Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đức và tài đối với cán bộ quản lí giáo dục trong giai đoạn hiện nay

NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đức và tài  
đối với cán bộ quản lí giáo dục trong giai đoạn hiện nay  
Nguyễn Thị Hiền Oanh  
Trường Đại học Sài Gòn  
TÓM TẮT: Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm chăm lo giáo dục, rèn luyện đội  
273 An Dương Vương, Phường 3, Quận 5,  
ngũ cán bộ để họ trở thành những cán bộ phát triển toàn diện về phẩm chất  
Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam  
chính trị, đạo đức và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Tư tưởng này của Người  
Email: hien_oanh71@yahoo.com.vn  
đã khẳng định giá trị cơ bản của một con người và nó lại càng đúng với một  
người thầy. Người khái quát ngắn gọn trong hai chữ “đức” và “tài”. Cán bộ quản  
lí giáo dục giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức, quản lí, điều hành các hoạt  
động giáo dục. Họ phải không ngừng học tập rèn luyện, nâng cao phẩm chất  
đạo đức, trình độ chuyên môn, năng lực quản lí và trách nhiệm cá nhân, đảm  
bảo phát triển sự nghiệp giáo dục. Thấm nhuần Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối  
quan hệ giữa đức và tài của người cán bộ vào xây dựng đội ngũ cán bộ quản  
lí giáo dục trong tình hình hiện nay là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.  
TỪ KHÓA: Đức; tài; cán bộ quản lí giáo dục.  
Nhận bài 01/9/2020 Nhận bài đã chỉnh sửa 22/12/2020 Duyệt đăng 25/4/2020.  
1. Đặt vấn đề  
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tài của người cán bộ cách  
mạng là năng lực của họ, được biểu hiện bằng hiệu suất,  
hiệu quả hoạt động trong một lĩnh vực thực tiễn nào đó.  
Tài năng của người cán bộ phụ thuộc vào nhiều yếu tố  
như tâm - sinh lí, trí lực, thể lực… và là kết quả của một  
quá trình học tập, tích lũy kinh nghiệm của mỗi người.  
Bởi vậy, trong sử dụng cán bộ, Người dạy phải biết tùy  
tài mà dùng người. Theo Người, để có được tài năng,  
người cán bộ cách mạng cần phải tích cực học tập, kiên  
trì rèn luyện, phải thực hiện lời dạy của Lênin: “Học, học  
nữa, học mãi”.  
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đức và tài phải luôn gắn  
bó chặt chẽ, quan hệ biện chứng với nhau trong nhân  
cách của người cán bộ cách mạng. Trong mối quan hệ đó  
thì đức phải được đặt lên hàng đầu: “Đức phải có trước  
tài” (Hồ Chí Minh (2011), tr. 269), đức là gốc. Nếu có tài  
mà không có đức là vô dụng, vì “Có tài không có đức,  
tham ô hủ hóa có hại cho nước” (Hồ Chí Minh (2011),  
tr. 345-346). Bên cạnh đó, Người cũng nói rõ: “Có đức  
không có tài như ông bụt ngồi trong chùa, không giúp ích  
gì được ai” (Hồ Chí Minh (2011), tr. 346).  
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ  
Chí Minh luôn quan tâm đến phẩm chất và năng lực của  
người cán bộ cách mạng. Người cho rằng, đối với người  
cán bộ cách mạng, hai mặt đức và tài, phẩm chất và năng  
lực, không thể thiếu mặt nào, cũng không thể coi nhẹ mặt  
nào. Do đó, từ rất sớm, Người đã dày công vun đắp để  
đào tạo cho Ðảng, cho đất nước một đội ngũ cán bộ vừa  
có đức, vừa có tài, vừa hồng lại vừa chuyên. Đó là hệ  
thống những quan điểm, bài học, kinh nghiệm thực tiễn  
nhằm xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo nói chung,  
cán bộ quản lí (CBQL) giáo dục (GD) nói riêng, đáp ứng  
yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện GD, đào tạo của nước  
ta trong giai đoạn hiện nay.  
