Áp dụng án lệ trong xét xử các vụ án dân sự tại tòa án nhân dân các cấp

ÁP DỤNG ÁN LỆ TRONG XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN  
NHÂN DÂN CÁC CẤP  
Ths. Trần Linh Huân  
Khoa luật Thương mại, Trường Đại học Luật TP. HCM  
CN. Trần Thị Diện  
Chuyên viên pháp lý, Công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ FWD  
Tóm tắt  
Hiện nay, án lệ được xem là một trong những nguồn luật được thừa nhận chính  
thức và có vai trò quan trọng trong thực tiễn xét xử tại nhiều quốc gia. Ở Việt Nam, án lệ  
cũng đã được hình thành từ khá lâu nhưng từ khi Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP có  
hiệu lực thì giá trị và tính áp dụng của án lệ ngày càng được nâng cao, do đó việc viện  
dẫn, áp dụng án lệ trong giải quyết tranh chấp trở nên phổ biến hơn, đặc biệt trong các  
tranh chấp dân sự. Trải qua một thời gian áp dụng, thực tiễn xét xử tại các cấp tòa đã  
cho thấy những hiệu quả nhất định trong việc áp dụng án lệ, tuy nhiên vẫn tồn tại những  
bất cập cần được nhìn nhận và khắc phục. Xuất phát từ đó bài viết tập trung phân tích  
đánh giá, chỉ ra những điểm còn hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và thực tiễn  
áp dụng, từ đó đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm góp phần hoàn thiện công tác áp  
dụng án lệ tại Việt Nam.  
Từ khóa: Án lệ, vụ án dân sự, áp dụng án lệ.  
Abstract  
Nowadays, precedent is considered as one of the officially recognized sources of  
law and plays a vital role in the practice of adjudication in many countries. In Vietnam,  
court precedent has also been formed for a long time but since Resolution  
No.03/2015/NQ-HDTP took effect, the value and applicability of court precedents have  
been increasingly enhanced. Consequently, the application of court precedent in dispute  
settlement becomes more and more common, especially in civil disputes. Throughout the  
time of application, although the practice of trial at all levels of courts has shown specific  
effects, there are still shortcomings that need to be observed and remedial. From there,  
the article focuses on valuable analysis, pointing out the limitations and inadequacies in  
legal regulations and applicable practices, thereby making a number of recommenda-  
tions and proposals to contribute to perfecting the application of case law in Vietnam.  
Keyword: Court precedents, civil cases, applying court precedents.  
Đặt vấn đề  
Từ lâu pháp luật Việt Nam coi trọng luật thành văn và xem đó là nguồn chính yếu.  
Tuy nhiên, đặt trong bối cảnh nền kinh tế xã hội ngày càng phát triển và xu hướng xích  
lại gần nhau của các hệ thống pháp luật thì án lệ đã thay đổi vai trò của mình để trở thành  
một trong những nguồn luật được thừa nhận trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Qua  
thực tiễn áp dụng án lệ trong xét xử đã cho thấy được nhiều ưu điểm của án lệ khi khắc  
107  
phục tình trạng nhiều quy định pháp luật chưa rõ ràng, thậm chí chưa có để điều chỉnh  
quan hệ pháp luật đang tranh chấp hay góp phần hạn chế được những vụ án oan sai. Tuy  
nhiên ở Việt Nam, án lệ chỉ mới được công nhận và áp dụng trong thời gian gần đây vì  
vậy việc hiểu và áp dụng trên thực tế vào hoạt động xét xử cũng còn tồn tại một số khó  
khăn, hạn chế nhất định. Do đó, việc nghiên cứu vấn đề áp dụng án lệ tại các các quốc gia  
có án lệ phát triển mạnh mẽ như Hoa Kỳ để từ đó học hỏi kinh nghiệm đưa ra giải pháp  
hoàn thiện trong việc xây dựng, công bố, áp dụng và bãi bỏ án lệ ở Việt Nam một cách  
phù hợp và hiệu quả là điều rất quan trọng, cấp thiết trong bối cảnh hiện nay.  
1. Án lệ dân sự và hướng dẫn áp dụng án lệ trong hệ thống pháp luật Việt Nam  
1.1. Quy trình áp dụng án lệ trong xét xử theo pháp luật hiện hành  
Nhiệm vụ phát triển án lệ nhằm mục tiêu nghiên cứu và áp dụng trong xét xử được  
đề cập trực tiếp tại điểm c khoản 2 Điều 22 Luật Tổ chức tòa án nhân dân năm 2014, theo  
đó Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm “lựa chọn quyết định  
giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, bản án, quyết định đã  
có hiệu lực pháp luật, có tính chuẩn mực của các Tòa án, tổng kết phát triển thành án lệ  
và công bố án lệ để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử”. Sau đó, án lệ được  
chính thức xem như một nguồn luật bổ sung tại Việt Nam theo Nghị quyết số  
03/2015/NQ-HĐTP ngày 28/10/2015, và hiện nay được thay thế bởi Nghị quyết số  
04/2019/NQ-HĐTP ngày 18/6/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao  
(“Nghị quyết 04”) về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ. Gần đây nhất, trong  
công văn 36/TANDTC-PC ngày 13 tháng 8 năm 2021, TANDTC đã nhấn mạnh yêu cầu  
nghiêm túc tổ chức thực hiện các quy định tại Điều 3 và Điều 8 Nghị quyết số 04 về việc  
đề xuất các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật là nguồn để phát triển thành án lệ và  
áp dụng án lệ và tăng cường hơn nữa công tác phát triển, áp dụng án lệ trong Tòa án nhân  
dân.  
