Giáo trình Giáo dục quốc phòng và an ninh - Bài 6: Kết hợp phát triển kinh tế - Xã hội với tăng cường sức mạnh quốc phòng - An ninh

MỞ ĐẦU  
Phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với tăng cường củng cố quốc phòng - an  
ninh là hai nhiệm vụ chính trị quan trọng xuyên suốt luôn đồng hành với nhau  
trong mọi thời kì giai đoạn của lịch sử. Trong đó, quốc phòng - an ninh là một  
trong những nhiệm vụ chiến lược quan trọng trong quá trình đưa đất nước đi lên  
chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi tình hình thế giới, tình  
hình khu vực có nhiều biến động phức tạp, sự tranh chấp chủ quyền biên giới,  
biển và đảo đang diễn ra gay gắt, gắn phát triển kinh tế - xã hội với củng cố  
quốc phòng - an ninh là rất quan trọng, cần thiết.  
Củng cố quốc phòng - an ninh với sự phát triển kinh tế - xã hội được  
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ  
sung, phát triển năm 2011) nêu rõ: “Sự ổn định và phát triển bền vững mọi mặt  
đời sống kinh tế - xã hội là nền tảng vững chắc của quốc phòng - an ninh. Phát  
triển kinh tế - xã hội đi đôi với tăng cường sức mạnh quốc phòng - an ninh. Kết  
hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng - an ninh, quốc phòng - an ninh với kinh tế  
trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế - xã  
hội và trên từng địa bàn” .  
Bài giảng được biên soạn dựa trên cơ sở Giáo trình giáo dục quốc phòng –  
an ninh, tập một, dùng cho đại học, cao đẳng, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam,  
năm 2014.  
1
Phần I  
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC KẾT HỢP PHÁT TRIỂN KINH  
TẾ VỚI TĂNG CƯỜNG, CỦNG CỐ QUỐC PHÒNG, AN NINH Ở VIỆT NAM  
I. KHÁI NIỆM:  
Kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh là sự gắn kết giữa kinh tế với quốc  
phòng và an ninh trong một thể thống nhất nhằm bổ sung, tạo điều kiện, thúc  
đẩy cùng nhau nhịp nhàng phát triển với hiệu quả kinh tế xã hội cao, kinh tế  
phát triển, quốc phòng, an ninh vững mạnh góp phần quan trọng tạo nên sức  
mạnh tổng hợp của đất nước, bảo vệ độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, an  
ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, nếu chiến  
tranh xảy ra thì đánh thắng.  
Hoạt động kinh tế là hoạt động cơ bản, thường xuyên, gắn liền với sự tồn  
tại của xã hội loài người. Đó là toàn bộ quá trình hoạt động sản xuất và tái sản  
xuất ra của cải vật chất cho xã hội, phục vụ cho nhu cầu đời sống con người.  
Quốc phòng là công việc giữ nước của một quốc gia, bao gồm tổng thể các  
hoạt động đối nội và đối ngoại trên tất cả các lĩnh vực : kinh tế, chính trị, quân  
sự, văn hoá, xã hội... nhằm mục đích bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và  
toàn vẹn lãnh thổ, tạo môi trường thuận lợi để xây dựng đất nước.  
An ninh, trạng thái ổn định an toàn, không có dấu hiệu nguy hiểm để đe  
doạ sự tồn tại và phát triển bình thường của cá nhân, của tổ chức, của từng lĩnh  
vực hoạt động xã hội hoặc của toàn xã hội. Việt Nam, bảo vệ an ninh là nhiệm  
vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn dân và của cả hệ thống chính trị do lực  
lượng an ninh làm nòng cốt ; bảo vệ an ninh luôn kết hợp chặt chẽ với củng cố  
quốc phòng.  
Kết hợp phát triển kinh tế – xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng - an  
ninh ở nước ta là: hoạt động tích cực, chủ động của Nhà nước và nhân dân  
trong việc gắn kết chặt chẽ hoạt động kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh  
trong một chỉnh thể thống nhất trên phạm vi cả nước cũng như ở từng địa  
phương, thúc đẩy nhau cùng phát triển, góp phần tăng cường sức mạnh tổng  
hợp của quốc gia, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ  
nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.  
Trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta xác định, để thực hiện thắng lợi hai  
nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam, chúng ta phải kết hợp phát triển  
kinh tế – xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh trong một chính  
thể thống nhất. Quan điểm trên là hoàn toàn đúng đắn, sáng tạo, có cơ sở lí luận  
và thực tiễn  
II. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA SỰ KẾT HỢP  
Kinh tế, quốc phòng, an ninh là những mặt hoạt động cơ bản của mỗi quốc  
gia, dân tộc độc lập có chủ quyền. Mỗi lĩnh vực có mục đích, cách thức hoạt  
động riêng và chịu sự chi phối của hệ thống quy luật riêng, song giữa chúng lại  
2
có mối quan hệ, tác động qua lại lẫn nhau. Trong đó, kinh tế là yếu tố suy cho  
đến cùng quyết định đến quốc phòng - an ninh ; ngược lại, quốc phòng - an ninh  
cũng có tác động tích cực trở lại với kinh tế, bảo vệ và tạo điều kiện thúc đẩy  
kinh tế phát triển.  
Kinh tế quyết định đến nguồn gốc ra đời, sức mạnh của quốc phòng, an  
ninh. Lợi ích kinh tế, suy cho đến cùng là nguyên nhân làm nảy sinh các mâu  
thuẫn và xung đột xã hội. Để giải quyết mâu thuẫn đó, phải có hoạt động quốc  
phòng, an ninh.  
Bản chất của chế độ kinh tế - xã hội quyết định đến bản chất của quốc  
phòng-an ninh: Xây dựng sức mạnh quốc phòng, an ninh vì mục đích bảo vệ và  
đem lại lợi ích cho mọi thành viên trong xã hội là do bản chất của chế độ xã hội,  
xã hội chủ nghĩa quy định; còn tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh vì  
mục đích bảo vệ lợi ích cho giai cấp tư sản cầm quyền, thực hiện chiến tranh  
xâm lược là do bản chất của chế độ kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa quyết định.  
Kinh tế còn quyết định đến việc cung cấp nhân lực, vật lực cho hoạt động  
quốc phòng - an ninh. Ph.Ăngghen đã khẳng định: "Không có gì phụ thuộc vào  
kinh tế tiên quyết hơn là chính quân đội và hạm đội" ; "Thắng lợi hay thất bại  
của chiến tranh đều phụ thuộc vào điều kiện kinh tế,...". Vì vậy, để xây dựng  
quốc phòng, an ninh vững mạnh phải xây dựng, phát triển kinh tế.  
Kinh tế còn quyết định đến việc cung cấp số lượng, chất lượng nguồn nhân  
lực, vật lực cho quốc phòng, an ninh, qua đó quyết định đến tổ chức biên chế  
của lực lượng vũ trang; quyết định đến đường lối chiến lược quốc phòng - an  
ninh. Để xây dựng chiến lược quốc phòng, an ninh quốc gia của mỗi nước, phải  
căn cứ vào nhiều yếu tố, trong đó tổ chức biên chế của lực lượng vũ trang và vào  
trang bị binh khí kĩ thuật hiện có là căn cứ đặc biệt quan trọng. Những yếu tố  
này đều phụ thuộc vào nền kinh tế.  
Quốc phòng - an ninh không chỉ phụ thuộc vào kinh tế mà còn tác động trở  
lại với kinh tế – xã hội trên cả góc độ tích cực và tiêu cực. Quốc phòng - an ninh  
vững mạnh sẽ tạo môi trường hoà bình, ổn định lâu dài, tạo điều kiện thuận lợi  
cho phát triển kinh tế – xã hội. Quá trình thực hiện nhiệm vụ quốc phòng - an  
ninh trong thời bình, ở mức độ nhất định cũng có tác dụng kích thích kinh tế  
phát triển. Tiêu dùng cho hoạt động quốc phòng, an ninh, một mặt, đặt ra cho  
nền kinh tế phải sản xuất ra sản phẩm, hoặc thông qua mở rộng quan hệ kinh tế  
đối ngoại để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nó; mặt khác, sẽ tạo ra thị trường  
tiêu thụ sản phẩm của nền kinh tế.  