2. Nội dung nghiên cứu  
2.1. Đức và tài của người cán bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh  
Đề cập sự thống nhất đức và tài của người cán bộ, Chủ  
tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Có tài phải có đức” (Hồ  
Chí Minh (2011), tr.345). Theo Người, đức và tài phải  
được biểu hiện trên kết quả công tác và phải luôn thống  
nhất, gắn bó chặt chẽ với nhau trong nhân cách người  
cán bộ cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng,  
người cán bộ cách mạng trước hết phải có đạo đức cách  
mạng, bởi vì đạo đức là gốc của người cách mạng. Người  
khẳng định: Cũng như sông thì có nguồn mới có nước,  
2.2. Vai trò của cán bộ quản lí giáo dục trong hoạt động  
giáo dục  
2.2.1. Quản lí giáo dục  
Quản lí (QL) GD bao gồm 3 yếu tố: 1/ Chủ thể QL:  
không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có Bộ máy QL GD các cấp; 2/ Khách thể QL: Hệ thống GD  
gốc thì cây héo. quốc dân, các trường học; 3/ Quan hệ QL: Đó là những  
Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức mối quan hệ giữa người học và người day; quan hệ giữa  
thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” người QL với người day, người học; quan hệ người day -  
̣
̣
̣
(Hồ Chí Minh (2011), tr.292) và “Mọi việc thành hay là người học,… Các mối quan hệ đó có ảnh hưởng đến chất  
bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách lượng đào tạo, chất lượng hoạt động của nhà trường, của  
mạng, hay là không” (Hồ Chí Minh (2011), tr.354).  
toàn bộ hệ thống GD.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
8
Nguyễn Thị Hiền Oanh  
Nội dung QL GD bao gồm một số vấn đề cơ bản: Xây nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.  
dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoach, kế  
hoạch, chính sách phát triển GD; Ban hành, tổ chức thực  
hiện các văn bản quy pham pháp luật về GD, tiêu chuẩn  
̣
2.3. Yêu cầu đức và tài theo Hồ Chí Minh đối với cán bộ  
quản lí giáo dục  
̣
Ở Việt Nam, vấn đề xây dựng, phát triển đội ngũ cán  
bộ QL GD được Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí  
Minh hết sức coi trọng. Đặc biệt, trong những năm gần  
đây, nước ta đã xây dựng và thực hiện nhiều chủ trương,  
chính sách nhằm phát triển đội ngũ nhà giáo và QL  
GD. Điều đó đã được đề cập ở nhiều nghị quyết, chỉ thị  
của Đảng và Nhà nước, được quy định trong Luật GD,  
nhà giáo, tiêu chuẩn cơ sở vật chất, thiết bị trường học;  
Tổ chức bộ máy QL GD; Tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo,  
bồi dưỡng CBQL, giáo viên; Huy động, QL sử dụng các  
nguồn lực, …  
Như vậy, QL GD là tập hợp những biện pháp (tổ chức,  
cán bộ, kế hoạch hóa...) nhằm đảm bảo sự vận hành bình  
thường của các cơ quan trong hệ thống cả về số lượng  
cũng như chất lượng.  
Chiến lược phát triển GD và các nghị định, thông tư,  
các chương trình, đề án của Chính phủ và các bộ, ngành  
trung ương tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng và  
phát triển đội ngũ QL GD. Vì vậy, xây dựng, nâng cao  
chất lượng đội ngũ QL GD phải được đặt lên hàng đầu  
trong mọi giai đoạn phát triển đất nước:  
- Thứ nhất, người QL GD phải có tố chất nhân cách -  
trí tuệ, phải có nhận thức mẫu mực, tác phong mẫu mực,  
kiến thức mẫu mực và hiệu quả mẫu mực.  
- Thứ hai, người QL GD phải có tố chất QL. QL không  
chỉ đơn thuần là dựa vào pháp chế, điều lệ nhà trường,  
quy chế mà cần sử dụng tinh lọc, linh hoạt, thích hợp,  
vận dụng tổng hợp các phương pháp “tay nghề QL”.  
