75 năm quốc hội Việt Nam, khắc ghi những ấn tượng

NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
75 NĂM QUỐC HỘI VIỆT NAM, KHẮC GHI NHỮNG ẤN TƯỢNG  
TS. Bùi Ngọc Thanh  
Nguyên-Chủ-nhiệm-VPQH  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Từ khóa: 75 năm Quốc hội Việt Nam;  
Quốc dân Đại hội Tân Trào; Hiến pháp  
lâm thời; đổi mới lập pháp; cơ cấu đại biểu  
Quốc hội; Ban Thường trực Quốc hội.  
75 năm hình thành và phát triển, Quốc hội Việt Nam đã có hàng  
trăm, thậm chí hàng ngàn sự kiện có ý nghĩa lịch sử sâu sắc.  
Nhân kỷ niệm trọng thể ngày lễ 75 năm thành lập Quốc hội  
Việt Nam, xin được bày tỏ sự ngưỡng mộ về những sự kiện  
một thời không thể nào quên.  
Lịch sử bài viết:  
Ngày nhận bài : 15/12/2020  
Biên tập  
: 20/12/2020  
: 23/12/2020  
Abstract:  
Duyệt bài  
With 75 years of establishment and development, the National  
Assembly of Vietnam has hundreds or even thousands of  
events of profound historical significance. On the occasion of  
the celebration of 75-year establishment of the National  
Assembly of Vietnam, we would like to express our admiration  
for such unforgettable events.  
Article Infomation:  
Keywords: 75-Year National Assembly of  
Vietnam; National Meeting of Tan Trao;  
Interim Constitution; legislative reform;  
National Assembly deputies structure; the  
Standing Committee of the National  
Assembly.  
Article History:  
Received  
Edited  
Approved  
: 15 Dec. 2020  
: 20 Dec. 2020  
: 23 Dec. 2020  
1. Một vài nội dung đặc biệt có giá trị lịch  
sử của Quốc dân Đại hội Tân Trào  
Quốc dân Đại hội Tân Trào chỉ diễn ra  
2 ngày từ ngày 16 đến ngày 17 tháng Tám  
năm 1945 nhưng có khá nhiều nội dung, tình  
tiết đặc biệt có giá trị lịch sử, trong đó có hai  
sự kiện mà chúng tôi tâm đắc nhất.  
Một là, đến những năm đầu thập niên 40  
của thế kỷ XX, Đảng, Bác Hồ đã rất am  
tường quy trình (trình tự) có tính pháp lý của  
việc xây dựng một Nhà nước ở một quốc gia.  
Bác nói, “...chúng ta trước phải có một cái  
cơ cấu đại diện cho sự chân thành đoàn kết  
và hành động nhất trí của toàn thể quốc dân  
ta. Mà cơ cấu ấy phải do một toàn quốc đại  
biểu đại hội gồm tất cả các đảng phái cách  
mệnh và các đoàn thể ái quốc trong nước  
bầu cử ra. Một cơ cấu như thế mới đủ lực  
lượng và oai tín, trong thì lãnh đạo công  
cuộc cứu quốc, kiến quốc ngoài thì giao  
thiệp với các hữu bang”1. Bác đã chỉ ra rằng,  
trình tự thành lập Nhà nước, trước hết phải  
có Quốc hội, sau đó mới lập ra Chính phủ,  
hệ thống chính quyền. Tuy nhiên, trong điều  
kiện đất nước chưa có chính quyền thì mọi  
việc đều do Đảng lãnh đạo, “kiêm” tổ chức  
thực hiện. Việc đầu tiên là phải tổ chức một  
Đại hội quốc dân, một tiền thân của Quốc hội  
1 Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 7 (1940-1945), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 2000, tr.352-353.  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
3
Số 24 (424) - T12/2020  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
(một Quốc hội lâm thời). Trong Đại hội này  
phải lập ra một tổ chức để khi cách mạng  
thành công thì tổ chức đó sẽ chuyển thành  
Chính phủ. Như chúng ta đã biết, tất cả  
những sự trù tính của Đảng, của Đại hội quốc  
dân đã diễn ra đúng như vậy. Nghĩa là Cách  
mạng tháng Tám thành công, Ủy ban Dân tộc  
giải phóng được thành lập trong Đại hội, đến  
ngày 25/8/1945, Ủy ban về đến Hà Nội, theo  
đề nghị của Chủ tịch Ủy ban - Hồ Chí Minh,  
Ủy ban đã được cải tổ thành Chính phủ lâm  
thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Có  
Quốc hội rồi mới có Chính phủ, trình tự này  
đã được thực hiện rất chuẩn xác, chỉ khác là,  
tất cả còn ở vị thế “lâm thời”.  
