75 năm quốc hội Việt Nam, khắc ghi những ấn tượng
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
75 NĂM QUỐC HỘI VIỆT NAM, KHẮC GHI NHỮNG ẤN TƯỢNG
TS. Bùi Ngọc Thanh
Nguyên-Chủ-nhiệm-VPQH
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Từ khóa: 75 năm Quốc hội Việt Nam;
Quốc dân Đại hội Tân Trào; Hiến pháp
lâm thời; đổi mới lập pháp; cơ cấu đại biểu
Quốc hội; Ban Thường trực Quốc hội.
75 năm hình thành và phát triển, Quốc hội Việt Nam đã có hàng
trăm, thậm chí hàng ngàn sự kiện có ý nghĩa lịch sử sâu sắc.
Nhân kỷ niệm trọng thể ngày lễ 75 năm thành lập Quốc hội
Việt Nam, xin được bày tỏ sự ngưỡng mộ về những sự kiện
một thời không thể nào quên.
Lịch sử bài viết:
Ngày nhận bài : 15/12/2020
Biên tập
: 20/12/2020
: 23/12/2020
Abstract:
Duyệt bài
With 75 years of establishment and development, the National
Assembly of Vietnam has hundreds or even thousands of
events of profound historical significance. On the occasion of
the celebration of 75-year establishment of the National
Assembly of Vietnam, we would like to express our admiration
for such unforgettable events.
Article Infomation:
Keywords: 75-Year National Assembly of
Vietnam; National Meeting of Tan Trao;
Interim Constitution; legislative reform;
National Assembly deputies structure; the
Standing Committee of the National
Assembly.
Article History:
Received
Edited
Approved
: 15 Dec. 2020
: 20 Dec. 2020
: 23 Dec. 2020
1. Một vài nội dung đặc biệt có giá trị lịch
sử của Quốc dân Đại hội Tân Trào
Quốc dân Đại hội Tân Trào chỉ diễn ra
2 ngày từ ngày 16 đến ngày 17 tháng Tám
năm 1945 nhưng có khá nhiều nội dung, tình
tiết đặc biệt có giá trị lịch sử, trong đó có hai
sự kiện mà chúng tôi tâm đắc nhất.
Một là, đến những năm đầu thập niên 40
của thế kỷ XX, Đảng, Bác Hồ đã rất am
tường quy trình (trình tự) có tính pháp lý của
việc xây dựng một Nhà nước ở một quốc gia.
Bác nói, “...chúng ta trước phải có một cái
cơ cấu đại diện cho sự chân thành đoàn kết
và hành động nhất trí của toàn thể quốc dân
ta. Mà cơ cấu ấy phải do một toàn quốc đại
biểu đại hội gồm tất cả các đảng phái cách
mệnh và các đoàn thể ái quốc trong nước
bầu cử ra. Một cơ cấu như thế mới đủ lực
lượng và oai tín, trong thì lãnh đạo công
cuộc cứu quốc, kiến quốc ngoài thì giao
thiệp với các hữu bang”1. Bác đã chỉ ra rằng,
trình tự thành lập Nhà nước, trước hết phải
có Quốc hội, sau đó mới lập ra Chính phủ,
hệ thống chính quyền. Tuy nhiên, trong điều
kiện đất nước chưa có chính quyền thì mọi
việc đều do Đảng lãnh đạo, “kiêm” tổ chức
thực hiện. Việc đầu tiên là phải tổ chức một
Đại hội quốc dân, một tiền thân của Quốc hội
1 Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 7 (1940-1945), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 2000, tr.352-353.
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU
3
Số 24 (424) - T12/2020
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
(một Quốc hội lâm thời). Trong Đại hội này
phải lập ra một tổ chức để khi cách mạng
thành công thì tổ chức đó sẽ chuyển thành
Chính phủ. Như chúng ta đã biết, tất cả
những sự trù tính của Đảng, của Đại hội quốc
dân đã diễn ra đúng như vậy. Nghĩa là Cách
mạng tháng Tám thành công, Ủy ban Dân tộc
giải phóng được thành lập trong Đại hội, đến
ngày 25/8/1945, Ủy ban về đến Hà Nội, theo
đề nghị của Chủ tịch Ủy ban - Hồ Chí Minh,
Ủy ban đã được cải tổ thành Chính phủ lâm
thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Có
Quốc hội rồi mới có Chính phủ, trình tự này
đã được thực hiện rất chuẩn xác, chỉ khác là,
tất cả còn ở vị thế “lâm thời”.