CBQL GD không chỉ nắm vững phương pháp hành  
chính, phương pháp sư phạm, tâm lí xã hội, phương pháp  
kinh tế GD mà còn phải thực sự là tấm gương sáng về  
đạo đức, sáng tạo và tự học, có phương pháp “dạy chữ -  
2.2.2. Cán bộ quản lí giáo dục  
CBQL GD là những người có trách nhiệm thực hiện  
thành công các chương trình GD, chịu trách nhiệm trong  
lập kế hoạch tổ chức và đưa ra các chiến lược GD cũng  
như phát triển nguồn lực của một tổ chức. Theo đó, viên  
chức làm nhiệm vụ QL tại các phòng, ban, viện, trung  
tâm (không có chức năng đào tạo), văn phòng thuộc các  
cơ sở GD đại học, cơ sở GD nghề nghiệp; cán bộ, công  
chức Phòng GD&ĐT. Sở GD&ĐT, Bộ GD&ĐT.  
Công chức chuyên trách làm công tác QL dạy nghề  
Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Lao động -  
Thương binh và Xã hội; cán bộ, công chức chuyên trách  
công tác QL GD các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan  
thuộc Chính phủ (gọi chung là Bộ). Các nhà giáo, CBQL  
GD được điều động, bổ nhiệm làm cán bộ công đoàn GD  
(gọi chung là CBQL GD).  
dạy nghề”.  
- Thứ ba, người QL GD phải có tố chất về năng lực lãnh  
đạo và tổ chức. Người QL GD là hình ảnh người CBQL  
mới với 10 phẩm chất, năng lực như sau: Sự nhanh trí,  
2.2.3. Vai trò của cán bộ quản lí giáo dục  
CBQL GD có vai trò quan trọng trong việc tổ chức,  
QL, điều hành các hoạt động GD. CBQL GD phải không  
ngừng học tập, rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức,  
trình độ chuyên môn, năng lực QL và trách nhiệm cá  
nhân. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, yêu cầu  
đổi mới GD đòi hỏi phải có những thay đổi căn bản trong  
phát triển đội ngũ CBQL. Điều này đòi hỏi người CBQL  
GD nói chung, CBQL trường học nói riêng có những  
năng lực mới, đáp ứng nhiệm vụ QL nhà trường. Người  
lãnh đạo trường học, ngoài các năng lực, phẩm chất của  
một nhà giáo, còn cần phải có tố chất của một nhà lãnh  
đạo và nhà QL.  
Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới đã đặc biệt quan  
tâm đến vai trò lãnh đạo của người hiệu trưởng và tập  
trung vào lãnh đạo sự thay đổi trong nhà trường. Vì vậy,  
yêu cầu đặt ra đối với hiệu trưởng gồm: Phẩm chất chính  
trị, đạo đức nghề nghiệp của người đứng đầu; Yêu cầu về  
chuyên môn nghiệp vụ; Quản trị nhà trường theo hướng  
tự chủ và trách nhiệm giải trình; xây dựng môi trường  
nha  
sát, suy xét sâu sắc; Óc sáng kiến, chủ động, quyết đoán;  
Dám nghi, biết làm, dám chiu trách nhiệm; Năng động,  
̣y cảm, ngay thẳng, trung thành; Óc phán đoán, quan  
̃
̣
linh hoạt, sự thích ứng; Có đầu óc tổ chức, tính kỉ luật;  
Tính kiên trì, bền bỉ; Tính mềm mỏng, tự kiềm chế; Tính  
tự lập, tự quyết; Lòng nhân từ, nhân ái. “Đức” và “tài”  
của người QL GD phải hòa trộn vào nhau; năng lực QL  
các nguồn lực và nguồn nhân lực là nổi trội ở người QL  
GD.  