Hai là, Chương trình 10 điểm của Đại  
hội như một bản Hiến pháp lâm thời.  
Quốc dân Đại hội đã quyết nghị Chương  
trình 10 điểm và giao cho Ủy ban Dân tộc  
giải phóng thi hành:  
1. Giành lấy chính quyền, xây dựng một  
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trên nền  
tảng hoàn toàn độc lập.  
9. Xây dựng nền quốc dân giáo dục,  
chống nạn mù chữ, phổ thông và cưỡng bách  
giáo dục đến bậc sơ cấp, kiến thiết nền văn  
hóa mới.  
10. Thân thiện và giao hảo với các nước  
Đồng minh và các nước nhược tiểu dân tộc  
để giành lấy sự đồng tình và sức ủng hộ của  
họ2.  
Vào thời điểm lịch sử tháng Tám năm  
1945, chúng ta có thể coi Chương trình 10  
điểm trên đây như một bản Hiến pháp tạm  
thời. Trừ một vài tiểu tiết nhằm đáp ứng yêu  
cầu tình hình trước mắt trong thời gian ngắn  
(trước và sau Cách mạng), tuyệt đại bộ phận  
các điểm có sự tương ứng với tất cả các bản  
Hiến pháp trong suốt 75 năm qua, kể cả Hiến  
pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt  
Nam năm 2013. Với Hiến pháp năm 2013,  
chúng ta vẫn thấy có sự tương đồng, tương  
ứng: Điểm 1 tương ứng với Chương I - Chế  
độ chính trị (thể chế Nhà nước); Điểm 2  
tương ứng với Chương IV - Bảo vệ Tổ quốc  
(trong đó có nhân tố quan trọng là lực lượng  
vũ trang nhân dân); Điểm 5 tương ứng với  
Chương II - Quyền con người, quyền và  
nghĩa vụ cơ bản của công dân. Cần phải nói  
thêm rằng, ngay từ khi ấy, vấn đề nhân  
quyền đã được Đảng ta đặt ra với tinh thần  
là một vấn đề cấp bách của thời cuộc chứ  
không phải đến bây giờ mới nói; các Điểm  
4, 6, 7, 8, 9 tương ứng với Chương III - Kinh  
tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công  
nghệ và môi trường. Bên cạnh đó, các vấn  
đề phổ cập giáo dục sơ cấp; xã hội bảo hiểm,  
đặt lương tối thiểu, cứu tế nạn dân, ban bố  
luật lao động, nghĩa là những trụ cột chính  
của an sinh xã hội ngày nay đã được đặt ra  
thành nhiệm vụ của Cách mạng từ bấy giờ;  
Điểm 10 tương ứng với đường lối đối ngoại  
ở Điều 12 Hiến pháp năm 2013.  
2. Võ trang nhân dân. Phát triển Quân  
giải phóng Việt Nam.  
3. Tịch thu tài sản của giặc nước và của  
Việt gian, tùy từng trường hợp sung công  
làm của quốc gia hay chia cho dân nghèo.  