Theo Điều 1 Nghị quyết 04, án lệ được định nghĩa là những lập luận, phán quyết  
trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa án về một vụ việc cụ thể được  
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Tòa án nhân  
dân tối cao công bố là án lệ để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử. Để trở thành  
án lệ, các bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án nhân dân cần phải đáp ứng những  
tiêu chí nhất định, được đề xuất bởi các cá nhân, tổ chức và các Tòa án các cấp; sau quá  
trình lựa chọn, lấy ý kiến và xem xét thông qua, các án lệ sẽ được công bố trên Cổng  
thông tin điện tử của TAND tối cao. Theo quy định tại Điều 8 Nghị quyết 04, án lệ sẽ  
được áp dụng theo quy trình sau: (i) Án lệ được nghiên cứu, áp dụng trong xét xử sau 30  
ngày kể từ ngày công bố; (ii) khi xét xử, Thẩm phán, Hội thẩm phải nghiên cứu, áp dụng  
án lệ, bảo đảm những vụ việc có tình huống pháp lý tương tự thì phải được giải quyết như  
nhau. Trường hợp vụ việc có tình huống pháp lý tương tự nhưng Tòa án không áp dụng  
án lệ thì phải nêu rõ lý do trong bản án, quyết định của Tòa án; (iii) trường hợp Tòa án áp  
dụng án lệ để giải quyết vụ việc thì số, tên án lệ, tình huống pháp lý, giải pháp pháp lý  
trong án lệ và tình huống pháp lý của vụ việc đang được giải quyết phải được viện dẫn,  
phân tích trong phần “Nhận định của Tòa án”; tùy từng trường hợp cụ thể có thể trích dẫn  
108  
toàn bộ hoặc một phần nội dung của án lệ để làm rõ quan điểm của Tòa án trong việc xét  
xử, giải quyết vụ việc tương tự.  
So với Điều 8 tại Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP trước đây, thời hạn áp dụng  
án lệ đã được rút ngắn từ 45 ngày công bố hoặc ghi trong quyết định công bố xuống còn  
30 ngày kể từ ngày công bố. Thêm vào đó, Nghị quyết 04 đã quy định cụ thể các vụ việc  
áp dụng án lệ là có “tình huống pháp lý tương tự” thay cho “những vụ việc có tình tiết, sự  
kiện pháp lý giống nhau” để đảm bảo được tính linh hoạt và đáp ứng được nhu cầu thực  
tiễn xét xử, đặc biệt trong tranh chấp dân sự.  
1.2. Các quy định về áp dụng án lệ trong pháp luật dân sự  
Về pháp luật nội dung, theo khoản 2 Điều 6 Bộ luật dân sự 2015, trường hợp  
không thể áp dụng tương tự pháp luật thì áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật  
dân sự, án lệ, lẽ công bằng.  
Về pháp luật tố tụng, Điều 4 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, quy định tòa án không  
được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng và việc giải  
quyết vụ việc dân sự quy định tại khoản này được thực hiện theo các nguyên tắc do Bộ  
luật dân sự và Bộ luật tố tụng dân sự quy định. Cụ thể, tại khoản 3 Điều 45 Bộ luật tố  
tụng dân sự 2015 hướng dẫn việc áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án  
lệ, lẽ công bằng được thực hiện như sau: “Tòa án áp dụng các nguyên tắc cơ bản của  
pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng để giải quyết vụ việc dân sự khi không thể áp dụng  
tập quán, tương tự pháp luật. Án lệ được Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong giải quyết vụ  
việc dân sự khi đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn và được  
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố”.  
Tại thời điểm nghị án, khoản 2 Điều 264 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định  
“Khi nghị án, các thành viên Hội đồng xét xử phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được  
xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, nếu vụ  
án thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật này thì còn phải căn cứ vào  
tập quán, tương tự pháp luật, những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ hoặc lẽ  
công bằng, để giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án bằng cách biểu quyết theo đa số về  
từng vấn đề.”  
Tại các quy định về bản án sơ thẩm (Điểm b khoản 2 Điều 266) và bản án phúc  
thẩm (Khoản 4 Điều 313) Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 đều đặt ra một trong những căn cứ  
yêu cầu tòa án dựa trên đó để phân tích, đánh giá và nhận định về vấn đề tranh chấp là án  
lệ hoặc lẽ công bằng nếu thuộc trường hợp tại Khoản 2 Điều 4 khi vụ việc dân sự chưa có  
điều luật để áp dụng.  
Như vậy, áp dụng án lệ trong giải quyết vụ việc dân sự có thể hiểu là việc áp dụng  
những quy tắc pháp lý được rút ra từ các án lệ và được dùng làm căn cứ để TAND các  
cấp áp dụng trong quá trình giải quyết các vụ án có nội dung, tính chất tương tự so với vụ  
án được đưa vào nguồn án lệ.  