2.3.1. Người quản lí giáo dục cần phải có đức trong nghề  
Cái “đức” là yêu cầu không thể thiếu đối với người  
QL GD. Cái “đức” càng quan trọng đối với lĩnh vực GD,  
để tạo ra nhân cách người học thì trước hết người QL  
GD phải biết thuyết phục học sinh bằng nhân cách của  
chính mình. Muốn xây dựng được nhân cách cho cán bộ,  
giáo viên, người học thì người QL GD trước hết phải có  
“đức” thể hiện ở thái độ, tác phong chuẩn mực khi thực  
GD dân chủ và hoạt động xã hội. Tất cả những điều trên hiện giảng dạy và trong lối sống, trở thành tấm gương, là  
đều hướng tới phát triển phẩm chất và năng lực của học người cán bộ ưu tú, thể hiện sự mẫu mực, khuôn mẫu để  
sinh đáp ứng yêu cầu đổi mới GD trong sự nghiệp công mọi người noi theo. Phải làm sao để mỗi người QL GD  
Số 40 tháng 4/2021  
9
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
không những là nhà sư phạm mà còn là nhà mô phạm.  
bộ, giáo viên và học sinh. Để người tốt có chỗ tin cậy và  
Cái “đức” của người QL GD thể hiện ở sự hi sinh vô tư dựa, người xấu không dám lộng hành. Gương mẫu là lời  
“tất cả vì học sinh thân yêu”, giúp đỡ cán bộ, giáo viên, nói để làm, làm để chứng minh lời nói. Hành động trước,  
người học một cách chân thành, không vì vụ lợi, không hưởng thụ sau.  
phân biệt đối xử, giúp đỡ trong hỗ trợ kiến thức phải đến  
Tiêu chuẩn bao trùm của đạo đức CBQL là thực sự dân  
nơi đến chốn. Giúp đỡ không có nghĩa là cho điểm cao, chủ, tôn trọng trong các mối quan hệ. Tôn trọng là cách  
dễ dãi đối với người học trong học tập. Cái “đức” ấy còn tốt nhất để tập hợp trí tuệ của mọi người xung quanh.  
được biểu hiện ở sự kiên quyết đấu tranh chống những Tôn trọng người khác là mục tiêu để đoàn kết nội bộ, đặc  
cái xấu, cái sai trong xã hội, trong chính bản thân mình biệt trong GD khi làm việc với con người - đội ngũ tri  
và với đồng sự. Ngày nay, những tình cảm tốt đẹp có thức bậc cao và học sinh - những nhân cách đang phát  
tính truyền thống đó của người người QL GD vẫn được triển thì tôn trọng càng phải được thể hiện.  
duy trì. Đảng và Nhà nước ta cũng đã xác định “GD là  
quốc sách hàng đầu”, đã và đang làm những gì có thể là tận tụy để cấp dưới thương; là gương mẫu để cấp dưới  
đối với ngành GD bởi tầm quan trong và ý nghia lớn lao trọng; là tôn trọng để cấp dưới tin cậy dễ gần để cung  
Theo đó, có thể hiểu khái quát, một CBQL có đạo đức  
̣
̃
của ngành đặc thù này đối với sự phát triển trong hiện cấp thông tin; là sáng tạo để cấp dưới có đủ việc làm và  
tại cũng như tương lai của xã hội và đất nước. Sứ mệnh có thêm thu nhập chính đáng; là kỉ cương để người tốt  
“trồng người” hết sức thiêng liêng, cao quý nhưng cũng luôn có chỗ dựa và người xấu không dám thách đố, lộng  
hết sức nặng nề được đặt lên vai người người QL GD.  
quyền. Như vậy, CBQL mới không mắc sai lầm trong  
Người QL GD phải luôn gương mẫu trong học tập, trau công việc (Báo Dân trí (2019).  