Hoạt động quốc phòng, an ninh tiêu tốn đáng kể một phần nguồn nhân lực,  
vật lực, tài chính của xã hội. Những tiêu dùng này, như V.I. Lênin đánh giá, là  
tiêu dùng "mất đi", không quay vào tái sản xuất xã hội. Do đó, sẽ ảnh hưởng đến  
tiêu dùng của xã hội, ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế. Hoạt động  
quốc phòng - an ninh còn ảnh hưởng đến đường lối phát triển kinh tế, cơ cấu  
kinh tế. Hoạt động quốc phòng - an ninh còn có thể dẫn đến huỷ hoại môi trường  
3
sinh thái, để lại hậu quả nặng nề cho kinh tế, nhất là khi chiến tranh xảy ra. Để  
hạn chế những tác động tiêu cực này, phải kết hợp tốt tăng cường củng cố quốc  
phòng - an ninh với phát triển kinh tế – xã hội vào một chỉnh thể thống nhất.  
Từ sự phân tích trên đây cho thấy, kết hợp phát triển kinh tế – xã hội với  
tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh là một tất yếu khách quan. Mỗi lĩnh  
vực hoạt động đều có nội dung, phương thức riêng nhưng lại có sự thống nhất ở  
mục đích chung, cái này là điều kiện tồn tại của cái kia và ngược lại. Tuy nhiên,  
cần phải nhận thức rõ mỗi lĩnh vực có quy luật phát triển đặc thù, do đó, việc kết  
hợp phải được thực hiện một cách khoa học, hợp lí, cân đối và hài hoà.  
III. CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA SỰ KẾT HỢP  
Nhìn vào tiến trình phát triển của các quốc gia trên thế giới chúng ta thấy,  
dù là nước lớn hay nước nhỏ; kinh tế phát triển hay chưa phát triển; dù chế độ  
chính trị như thế nào thì mỗi quốc gia cũng đều chăm lo thực hiện kết hợp phát  
triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, kể cả những nước mà  
hàng trăm năm nay chưa hề xẩy ra chiến tranh.  
Tuy nhiên, các nước khác nhau, với chế độ chính trị - xã hội khác nhau,  
điều kiện hoàn cảnh khác nhau thì sự kết hợp đó cũng có sự khác nhau về mục  
đích, nội dung, phương thức và kết quả. Ngay trong một nước, trong mỗi giai  
đoạn phát triển thì sự kết hợp cũng khác nhau.  
Ở Việt Nam, sự kết hợp phát triển kinh tế – xã hội với tăng cường củng cố  
quốc phòng, an ninh đã được thực hiện từ lâu trong lịch sử. Dựng nước đi đôi  
với giữ nước đã trở thành quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc ta.  
Đứng trước nguy cơ thường xuyên bị đe dọa, xâm lược và thôn tính của các  
thế lực thù địch, để xây dựng và phát triển đất nước, ông cha ta đã có những chủ  
trương, kế sách thực hiện sự kết hợp phát triển kinh tế – xã hội với tăng cường  
củng cố quốc phòng, an ninh trong quá trình dựng nước và giữ nước. Các triều  
đại phong kiến Việt Nam luôn lấy lợi ích quốc gia dân tộc làm trọng, đề ra kế  
sách giữ nước với tư tưởng : "nước lấy dân làm gốc", "dân giàu, nước mạnh",  
"quốc phú binh cường" ; thực hiện "khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc",  
chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc để "yên dân" mà "vẹn đất". Thực  
hiện kế sách "ngụ binh ư nông", "động vi binh, tĩnh vi dân", “bách tính gia binh”  
để vừa phát triển kinh tế, vừa tăng cường sức mạnh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc.  
Trong xây dựng, phát triển kinh tế, đã sử dụng nhiều chính sách như khai  
hoang lập ấp ở những nơi xung yếu để "phục binh sẵn, phá thế giặc dữ" từ xa ;  
phát triển nghề thủ công để vừa sản xuất ra các công cụ sản xuất, vừa sản xuất ra  
các vũ khí, phương tiện phục vụ cho toàn dân đánh giặc; chăm lo mở mang  
đường sá, đào sông ngòi, kênh rạch, xây đắp đê điều để vừa phát triển kinh tế,  
vừa tạo thế trận đánh giặc, cơ động lực lượng trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.  
Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng, do nắm  
vững quy luật và biết kế thừa kinh nghiệm của lịch sử nên đã thực hiện sự kết  
hợp phát triển kinh tế xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh một  
4
cách nhất quán bằng những chủ trương sáng tạo, phù hợp với từng thời kì của  
cách mạng.  
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954)  
Đảng ta đề ra chủ trương "Vừa kháng chiến, vừa kiến quốc", "Vừa chiến đấu,  
vừa tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm"; vừa thực hiện phát triển kinh tế ở  
địa phương vừa tiến hành chiến tranh nhân dân rộng khắp; "Xây dựng làng  
kháng chiến", địch đến thì đánh, địch lui ta lại tăng gia sản xuất.  
Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước (1954 - 1975), kết hợp phát  
triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh đã được Đảng ta chỉ  
đạo thực hiện ở mỗi miền với nội dung và hình thức thích hợp.  
Ở miền Bắc, để bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và xây dựng hậu phương  
lớn cho miền Nam đánh giặc, Đại hội lần thứ III của Đảng đã đề ra chủ trương:  
"Trong xây dựng kinh tế, phải thấu suốt nhiệm vụ phục vụ quốc phòng, cũng  
như trong củng cố quốc phòng phải khéo sắp xếp cho ăn khớp với công cuộc  
xây dựng kinh tế". Theo tinh thần đó, miền Bắc đã xây dựng, phát triển chế độ  
xã hội mới, nền kinh tế, văn hoá mới, nâng cao đời sống mọi mặt của nhân dân;  
đồng thời kết hợp chặt chẽ với chăm lo củng cố quốc phòng, an ninh vững  
mạnh, đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ, bảo vệ vững chắc miền  
Bắc xã hội chủ nghĩa và chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến lớn miền  
Nam đánh thắng giặc Mĩ xâm lược.  
Ở miền Nam, Đảng chỉ đạo quân và dân ta kết hợp chặt chẽ giữa đánh địch  
với củng cố mở rộng hậu phương, xây dựng căn cứ địa miền Nam vững mạnh.  
Đây chính là một điều kiện cơ bản bảo đảm cho cách mạng nước ta đi đến thắng  
lợi.  
Ở thời kì này, chúng ta phải tập trung cao độ cho nhiệm vụ xây dựng, bảo  
vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa và giải phóng miền Nam, nên việc kết hợp phát  
triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh được thực hiện dưới  
nhiều hình thức phong phú, sinh động và thiết thực, đã tạo được sức mạnh tổng  
hợp đánh thắng giặc Mĩ xâm lược và để lại nhiều bài học quý giá cho thời kì  
sau.  
Thời kì cả nước độc lập, thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội (từ 1975 đến  
nay) kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng, an  
ninh được Đảng ta khẳng định là một nội dung quan trọng trong đường lối xây  
dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và được triển khai trên quy  
mô rộng lớn, toàn diện hơn. Từ năm 1986 đến nay, với tư duy mới về kinh tế và  
quốc phòng, an ninh, việc kết hợp phát triển kinh tế xã hội với tăng cường củng  
cố quốc phòng, an ninh trên phạm vi cả nước cũng như từng địa phương, bộ, ban  
ngành có bước chuyển biến cả trong nhận thức và tổ chức thực hiện, đã thu được  
nhiều kết quả quan trọng.  
Nhờ chính sách nhất quán về thực hiện kết hợp phát triển kinh tế xã hội với  
tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh chúng ta đã phát huy được mọi tiềm  
5
năng cho xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong thời bình, cùng với phát triển kinh  
tế là chăm lo củng cố tiềm lực quốc phòng, thế trận quốc phòng. Nhờ vậy, khi  
đất nước bị xâm lược chúng ta đã động viên được "cả nước đồng lòng, toàn dân  
đánh giặc"; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo thành sức mạnh  
tổng hợp để chiến thắng kẻ thù. Do vậy đã góp phần giữ gìn và phát triển đất  
nước cho đến ngày nay.  