Hai là, Chương trình 10 điểm của Đại
hội như một bản Hiến pháp lâm thời.
Quốc dân Đại hội đã quyết nghị Chương
trình 10 điểm và giao cho Ủy ban Dân tộc
giải phóng thi hành:
1. Giành lấy chính quyền, xây dựng một
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trên nền
tảng hoàn toàn độc lập.
9. Xây dựng nền quốc dân giáo dục,
chống nạn mù chữ, phổ thông và cưỡng bách
giáo dục đến bậc sơ cấp, kiến thiết nền văn
hóa mới.
10. Thân thiện và giao hảo với các nước
Đồng minh và các nước nhược tiểu dân tộc
để giành lấy sự đồng tình và sức ủng hộ của
họ2.
Vào thời điểm lịch sử tháng Tám năm
1945, chúng ta có thể coi Chương trình 10
điểm trên đây như một bản Hiến pháp tạm
thời. Trừ một vài tiểu tiết nhằm đáp ứng yêu
cầu tình hình trước mắt trong thời gian ngắn
(trước và sau Cách mạng), tuyệt đại bộ phận
các điểm có sự tương ứng với tất cả các bản
Hiến pháp trong suốt 75 năm qua, kể cả Hiến
pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam năm 2013. Với Hiến pháp năm 2013,
chúng ta vẫn thấy có sự tương đồng, tương
ứng: Điểm 1 tương ứng với Chương I - Chế
độ chính trị (thể chế Nhà nước); Điểm 2
tương ứng với Chương IV - Bảo vệ Tổ quốc
(trong đó có nhân tố quan trọng là lực lượng
vũ trang nhân dân); Điểm 5 tương ứng với
Chương II - Quyền con người, quyền và
nghĩa vụ cơ bản của công dân. Cần phải nói
thêm rằng, ngay từ khi ấy, vấn đề nhân
quyền đã được Đảng ta đặt ra với tinh thần
là một vấn đề cấp bách của thời cuộc chứ
không phải đến bây giờ mới nói; các Điểm
4, 6, 7, 8, 9 tương ứng với Chương III - Kinh
tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công
nghệ và môi trường. Bên cạnh đó, các vấn
đề phổ cập giáo dục sơ cấp; xã hội bảo hiểm,
đặt lương tối thiểu, cứu tế nạn dân, ban bố
luật lao động, nghĩa là những trụ cột chính
của an sinh xã hội ngày nay đã được đặt ra
thành nhiệm vụ của Cách mạng từ bấy giờ;
Điểm 10 tương ứng với đường lối đối ngoại
ở Điều 12 Hiến pháp năm 2013.
2. Võ trang nhân dân. Phát triển Quân
giải phóng Việt Nam.
3. Tịch thu tài sản của giặc nước và của
Việt gian, tùy từng trường hợp sung công
làm của quốc gia hay chia cho dân nghèo.
4. Bỏ các thứ thuế do Pháp, Nhật đặt ra;
đặt một thứ thuế công bằng và nhẹ.
5. Ban bố những quyền của dân, cho
dân: nhân quyền; tài quyền (quyền sở hữu);
dân quyền; quyền phổ thông đầu phiếu,
quyền tự do dân chủ (tự do tín ngưỡng, tự do
tư tưởng, ngôn luận, hội họp, đi lại), dân tộc
bình quyền, nam nữ bình quyền.
6. Chia lại ruộng đất cho công bằng,
giảm địa tô, giảm lợi tức, hoãn nợ, cứu tế
nạn dân.
7. Ban bố Luật lao động: ngày làm việc
8 giờ, định lương tối thiểu, đặt xã hội bảo
hiểm.
8. Xây dựng nền kinh tế quốc dân, phát
triển nông nghiệp. Mở quốc gia ngân hang.
Với “Hiến pháp tạm thời” này, Ủy ban
Dân tộc giải phóng (Chính phủ lâm thời) có
đầy đủ cơ sở pháp lý để hành động, điều
hành công việc cách mạng, chính danh, hợp
pháp.
2 Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1946-1960, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 1994, tr. 20, 21.