4. Bỏ các thứ thuế do Pháp, Nhật đặt ra;  
đặt một thứ thuế công bằng và nhẹ.  
5. Ban bố những quyền của dân, cho  
dân: nhân quyền; tài quyền (quyền sở hữu);  
dân quyền; quyền phổ thông đầu phiếu,  
quyền tự do dân chủ (tự do tín ngưỡng, tự do  
tư tưởng, ngôn luận, hội họp, đi lại), dân tộc  
bình quyền, nam nữ bình quyền.  
6. Chia lại ruộng đất cho công bằng,  
giảm địa tô, giảm lợi tức, hoãn nợ, cứu tế  
nạn dân.  
7. Ban bố Luật lao động: ngày làm việc  
8 giờ, định lương tối thiểu, đặt xã hội bảo  
hiểm.  
8. Xây dựng nền kinh tế quốc dân, phát  
triển nông nghiệp. Mở quốc gia ngân hang.  
Với “Hiến pháp tạm thời” này, Ủy ban  
Dân tộc giải phóng (Chính phủ lâm thời) có  
đầy đủ cơ sở pháp lý để hành động, điều  
hành công việc cách mạng, chính danh, hợp  
pháp.  
2 Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1946-1960, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 1994, tr. 20, 21.  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
4
Số 24 (424) - T12/2020  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
2. Cơ cấu đại biểu Quốc hội là hiện thân  
sâu đậm của tinh thần đại đoàn kết dân tộc  
Quốc hội khóa I phân chia cơ cấu đại  
biểu còn cô đọng, đơn giản, mang tính tổng  
hợp, chỉ gồm 4 thành phần, đó là: không  
đảng phái; phụ nữ; công nhân, nông dân,  
chiến sĩ cách mạng; dân tộc thiểu số. Thực  
ra, khi đó chưa có điều kiện tách bạch chi  
tiết được; do vậy trong 4 thành phần cơ cấu  
đó có sự dan xen lẫn nhau. Trong 87% số đại  
biểu là công nhân, nông dân và chiến sĩ cách  
mạng thì có nhiều đại biểu là người dân tộc  
thiểu số (đại biểu dân tộc thiểu số chiếm  
7,5% tổng số đại biểu), có cả đại biểu phụ  
nữ; hay là trong số 43% đại biểu không  
thuộc đảng phái nào thì cũng có đại biểu là  
nông dân. Quốc hội khóa I có đại biểu của  
tất cả các vùng, miền; các ngành nghề sĩ,  
nông, công, thương; đảng phái, không đảng  
phái; nam, nữ, các dân tộc thiểu số. Ngoài  
ra, Quốc hội khóa I còn có 50 đại biểu của  
Việt quốc và 20 đại biểu của Việt cách không  
qua bầu cử. Đây là một sự kiện vừa có tính  
sách lược (làm dịu tình hình), vừa có tính  
chiến lược (tự họ sẽ khẳng định chính họ).  
Quốc hội các khóa về sau càng bảo đảm  
cơ cấu bao quát được khối đại đoàn kết toàn  
dân. Đây là một chính sách nhất quán, xuyên  
suốt các thời kỳ cách mạng của Đảng, của  
Nhà nước ta.  