dồi trình độ chuyên môn, tri thức khoa học, phải là tấm  
Trong lịch sử nước ta, “tôn sư trọng đạo” là truyền  
gương tự học để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thời thống quý báu của dân tộc. Nhà giáo bao giờ cũng được  
đại trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước trước nhân dân yêu mến, kính trọng. Những năm qua, chúng ta  
tình hình mới. Đặc biệt là, trong bối cảnh khoa học - đã xây dựng được đội ngũ nhà giáo và CBQL GD ngày  
công nghệ phát triển như vũ bão hiện nay thì tấm gương càng đông đảo, phần lớn có phẩm chất đạo đức và ý thức  
tự học của người QL GD càng trở nên quan trọng hơn chính trị tốt, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ ngày càng  
bao giờ hết. Người QL GD luôn tự rèn luyện và trở thành được nâng cao. Đội ngũ này đã đáp ứng quan trọng yêu  
tấm gương sáng về đạo đức cho người học nói riêng và cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân  
mọi người nói chung noi theo. Hình ảnh người QL GD tài, góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng của  
luôn được xã hội xem là biểu tượng của văn hóa, là đại đất nước. Tuy nhiên, một bộ phận nhà giáo thiếu gương  
diện cho văn minh thời đại. Đặc điểm của nghề dạy học, mẫu trong đạo đức, lối sống, nhân cách, chưa làm gương  
dạy người yêu cầu người QL GD không chỉ là người học tốt cho học sinh, sinh viên (Đảng Cộng sản Việt Nam  
rộng biết nhiều mà còn phải là người có phẩm chất đạo (2004).  
đức cao, thông qua hình tượng đạo đức sư phạm tốt đẹp  
Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15 tháng 6 năm 2004 của  
của mình để dẫn dắt giáo viên, cán bộ, học sinh. Người Ban Bí thư Trung ương Đảng đã xác định rõ tầm quan  
QL GD là người thể hiện các giá trị đạo đức xã hội ảnh trọng của việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà  
hướng trực tiếp tới giáo viên, cán bộ, học sinh.  
giáo và CBQL GD theo hướng chuẩn hóa, đặc biệt chú  
Thực tiễn GD cho thấy, người QL GD muốn làm tốt trọng nâng cao tinh thần trách nhiệm, đạo đức và lương  
công việc của mình, mấu chốt quan trọng nhất, cơ bản tâm nghề nghiệp cũng như trình độ năng lực chuyên  
nhất là xử lí tốt ba mối quan hệ: Thứ nhất, là mối quan môn, nghiệp vụ, phong cách sư phạm của đội ngũ nhà  
hệ giữa cá nhân với sự nghiệp GD, tức QL GD phải yêu giáo: Phát triển GD và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là  
nghề, làm tốt nhiệm vụ đứng lớp; Thứ hai, phải xử lí tốt một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp  
mối quan hệ giữa QL GD với giáo viên với học sinh, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, là điều kiện để  
tức giáo viên phải yêu thương học sinh, dạy cả chữ lẫn phát huy nguồn lực con người. Đây là trách nhiệm của  
người; Thứ ba, giải quyết tốt mối quan hệ giữa đặc thù toàn Đảng, toàn dân, trong đó nhà giáo và CBQL GD là  
lao động của QL GD với tu dưỡng bản thân, tức QL GD lực lượng nòng cốt, có vai trò quan trọng (Đảng Cộng  
phải lấy chính bản thân mình làm tấm gương cho giáo sản Việt Nam (2004).  
viên, cán bộ và học sinh. Yêu thương giáo viên, cán bộ,  
học sinh, yêu nghề, dạy chữ, dạy người, là tấm gương quy định: Ngoài phẩm chất chính trị, lối sống, tác phong,  
sáng cho giáo viên, cán bộ, học sinh noi theo. nhà giáo phải có đạo đức nghề nghiệp: “tâm huyết với  
Quy định về đạo đức nhà giáo cũng được Bộ GD&ĐT  
Người có đức phải hội đủ ba phẩm chất: Gương mẫu, nghề nghiệp, có ý thức giữ gìn danh dự, lương tâm nhà  
tôn trọng và có văn hóa. Đạo đức khó nhất của CBQL giáo”; có tinh thần đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ đồng  
GD là gương mẫu để được mọi người tin yêu, đó là cán nghiệp trong cuộc sống và trong công tác; có lòng nhân  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
10  
Nguyễn Thị Hiền Oanh  
ái, bao dung, đối xử hòa nhã với người học, đồng nghiệp; xu nịnh. Bởi suy cho cùng, người có tài là người biết  
sẵn sàng giúp đỡ, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của tập hợp mọi cái tài của người khác. Tập hợp được người  
người học, đồng nghiệp và cộng đồng. Nhà giáo phải tài là tiêu chuẩn cao nhất, cần nhất của người lãnh đạo.  