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU
4
Số 24 (424) - T12/2020
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
2. Cơ cấu đại biểu Quốc hội là hiện thân
sâu đậm của tinh thần đại đoàn kết dân tộc
Quốc hội khóa I phân chia cơ cấu đại
biểu còn cô đọng, đơn giản, mang tính tổng
hợp, chỉ gồm 4 thành phần, đó là: không
đảng phái; phụ nữ; công nhân, nông dân,
chiến sĩ cách mạng; dân tộc thiểu số. Thực
ra, khi đó chưa có điều kiện tách bạch chi
tiết được; do vậy trong 4 thành phần cơ cấu
đó có sự dan xen lẫn nhau. Trong 87% số đại
biểu là công nhân, nông dân và chiến sĩ cách
mạng thì có nhiều đại biểu là người dân tộc
thiểu số (đại biểu dân tộc thiểu số chiếm
7,5% tổng số đại biểu), có cả đại biểu phụ
nữ; hay là trong số 43% đại biểu không
thuộc đảng phái nào thì cũng có đại biểu là
nông dân. Quốc hội khóa I có đại biểu của
tất cả các vùng, miền; các ngành nghề sĩ,
nông, công, thương; đảng phái, không đảng
phái; nam, nữ, các dân tộc thiểu số. Ngoài
ra, Quốc hội khóa I còn có 50 đại biểu của
Việt quốc và 20 đại biểu của Việt cách không
qua bầu cử. Đây là một sự kiện vừa có tính
sách lược (làm dịu tình hình), vừa có tính
chiến lược (tự họ sẽ khẳng định chính họ).
Quốc hội các khóa về sau càng bảo đảm
cơ cấu bao quát được khối đại đoàn kết toàn
dân. Đây là một chính sách nhất quán, xuyên
suốt các thời kỳ cách mạng của Đảng, của
Nhà nước ta.
Thực ra, ngay từ Quốc dân Đại hội Tân
Trào chỉ có hơn 60 đại biểu nhưng trong cơ
cấu đã thể hiện một tinh thần đại đoàn kết
tuyệt vời. Theo cơ cấu vùng miền thì Nam
Bộ có đại biểu Ung Văn Khiêm, Trung Bộ
có Hoàng Hữu Na, Phạm Ngọc Thạch; cơ
cấu đoàn thể có Vũ Quang là Thanh niên cứu
quốc; Thanh Thúy, Nguyễn Thị Như là Phụ
nữ cứu quốc; Văn Tân là Công nhân cứu
quốc; cơ cấu dân tộc ít người có Chu Văn
Tấn...; đại diện cho nông dân có Trần Đức
Thịnh; cơ cấu theo đảng phái chính trị thì
đảng Dân chủ có nhiều đại biểu, dẫn đầu là
Dương Đức Hiền; cơ cấu trí thức có Cù Huy
Cận, Nguyễn Đình Thi... Khi ấy, trong điều
kiện giao thông liên lạc khó khăn, đi lại qua
các vùng địch kiểm soát gắt gao, hết sức
phức tạp và nguy hiểm mà cơ cấu đại biểu
thực tế của Đại hội đạt được như vậy là khá
tiêu biểu và rất tốt đẹp. Nói cách khác, cơ
cấu đại biểu Quốc dân Đại hội Tân Trào đã
trở thành truyền thống như một “hình mẫu”
cho cơ cấu của Quốc hội sau này, truyền
thống của một chính sách lâu dài, bền bỉ; đó
là đại đoàn kết toàn toàn dân tộc.