Thực ra, ngay từ Quốc dân Đại hội Tân  
Trào chỉ có hơn 60 đại biểu nhưng trong cơ  
cấu đã thể hiện một tinh thần đại đoàn kết  
tuyệt vời. Theo cơ cấu vùng miền thì Nam  
Bộ có đại biểu Ung Văn Khiêm, Trung Bộ  
có Hoàng Hữu Na, Phạm Ngọc Thạch; cơ  
cấu đoàn thể có Vũ Quang là Thanh niên cứu  
quốc; Thanh Thúy, Nguyễn Thị Như là Phụ  
nữ cứu quốc; Văn Tân là Công nhân cứu  
quốc; cơ cấu dân tộc ít người có Chu Văn  
Tấn...; đại diện cho nông dân có Trần Đức  
Thịnh; cơ cấu theo đảng phái chính trị thì  
đảng Dân chủ có nhiều đại biểu, dẫn đầu là  
Dương Đức Hiền; cơ cấu trí thức có Cù Huy  
Cận, Nguyễn Đình Thi... Khi ấy, trong điều  
kiện giao thông liên lạc khó khăn, đi lại qua  
các vùng địch kiểm soát gắt gao, hết sức  
phức tạp và nguy hiểm mà cơ cấu đại biểu  
thực tế của Đại hội đạt được như vậy là khá  
tiêu biểu và rất tốt đẹp. Nói cách khác, cơ  
cấu đại biểu Quốc dân Đại hội Tân Trào đã  
trở thành truyền thống như một “hình mẫu”  
cho cơ cấu của Quốc hội sau này, truyền  
thống của một chính sách lâu dài, bền bỉ; đó  
là đại đoàn kết toàn toàn dân tộc.  
3. Đổi mới lập pháp - Một sự kiện ghi đậm  
dấu ấn  
Bước vào công cuộc đổi mới, kinh tế là  
bước đi đầu tiên. Chúng ta đa từ một nền  
kinh tế kế hoạch hóa chỉ huy (quan liêu, bao  
cấp) sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành  
phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự  
quản lý của Nhà nước (điều tiết vĩ mô), rồi  
sau đó cho đến nay là nền kinh tế thị trường  
định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự chuyển đổi  
nền kinh tế này diễn ra với tốc độ nhanh nên  
hệ thống luật pháp hầu như phải đổi mới  
hoàn toàn và cũng với tốc độ nhanh chóng  
nhằm đáp ứng yêu cầu thực tế. Nếu như  
trong hơn 40 năm của 7 khóa Quốc hội đầu  
tiên (từ năm 1946 đến đầu năm 1987), Quốc  
hội chỉ ban hành được 29 luật, thì Quốc hội  
khóa VIII (1987-1992), khóa đầu tiên bước  
vào công cuộc đổi mới, trong 5 năm, Quốc  
hội đã ban hành tới 31 luật; khóa IX, Quốc  
hội ban hành 41 luật và bộ luật, khóa X là 35  
luật, trong đó có các bộ luật lớn: Hình sự và  
Tố tụng hình sự, Dân sự và Tố tụng dân sự;  
khóa XI, Quốc hội ban hành 84 luật; khóa  
XII chỉ có 4 năm, Quốc hội cũng đã xây  
dựng được 67 luật, đến khóa XIII là 89 luật  
và khóa XIV hiện nay, từ 2016 đến cuối  
2020 cũng đã thông qua được 81 luật. Các  
văn bản luật được xây dựng trong công cuộc  
đổi mới, về nội dung khác đến 90-95% so  
với thời kỳ thực thi nền kinh tế kế hoạch hóa  
chỉ huy.  
Có những đạo luật mà xưa nay chúng ta  
chưa hề tiếp cận, nhưng nay phải làm như:  
Luật Đầu tư nước ngoài, Luật Đầu tư trong  
nước. Hai Luật ra đời đi vào hoạt động lại  
phát sinh những mâu thuẫn, gây nên những  
bất bình đẳng giữa thu hút các nguồn đầu tư  
nước ngoài với thu hút các nguồn đầu tư  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
5
Số 24 (424) - T12/2020  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
trong nước; do đó lại phải thống nhất hai luật  
đầu tư thành một Luật duy nhất, bình đẳng  
giữa đầu tư nước ngoài với đầu tư trong  
nước. Tiếp đến là Luật Cạnh tranh, Luật Phá  
sản (doanh nghiệp)... Đây là những luật mà  
trước kia trong nền kinh tế kế hoạch hóa  
chưa hề có. Bởi vậy, chúng ta phải đổi mới  
tư duy xây dựng pháp luật cùng với đổi mới  
tư duy kinh tế. Đây cũng là loại công việc  
nặng nhọc, phải vắt óc, phải “lao tâm, khổ  
tứ”, phải tham khảo, “tầm chương, trích  
cú”... nhưng cũng là những kỷ niệm, những  
ký ức không thể nào quên của người làm  
luật. Nhìn chung, tốc độ xây dựng luật của  
Quốc hội trong công cuộc đổi mới đã tăng  
nhanh; chất lượng, nội dung được bảo đảm,  
từng bước đáp ứng yêu cầu xây dựng một  
nền kinh tế độc lập, tự chủ, góp phần đắc lực  
vào việc thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước  
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.  
