phúc  
thẩm, trong bản án có nội dung nhận định do hợp đồng thế chấp chỉ thế chấp quyền sử  
dụng đất, các tài sản hình thành trên đất là công sức đóng góp của cả hộ gia đình (gồm có  
bố mẹ, các con trai, con dâu) nên ngân hàng chỉ có quyền yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo  
là quyền sử dụng đất. Căn cứ theo quy định tại Án lệ số 11/2017: “Trường hợp bên nhận  
thế chấp, bên thế chấp thoả thuận bên nhận thế chấp được bán tài sản đảm bảo là quyền  
sử dụng diện tích đất mà trên đất có nhà thuộc sở hữu của người khác không phải là  
người sử dụng đất ” thì “ cần dành cho chủ sở hữu nhà đó được quyền ưu tiên nếu họ có  
nhu cầu mua” và Tòa án cấp phúc thẩm đã sửa bản án sơ thẩm, trong đó tuyên Hộ gia  
đình ông Lập được quyền ưu tiên nếu có nhu cầu mua quyền sử dụng đất khi Công ty  
VAMC đề nghị xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất nêu trên.599  
- Áp dụng án lệ nhưng nhận định không rành mạch, đầy đủ;  
Nhiều trường hợp khi xét xử, Tòa án áp dụng đúng án lệ nhưng nhận định trong bản  
không rành mạch, đầy đủ. Trước đó, Tòa án nhân tối cao đã có văn bản số 146/TANDTC  
ngày 11/7/2017 về việc viện dẫn, áp dụng án lệ trong xét xử, được ví dụ: Theo Án lệ số  
07/2016/AL về công nhận hợp đồng mua bán nhà được xác lập trước ngày 01-7-1991  
được lựa chọn từ Quyết định giám đốc thẩm số 126/2013/DS-GĐT ngày 23-9-2013 và  
được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17-10-2016 của Chánh án Tòa án  
nhân dân tối cao thì:“Hợp đồng mua bán nhà được lập thành văn bản trước ngày 01-7-  
1991, có chữ ký của bên bán, ghi rõ bên bán đã nhận đủ tiền, bên mua tuy chưa ký tên  
598 Xem phần quyết định của Bản án số 12/2021/KDTM-ST ngày 22/3/2021 của TAND quận Cẩm Lệ, tp. Đà Nẵng.  
599  
Bài viết đề cập đến “quyền ưu tiên”, không đề cập đến các nội dung giải quyết khác của bản án (Bản án số  
165/2020/KDTM-PT ngày 12/9/2020 của TAND Tp.Hà Nội).  
356  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 22 trang Thùy Anh 16920 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Áp dụng án lệ về kinh doanh thương mại trong hoạt động xét xử của tòa án tại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfap_dung_an_le_ve_kinh_doanh_thuong_mai_trong_hoat_dong_xet_x.pdf