3. Đổi mới lập pháp - Một sự kiện ghi đậm
dấu ấn
Bước vào công cuộc đổi mới, kinh tế là
bước đi đầu tiên. Chúng ta đa từ một nền
kinh tế kế hoạch hóa chỉ huy (quan liêu, bao
cấp) sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự
quản lý của Nhà nước (điều tiết vĩ mô), rồi
sau đó cho đến nay là nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự chuyển đổi
nền kinh tế này diễn ra với tốc độ nhanh nên
hệ thống luật pháp hầu như phải đổi mới
hoàn toàn và cũng với tốc độ nhanh chóng
nhằm đáp ứng yêu cầu thực tế. Nếu như
trong hơn 40 năm của 7 khóa Quốc hội đầu
tiên (từ năm 1946 đến đầu năm 1987), Quốc
hội chỉ ban hành được 29 luật, thì Quốc hội
khóa VIII (1987-1992), khóa đầu tiên bước
vào công cuộc đổi mới, trong 5 năm, Quốc
hội đã ban hành tới 31 luật; khóa IX, Quốc
hội ban hành 41 luật và bộ luật, khóa X là 35
luật, trong đó có các bộ luật lớn: Hình sự và
Tố tụng hình sự, Dân sự và Tố tụng dân sự;
khóa XI, Quốc hội ban hành 84 luật; khóa
XII chỉ có 4 năm, Quốc hội cũng đã xây
dựng được 67 luật, đến khóa XIII là 89 luật
và khóa XIV hiện nay, từ 2016 đến cuối
2020 cũng đã thông qua được 81 luật. Các
văn bản luật được xây dựng trong công cuộc
đổi mới, về nội dung khác đến 90-95% so
với thời kỳ thực thi nền kinh tế kế hoạch hóa
chỉ huy.
Có những đạo luật mà xưa nay chúng ta
chưa hề tiếp cận, nhưng nay phải làm như:
Luật Đầu tư nước ngoài, Luật Đầu tư trong
nước. Hai Luật ra đời đi vào hoạt động lại
phát sinh những mâu thuẫn, gây nên những
bất bình đẳng giữa thu hút các nguồn đầu tư
nước ngoài với thu hút các nguồn đầu tư
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU
5
Số 24 (424) - T12/2020
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
trong nước; do đó lại phải thống nhất hai luật
đầu tư thành một Luật duy nhất, bình đẳng
giữa đầu tư nước ngoài với đầu tư trong
nước. Tiếp đến là Luật Cạnh tranh, Luật Phá
sản (doanh nghiệp)... Đây là những luật mà
trước kia trong nền kinh tế kế hoạch hóa
chưa hề có. Bởi vậy, chúng ta phải đổi mới
tư duy xây dựng pháp luật cùng với đổi mới
tư duy kinh tế. Đây cũng là loại công việc
nặng nhọc, phải vắt óc, phải “lao tâm, khổ
tứ”, phải tham khảo, “tầm chương, trích
cú”... nhưng cũng là những kỷ niệm, những
ký ức không thể nào quên của người làm
luật. Nhìn chung, tốc độ xây dựng luật của
Quốc hội trong công cuộc đổi mới đã tăng
nhanh; chất lượng, nội dung được bảo đảm,
từng bước đáp ứng yêu cầu xây dựng một
nền kinh tế độc lập, tự chủ, góp phần đắc lực
vào việc thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
4. Ghi nhớ một hình thức giám sát có hiệu
lực và hiệu quả
Hình thức giám sát để lại nhiều dấu ấn
là chất vấn và trả lời chất vấn. Hình thức
giám sát này đã được biến tấu, đổi mới qua
nhiều giai đoạn khác nhau với mục đích là
ngày càng nâng cao tính hiệu lực, hiệu quả
của nó.
Chỉ tính từ đầu thế kỷ XXI đến nay (20
năm), Quốc hội đã có ít nhất 3 mô hình hoạt
động chất vấn:
Mô hình thứ nhất, mỗi kỳ họp có 3 ngày
cho hoạt động chất vấn, Ủy ban thường vụ
Quốc hội thống nhất với Chính phủ chọn ra
6 đến 8 chức danh bị chất vấn (mỗi ngày từ
2 đến 3 người trả lời); đại biểu được hỏi
(chất vấn) tự do trong phạm vi quản lý, lãnh
đạo của người bị chất vấn; sau khi hỏi thì trả
lời luôn. Mô hình này, bên cạnh những ưu
điểm, chỉ một đại biểu hỏi thôi nên người bị
chất vấn tập trung được suy nghĩ vào một
chủ điểm, thuận lợi cho việc trả lời; Quốc
hội và đại biểu Quốc hội cũng dễ nhận biết
năng lực bao quát công việc, trình độ quản
lý lĩnh vực và mức độ hài lòng của Quốc hội
và cử tri. Tuy nhiên, hạn chế của mô hình
này cũng không nhỏ. Phía người chất vấn
(đại biểu) thường diễn giải tình hình khá dài
dòng rồi mới bật ra được câu hỏi, tiêu tốn rất
nhiều thời gian. Phía người bị chất vấn,
nhiều trường hợp được dịp “hào hứng kể
chuyện thành tích của ngành” dẫn dắt rất lâu
mà không đi vào trọng tâm chất vấn...