2. Thực tiễn áp dụng án lệ trong giải quyết các vụ án dân sự tại TAND các cấp  
109  
2.1. Đánh giá về hiệu quả áp dụng án lệ trong thực tiễn xét xử  
Tính đến nay, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã công bố 43  
án lệ, trong đó có 24 án lệ dân sự, 09 án lệ kinh doanh thương mại, 01 án lệ hôn nhân gia  
đình và 01 án lệ thuộc lĩnh vực lao động177.  
Trong nhiệm kỳ 2016 - 2020, các tòa án đã thụ lý 1.894.472 vụ việc; đã giải quyết,  
xét xử được 1.842.684 vụ việc, đạt tỷ lệ 97,3%, vượt chỉ tiêu nghị quyết của Quốc hội đề  
ra (so với nhiệm kỳ trước, thụ lý tăng 523.966 vụ việc; giải quyết tăng 496.752 vụ việc).  
Trong đó, năm 2020, các tòa án nhân dân đã thụ lý tổng số 471.581 vụ việc; đã giải  
quyết, xét xử được 419.793 vụ việc10, đạt tỷ lệ 89,02% (so với năm 2019, số thụ lý giảm  
25.189 vụ việc; giải quyết, xét xử tăng 32.365 vụ việc)178.  
Trong số các vụ án đã xét xử, số liệu các quyết định, bản án có áp dụng án lệ được  
thống kê ở bảng sau:  
Loại việc Dân sự  
Hôn nhân  
Kinh  
doanh Lao động  
thương mại  
gia đình  
Cấp tòa  
2020 2021  
2020  
61  
2021  
2020  
250  
2021  
2020  
1
2021  
1
TAND  
cấp 508  
631  
65  
281  
huyện  
TAND cấp tỉnh 55  
TAND cấp cao 08  
78  
14  
0
9
0
0
11  
0
79  
0
85  
0
0
0
0
0
0
0
TAND tối cao  
0
0
0
0
Bảng 01: Số liệu các vụ án dân sự có áp dụng án lệ tính đến thời điểm 01/11/2020  
và 01/11/2021179.  
Tính đến 01/11/2021, tổng số vụ án dân sự ở các cấp xét xử có áp dụng án lệ là  
1.166, thể hiện án lệ không chỉ dừng lại ở mặt lý luận mà đã được áp dụng và đi vào thực  
tiễn đời sống pháp lý. So sánh số liệu giữa các năm cho thấy số lượng các vụ án có áp  
dụng án lệ đang tăng dần chủ yếu tăng ở các vụ án là tranh chấp loại việc dân sự, tuy  
nhiên mức độ tăng còn rất chậm. Trong một năm việc áp dụng án lệ về hôn nhân gia đình  
chỉ tăng thêm 04 vụ ở TAND cấp huyện và chỉ 02 vụ ở TAND cấp tỉnh, với án kinh  
doanh thương mại chỉ tăng thêm 31 vụ ở TAND cấp huyện và 06 vụ ở TAND cấp tỉnh,  
177  
Trang tin điện tử về án lệ - Tòa án nhân dân tối cao, “Tổng số án lệ đã công bố”,  
ngày 26/10/2021.  
178 Báo cáo tổng kết công tác năm 2020 và nhiệm kỳ 2016 -2020; phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm công tác năm  
2021  
của  
các  
Tòa  
án,  
hanh?dDocName=TAND155594, truy cập ngày 26/10/2021.  
179 Tòa án nhân dân Tối cao, https://congbobanan.toaan.gov.vn/, truy cập ngày 03/11/2021.  
110  
còn án lao động thì không tăng thêm. Điều này phần nào cho thấy việc áp dụng pháp luật  
để xét xử chủ yếu dựa vào các quy định pháp luật chính thống và việc viện dẫn, áp dụng  
án lệ còn tồn tại những khó khăn, trở ngại nhất định.  
Nhìn chung, việc áp dụng án lệ vào thực tiễn xét xử cũng đã mang lại những hiệu  
quả nhất định cho công tác xét xử, góp phần khắc phục được các khiếm khuyết của pháp  
luật, tạo tính ổn định, minh bạch trong các phán quyết của tòa án180. Đối với người dân,  
việc áp dụng án lệ trong giải quyết tranh chấp dân sự sẽ đảm bảo được cơ chế bình đẳng  
trước pháp luật và mọi tranh chấp dân sự đều được giải quyết kịp thời ngay khi không thể  
áp dụng tương tự pháp luật. Đặc biệt, khi bối cảnh xã hội ngày càng phát triển và quan hệ  
xã hội ngày càng phức tạp, đặc biệt là các quan hệ dân sự thì việc áp dụng án lệ càng có  
vai trò quan trong hơn khi hạn chế được những vướng mắc pháp lý về các sự kiện phát  
sinh mà nhà làm luật không dự trù được tại thời điểm soạn thảo.  