4. Ghi nhớ một hình thức giám sát có hiệu  
lực và hiệu quả  
Hình thức giám sát để lại nhiều dấu ấn  
là chất vấn và trả lời chất vấn. Hình thức  
giám sát này đã được biến tấu, đổi mới qua  
nhiều giai đoạn khác nhau với mục đích là  
ngày càng nâng cao tính hiệu lực, hiệu quả  
của nó.  
Chỉ tính từ đầu thế kỷ XXI đến nay (20  
năm), Quốc hội đã có ít nhất 3 mô hình hoạt  
động chất vấn:  
Mô hình thứ nhất, mỗi kỳ họp có 3 ngày  
cho hoạt động chất vấn, Ủy ban thường vụ  
Quốc hội thống nhất với Chính phủ chọn ra  
6 đến 8 chức danh bị chất vấn (mỗi ngày từ  
2 đến 3 người trả lời); đại biểu được hỏi  
(chất vấn) tự do trong phạm vi quản lý, lãnh  
đạo của người bị chất vấn; sau khi hỏi thì trả  
lời luôn. Mô hình này, bên cạnh những ưu  
điểm, chỉ một đại biểu hỏi thôi nên người bị  
chất vấn tập trung được suy nghĩ vào một  
chủ điểm, thuận lợi cho việc trả lời; Quốc  
hội và đại biểu Quốc hội cũng dễ nhận biết  
năng lực bao quát công việc, trình độ quản  
lý lĩnh vực và mức độ hài lòng của Quốc hội  
và cử tri. Tuy nhiên, hạn chế của mô hình  
này cũng không nhỏ. Phía người chất vấn  
(đại biểu) thường diễn giải tình hình khá dài  
dòng rồi mới bật ra được câu hỏi, tiêu tốn rất  
nhiều thời gian. Phía người bị chất vấn,  
nhiều trường hợp được dịp “hào hứng kể  
chuyện thành tích của ngành” dẫn dắt rất lâu  
mà không đi vào trọng tâm chất vấn...  
Mô hình thứ hai, theo mô hình này, số  
người bị chất vấn chỉ từ 3 đến 4 người. Hỏi  
và trả lời theo nhóm vấn đề đã được xác  
định; đồng thời, thời lượng hỏi và trả lời  
được xác định là: hỏi 2 phút, trả lời 5 phút  
(sau này hỏi trong 1 phút, trả lời 3 phút cho  
mỗi câu và có thể tranh luận trong quá trình  
đối, đáp. Mô hình này đã đem lại hiệu quả  
rất cao. Người hỏi buộc phải chọn vấn đề  
đích đáng để chất vấn và phải gọt dũa câu  
chất vấn cho rõ ràng và ngắn gọn. Người bị  
chất vấn cũng phải lựa chọn thông tin và “cô  
đặc” thông tin để bảo đảm “không bị lố” thời  
lượng cho phép. Do chất vấn theo nhóm vấn  
đề nên nhiều vấn đề đi đến được tận cùng và  
quy được trách nhiệm tương đối rõ đối với  
người bị chất vấn. Mô hình này có “tuổi thọ”  
tương đối cao.  