Phần II  
NỘI DUNG KẾT HỢP PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI  
VỚI TĂNG CƯỜNG CỦNG CỐ QUỐC PHÒNG, AN NINH  
VÀ ĐỐI NGOẠI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY  
I. KẾT HỢP TRONG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI.  
Kết hợp phát triển kinh tế xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng - an  
ninh phải được thể hiện ngay trong việc xây dựng chiến lược phát triển kinh tế  
của quốc gia. Mục tiêu và phương hướng tổng quát phát triển kinh tế - xã hội  
nước ta từ năm 2006 - 2010 là "... Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh  
toàn diện công cuộc đổi mới, huy động và sử dụng tốt mọi nguồn lực cho công  
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; phát triển văn hoá; thực hiện tiến bộ và công  
bằng xã hội; tăng cường quốc phòng và an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại; chủ  
động và tích cực hội nhập kinh tế thế giới; giữ vững ổn định chính trị - xã hội,  
sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; tạo nền tảng để đến năm 2020  
nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại".  
Như vậy, trong mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đã bao quát  
toàn diện các vấn đề của đời sống xã hội, trong đó nổi lên ba vấn đề lớn là: tăng  
trưởng kinh tế gắn với tiến bộ xã hội, tăng cường quốc phòng - an ninh và mở  
rộng quan hệ đối ngoại nhằm giải quyết hài hoà hai nhiệm vụ chiến lược xây  
dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.  
Sự kết hợp phát triển kinh tế – xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng,  
an ninh trong chiến lược phát triển kinh tế được thể hiện ngay trong việc hoạch  
định mục tiêu phát triển quốc gia, trong huy động nguồn lực, trong lựa chọn và  
thực hiện các giải pháp chiến lược.  
Sự kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh  
sẽ phát huy sức mạnh của từng lĩnh vực, kết hợp với nhau tạo thành sức mạnh  
tổng hợp, quy tụ mọi nguồn lực, lực lượng trong nước và quốc tế nhằm hoàn  
thành thắng lợi mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020.  
II. KẾT HỢP PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VỚI TĂNG CƯỜNG CỦNG  
CỐ QUỐC PHÒNG - AN NINH TRONG PHÁT TRIỂN CÁC VÙNG LÃNH  
THỔ.  
Kết hợp phát triển kinh tế xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng - an  
ninh theo vùng lãnh thổ là sự gắn kết chặt chẽ phát triển vùng kinh tế chiến lược,  
với xây dựng vùng chiến lược quốc phòng, an ninh, nhằm tạo ra thế bố trí chiến  
6
lược mới cả về kinh tế lẫn quốc phòng, an ninh trên từng vùng lãnh thổ, trên địa  
bàn tỉnh, thành phố, theo ý đồ phòng thủ chiến lược bảo vệ Tổ quốc Việt Nam  
vững trên toàn cục và mạnh ở từng trọng điểm.  
Hiện nay, nước ta đã phân chia thành các vùng kinh tế lớn và các vùng  
chiến lược, các quân khu (sự phân vùng chiến lược quốc phòng, an ninh là sự  
phân vùng theo ý đồ phòng thủ và tác chiến bảo vệ Tổ quốc trên từng chiến  
trường, từng hướng chiến lược của đất nước). Mỗi vùng đều có vị trí chiến lược  
về phát triển kinh tế và chiến lược phòng thủ bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, về lâu dài  
đều phải quan tâm chỉ đạo kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế xã hội với xây  
dựng lực lượng, thế trận quốc phòng - an ninh trên từng vùng lãnh thổ và giữa  
các vùng với nhau, trong thế trận phòng thủ chung.  
Các vùng chiến lược khác nhau có sự khác nhau về đặc điểm và yêu cầu  
nhiệm vụ phát triển kinh tế, quốc phòng, an ninh, nên nội dung kết hợp cụ thể  
trong mỗi vùng có thể có sự khác nhau. Song việc kết hợp phát triển kinh tế – xã  
hội với quốc phòng, an ninh ở các vùng lãnh thổ, cũng như ở địa bàn mỗi tỉnh,  
thành phố phải được thể hiện những nội dung chủ yếu sau :  
Một là, kết hợp trong xây dựng chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển  
kinh tế – xã hội với quốc phòng, an ninh của vùng, cũng như trên địa bàn từng  
tỉnh, thành phố.  
Hai là, kết hợp trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng, cơ cấu  
kinh tế địa phương với xây dựng các khu vực phòng thủ then chốt, các cụm  
chiến đấu liên hoàn, các xã phường chiến đấu trên địa bàn của các tỉnh, thành  
phố, huyện, quận.  
Ba là, kết hợp trong quá trình phân công lại lao động của vùng, phân bố lại  
dân cư với tổ chức xây dựng và điều chỉnh, sắp xếp bố trí lại lực lượng quốc  
phòng, an ninh trên từng địa bàn, lãnh thổ cho phù hợp với chiến lược phát triển  
kinh tế xã hội và kế hoạch phòng thủ bảo vệ Tổ quốc. Bảo đảm ở đâu có đất, có  
biển, đảo là ở đó có dân và có lực lượng quốc phòng, an ninh để bảo vệ cơ sở,  
bảo vệ Tổ quốc.  
Bốn là, kết hợp đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế với xây dựng các  
công trình quốc phòng, quân sự, phòng thủ dân sự, thiết bị chiến trường... Bảo  
đảm tính "lưỡng dụng" trong mỗi công trình được xây dựng.  
Năm là, kết hợp xây dựng các cơ sở, kinh tế vững mạnh toàn diện, rộng  
khắp với xây dựng các căn cứ chiến đấu, căn cứ hậu cần, kĩ thuật và hậu phương  
vững chắc cho mỗi vùng và ở các địa phương để sẵn sàng đối phó khi có chiến  
tranh xâm lược.  
Trên cơ sở kết hợp quan điểm toàn cục nói trên, xuất phát từ sự phân tích  
đặc điểm tiềm năng phát triển kinh tế cũng như vị trí địa lí, chính trị, quân sự,  
quốc phòng, an ninh của các vùng lãnh thổ trong cả nước, hiện nay Đảng ta xác  
định phải chú trọng nhiều hơn cho các vùng kinh tế trọng điểm, vùng biển đảo  
và vùng biên giới.  
7
1. Đối với các vùng kinh tế trọng điểm:  
Hiện nay, nước ta xác định 3 vùng kinh tế trọng điểm: phía Bắc (Hà Nội,  
Hải Phòng, Quảng Ninh); phía Nam (Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà  
Rịa - Vũng Tàu); miền Trung (Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế, Dung Quất Quảng  
Ngãi). Các vùng kinh tế trọng điểm nói trên đều là nòng cốt cho phát triển kinh  
tế của từng miền và cho cả nước (theo tính toán đến năm 2010, GDP của 3 vùng  
kinh tế trọng điểm chiếm khoảng 60% tổng thu nhập quốc dân của cả nước).  
Về kinh tế, các vùng kinh tế trọng điểm là nơi có mật độ dân cư và tính  
chất đô thị hoá cao, gắn liền với các khu công nghiệp lớn, đặc khu kinh tế, các  
liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài. Đây cũng là nơi tập trung các đầu mối  
giao thông quan trọng, các sân bay, bến cảng, kho tàng, dịch vụ...  
Về quốc phòng - an ninh, mỗi vùng kinh tế trọng điểm thường nằm trong  
các khu vực phòng thủ và phòng thủ then chốt của đất nước, nơi có nhiều đối  
tượng, mục tiêu quan trọng phải bảo vệ; đồng thời cũng là nơi nằm trên các  
hướng có khả năng là hướng tiến công chiến lược chủ yếu trong chiến tranh xâm  
lược của địch; hoặc đã và đang là địa bàn trọng điểm để địch thực hiện chiến  
lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ với nước ta. Vì vậy, phải thực hiện  
thật tốt phát triển kinh tế gắn với củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh trên  
các vùng này.  
Nội dung kết hợp cần tập trung vào các vấn đề sau :  
- Trong quy hoạch, kế hoạch xây dựng các thành phố, các khu công nghiệp  
cần lựa chọn quy mô trung bình, bố trí phân tán, trải đều trên diện rộng, không  
nên xây dựng tập trung thành những siêu đô thị lớn, để thuận lợi cho quản lí, giữ  
gìn an ninh chính trị trong thời bình và hạn chế hậu quả tiến công hoả lực của  
địch khi có chiến tranh.  
- Phải kết hợp chặt chẽ trong xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế với kết cấu  
hạ tầng của nền quốc phòng toàn dân. Gắn xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế với  
xây dựng các công trình phòng thủ, các thiết bị chiến trường, các công trình  
phòng thủ dân sự...Về lâu dài, ở các thành phố, đô thị, các khu kinh tế tập trung,  
cần có quy hoạch từng bước xây dựng hệ thống "công trình ngầm lưỡng dụng".  