2.2. Một số bất cập trong hoạt động áp dụng án lệ khi giải quyết vụ án dân sự  
Mặc dù việc áp dụng án lệ trong thời gian qua đã đạt được một số hiệu quả nhất  
định như phân tích ở trên, tuy nhiên vẫn còn những vướng mắc nhất định trong quá trình  
áp dụng án lệ để giải quyết vụ án dân sự:  
Thứ nhất, nguồn án lệ còn khá khiêm tốn, chưa có một nguồn phong phú đủ để  
đáp ứng được quan hệ dân sự phát sinh ngày càng đa dạng và phức tạp như hiện nay.  
Về số lượng, tính đến nay mới chỉ có 43 án lệ được công bố, trong đó có 35 án lệ  
giải quyết tranh chấp dân sự. Qua số liệu tổng hợp tại mục 2.1. thể hiện tốc độ phát triển  
án lệ chưa cao. Tính đến hết quý 3 năm 2021 số án lệ của năm 2021 chỉ là 04 bản án chưa  
theo kịp tinh thần tăng cường phát triển nguồn án lệ như công văn 36/TANDTC-PC yêu  
cầu.  
Về nội dung, các án lệ hiện nay chưa bao quát hết các quan hệ tranh chấp dân sự,  
chỉ xoay quanh một số lĩnh vực nhất định. Phần lớn các án lệ tranh chấp dân sự chủ yếu  
là các án lệ về quyền tài sản như đòi tài sản, tranh chấp di sản thừa kế, tranh chấp quyền  
sử dụng đất. Trong khi đó quyền nhân thân là quyền gắn liền với mỗi cá nhân và không  
thể chuyển giao cho người khác, các quan hệ tranh chấp phát sinh găn liền với quyền  
nhân thân như danh dự, nhân phẩm, uy tín… là những quan hệ khó xác định và gây ra  
nhiều cách hiểu khác nhau. Hay trong các án lệ về kinh doanh thương mại thì các án lệ  
chủ yếu tập trung vào các hợp đồng mua bán hàng hóa mà chưa đưa ra các án lệ về cung  
ứng dịch vụ; lĩnh vực sở hữu trí tuệ cũng là một trong những lĩnh vực rất cần có những án  
lệ để tham chiếu phục vụ cho công tác xét xử nhưng đến nay chưa có án lệ nào về lĩnh  
vực này… Thiết nghĩ, việc lựa chọn và phát triển án lệ nên đa dạng hơn, mở rộng các án  
lệ ở nhiều lĩnh vực khác nhau như về quyền nhân thân hay tranh chấp về các hợp đồng  
cung ứng dịch vụ, lĩnh vực sở hữu trí tuệ là điều hết sức cần thiết.  
180  
Nguyễn Văn Đại, Trần Thị Thu Sương, “Áp dụng án lệ trong xét xử các vụ án dân sự, từ thực tiễn của Tòa án  
111  
Thứ hai, có sự chênh lệch về trình độ và kỹ năng để áp dụng án lệ tại TAND các  
Án lệ đóng vai trò chi phối không nhỏ đến phán quyết của Hội đồng xét xử bởi  
cấp.  
đây được xem là căn cứ, củng cố lập luận và cơ sở tham khảo cho phán quyết cuối cùng.  
Trên thực tế tình trạng cùng một tình tiết nhưng các tòa án áp dụng án lệ có quan điểm  
khác nhau đã ảnh hưởng đến định hướng giải quyết vụ án, điều này một phần có nguyên  
nhân từ sự chênh lệch về kỹ năng của từng Hội đồng xét xử trong hoạt động áp dụng án  
lệ. Tòa án này cho rằng đó là tình tiết cơ bản nhưng Tòa án khác lại không cho là tình tiết  
cơ bản. Lấy ví dụ tại Án lệ 02/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối  
cao thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016 và được công bố theo Quyết định 220/QĐ-CA  
ngày 06 tháng 4 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về vụ án tranh chấp đòi  
lại tài sản. Tại Bản án số 20/2017/DS-PT ngày 24/02/2017 của Tòa án nhân dân thành  
phố Cần Thơ khi giải quyết vụ án “Tranh chấp đòi lại tài sản” có tình tiết cơ bản tương tự  
với Án lệ số 02/2016/AL là người Việt kiều nhờ người Việt Nam đứng tên mua tài sản.  
Tuy nhiên Tòa này đã không áp dụng Án lệ số 02 với lý do được thể hiện rõ trong phần  
lập luận của bản án này là có sự khác biệt về tình tiết, cụ thể Nội dung Án lệ số 02 có tình  
tiết là Người Việt kiều “trực tiếp” giao dịch với người bán tài sản (đất) còn vụ việc cụ thể  
Tòa này giải quyết có tình tiết người Việt kiều “không trực tiếp” giao dịch mà đưa tiền  
cho người đứng tên dùm giao dịch. Ngược lại, trong Bản án phúc thẩm số 208/2017/DS–  
PT của TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 29 tháng 8 năm 2017, mặc dù  
cũng có tình tiết người Việt kiều “không trực tiếp” giao dịch mà đưa tiền cho người đứng  
tên dùm giao dịch nhưng Tòa này vẫn áp dụng Án lệ số 02/2016 yêu cầu người đứng tên  
dùm phải trả nhà lại cho Người Việt kiều181.  