“tận tụy với công việc”; “công bằng trong giảng dạy”, “Đã là cán bộ có tài thì phải có sản phẩm, đo đếm bằng  
chống bệnh thành tích, “thường xuyên học tập nâng cao thành quả do vai trò lãnh đạo của mình tạo ra trên 3 lĩnh  
trình độ chuyên môn” để hoàn thành tốt nhiệm vụ được  
giao, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của sự nghiệp GD  
(Bộ GD&ĐT (2008).  
vực chủ yếu: thành quả kinh tế (thu ngân sách, giá trị sản  
xuất tăng thêm), thành quả chính trị (đội ngũ cán bộ kế  
cận và tín nhiệm của học sinh và cha mẹ học sinh) và ra  
các quyết định có hiệu quả để lại cho đời sau” (Báo Dân  
trí (2019).  
Thực hiện nghiêm các quy định về chuẩn mực đạo  
đức nhà giáo do Bộ GD&ĐT quy định cũng như các quy  
định của pháp luật cán bộ, công chức, viên chức. Đồng  
thời, nhà giáo phải luôn làm mới chính mình bằng những  
tri thức mới, những thông tin mới, bài giảng mới. Cần  
thuyết phục người học bằng chính sự uyên bác về kiến  
thức, trình độ chuyên môn và trí tuệ của mình. Các thầy,  
cô giáo cần có thái độ kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn  
những nhận thức, hành vi không đúng, những biểu hiện  
tiêu cực làm ảnh hưởng đến uy tín, phẩm giá, tư cách của  
nhà giáo.  
CBQL GD cần có bản lĩnh và cần hội đủ ba tiêu chí:  
Dám nghĩ, dám làm, dám nói: 1/ Dám nghĩ: Những điều  
đổi mới và sáng tạo, những cái chưa có trong đời sống,  
chưa ai làm để làm sự nghiệp GD, để củng cố niềm tin  
của nhân dân và chấn hưng đất nước phù hợp với thời  
đại khoa học công nghệ: 2/ Dám làm: Khi đã nghĩ đúng  
thì dám dấn thân để làm, hết lòng vì học sinh thân yêu,  
quyết tâm đưa cái đúng vào sự nghiệp GD, lấy kết quả  
cuối cùng để bảo vệ cái đúng của mình. Phải tích cực đổi  
mới, gắn với cải tạo môi trường để cho ra đời cái đúng,  
cái tốt nhiều hơn; 3/ Dám nói: Dám nghĩ, dám làm còn  
phải dám nói. Im lặng, thủ tiêu đấu tranh cũng là môi  
trường dung dưỡng cho cái xấu nảy sinh và phát triển  
trong môi trường GD.  
2.3.2. Người quản lí giáo dục cần phải có tài trong nghề  
Người QL GD trước hết là người có tài, là người có  
tầm nhìn xa trông rộng trong thời đại 4.0, thời đại ngày  
nay phải có ngoại ngữ, phải am hiểu công nghệ thông tin  
biết ứng dụng kết nối và lan tỏa, phải đi nhiều để tổng  
kết thực tiễn, … Cái “tài” ở đây thể hiện tài năng về trí  
tuệ và tài năng nghiệp vụ sư phạm. Tài năng sẽ giúp cho  
người QL GD nắm vững và nhuần nhuyễn nội dung hệ  
thống các kiến thức cơ bản của môn học, khả năng phát  
hiện vấn đề và giải quyết vấn đề. Bao gồm: Có lòng say  
mê làm việc, có mục tiêu lí tưởng rõ ràng, định hướng  
hoạt động nhất quán; Có tính nguyên tắc, tính nhạy cảm  
ở người lãnh đạo QL, sự đòi hỏi cao đối với người dưới  
quyền; Tính đúng mực, tự chủ, có văn hóa trong quan hệ  
ứng xử của người QL.  