Mô hình thứ hai, theo mô hình này, số
người bị chất vấn chỉ từ 3 đến 4 người. Hỏi
và trả lời theo nhóm vấn đề đã được xác
định; đồng thời, thời lượng hỏi và trả lời
được xác định là: hỏi 2 phút, trả lời 5 phút
(sau này hỏi trong 1 phút, trả lời 3 phút cho
mỗi câu và có thể tranh luận trong quá trình
đối, đáp. Mô hình này đã đem lại hiệu quả
rất cao. Người hỏi buộc phải chọn vấn đề
đích đáng để chất vấn và phải gọt dũa câu
chất vấn cho rõ ràng và ngắn gọn. Người bị
chất vấn cũng phải lựa chọn thông tin và “cô
đặc” thông tin để bảo đảm “không bị lố” thời
lượng cho phép. Do chất vấn theo nhóm vấn
đề nên nhiều vấn đề đi đến được tận cùng và
quy được trách nhiệm tương đối rõ đối với
người bị chất vấn. Mô hình này có “tuổi thọ”
tương đối cao.
Mô hình thứ ba, tạm gọi là “mô hính sát
hạch tổng thể”, có người gọi là mô hình “ba
không” đối với chức danh bị chất vấn
(không biết mình có bị trả lời không; không
biết đại biểu chất vấn điều gì; không rõ thời
gian bị trả lời là khi nào). Bởi vậy tất cả
những ai trong diện bị chất vấn đều phải tập
trung tư tưởng, theo dõi sát sao trong cả quá
trình diễn biến. Nội dung của mô hình này
là tái chất vấn việc thực hiện các Nghị quyết
về chất vấn, về các chuyên đề đã chất vấn
trọng nhiệm kỳ khóa XIV và một số Nghị
quyết, chuyên đề của khóa XIII. Nội dung
“vắt” qua hai nhiệm kỳ thì hầu như tất cả các
vấn đề kinh tế, xã hội đều đã được chất vấn,
nay “cày xới lại” trong bối cảnh sắp kết thúc
nhiệm kỳ khóa XIV. Đây là một thử thách
đối với người bị chất vấn. Mô hình này mới
thực hiện được một kỳ họp (kỳ thứ 10, Quốc
hội khóa XIV), nhưng đã đạt được những
“kỷ lục” chưa từng có: một là, người đứng
đầu các cơ quan quyền lực nhà nước đều trả
lời chất vấn, đó là Chủ tịch Quốc hội, Thủ
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU
6
Số 24 (424) - T12/2020
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
tướng Chính phủ và Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao; hai là, tất cả các thành viên
Chính phủ có mặt tại thời điểm bắt đầu chất
vấn đều trực tiếp trả lời chất vấn, gồm Thủ
tướng, 3 Phó Thủ tướng, 17 Bộ trưởng,
Trưởng ngành; ba là, qua hoạt động chất vấn
cho thấy rõ những lĩnh vực, những vấn đề
bức xúc, trách nhiệm của người đứng đầu
những lĩnh vực đó và đặt ra mức độ khẩn
trương xử lý của ngành, lĩnh vực như: Tài
nguyên và Môi trường (không đánh đổi môi
trường lấy kinh tế); Thông tin và Truyền
thông (đặt trong điều kiện xây dựng nền kinh
tế số); Nội vụ (trong điều kiện sắp xếp bộ
máy tinh gọn, tinh giản biên chế); Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn (trong điều
kiện biến đổi khí hậu, thiên tai bão lũ) và các
lĩnh vực Tư pháp, Giao thông vận tải; Lao
động và Xã hội; Kế hoạch và Đầu tư...; bốn
là, mức độ hài lòng của đại biểu, của cư tri
cao hơn hẳn so với nhiều kỳ chất vấn trước,
nhất là đối với một số bộ trưởng, trưởng
ngành, những người nhiều lần phải trả lời
chất vấn (theo nhiều cử tri thì “các bác ấy”
khá “thuộc bài”). Nói một cách tổng quát thì,
mô hình này mới một lần thực thi nhưng
hiệu lực và hiệu quả là rõ ràng, nó sẽ được
chuyển tiếp cho khóa Quốc hội mới.