Thứ ba, chưa được cập nhật kịp thời và có hướng dẫn cụ thể để áp dụng trong xét  
xử đối với trường hợp án lệ đương nhiên bãi bỏ.  
Điển hình như trường hợp Án lệ số 08/2016/AL về Tranh chấp hợp đồng tín dụng  
hướng dẫn về lãi suất và điều chỉnh lãi suất trong hợp đồng tín dụng với nội dung “Đối  
với các khoản tiền vay của tổ chức Ngân hàng, tín dụng, ngoài khoản tiền nợ gốc, lãi vay  
trong hạn, lãi vay quá hạn, phí mà khách hàng vay phải thanh toán cho bên cho vay theo  
hợp đồng tín dụng tính đến ngày xét xử sơ thẩm, thì kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử  
sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc  
chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi  
thanh toán xong khoản nợ gốc này182”. Sau đó, ngày 11/ 01/2019, Hội đồng Thẩm phán  
Tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP quy định chi tiết về  
vấn đề xác định lãi suất nêu tại Án lệ số 08/2016/AL trên và mở rộng áp dụng đối với tất  
cả các vụ án hình sự, hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh,  
thương mại, lao động, cùng với việc quyết định khoản tiền mà bên có nghĩa vụ về tài sản  
181  
Đỗ Thanh Trung, “Hoạt động áp dụng án lệ của Tòa án: Một số bất cập và định hướng hoàn thiện”,  
cập ngày 04/11/2021.  
182  
Trang tin điện tử về án lệ  
-
Tóa án nhân dân tối cao, “Án lệ số 08/2016/AL”,  
112  
phải thanh toán cho bên được thi hành án183. Như vậy, theo khoản 1 Điều 9 Nghị quyết  
04 thì Án lệ số 08/2016/AL đương nhiên bị chấm dứt hiệu lực do có sự thay đổi pháp luật  
nhưng trên Trang tin điện tử về án lệ của Tòa án nhân dân tối cao vẫn thể hiện án lệ đang  
có hiệu lực và chưa cập nhật thông tin bãi bỏ đối với án lệ này. Bất cập này có thể dẫn  
đến quá trình áp dụng trên thực tế sẽ không thống nhất giữa các cấp tòa khi viện dẫn  
nguồn pháp luật để xét xử. Ví dụ như tại Bản án số 32/2021/DS-ST ngày 29/09/2021 của  
TAND Q. Sơn Trà, TP Đà Nẵng về Tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ thanh toán  
không dùng tiền mặt chỉ áp dụng Án lệ số 08/2016/AL mà không áp dụng Nghị quyết số  
01/2019/NQ-HĐTP trong phần căn cứ áp dụng tại Quyết định của bản án. Trong khi đó,  
cùng quan hệ tranh chấp hợp đồng tín dụng Bản án số 113/2021/DS-ST ngày 24/09/2021  
của TAND Q. Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng viện dẫn căn cứ cả Nghị quyết số 01/2019/NQ-  
HĐTP và Án lệ số 08/2016/AL nêu tại phần Quyết định.  
Thứ tư, chưa ban hành hướng dẫn về cách thức phân loại, sắp xếp công bố án lệ  
một cách khoa học và hệ thống. Hiện nay, trên trang tin điện tử về án lệ của TAND tối  
cao, danh sách án lệ được công bố chỉ sắp xếp theo thứ tự thời gian mà không được phân  
loại theo vụ việc hay quan hệ tranh chấp dẫn đến khó khăn nhất định trong quá trình tra  
cứu và viện dẫn. Đặc biệt, với xu hướng phát triển án lệ theo tinh thần như hiện nay thì  
trong tương lai không xa số lượng án lệ sẽ ngày tăng lên với nhiều lĩnh vực khác nhau do  
đó việc đưa ra hướng dẫn cụ thể về cách thức sắp xếp công bố án lệ một cách khoa học là  
điều cần được xem xét và hoàn thiện.  