Trước yêu cầu mới của xã hội học tập, người CBQL  
GD không chỉ hô hào mọi người học tập thường xuyên  
mà phải là tấm gương cho đội ngũ về học tập thường  
xuyên, suốt đời. CBQL GD cần có kế hoạch chiến lược  
về nghiên cứu khoa học, tự học, tự bồi dưỡng về các kiến  
thức chính trị - xã hội, chuyên môn - nghiệp vụ QL, đo  
lường và đánh giá trong GD, công nghệ thông tin, ngoại  
ngữ... để phát triển chính mình. Muốn trở thành CBQL  
GD chất lượng cao phải có tính kiên nhẫn, sự khổ luyện,  
lòng can đảm, tự tin... trong học tập và phấn đấu suốt đời  
cho sự nghiệp.  
Người có tài - thể hiện năng lực của CBQL phải hội tụ  
ba nội dung: Có tầm nhìn, biết tập hợp nhân tài, có sản  
phẩm thể hiện qua nhân cách của học sinh.  
Cuộc cách ma  
thông đang tác động mạnh mẽ đến GD trên mọi khía  
canh, buộc giáo dục phải tư duy lại những quan niệm về  
nhà trường, nhà QL, nhà giáo, người học, về quá trình  
day học, về tương lai của GD để nắm bắt, cập nhật, khai  
thác những lợi thế do tiến bộ công nghệ thông tin và  
truyền thông đem lại.  
Hệ thống thông tin trong QL GD là yêu cầu bắt buộc  
phải có đối với bất kì tổ chức, cơ sở GD nào để giúp cho  
CBQL GD có cơ sở tin cậy, khách quan trong điều hành  
và ra quyết định QL chuẩn xác.  
̣ng về công nghệ thông tin và truyền  
̣
- Thứ nhất, người lãnh đạo tài giỏi là người có tầm nhìn  
xa trông rộng trong thời đại 4.0. Muốn nhìn xa trong thời  
đại ngày nay phải có ngoại ngữ, phải am hiểu công nghệ  
thông tin, phải đi nhiều để tổng kết thực tiễn, dũng cảm  
so sánh với bạn bè quốc tế, từ đó định vị đúng mình,  
xem mình là ai? Mình đang ở đâu? Mình phải làm gì để  
sánh vai với các cường quốc năm châu và phải hiểu: Một  
cán bộ quyết đoán là một cán bộ đoán được tương lai để  
quyết định. Đó chính là tiêu chuẩn trí tuệ.  
̣
- Thứ hai, một CBQL GD có tài là một người cán bộ  
luôn tìm cách tiếp cận, giao việc để phát hiện đúng nhân  
tài, đào tạo, QL, sử dụng và bảo vệ nhân tài, phải sử dụng  
người được việc trong GD tức là sử dụng được đội ngũ  
3. Kết luận  
Hiện nay, vấn đề đào tạo, sử dụng, đánh giá cán bộ  
phải được gắn với đức - tài được hiểu một cách khoa học,  
đầy đủ. Đức và tài của người cán bộ hiện nay cần phải  
giáo viên giỏi, chứ không phải người được lòng, luôn cụ thể hóa bằng tiêu chuẩn chức danh đối với mỗi chức  
Số 40 tháng 4/2021  
11  
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
vụ, cương vị công tác, nhất là các tiêu chí mới đáp ứng chước bất cứ một tiêu chuẩn nào. Nếu quan điểm đức -  
yêu cầu của sự nghiệp cách mạng. Đức và tài của người tài không rõ ràng, lẫn lộn, chỉ nhìn hình thức bề ngoài mà  
cán bộ đạt đến trình độ nào thì phải lựa chọn bố trí họ ở không thấy bản chất bên trong của con người thì kết quả  
vị trí tương xứng. Nhưng vấn đề có tính nguyên tắc cần là sẽ chọn ra những kẻ bất tài, vô dụng, làm hại đến sự  
khẳng định là, đã là người cán bộ thì phải có đủ đức, đủ nghiệp GD trong giai đoạn hiện nay.  