Phải bảo vệ, bảo tồn các địa hình, địa vật, các khu vực có giá trị về phòng thủ,  
khi bố trí các cơ sở sản xuất, các công trình kinh tế, phê duyệt dự án đầu tư nước  
ngoài. Khắc phục tình trạng chỉ chú ý quan tâm đến lợi thế, hiệu quả kinh tế  
trước mắt mà quên đi nhiệm vụ quốc phòng - an ninh và ngược lại khi bố trí các  
khu vực phòng thủ, các công trình quốc phòng, chỉ chú ý đến các yếu tố bảo  
đảm quốc phòng, an ninh mà không tính đến đến lợi ích kinh tế.  
- Trong quá trình xây dựng các khu công nghiệp tập trung, đặc khu kinh tế  
phải có sự gắn kết với quy hoạch xây dựng lực lượng quốc phòng- an ninh, các  
tổ chức chính trị, đoàn thể ngay trong các tổ chức kinh tế đó. Lựa chọn đối tác  
đầu tư, bố trí xen kẽ, tạo thế đan cài lợi ích giữa các nhà đầu tư nước ngoài trong  
các khu công nghiệp, đặc khu kinh tế, khu chế xuất.  
8
- Việc xây dựng, phát triển kinh tế ở các vùng kinh tế trọng điểm phải  
nhằm đáp ứng phục vụ nhu cầu dân sinh thời bình và cả cho việc chuẩn bị đáp  
ứng nhu cầu chi viện cho các chiến trường khi chiến tranh xảy ra. Kết hợp phát  
triển kinh tế tại chỗ với xây dựng căn cứ hậu phương của từng vùng kinh tế  
trọng điểm để sẵn sàng chủ động di dời, sơ tán đến nơi an toàn khi có tình huống  
chiến tranh xâm lược.  
2. Đối với vùng núi biên giới:  
Vùng núi biên giới của nước ta có chiều dài tiếp giáp với Trung Quốc, Lào,  
Cămpuchia. Đây là địa bàn sinh sống chủ yếu của đồng bào dân tộc ít người,  
mật độ dân số thấp (trung bình khảng 20 - 40 người/1km2), kinh tế chưa phát  
triển, trình độ dân trí thấp, đời sống dân cư còn nhiều khó khăn. Vùng núi biên  
giới có tầm quan trọng đặc biệt trong chiến lược phòng thủ bảo vệ Tổ quốc.  
Trước đây các vùng này đã từng là căn cứ địa kháng chiến, hậu phương chiến  
lược của cả nước. Ngày nay, trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc, các vùng núi biên  
giới vẫn là vùng chiến lược hết sức trọng yếu. Trong khi đó, ở đây còn nhiều  
khó khăn, yếu kém về kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh dễ bị kẻ thù  
lợi dụng để lôi kéo, kích động đồng bào, thực hiện âm mưu chiến lược "diễn  
biến hoà bình", bạo loạn lật đổ, nhiều nơi tình hình rất phức tạp. Vì vậy, trước  
mắt cũng như lâu dài, việc kết hợp phát triển kinh tế với quốc phòng, an ninh ở  
vùng núi biên giới là cực kì quan trọng.  
Việc kết hợp cần tập trung vào các nội dung sau :  
- Phải quan tâm đầu tư phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng, an ninh ở  
các vùng cửa khẩu, các vùng giáp biên giới với các nước.  
- Phải tổ chức tốt việc định canh, định cư tại chỗ và có chính sách phù hợp  
để động viên, điều chỉnh dân số từ các nơi khác đến vùng núi biên giới  
- Tập trung xây dựng các xã trọng điểm về kinh tế và quốc phòng, an ninh.  
Trước hết, cần tập trung xây dựng phát triển hệ thống hạ tầng cơ sở, mở mới và  
nâng cấp các tuyến đường dọc, ngang, các tuyến đường vành đai kinh tế.  
- Thực hiện tốt chương trình xoá đói, giảm nghèo, chương trình 135 về phát  
triển kinh tế - xã hội đối với các xã nghèo  
- Đối với những nơi có địa thế quan trọng, vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó  
khăn, cần kết hợp mọi nguồn lực, mọi lực lượng của cả Trung ương và địa  
phương để cùng lo, cùng làm.  
- Đặc biệt với các địa bàn chiến lược trọng yếu dọc sát biên giới, cần có  
chính sách động viên và sử dụng lực lượng vũ trang, lực lượng quân đội làm  
nòng cốt xây dựng các khu kinh tế quốc phòng, hoặc các khu quốc phòng - kinh  
tế, nhằm tạo thế và lực mới cho phát triển kinh tế xã hội và tăng cường sức  
mạnh quốc phòng, an ninh.  
3. Đối với vùng biển đảo:  
9
Nước ta có vùng biển vừa dài vừa rộng, với diện tích hơn 1 triệu km2 (gấp  
hơn 3 lần diện tích đất liền). Vùng biển đảo nước ta có nhiều tiềm năng về hải  
sản và khoáng sản, là cửa ngõ thông thương giao lưu quốc tế, thu hút đầu tư  
nước ngoài, có khả năng phát triển một số ngành mũi nhọn của đất nước trong  
tương lai. Tuy nhiên, việc khai thác lợi thế đó của ta còn nhiều hạn chế, đặc biệt  
vùng biển đảo của ta hiện nay đang có nhiều tranh chấp rất phức tạp, chứa đựng  
nguy cơ đe doạ chủ quyền quốc gia, lợi ích dân tộc và rất dễ bùng nổ xung đột.  
Trong khi đó, chúng ta lại chưa có chiến lược tổng thể hoàn chỉnh về phát triển  
kinh tế biển và bảo vệ biển, đảo. Lực lượng và sức mạnh tổng hợp trên biển còn  
quá mỏng. Vì vậy, việc quan tâm thực hiện sự kết hợp phát triển kinh tế xã hội  
với tăng cường quốc phòng, an ninh trên vùng biển, đảo là đòi hỏi bức bách và  
rất quan trọng cả trước mắt cũng như lâu dài, nhằm nhanh chóng tạo ra thế và  
lực đủ sức bảo vệ, làm chủ toàn diện vùng biển, đảo, góp phần thúc đẩy các  
ngành kinh tế biển phát triển nhanh làm giàu cho Tổ quốc.  
Nội dung kết hợp cần tập trung vào các vấn đề sau :  
- Tập trung trước hết vào xây dựng, hoàn thiện chiến lược phát triển kinh tế  
và xây dựng thế trận quốc phòng, an ninh bảo vệ biển, đảo trong tình hình mới,  
làm cơ sở cho việc thực hiện kết hợp kinh tế xã hội với quốc phòng, an ninh một  
cách cơ bản, toàn diện, lâu dài.  
- Xây dựng quy hoạch, kế hoạch từng bước đưa dân ra vùng ven biển và  
các tuyến đảo gần trước để có lực lượng xây dựng căn cứ hậu phương, trụ bám  
phát triển kinh tế và bảo vệ biển, đảo một cách vững chắc, lâu dài.  
- Nhà nước phải có cơ chế chính sách thoả đáng động viên, khích lệ dân ra  
đảo trụ bám làm ăn lâu dài.  
- Phát triển các loại hình dịch vụ trên biển, đảo, tạo điều kiện cho dân bám  
trụ, sinh sống, làm ăn.  
- Xây dựng cơ chế, chính sách tạo điều kiện mở rộng liên kết làm ăn kinh tế  
ở vùng biển, đảo thuộc chủ quyền nước ta với các nước phát triển, nhằm tạo ra  
các đối tác đan xen lợi ích và đối tượng chống lại sự lấn lướt của các nước lớn.  
Thông qua đó, vừa thể hiện chủ quyền của nước ta, vừa hạn chế âm mưu bành  
trướng lấn chiếm biển đảo của các thế lực thù địch, tạo thế và lực để giải quyết  
hoà bình các tranh chấp trên biển, đảo.  
- Chú trọng đầu tư phát triển chương trình đánh bắt xa bờ, thông qua đó  
xây dựng lực lượng dân quân biển, các hải đoàn tự vệ của ngành Hàng hải, Cảnh  
sát biển, kiểm tra, kiểm soát, ngăn chặn kịp thời những hoạt động vi phạm chủ  
quyền biển, đảo của nước ta,... Xây dựng một số đơn vị kinh tế - quốc phòng  
mạnh trên biển, đảo để làm nòng cốt cho phát triển kinh tế biển và tạo thế bảo vệ  
biển, đảo vững chắc.  