3. Một số giải pháp đề xuất hoàn hiện công tác áp dụng án lệ trong xét xử  
Xuất phát từ những điểm bất cập trong quá trình áp dụng án lệ khi xét xử các vụ  
án nói chung và án dân sự nói riêng như đã phân tích ở trên, các tác giả đề xuất một số  
biện pháp nhằm góp phần hoàn thiện công tác áp dụng án lệ trong thực tiễn xét xử, tập  
trung vào hai nhóm giải pháp đối với nguồn án lệ và nguồn nhân lực tham gia vào hoạt  
động xét xử như sau:  
Thứ nhất: Nhóm giải pháp đối với nguồn án lệ:  
Một là, Tòa án tiếp tục và thường xuyên tăng cường công bố án lệ có liên quan  
đến nhiều lĩnh vực, phát huy tinh thần của Công văn 36/TANDTC-PC về định hướng xây  
dựng và phát triển án lệ. Đây là điều rất quan trọng và cần thiết bởi như đã đề cập tại mục  
2, hiện nay do số lượng án lệ đang có hiệu lực được Tòa án nhân dân tối cao công bố còn  
khá ít và chưa đa dạng, điều này đã gây ra không ít khó khăn cho việc nghiên cứu, phân  
tích và áp dụng án lệ. Chính vì vậy, việc tăng cường rà soát, công bố án lệ liên quan đến  
tất cả các lĩnh vực là rất quan trọng, góp phần tăng thêm tính hiệu quả trong công tác xét  
xử, phát hiện những khoảng trống mà quy phạm pháp luật tương lai cần lấp đầy và tạo ra  
nguồn tài liệu phong phú, đa dạng đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, giảng dạy tại các cơ sở  
đào tạo luật và đào tạo nguồn thẩm phán như hiện nay. Đặc biệt trong lĩnh vực dân sự,  
cần đa dạng hóa hơn nữa lĩnh vực lựa chọn án lệ để góp phần hỗ trợ các thẩm phán khi  
183  
Nguyễn Xuân Bình, Nguyễn Đức Tâm, “Án lệ 08/2016/AL đương nhiên bị bãi bỏ”, https://tapchitoaan.vn/bai-  
113  
cần tìm định hướng giải quyết cho bất kỳ vụ việc nào mà chưa có cách hiểu rõ ràng khi  
áp dụng quy phạm pháp luật để giải quyết điển hình như các án về quyền nhân thân,  
quyền sở hữu trí tuệ…  
Hai là, đối với các án lệ đương nhiên bị bãi bỏ, hiện nay Nghị quyết 04 chưa quy  
định rõ cách thức quản lý đối với những án lệ bị bãi bỏ trong trường hợp này. Điều 10  
của Nghị quyết chỉ quy định thủ tục công bố án lệ bị bãi bỏ đối với các trường hợp do  
Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định chứ chưa quy định các trường  
hợp án lệ đương nhiên bị bãi bỏ. Do đó, cần bổ sung quy định về thủ tục bãi bỏ trong đó  
có yêu cầu về cập nhật tính hiệu lực của án lệ trên Trang tin điện tử về án lệ của Tòa án  
nhân dân tối cao để các chủ thể có liên quan áp dụng thống nhất trong quá trình tham gia  
xét xử các vụ án.  
Ba là, đưa ra các hướng dẫn cần thiết để hệ thống hóa các án lệ đã được công bố  
phục vụ cho việc tra cứu và tham khảo nguồn án lệ một cách thuận tiện và dễ dàng. Có  
thể dựa trên các trường thông tin bắt buộc để phân loại án lệ theo nhu cầu của nhiều đối  
tượng như án lệ theo lĩnh vực, án lệ theo cấp tòa, án lệ theo tần suất áp dụng… Ngoài ra,  
cân nhắc việc sắp xếp án lệ theo giá trị của án lệ thành ba loại: (i) Án lệ bắt buộc, (ii) Án  
lệ để giải thích, (iii) Án lệ gốc. Trong đó, (i) Án lệ bắt buộc là án lệ mà toà án bắt buộc  
phải tuân theo, ví dụ, toà án cấp thấp hơn bị giới hạn bởi một cách áp dụng của một toà  
án cấp cao hơn trong một vụ xét xử tương tự; (ii) Án lệ để giải thích là án lệ chỉ có thể  
được áp dụng cho một quy định pháp luật hiện đã có rồi, (iii) Án lệ gốc là án lệ tạo ra và  
áp dụng một quy định mới của pháp luật. Án lệ có sức thuyết phục là một án lệ mà toà án  
có thể hoặc là tuân theo hoặc là từ chối, nhưng điều khoản của nó phải được tôn trọng và  
cân nhắc cẩn thận”184. Đặt bên cạnh những khó khăn mà đội ngũ thẩm phán đang đối mặt  
như thời gian nghiên cứu hồ sơ quá ít trong khi tranh chấp dân sự, thương mại ngày càng  
phức tạp, khó lường; quy định pháp luật liên tục sửa đổi, bổ sung185... thì việc sắp xếp  
theo hệ thống này sẽ góp phần giúp cho thẩm phán cũng như những người tham gia tố  
tụng khác có thể nhanh chóng, dễ dàng trong việc tra cứu, sử dụng án lệ, từ đó giúp cho  
việc áp dụng pháp luật một cách thống nhất và hiệu quả, giảm tải áp lực cho đội ngũ thẩm  
phán trong hoạt động xét xử.  
Bốn là, nâng cao chất lượng của nguồn án lệ thông qua việc đề xuất, chọn lọc bản  
án ban đầu và qua các tổng kết, đánh giá thường niên về công tác áp dụng tại TAND các  
cấp. Theo đó, cần nâng cao hơn nữa vai trò của Hội đồng tư vấn án lệ gồm Tòa án nhân  
dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Bộ Tư pháp…  
đây là những thành viên giàu kinh nghiệm trong hoạt động tư pháp, việc xem xét, thảo  
luận, cho ý kiến đối với các đề xuất phát triển án lệ trình Hội đồng Thẩm phán Tòa án  
nhân dân tối cao quyết định thông qua án lệ của các thành viên này sẽ góp phần rất quan  
trọng để đưa ra những án lệ có chất lượng cao. Bên cạnh đó, các bản tổng kết, đánh giá  
184  
Nguyễn Thị Mai Trang, Hoàng Thị Bích Ngọc, “Án lệ – Một số vấn đề về giải thích pháp luật ở Việt Nam”,  
truy  
cập  
ngày  
04/11/2021.  