Mô hình thứ ba, tạm gọi là “mô hính sát  
hạch tổng thể”, có người gọi là mô hình “ba  
không” đối với chức danh bị chất vấn  
(không biết mình có bị trả lời không; không  
biết đại biểu chất vấn điều gì; không rõ thời  
gian bị trả lời là khi nào). Bởi vậy tất cả  
những ai trong diện bị chất vấn đều phải tập  
trung tư tưởng, theo dõi sát sao trong cả quá  
trình diễn biến. Nội dung của mô hình này  
là tái chất vấn việc thực hiện các Nghị quyết  
về chất vấn, về các chuyên đề đã chất vấn  
trọng nhiệm kỳ khóa XIV và một số Nghị  
quyết, chuyên đề của khóa XIII. Nội dung  
“vắt” qua hai nhiệm kỳ thì hầu như tất cả các  
vấn đề kinh tế, xã hội đều đã được chất vấn,  
nay “cày xới lại” trong bối cảnh sắp kết thúc  
nhiệm kỳ khóa XIV. Đây là một thử thách  
đối với người bị chất vấn. Mô hình này mới  
thực hiện được một kỳ họp (kỳ thứ 10, Quốc  
hội khóa XIV), nhưng đã đạt được những  
“kỷ lục” chưa từng có: một là, người đứng  
đầu các cơ quan quyền lực nhà nước đều trả  
lời chất vấn, đó là Chủ tịch Quốc hội, Thủ  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
6
Số 24 (424) - T12/2020  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
tướng Chính phủ và Chánh án Tòa án nhân  
dân tối cao; hai là, tất cả các thành viên  
Chính phủ có mặt tại thời điểm bắt đầu chất  
vấn đều trực tiếp trả lời chất vấn, gồm Thủ  
tướng, 3 Phó Thủ tướng, 17 Bộ trưởng,  
Trưởng ngành; ba là, qua hoạt động chất vấn  
cho thấy rõ những lĩnh vực, những vấn đề  
bức xúc, trách nhiệm của người đứng đầu  
những lĩnh vực đó và đặt ra mức độ khẩn  
trương xử lý của ngành, lĩnh vực như: Tài  
nguyên và Môi trường (không đánh đổi môi  
trường lấy kinh tế); Thông tin và Truyền  
thông (đặt trong điều kiện xây dựng nền kinh  
tế số); Nội vụ (trong điều kiện sắp xếp bộ  
máy tinh gọn, tinh giản biên chế); Nông  
nghiệp và Phát triển nông thôn (trong điều  
kiện biến đổi khí hậu, thiên tai bão lũ) và các  
lĩnh vực Tư pháp, Giao thông vận tải; Lao  
động và Xã hội; Kế hoạch và Đầu tư...; bốn  
là, mức độ hài lòng của đại biểu, của cư tri  
cao hơn hẳn so với nhiều kỳ chất vấn trước,  
nhất là đối với một số bộ trưởng, trưởng  
ngành, những người nhiều lần phải trả lời  
chất vấn (theo nhiều cử tri thì “các bác ấy”  
khá “thuộc bài”). Nói một cách tổng quát thì,  
mô hình này mới một lần thực thi nhưng  
hiệu lực và hiệu quả là rõ ràng, nó sẽ được  
chuyển tiếp cho khóa Quốc hội mới.  