- Xây dựng phương án đối phó với các tình huống có thể xảy ra ở vùng  
biển, đảo nước ta. Mạnh dạn đầu tư xây dựng lực lượng nòng cốt và thế trận  
10  
phòng thủ trên biển, đảo, trước hết là phát triển và hiện đại hoá lực lượng Hải  
Quân nhân dân Việt Nam để đủ sức mạnh canh giữ, bảo vệ vùng biển, đảo.  
III. KẾT HỢP PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI VỚI TĂNG CƯỜNG, CỦNG  
CỐ QUỐC PHÒNG, AN NINH TRONG CÁC NGÀNH, CÁC LĨNH VỰC KINH  
TẾ CHỦ YẾU.  
- Một là, kết hợp trong công nghiệp  
Công nghiệp là ngành kinh tế quan trọng của quốc gia, cung cấp máy móc,  
nguyên nhiên liệu cho các ngành kinh tế khác và cho chính nó cũng như cho  
công nghiệp quốc phòng; sản xuất sản phẩm tiêu dùng cho xã hội, phục vụ xuất  
khẩu; sản xuất ra vũ khí, trang thiết bị quân sự đáp ứng nhu cầu của hoạt động  
quốc phòng, an ninh.  
Nội dung kết hợp kinh tế xã hội với quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong  
phát triển công nghiệp là :  
+ Kết hợp ngay từ khâu quy hoạch bố trí các đơn vị kinh tế của ngành công  
nghiệp. Bố trí một cách hợp lí trên các vùng lãnh thổ, quan tâm đến vùng sâu,  
vùng xa, vùng kinh tế kém phát triển, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá  
nông nghiệp, nông thôn.  
+ Tập trung đầu tư phát triển một số ngành công nghiệp liên quan đến quốc  
phòng như cơ khí, chế tạo, điện tử, công nghiệp, điện tử kĩ thuật cao, luyện kim,  
hoá chất, đóng tàu để vừa đáp ứng nhu cầu trang bị cơ giới cho nền kinh tế, vừa  
có thể sản xuất ra một số sản phẩm kĩ thuật công nghệ cao phục vụ quốc phòng,  
an ninh.  
- Phát triển công nghiệp quốc gia theo hướng mỗi nhà máy, xí nghiệp vừa  
có thể sản xuất hàng dân dụng, vừa có thể sản xuất hàng quân sự. Kết hợp trong  
đầu tư nghiên cứu, sáng chế, chế tạo, sản xuất các mặt hàng có tính lưỡng dụng  
cao trong các nhà máy và ở một số cơ sở công nghiệp nặng.  
- Các nhà máy công nghiệp quốc phòng trong thời bình, ngoài việc sản xuất  
ra hàng quân sự phải tham gia sản xuất hàng dân sự chất lượng cao, phục vụ tiêu  
dùng trong nước và xuất khẩu. Theo hướng trên, từ nay đến năm 2020, Nhà  
nước cần tập trung xây dựng một số nhà máy mũi nhọn, có thể tham gia nghiên  
cứu, sáng chế và sản xuất một số mặt hàng quân sự đáp ứng trang bị cho lực  
lượng vũ trang, trong đó tập trung vào một số ngành như cơ khí luyện kim, cơ  
khí chế tạo, điện tử, tin học, hoá dầu.  
- Mở rộng liên doanh, liên kết giữa ngành công nghiệp nước ta (bao gồm cả  
công nghiệp quốc phòng) với công nghiệp của các nước tiên tiến trên thế giới;  
ưu tiên những ngành, lĩnh vực có tính lưỡng dụng cao.  
- Thực hiện chuyển giao công nghệ hai chiều, từ công nghiệp quốc phòng  
vào công nghiệp dân dụng và ngược lại.  
- Phát triển hệ thống phòng không công nghiệp và phát triển lực lượng tự  
vệ để bảo vệ các nhà máy, xí nghiệp trong cả thời bình và thời chiến.  
11  
- Xây dựng kế hoạch động viên công nghiệp quốc gia phục vụ thời chiến;  
thực hiện dự trữ chiến lược các nguyên, nhiên, vật liệu quý hiếm cho sản xuất  
quân sự.  
Hai là, kết hợp trong nông, lâm, ngư nghiệp  
Hiện nay nước ta vẫn còn hơn 70% dân số ở nông thôn và làm nghề nông,  
lâm, ngư nghiệp. Phần lớn lực lượng, của cải huy động cho xây dựng và bảo vệ  
Tổ quốc là từ khu vực này.  
Kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh  
trong các lĩnh vực này cần tập trung chú ý các vấn đề sau:  
- Kết hợp phải nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng đất, rừng, biển, đảo  
và lực lượng lao động để phát triển đa dạng ngành trong nông, lâm, ngư nghiệp  
theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, làm ra nhiều  
sản phẩm hàng hoá có giá trị cao phục vụ tiêu dùng trong nước, xuất khẩu và có  
lượng dự trữ dồi dào về mọi mặt cho quốc phòng, an ninh.  
- Kết hợp trong nông, lâm, ngư nghiệp phải gắn với việc giải quyết tốt các  
vấn đề xã hội như xoá đói, giảm nghèo, nâng cao dân trí, chăm sóc sức khoẻ,  
đền ơn đáp nghĩa, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, xây dựng  
nông thôn mới văn minh và hiện đại. Bảo đảm an ninh lương thực và an ninh  
nông thôn, góp phần tạo thế trận phòng thủ, "thế trận lòng dân" vững chắc.  
- Phải kết hợp gắn việc động viên đưa dân ra lập nghiệp ở các đảo để xây  
dựng các làng, xã, huyện đảo vững mạnh với chú trọng đầu tư xây dựng phát  
triển các hợp tác xã, các đội tàu thuyền đánh cá xa bờ, xây dựng lực lượng tự vệ,  
lực lượng dân quân biển, đảo; phối hợp chặt chẽ với lực lượng Hải quân và  
Cảnh sát biển để bảo vệ biển, đảo.  
- Phải đẩy mạnh phát triển trồng rừng gắn với công tác định canh định cư,  
xây dựng các cơ sở chính trị vững chắc ở các vùng rừng núi biên giới nước ta,  
đặc biệt là ở Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ.  
Ba là, kết hợp trong giao thông, bưu điện, y tế, khoa học - công nghệ,  
giáo dục và xây dựng cơ bản  
Trong giao thông vận tải  
- Phát triển hệ thống giao thông vận tải đồng bộ cả đường bộ, đường sắt,  
đường không, đường sông, đường thuỷ, đáp ứng nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng  
hoá trong nước và mở rộng giao lưu với bên ngoài.  
- Trong xây dựng các mạng đường bộ, cần chú trọng mở rộng, nâng cấp  
các tuyến trục đường Bắc - Nam với tuyến đường trục dọc Trường Sơn, đường  
Hồ Chí Minh. Từ các tuyến đường này phải phát triển các tuyến đường ngang,  
nối liền giữa các tuyến trục dọc với nhau và phát triển đến các huyện, xã trong  
cả nước, nhất là đến các xã vùng cao, vùng sâu, miền núi biên giới, xây dựng  
các tuyến đường vành đai biên giới.  
12  
- Trong thiết kế, thi công các công trình giao thông vận tải, đặc biệt là các  
tuyến vận tải chiến lược, phải tính đến cả nhu cầu hoạt động thời bình và thời  
chiến, nhất là cho các phương tiện cơ động của lực lượng vũ trang có trọng tải  
và lưu lượng vận chuyển lớn, liên tục. Ở những đầu nút giao thông, những nơi  
dự kiến địch có thể đánh phá trong chiến tranh, phải có kế hoạch làm nhiều  
đường vòng tránh. Bên cạnh các cây cầu lớn qua sông, phải làm sẵn những bến  
phà, bến vượt ngầm. Ở những đoạn đường có địa hình cho phép thì làm đường  
hầm xuyên núi, cải tạo các hang động sẵn có dọc hai bên đường làm kho trạm,  
nơi trú quân khi cần thiết.  
- Phải thiết kế, xây dựng lại hệ thống đường ống dẫn dầu Bắc - Nam, chôn  
sâu bí mật, có đường vòng tránh trên từng cung đoạn, bảo đảm hoạt động an  
toàn cả thời bình và thời chiến.  