phòng (in, sao văn bản, phát tài liệu, giao
thông lien lạc, tổ chức công tác tài chính; sắp
xếp nơi ăn ở cho các đại biểu khi về họp, tổ
chức các hội nghị của Ban Thường trực
Quốc hội...). Theo bản kê khai lý lịch của các
nhân viên phục vụ Ban Thường trực Quốc
hội tại hồ sơ số 276 lập ngày 20-6-1947 của
Phòng tư liệu Quốc hội thuộc Trung tâm lưu
trữ quốc gia III thì số cán bộ nghiệp vụ đầu
tiên chỉ gồm: Ông Trần Văn Xoang (tức Trần
Thanh Tú); ông Hoàng Viết Sinh (tức Trịnh
Hoàng); ông Phạm Văn Tâm; bà Trịnh Thị
Phúc, cùng một số nhân viên phục vụ khác,
tất cả khoảng 20 người. Đây là những cán bộ
được tuyển chọn từ các cơ quan Trung ương
và đều là những người có phẩm chất cách
mạng, tư cách, đạo đức tốt, tận tâm, tận lực
thực thi nhiệm vụ. Họ đã phục vụ Ban
Thường trực Quốc hội giải quyết nhiều công
việc thiết thực, có hiệu quả, có thể dẫn ra
những việc chủ yếu như sau.
Ngày 16/4/1946, Văn phòng đã tham
mưu cho Ban Thường trực Quốc hội tổ chức
một phái đoàn gồm 10 đại biểu Quốc hội, do
ông Phạm Văn Đồng, Phó trưởng Ban
Thường trực Quốc hội dẫn đầu sang công tác
tại Pháp, từ 25-4 đến 16-5-1946 với nhiệm
vụ làm cho nhân dân Pháp và số đông các
chính khách Pháp hiểu rõ cuộc đấu tranh vì
độc lập của Việt Nam và mong muốn quan
hệ giữa hai dân tộc Việt-Pháp thân thiện trên
nền tảng thừa nhận ý nguyện độc lập, thống
nhất của Việt Nam.
5. Ngay từ thuở ban đầu cơ quan phục vụ
đã bộn bề công việc
Do công tác phục vụ được bắt đầu từ kỳ
họp đầu tiên của Quốc hội khóa I nên ngày
khai mạc kỳ họp đầu tiên (02-3-1946) có giá
trị lịch sử là ngày mở đầu truyền thống hoạt
động của Văn phòng Quốc hội (khi đó là
Văn phòng Ban Thường trực Quốc hội). Với
ý nghĩa đó, sau này Nghị quyết số
751/2005/NQ-UBTVQH11 ngày 02-3-2005
của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XI đã
quyết nghị: “Điều 1. Ngày 02 tháng 3 hàng
năm là Ngày truyền thống của Văn phòng
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam”.
Cũng trong thời gian này, ở Nam Bộ và
Nam Trung Bộ, quân Pháp vẫn luôn luôn
khiêu khích, phá hoại Hiệp định sơ bộ (06-
3-1946). Để có cơ sở pháp lý làm căn cứ đấu
tranh, Văn phòng đã giúp Ban Thường trực
Quốc hội xây dựng văn bản Lời hiệu triệu
quốc dân đồng bào với nội dung cơ bản là
“chuẩn bị”, “đoàn kết”, “bình tĩnh”, “tránh
khiêu khích” nhằm chống lại sự phản bội
Hiệp định sơ bộ của quân Pháp. Lời kêu gọi
của Ban Thường trực Quốc hội đã được
quốc dân đồng bào hưởng ứng nhiệt liệt, tin
tưởng và tôn trọng.
Nhiệm vụ đầu tiên tối quan trọng của
Văn phòng khi ấy là bảo đảm liên lạc thông
suốt với Chính phủ; thực hiện những công
việc theo chức năng, nhiệm vụ của Văn
(Xem tiếp trang 52)
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU
7
Số 24 (424) - T12/2020
Bạn đang xem tài liệu "75 năm quốc hội Việt Nam, khắc ghi những ấn tượng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
75_nam_quoc_hoi_viet_nam_khac_ghi_nhung_an_tuong.pdf