tài tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ, không thể châm  
Tài liệu tham khảo  
[1] Báo Dân trí, (05/02/2019), Bàn về nhân cách của cán bộ  
quản lí giáo dục trong thời kì 4.0, Báo Dân trí online.  
[2] Báo Tuổi trẻ, (05/11/2013), Đổi mới căn bản, toàn diện  
giáo dục và đào tạo, http://tuoitre.vn/doi-moi-can-ban-  
toan-dien-giáo-duc-va-dao-tao-578443.htm  
[3] Bộ Giáo dục và Đào tạo, (16/4/2008), Quyết định số  
16/2008/QĐ-BGDĐT và Quyết định số 16/2008/QĐ-  
BGDĐT quy định về đạo đức nhà giáo.  
[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, (15/6/2004), Chỉ thị số 40-CT/  
TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc Xây dựng,  
nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý  
giáo dục theo hướng chuẩn hóa,  
09/2005/QĐ-TTg về việc Xây dựng, nâng cao chất lượng  
đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục theo hướng  
chuẩn hóa.  
[6] Hồ Chí Minh, (2011), Toàn tập, tập 10, NXB Chính trị  
Quốc gia, Hà Nội, tr.345, tr.346, tr.345-346.  
[7] Hồ Chí Minh, (2011), Toàn tập, tập 5, NXB Chính trị  
Quốc gia, Hà Nội, tr.292.  
[8] Hồ Chí Minh, (2011), Toàn tập, tập 9, NXB Chính trị  
Quốc gia, Hà Nội, tr.354.  
[9] Hồ Chí Minh, (2011), Toàn tập, tập 12, NXB Chính trị  
Quốc gia, Hà Nội, tr.269.  
nhon/can-bo-quan-ly-giao-duc-la-gi-c26933.html.  
[5] Thủ tướng Chính phủ, (11/01/2005), Quyết định số  
APPLYING HO CHI MINH’S THOUGHTS ON VIRTUE AND TALENT TO  
TRAIN EDUCATIONAL ADMINISTRATORS IN THE CURRENT PERIOD  
Nguyen Thi Hien Oanh  
Sai Gon University  
ABSTRACT: During his lifetime, President Ho Chi Minh paid special attention  
273 An Duong Vuong, Ward 3, District 5,  
to education and training for educational staff, aiming at training them to  
Ho Chi Minh City, Vietnam  
Email: hien_oanh71@yahoo.com.vn  
form a comprehensively developed personality in terms of political, ethical  
and professional qualities. This thought of him affirms the basic value of a  
person’s personality and it is even more true to that of a teacher, which is  
briefly summarized in the words “virtue” and “talent”. Education administrators  
play an important role in organizing, managing and directing educational  
activities. They must constantly study and practice, improve their ethical  
qualities, professional qualifications, management capacity and personal  
responsibility, and ensure the development of education. Imbued with the Ho  
Chi Minh thought on the relationship between virtue and talent of the cadres  
to build the contingent of educational administrators in the current situation is  
a particularly important issue.  
KEYWORDS: Virtue; talent; education management staff.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
12  
pdf 5 trang Thùy Anh 16120 Free
Bạn đang xem tài liệu "Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đức và tài đối với cán bộ quản lí giáo dục trong giai đoạn hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfvan_dung_tu_tuong_ho_chi_minh_ve_duc_va_tai_doi_voi_can_bo_q.pdf