- Ở các vùng đồng bằng ven biển, đi đôi với phát triển hệ thống đường bộ,  
cần chú trọng cải tạo, phát triển đường sông, đường biển, xây dựng các cảng  
sông, cảng biển, bảo đảm đi lại, bốc dỡ thuận tiện.  
- Việc mở rộng nâng cấp sân bay phải chú ý cả sân bay ở tuyến sau, ở sâu  
trong nội địa, sân bay giã chiến và có kế hoạch sử dụng cả đường cao tốc làm  
đường băng cất hạ cánh máy bay khi cần thiết trong chiến tranh.  
- Trong một số tuyến đường xuyên á, sau này được xây dựng qua Việt  
Nam, ở những nơi cửa khẩu, nơi tiếp giáp các nước bạn phải có kế hoạch xây  
dựng các khu vực phòng thủ kiên cố, vững chắc, đề phòng khả năng địch sử  
dụng các tuyến đường này khi tiến công xâm lược nước ta với quy mô lớn.  
- Xây dựng kế hoạch động viên giao thông vận tải cho thời chiến.  
Trong bưu chính viễn thông  
- Phải kết hợp chặt chẽ giữa ngành bưu điện quốc gia với ngành thông tin  
quân đội, công an để phát triển hệ thống thông tin quốc gia hiện đại, đảm bảo  
nhanh chóng, chính xác, an toàn thông tin liên lạc phục vụ lãnh đạo chỉ huy,  
điều hành đất nước trong mọi tình huống, cả thời bình và thời chiến.  
- Có phương án thiết kế xây dựng và bảo vệ hệ thống thông tin liên lạc một  
cách vững chắc trong mọi tình huống.  
- Các phương tiện thông tin liên lạc và điện tử cần phải được bảo đảm bí  
mật và có khả năng chống nhiễu cao, phòng chống chiến tranh thông tin điện tử  
của địch.  
- Khi hợp tác với nước ngoài về xây dựng, mua sắm các thiết bị thông tin  
điện tử phải cảnh giác cao, lựa chọn đối tác, có phương án chống âm mưu phá  
hoại của địch.  
- Xây dựng kế hoạch động viên thông tin liên lạc: chuẩn bị nhân lực và vật  
lực ngay từ trong thời bình phải tổ chức luyện tập chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu  
cao đề có thể huy động cho nhiệm vụ quốc phòng, an ninh khi cần thiết.  
13  
Trong xây dựng cơ bản  
Đây là lĩnh vực sẽ có nhiều phát triển cả quy mô và trình độ trong quá trình  
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Những công trình này không dễ gì có  
thể phá đi làm lại, cho nên việc thực hiện kết hợp trong ngành xây dựng phải  
được tiến hành ngay từ đầu, từ khảo sát điều tra, thiết kế, quy hoạch dự án đầu  
tư đến thi công xây dựng.  
- Khi xây dựng bất cứ công trình nào, ở đâu, quy mô nào cũng phải tính  
đến yếu tố tự bảo vệ và có thể chuyển hoá phục vụ được cả cho quốc phòng, an  
ninh, cho phòng thủ tác chiến và phòng thủ dân sự.  
- Khi xây dựng các thành phố đô thị, phải gắn với các khu vực phòng thủ  
địa phương, phải xây dựng các công trình ngầm (nhà cao tầng có tầng ngầm,  
giao thông có đường giao thông ngầm).  
- Khi xây dựng các khu công nghiệp tập trung, các nhà máy, xí nghiệp lớn,  
quan trọng đều phải tính đến khả năng bảo vệ và di dời khi cần thiết. Nếu điều  
kiện cho phép, phải biết tận dụng các địa hình, địa vật sẵn có để tăng tính bảo vệ  
cho công trình. Hạn chế xâm phạm các địa hình có giá trị về phòng thủ quân sự,  
quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.  
- Đối với các xí nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, cần kết hợp trong  
nghiên cứu sáng chế, chế tạo những vật liệu siêu bền, có khả năng chống xuyên,  
chống mặn, chống bức xạ, dễ vận chuyển phục vụ xây dựng các công trình  
phòng thủ, công sự trận địa của lực lượng vũ trang và của khu vực phòng thủ  
tỉnh, thành phố.  
- Khi cấp phép đầu tư xây dựng cho các đối tác nước ngoài, phải có sự  
tham gia ý kiến của cơ quan quân sự có thẩm quyền.  
Trong khoa học và công nghệ, giáo dục  
Đây là lĩnh vực đóng vai trò là nền tảng, động lực, là quốc sách hàng đầu  
đối với sự phát triển của quốc gia. Vì vậy, sự kết hợp là tất yếu, không chỉ là vấn  
đề cơ bản lâu dài mà còn là vấn đề cấp bách hiện nay.  
Nội dung kết hợp cần tập trung vào :  
- Phải phối hợp chặt chẽ và toàn diện hoạt động giữa các ngành khoa học  
và công nghệ then chốt của cả nước với các ngành khoa học của quốc phòng, an  
ninh trong việc hoạch định chiến lược nghiên cứu phát triển và quản lí sử dụng  
phục vụ cho cả xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.  
- Nghiên cứu ban hành chính sách khuyến khích các tổ chức, cá nhân có đề  
tài khoa học, dự án công nghệ và sản xuất các sản phẩm có ý nghĩa vừa phục vụ  
cho nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, vừa phục vụ nhu cầu quốc  
phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, có chính sách đầu tư thoả đáng cho  
lĩnh vực nghiên cứu khoa học quân sự, khoa học xã hội nhân văn quân sự, khoa  
học kĩ thuật quân sự.  
14  
- Coi trọng giáo dục bồi dưỡng nhân lực, đào tạo nhân tài của đất nước, đáp  
ứng cả sự nghiệp xây dựng phát triển kinh tế xã hội, cả quốc phòng - an ninh.  
Thực hiện có hiệu quả công tác giáo dục quốc phòng – an ninh cho các đối  
tượng, đặc biệt là trong các nhà trường thuộc hệ thống giáo dục quốc gia.  
Trong lĩnh vực y tế  
- Phối hợp, kết hợp chặt chẽ giữa ngành y tế dân sự với y tế quân sự trong  
nghiên cứu, ứng dụng, trong đào tạo nguồn nhân lực, trong khám chữa bệnh cho  
nhân dân, bộ đội và cho người nước ngoài.  
- Xây dựng mô hình quân dân y kết hợp trên các địa bàn, đặc biệt là ở miền  
núi, biên giới, hải đảo.  
- Xây dựng kế hoạch động viên y tế dân sự cho quân sự khi có chiến tranh  
xảy ra.  
- Phát huy vai trò của y tế quân sự trong phòng chống, khám chữa bệnh cho  
nhân dân thời bình và thời chiến.  
IV. KẾT HỢP TRONG THỰC HIỆN NHIỆM VỤ CHIẾN LƯỢC BẢO VỆ TỔ  
QUỐC.  
Kết hợp phát triển kinh tế xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng, an  
ninh trong bảo vệ Tổ quốc là xuất phát từ mục tiêu, lực lượng và phương thức  
bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn an ninh quốc gia trong tình hình mới.  
Nội dung kết hợp cần chú ý:  
- Tổ chức biên chế và bố trí lực lượng vũ trang phải phù hợp với điều kiện  
kinh tế và nhu cầu phòng thủ đất nước.  
- Sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nhân lực, tài chính, cơ sở vật chất kĩ thuật  
trong huấn luyện, chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang.  
- Khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của quân đội, công an cho  
phát triển kinh tế xã hội. Xây dựng, phát triển các khu kinh tế quốc phòng, các  
khu quốc phòng kinh tế trên các địa bàn miền núi biên giới, giúp đỡ nhân dân  
địa phương ổn định sản xuất, đời sống, phát triển kinh tế xã hội, củng cố quốc  
phòng - an ninh trên địa bàn. Tận dụng khả năng của công nghiệp quốc phòng  
trong thời bình để sản xuất hàng hoá dân sự phục vụ dân sinh và xuất khẩu.  
Thành lập các tổ, đội công tác trên từng lĩnh vực đưa về giúp đỡ các xã vùng  
sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng cũ phát triển kinh tế, quốc phòng, an  
ninh...  
- Phát huy tốt vai trò tham mưu của các cơ quan quân sự, công an các cấp  
trong việc thẩm định, đánh giá các dự án đầu tư, nhất là các dự án đầu tư có vốn  
nước ngoài.  