phòng (in, sao văn bản, phát tài liệu, giao  
thông lien lạc, tổ chức công tác tài chính; sắp  
xếp nơi ăn ở cho các đại biểu khi về họp, tổ  
chức các hội nghị của Ban Thường trực  
Quốc hội...). Theo bản kê khai lý lịch của các  
nhân viên phục vụ Ban Thường trực Quốc  
hội tại hồ sơ số 276 lập ngày 20-6-1947 của  
Phòng tư liệu Quốc hội thuộc Trung tâm lưu  
trữ quốc gia III thì số cán bộ nghiệp vụ đầu  
tiên chỉ gồm: Ông Trần Văn Xoang (tức Trần  
Thanh Tú); ông Hoàng Viết Sinh (tức Trịnh  
Hoàng); ông Phạm Văn Tâm; bà Trịnh Thị  
Phúc, cùng một số nhân viên phục vụ khác,  
tất cả khoảng 20 người. Đây là những cán bộ  
được tuyển chọn từ các cơ quan Trung ương  
và đều là những người có phẩm chất cách  
mạng, tư cách, đạo đức tốt, tận tâm, tận lực  
thực thi nhiệm vụ. Họ đã phục vụ Ban  
Thường trực Quốc hội giải quyết nhiều công  
việc thiết thực, có hiệu quả, có thể dẫn ra  
những việc chủ yếu như sau.  
Ngày 16/4/1946, Văn phòng đã tham  
mưu cho Ban Thường trực Quốc hội tổ chức  
một phái đoàn gồm 10 đại biểu Quốc hội, do  
ông Phạm Văn Đồng, Phó trưởng Ban  
Thường trực Quốc hội dẫn đầu sang công tác  
tại Pháp, từ 25-4 đến 16-5-1946 với nhiệm  
vụ làm cho nhân dân Pháp và số đông các  
chính khách Pháp hiểu rõ cuộc đấu tranh vì  
độc lập của Việt Nam và mong muốn quan  
hệ giữa hai dân tộc Việt-Pháp thân thiện trên  
nền tảng thừa nhận ý nguyện độc lập, thống  
nhất của Việt Nam.  
5. Ngay từ thuở ban đầu cơ quan phục vụ  
đã bộn bề công việc  
Do công tác phục vụ được bắt đầu từ kỳ  
họp đầu tiên của Quốc hội khóa I nên ngày  
khai mạc kỳ họp đầu tiên (02-3-1946) có giá  
trị lịch sử là ngày mở đầu truyền thống hoạt  
động của Văn phòng Quốc hội (khi đó là  
Văn phòng Ban Thường trực Quốc hội). Với  
ý nghĩa đó, sau này Nghị quyết số  
751/2005/NQ-UBTVQH11 ngày 02-3-2005  
của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XI đã  
quyết nghị: “Điều 1. Ngày 02 tháng 3 hàng  
năm là Ngày truyền thống của Văn phòng  
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa  
Việt Nam”.  
Cũng trong thời gian này, ở Nam Bộ và  
Nam Trung Bộ, quân Pháp vẫn luôn luôn  
khiêu khích, phá hoại Hiệp định sơ bộ (06-  
3-1946). Để có cơ sở pháp lý làm căn cứ đấu  
tranh, Văn phòng đã giúp Ban Thường trực  
Quốc hội xây dựng văn bản Lời hiệu triệu  
quốc dân đồng bào với nội dung cơ bản là  
“chuẩn bị”, “đoàn kết”, “bình tĩnh”, “tránh  
khiêu khích” nhằm chống lại sự phản bội  
Hiệp định sơ bộ của quân Pháp. Lời kêu gọi  
của Ban Thường trực Quốc hội đã được  
quốc dân đồng bào hưởng ứng nhiệt liệt, tin  
tưởng và tôn trọng.  
Nhiệm vụ đầu tiên tối quan trọng của  
Văn phòng khi ấy là bảo đảm liên lạc thông  
suốt với Chính phủ; thực hiện những công  
việc theo chức năng, nhiệm vụ của Văn  
(Xem tiếp trang 52)  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
7
Số 24 (424) - T12/2020  
pdf 5 trang Thùy Anh 9420 Free
Bạn đang xem tài liệu "75 năm quốc hội Việt Nam, khắc ghi những ấn tượng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdf75_nam_quoc_hoi_viet_nam_khac_ghi_nhung_an_tuong.pdf