185 Di Lâm. “Thẩm phán xin nghỉ việc vì quá tải”, https://nld.com.vn/phap-luat/tham-phan-xin-nghi-viec-vi-qua-tai-  
20191106220726553.htm truy cập ngày 04/11/2021.  
114  
về các trường hợp từ chối áp dụng án lệ cũng cần được xem xét kỹ lưỡng: nguyên nhân,  
lý do từ chối, liệu rằng có cần đánh giá lại chất lượng của án lệ đó để tiếp tục duy trì hay  
bãi bỏ, hoặc đưa ra những khuyến nghị, hướng dẫn khắc phục những khó khăn gặp phải  
trong quá trình áp dụng các án lệ đó.  
Thứ hai: Nhóm giải pháp đối với những người tham gia vào hoạt động xét xử:  
Một là, thay đổi nhận thức về vai trò và giá trị của án lệ trong hoạt động xét xử.  
Pháp luật nước ta chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ, lâu dài từ hệ thống dân luật nên rất xem  
trọng và ưu tiên áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật. Quan niệm về hình thức pháp  
luật trong mô hình pháp luật xã hội chủ nghĩa cho rằng “văn bản quy phạm pháp luật là  
hình thức pháp luật tiến bộ nhất, cơ bản của pháp luật xã hội chủ nghĩa” đã phần nào làm  
cho án lệ rất mờ nhạt trong pháp luật nước ta suốt một thời gian dài.186 Với những người  
tham gia trực tiếp vào hoạt động xét xử việc thay đổi tư duy về vai trò của án lệ lại càng  
quan trọng. Bởi đây là yếu tố cốt lõi quyết định trực tiếp đến việc đưa án lệ đi vào đời  
sống pháp lý. Theo đó, những người tham gia vào hoạt động xét xử cần phải nhận thức  
được vai trò và tầm quan trọng của án lệ trong thực tiễn xét xử và cách vận dụng án lệ  
trong từng quan hệ tranh chấp khác nhau. Khi nhận thức được bản chất và tầm quan trọng  
của vấn đề sẽ giúp cho việc nghiên cứu, phân tích và áp dụng án lệ trở nên tích cực và  
hiệu quả hơn.  
Hai là, nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng áp dụng án lệ đối với đội ngũ  
thẩm phán, hội thẩm nhân dân tham gia xét xử cả về chất lượng lẫn số lượng. Đây được  
xem là giải pháp rất quan trọng và cần thiết để có thể giải quyết được những khó khăn và  
hạn chế đang tồn trọng trong nguồn nhân lực thẩm phán và hội thẩm hiện nay. Đặc biệt,  
với các hội thẩm nhân dân là các lực lượng không chuyên trách nên việc được trang bị kỹ  
năng cũng như nâng cao kiến thức về nghiên cứu, phân tích và áp dụng án lệ trong xét xử  
là điều cần được chú trọng hơn nữa. Một số cách thức nhằm thực hiện mục đích này có  
thể kể đến như là: (i) Xây dựng và đưa vào các chương trình đào tạo, bồi dưỡng nguồn  
nhân lực thẩm phán về nội dung liên quan đến án lệ và áp dụng án lệ trong thực tiễn xét  
xử; (ii) các cấp tòa cần tổ chức nhiều buổi tập huấn, nâng cao kỹ năng, rút kinh nghiệm  
về áp dụng án lệ trong các vụ án đã xét xử, gợi mở định hướng để áp dụng trong tương  
lai; (iii) học hỏi kinh nghiệm và tư duy áp dụng án lệ từ các chuyên gia, thẩm phán giàu  
kinh nghiệm trong và ngoài nước để tăng cường kỹ năng hành nghề và nâng cao chất  
lượng bản án. Lấy dẫn chứng tại quốc gia Châu Á như Nhật Bản, các nghiên cứu về án lệ  
được tích cực thực hiện và trở thành một phần quan trọng trong bộ môn “lý luận giải  
thích pháp luật”, nếu án lệ thay đổi các tài liệu giảng dạy như giáo trình cũng được cải  
biên, các thẩm phán đều nắm vững kỹ năng nghiên cứu án lệ. Do đó, có thể nói hầu như  
không phát sinh vấn đề thuộc dạng “Thẩm phán không biết áp dụng án lệ như thế nào cho  
phù hợp”187.  
186 Châu Hoàng Thân, “Thách thức và định hướng triển khai áp dụng án lệ ở Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và Pháp  
luật, số 2/2016, tr. 14.  
187  
Án  
lệ  
của  
Nhật  
Bản,  
Vụ  
Pháp  
chế  
và  
Quản  
lý  
khoa  
học  
TANDTC,  
115  
Ba là, đảm bảo nguyên tắc “thẩm phán xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”.  