V. KẾT HỢP TRONG HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI.  
Mục tiêu chung của mở rộng quan hệ đối ngoại, hợp tác quốc tế là giữ  
vững môi trường hoà bình, tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng và bảo vệ Tổ  
15  
quốc ; tận dụng ngoại lực, phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác  
kinh tế quốc tế, bảo đảm giữ vững độc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ  
nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc và an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân  
tộc, bảo vệ môi trường.  
Sự phối hợp giữa hoạt động đối ngoại với kinh tế, quốc phòng, an ninh là  
một trong những nội dung cơ bản của chủ trương đối ngoại trong thời kì mới.  
Đó là sự cụ thể hoá quan điểm kết hợp giữa phát triển kinh tế xã hội và giữ vững  
an ninh quốc gia trong xu thế toàn cầu hoá, sự phát triển của cách mạng khoa  
học và công nghệ hiện đại.  
Việc mở rộng quan hệ đối ngoại, hợp tác quốc tế về kinh tế, chính trị, văn  
hoá, khoa học, quốc phòng, quân sự của nước ta với các nước và vùng lãnh thổ,  
các trung tâm chính trị kinh tế quốc tế lớn, các tổ chức quốc tế và khu vực phải  
hướng vào việc phục vụ cho phát triển kinh tế trong nước; đồng thời phải giữ  
vững nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp  
vào công việc nội bộ của nhau, không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực  
trong mở rộng quan hệ đối ngoại.  
Nội dung kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường quốc phòng, an ninh  
trong lĩnh vực đối ngoại cần tập trung vào các lĩnh vực sau:  
- Mở rộng hoạt động đối ngoại phải quán triệt và thực hiện tốt nguyên tắc  
bình đẳng, cùng có lợi, tôn trọng độc lập, chủ quyền và không can thiệp vào  
công việc nội bộ của nhau; giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc; giải quyết các tranh  
chấp bằng thương lượng hoà bình.  
- Trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại, phải kết hợp từ khâu lựa chọn đối tác.  
Phải lựa chọn được đối tác có ưu thế chế ngự cạnh tranh với các thế lực mạnh  
bên ngoài, làm hạn chế sự chống phá của các thế lực thù địch.  
- Kết hợp trong việc phân bổ đầu tư vào ngành nào, địa bàn nào có lợi cho  
phát triển kinh tế, bảo đảm quốc phòng, an ninh của quốc gia. Khắc phục tình  
trạng chỉ thấy lợi ích kinh tế trước mắt mà không tính đến lợi ích lâu dài và  
nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.  
- Kết hợp trong xây dựng và quản lí các khu chế xuất, các đặc khu kinh tế  
liên doanh, liên kết đầu tư với nước ngoài, bảo vệ chủ quyền an ninh đất nước,  
Chú trọng xây dựng các đoàn hội, lực lượng tự vệ trên cơ sở Nhà nước có luật  
pháp quy định rõ ràng. Đồng thời phải chú trọng bồi dưỡng ý thức tự tôn dân  
tộc, tinh thần cảnh giác đấu tranh bảo vệ độc lập chủ quyền, an ninh quốc gia  
cho cán bộ, nhân viên là người Việt Nam làm việc trong các cơ sở đối ngoại và  
kinh tế đối ngoại.  
- Phát huy vai trò của cán bộ, nhân viên các đại sứ quán, lãnh sự quán của  
nước ta ở nước ngoài trong việc quảng bá sản phẩm hàng hoá, truyền thống Việt  
Nam; đồng thời nắm vững đường lối đối ngoại, đường lối quân sự của nước  
ngoài cung cấp tình hình giúp Đảng, Nhà nước hoạch định chính sách đối ngoại  
đúng đắn.  
16  
Phần III  
MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU THỰC HIỆN KẾT HỢP  
PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI GẮN VỚI TĂNG CƯỜNG CỦNG CỐ  
QUỐC PHÒNG, AN NINH Ở NƯỚC TA HIỆN NAY  
I. TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG VÀ HIỆU LỰC QUẢN LÍ NHÀ  
NƯỚC CỦA CHÍNH QUYỀN CÁC CẤP TRONG THỰC HIỆN KẾT HỢP  
PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI VỚI TĂNG CƯỜNG CỦNG CỐ QUỐC  
PHÒNG, AN NINH.  
1. Vai trò lãnh đạo của các cấp uỷ đảng trong việc kết hợp được thể hiện ở  
chỗ:  
- Thường xuyên nắm vững chủ trương đường lối của Đảng, kịp thời đề ra  
những quyết định lãnh đạo ngành, địa phương mình, thực hiện kết hợp phát triển  
kinh tế xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh một cách đúng đắn.  
- Gắn chủ trương lãnh đạo với tăng cường kiểm tra việc thực hiện của  
chính quyền, đoàn thể, các tổ chức kinh tế thực hiện chủ trương đường lối về kết  
hợp phát triển kinh tế xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh.  
- Tổ chức tốt việc sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm kịp thời để bổ sung chủ  
trương và chỉ đạo thực thực hiện kết hợp phát triển kinh tế xã hội với tăng cường  
củng cố quốc phòng - an ninh ở ngành, địa phương thuộc phạm vi lãnh đạo của  
các cấp uỷ đảng.  
2. Để nâng cao hiệu lực quản lí nhà nước của chính quyền các cấp trong kết  
hợp phát triển kinh tế xã hội với tăng cường, củng cố quốc phòng - an ninh  
phải.  
- Từng cấp phải làm đúng chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật  
và Nghị định 119/2004/NĐ-CP của Chính phủ đã ban hành ngày 11/5/2004.  
- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện các quy hoạch, kế hoạch kết hợp phát triển  
kinh tế xã hôi với tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh ở ngành, bộ, địa  
phương cơ sở của mình dài hạn và hàng năm.  
- Đổi mới nâng cao quy trình, phương pháp quản lí, điều hành của chính  
quyền các cấp từ khâu lập quy hoạch, kế hoạch, nắm tình hình, thu thập xử lí  
thông tin, định hướng hoạt động, tổ chức hướng dẫn chỉ đạo cấp dưới và kiểm  
tra ở mọi khâu, mọi bước của quá trình thực hiện kết hợp phát triển kinh tế xã  
hội với tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh ở ngành, địa phương mình.  
II. BỒI DƯỠNG NÂNG CAO KIẾN THỨC, KINH NGHIỆM KẾT HỢP PHÁT  
TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI VỚI TĂNG CƯỜNG CỦNG CỐ QP - AN CHO  
CÁC ĐỐI TƯỢNG.  
Đây là giải pháp quan trọng hàng đầu và đang là đòi hỏi cấp thiết đối với  
cán bộ và nhân dân cả nước ta hiện nay.  
17  
- Đối tượng bồi dưỡng: phải phổ cập kiến thức quốc phòng – an ninh cho  
toàn dân nhưng trước hết phải tập trung vào đội ngũ cán bộ chủ trì các cấp, các  
bộ, ngành, đoàn thể từ Trung ương đến địa phương, cơ sở.  
- Nội dung bồi dưỡng : phải căn cứ vào đối tượng, yêu cầu nhiệm vụ đặt ra  
để chọn lựa nội dung, chương trình bồi dưỡng cho phù hợp và thiết thực nhằm  
nâng cao cả kiến thức, kinh nghiệm và năng lực thực tiễn sát với cương vị đảm  
nhiệm với từng loại đối tượng và quần chúng nhân dân.  
- Hình thức bồi dưỡng : phải kết hợp bồi dưỡng tại trường với tại chức, kết  
hợp lí thuyết với thực hành. Thông qua sinh hoạt chính trị, qua các cuộc diễn tập  
thực nghiệm, thực tế ở các bộ, ngành, địa phương cơ sở để nâng cao hoàn thiện  
sự hiểu biết và năng lực tổ chức thực hiện của đội ngũ cán bộ và của toàn dân,  
toàn quân về kết hợp phát triển kinh tế xã hội với tăng cường củng cố quốc  
phòng - an ninh trong tình hình mới.  
III. XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC TỔNG THỂ KẾT HỢP PHÁT TRIỂN KINH  
TẾ - XÃ HỘI VỚI TĂNG CƯỜNG CỦNG CỐ QUỐC PHÒNG, AN NINH  
TRONG THỜI KÌ MỚI.  
Hiện nay, nước ta đã và đang xây dựng chiến lược phát triển kinh tế xã hội  
gắn với tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh đến năm 2020. Thực tiễn cho  
thấy, sự vận dụng tính quy luật kinh tế, quốc phòng, an ninh và quán triệt quan  
điểm kết hợp của Đảng đã đề ra còn nhiều mâu thuẫn và bất cập do thiếu định  
hướng chiến lược cơ bản cả ở tầm vĩ mô và vi mô. Vì vậy, muốn kết hợp ngay từ  
đầu và trong suốt quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước  
một cách cơ bản và thống nhất trên phạm vi cả nước và từng địa phương, phải  
tiếp tục xây dựng và hoàn chỉnh các quy hoạch và kế hoạch chiến lược tổng thể  
quốc gia về kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an  
ninh. Coi đó là một trong những khâu quan trọng hàng đầu để chỉ đạo, quản lí  
nhà nước, về kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an  
ninh một cách có hiệu lực, hiệu quả.  
Trong xây dựng quy hoạch, kế hoạch chiến lược tổng thể về kết hợp phát  
triển kinh tế xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh và đối ngoại  
trong thời kì mới, phải có sự phối hợp đồng bộ giữa các bộ, ngành, địa phương  
từ khâu khảo sát, đánh giá các nguồn lực (cả bên trong và bên ngoài). Trên cơ sở  
đó xác định mục tiêu, phương hướng phát triển và đề ra các chính sách đúng  
đắn, như : chính sách khai thác các nguồn lực; chính sách đầu tư và phân bổ đầu  
tư; chính sách điều động nhân lực, bố trí dân cư; chính sách ưu đãi khoa học và  
công nghệ lưỡng dụng....  
IV. HOÀN CHỈNH HỆ THỐNG PHÁP LUẬT, CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH CÓ  
LIÊN QUAN ĐẾN THỰC HIỆN KẾT HỢP PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI  
VỚI TĂNG CƯỜNG CỦNG CỐ QUỐC PHÒNG - AN NINH TRONG TÌNH  
HÌNH MỚI.  
18  
Mọi chủ trương đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta có liên  
quan đến kết hợp xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc, kết hợp phát triển kinh  
tế xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh đều phải được thể chế hoá  
thành luật pháp, pháp lệnh, nghị định, văn bản dưới luật một cách đồng bộ,  
thống nhất để quản lí và tổ chức thực hiện nghiêm túc có hiệu lực và hiệu quả  
trong cả nước.  
Đảng và Nhà nước phải có chính sách khai thác các nguồn lực và vốn đầu  
tư cả trong và ngoài nước để thực hiện kết hợp phát triển kinh tế xã hội với tăng  
cường củng cố quốc phòng, an ninh; nhất là đối với các công trình trọng điểm, ở  
những địa bàn chiến lược trọng yếu như miền núi biên giới và hải đảo.  
Việc xác lập cơ chế chính sách, bảo đảm ngân sách cho kết hợp phát triển  
kinh tế xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh cần được xây dựng  
theo quan điểm quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân. Các ngành, các cấp, các  
cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế, các đoàn thể xã hội đều  
phải có nghĩa vụ chăm lo cho sự nghiệp xây dựng đất nước cũng như sự nghiệp  
bảo vệ Tổ quốc. Việc phân bổ ngân sách đầu tư cho kết hợp phát triển kinh tế -  
xã hội gắn với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh phải theo hướng tập  
trung cho những mục tiêu chủ yếu, những công trình có tính lưỡng dụng cao đáp  
ứng cả cho phát triển kinh tế xã hội và củng cố quốc phòng – an ninh cả trước  
mắt và lâu dài.  
Phải có chính sách khuyến khích lợi ích vật chất và tinh thần đối với các tổ  
chức, cá nhân, các nhà đầu tư (cả trong và ngoài nước) có các đề tài khoa học,  
các dự án công nghệ sản xuất, xây dựng có ý nghĩa lưỡng dụng hoá cao phục vụ  
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong thời kì mới.  
V. CỦNG CỐ KIỆN TOÀN VÀ PHÁT HUY VAI TRÒ THAM MƯU CỦA CƠ  
QUAN CHUYÊN TRÁCH QUỐC PHÒNG, AN NINH CÁC CẤP.  
Căn cứ vào Nghị định 119/2004/NĐ-CP ngày 11/5/2004 của Chính phủ về  
Công tác quốc phòng ở các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc chính phủ  
và các địa phương. Cần nghiên cứu bổ sung mở rộng thêm chức năng, nhiệm vụ  
của các cơ quan chuyên trách quản lí nhà nước về quốc phòng, an ninh nói  
chung và về kết hợp phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường, củng cố quốc  
phòng, an ninh nói riêng trong thời kì mới.  
Kết hợp chặt chẽ giữa chấn chỉnh, kiện toàn tổ chức với chăm lo bồi dưỡng  
nâng cao năng lực và trách nhiệm của các cơ quan và cán bộ chuyên trách làm  
tham mưu cho Đảng, Nhà nước về thực hiện kết hợp phát triển kinh tế - xã hội  
gắn với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh ngang tầm với nhiệm vụ trong  
thời kì mới.  
Kết hợp phát triển kinh tế xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng, an  
ninh là một tất yếu khách quan, một nội dung quan trọng trong đường lối phát  
triển đất nước của Đảng ta, nhằm thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược:  
19  
xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ  
nghĩa.  
Việc kết hợp được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế và  
có sự phối hợp của các ngành, các cấp, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lí của  
Nhà nước, tạo nên sức mạnh tổng hợp cho phát triển kinh tế xã hội, củng cố  
quốc phòng - an ninh.  
Để thực hiện tốt việc kết hợp, cần quán triệt và thực hiện đồng bộ các giải  
pháp, trong đó phải quán triệt sâu sắc hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng  
Việt Nam cho toàn dân, nhất là cho học sinh, sinh viên - những người quyết định  
tương lai của đất nước. Quá trình kết hợp phải được triển khai có kế hoạch, có  
cơ chế chính sách cụ thể, chặt chẽ, đồng bộ.  
KẾT LUẬN  
Kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, quốc phòng với  
an ninh là một trong những nội dung quan trọng của sự nghiệp củng cố quốc  
phòng, an ninh bảo vệ Tổ quốc, thực chất là thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ  
chiến lược cách mạng của nước ta. Kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng  
với kinh tế, quốc phòng với an ninh và đối ngoại là đường lối, quan điểm xây  
dựng nền quốc phòng toàn dân thông qua các hoạt động kinh tế – xã hội, xây  
dựng đất nước lấy ổn định và phát triển mọi mặt đời sống xã hội làm nền tảng.  
Đây là một vấn đề trở thành truyền thống của dân tộc, phù hợp với đường lối  
xây dựng chủ nghĩa xã hội, đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân  
dân.  
Trong tình hình hiện nay có nhiều vấn đề đặt ra phải giải quyết đòi hỏi  
chúng ta phải phát huy cao độ tinh thần tự lực, tự cường và tranh thủ điều kiện  
quốc tế để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo ra cơ sở vật chất kỹ  
thuật cho chủ nghĩa xã hội, bảo đảm ngày càng tốt hơn cho củng cố quốc phòng  
vững mạnh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. đó là nhiệm vụ của  
toàn dân, toàn quân, của mọi ngành, mọi cấp đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng,  
điều hành của Nhà nước.  
Là sinh viên Trường Đại học Trà Vinh – những cán bộ khoa học tương lai  
cần tích cực học tập, nghiên cứu nhận thức đúng đắn các nội dung trên, từ đó  
tích cực tham gia vào các hoạt động gắn kết các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh  
với xây dựng phát triển kinh tế góp phần thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến  
lược là: Xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.  
HƯỚNG DẪN NGHIÊN CỨU  
1. Phân tích tính tất yếu phải kết hợp phát triển kinh tế xã hội với tăng cường  
củng cố quốc phòng - an ninh ở nước ta hiện nay?  
2. Nội dung, phương thức kết hợp phát triển kinh tế xã hội với tăng cường củng  
cố quốc phòng - an ninh ở nước ta hiện nay?  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 21 trang Thùy Anh 15680 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Giáo dục quốc phòng và an ninh - Bài 6: Kết hợp phát triển kinh tế - Xã hội với tăng cường sức mạnh quốc phòng - An ninh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_giao_duc_quoc_phong_va_an_ninh_bai_6_ket_hop_phat.pdf