Cần thừa nhận rằng khi áp dụng án lệ, thẩm phán sẽ giữ vai trò hết sức quan trọng đối với  
việc có áp dụng án lệ hay không và áp dụng theo cách hiểu như thế nào để quyết định  
quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự vì đa phần đây là những tranh chấp không có  
quy phạm pháp luật trực tiếp điều chỉnh. Nếu thẩm phán bị tác động bởi những yếu tố  
ảnh hướng đến tính khách quan và độc lập của tòa án trong quá trình xét xử sẽ dẫn đến  
tính đúng đắn, tính hợp pháp và tính công bằng của một bản án không được đảm bảo.  
Nếu tòa án không độc lập, chịu ảnh hưởng của các chủ thể khác thì án lệ của tòa án chỉ là  
sản phẩm của quyền lực ngầm, mượn tòa án nói lên điều họ muốn. Như vậy, sử dụng án  
lệ sẽ trở nên rất nguy hiểm188, tùy tiện và đi ngược lại với nguyện vọng chính đáng của  
nhân dân. Do đó, việc đảm bảo nguyên tắc “xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”  
cần được đặt lên hàng đầu đối với mỗi thẩm phán khi tham gia xét xử các vụ án.  
Kết luận  
Áp dụng án lệ trong giải quyết tranh chấp nói chung và tranh chấp dân sự nói riêng  
là nhiệm vụ quan trọng được đặt ra theo chủ trương và đường lối phát triển hệ thống pháp  
luật của nước ta. Đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang thúc đẩy mối quan hệ hợp tác đa  
phương và song phương với các quốc gia trên thế giới, kéo theo nhu cầu hài hòa hóa giữa  
pháp luật quốc gia và pháp luật các nước theo hệ thống thông luật thì hoạt động xây  
dựng, phát triển và áp dụng án lệ là một trong những ưu tiên cần được thực hiện nhằm  
giải quyết những tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài và bảo đảm việc áp dụng pháp  
luật thống nhất, tạo lập tính ổn định, minh bạch trong các phán quyết của Tòa án, đem lại  
niềm tin cho các bên khi tham gia vào các quan hệ dân sự tại Việt Nam. Do đó, việc  
nghiên cứu, phát hiện những bất cập, vướng mắc trong quá trình áp dụng án lệ là vô cùng  
cần thiết, góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả của công tác xét xử tại TAND các cấp  
hiện nay.  
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Án lệ của Nhật Bản, Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học TANDTC,  
ruy cập ngày 04/11/2021.  
2. Báo cáo tổng kết công tác năm 2020 và nhiệm kỳ 2016 -2020; phương hướng, nhiệm  
vụ  
trọng  
tâm  
công  
tác  
năm  
2021  
của  
các  
Tòa  
án,  
hanh?dDocName=TAND155594, truy cập ngày 26/10/2021.  
phan-xin-nghi-viec-vi-qua-tai-20191106220726553.htm truy cập ngày 04/11/2021.  
4. Nguyễn Thị Mai Trang, Hoàng Thị Bích Ngọc, “Án lệ – Một số vấn đề về giải thích  
pháp luật ở Việt Nam”, https://tapchitoaan.vn/bai-viet/an-le/an-le-mot-so-van-de-ve-giai-  
thich-phap-luat-o-viet-nam, truy cập ngày 04/11/2021.  
188 Châu Hoàng Thân (2015), tlđd, tr. 15  
116  
5. Nguyễn Văn Đại, Trần Thị Thu Sương, “Áp dụng án lệ trong xét xử các vụ án dân sự,  
từ thực tiễn của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai”, https://tapchitoaan.vn/bai-viet/binh-  
luan-trao-doi-gop-y/ap-dung-an-le-trong-xet-xu-cac-vu-an-dan-su-tu-thuc-tien-xet-xu-  
cua-toa-an-nhan-dan-tinh-dong-nai, truy cập ngày 03/11/2021.  
6. Trang tin điện tử về án lệ - Tòa án nhân dân tối cao, “Tổng số án lệ đã công bố”,  
mucHienThi=9009, truy cập ngày 26/10/2021.  
7. Trang tin điện tử về án lệ - Tóa án nhân dân tối cao, “Án lệ số 08/2016/AL”,  
truy cập ngày 04/11/2021.  
8. Châu Hoàng Thân, “Thách thức và định hướng triển khai áp dụng án lệ ở Việt Nam”,  
Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 2/2016.  
9. Nguyễn Xuân Bình, Nguyễn Đức Tâm, “Án lệ 08/2016/AL đương nhiên bị bãi bỏ”,  
ngày 04/11/2021.  
10. Đỗ Thanh Trung, “Hoạt động áp dụng án lệ của Tòa án: Một số bất cập và định hướng  
hoàn thiện”, https://tapchitoaan.vn/bai-viet/an-le/hoat-dong-ap-dung-an-le-cua-toa-an-  
mot-so-bat-cap-va-huong-hoan-thien, truy cập ngày 04/11/2021.  
117  
pdf 11 trang Thùy Anh 14560 Free
Bạn đang xem tài liệu "Áp dụng án lệ trong xét xử các vụ án dân sự tại tòa án nhân dân các cấp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfap_dung_an_le_trong_xet_xu_cac_vu_an_dan_su_tai_toa_an_nhan.pdf