Tư tưởng pháp quyền của Jean Jacques Rousseau và ý nghĩa của nó trong thời đại ngày nay
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Nguyễn Trung Hiểu
TƯ TƯỞNG PHÁP QUYỀN CỦA JEAN JACQUES ROUSSEAU
VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY
JEAN JACQUES ROUSSEAU’S THOUGHTS OF JURISDICTION
AND ITS MEANING IN THE CURRENT TIME
NGUYỄN TRUNG HIỂU
TÓM TẮT: Kế thừa và phát triển tư tưởng pháp quyền của nhân loại, ở Jean Jacques Rousseau
(1712-1778) đã trở thành tư tưởng pháp quyền mang tính nhân văn sâu sắc, là ngọn cờ lý luận
hàng đầu và trực tiếp nhất dẫn đến đại Cách mạng Pháp 1789. Tuyên ngôn nhân quyền và dân
quyền của Cách mạng Pháp chính là tiếng vọng lại các tư tưởng pháp quyền Jean Jacques
Rousseau: “Người ta tự do và bình đẳng trong các quyền”; “Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm tự
do, tư hữu, an ninh. Nhân dân có quyền “chống lại áp bức””; “Quyền lực tối cao thuộc về nhân
dân”…Tất cả còn nguyên giá trị đối với thời đại ngày nay.
Từ khóa: Jean Jacques Rousseau; quyền con người; pháp quyền; ý chí chung.
ABSTRACT: By inheriting and developing the thoughts of jurisdiction of humankind, Jean
Jacques Rouseau’s thoughts of jurisdiction (1712-1778) had profound humanity, was the most
important and direct theory leading to Great Revolution of France 1789. The declaration of human
rights and civil rights of the French Revolution is the reflection of Jean Jacques Rousseau's
thought of jurisdiction: "People are free and equal in rights"; “The state has responsibility to
ensure freedom, private property and security. People have the rights to "resist oppression"; "The
supreme power belongs to the people" ... All are still valid for today.
Key words: Jean Jacques Rousseau; human rights; jurisdiction; general will.
quyền xã hội chủ nghĩa là một hướng nghiên
cứu có ý nghĩa quan trọng và cấp thiết.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Vấn đề bảo vệ quyền con người, quyền
công dân là vấn đề muôn thuở, ngày nay,
trong bối cảnh đời sống chính trị - xã hội có
nhiều biến động, quyền con người, chủ quyền
nhân dân bị xâm phạm, hoặc bị xuyên tạc, lợi
dụng,.. tất cả trở thành một hiện tượng lan
rộng trên phạm vi toàn thế giới. Nghiên cứu
nội dung tư tưởng pháp quyền của Jean
Jacques Rousseau (1712-1778), rút ra ý nghĩa
và bài học nhằm xây dựng hệ thống lý luận
bảo vệ quyền con người và vị trí làm chủ của
nhân dân, đặc biệt, trong bối cảnh nước ta
đang trong sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp
2. NỘI DUNG
2.1. Nội dung tư tưởng pháp quyền nhân văn
và cấp tiến của Jean Jacques Rousseau
Lịch sử tư tưởng pháp quyền đã hình thành
từ thời cổ đại, phát triển cho đến thời kỳ cận
đại mới trở thành học thuyết, trực tiếp dẫn đến
sự hình thành nhà nước pháp quyền tư sản. Gắn
liền với sự ra đời của nhà nước, tư tưởng pháp
quyền được nêu ra nhằm chống lại xu hướng
lạm dụng quyền lực hoặc sử dụng quyền lực
một cách tùy tiện, đồng thời bảo vệ được quyền
con người và vị trí làm chủ của nhân dân. Lịch
sử phát triển cùng với những chuyển biến của
47
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Số 22, Tháng 7 - 2020
chính trị - xã hội đã bồi đắp, phát triển nội dung
tư tưởng pháp quyền hết sức phong phú, đa
dạng. Tuy vậy, cho đến nay tư tưởng pháp
quyền vẫn có sự thống nhất ở nội dung, nguyên
tắc và mục đích mà nó hướng tới.
pháp quyền cận đại thế kỷ XVII-XVIII, cơ sở
đầu tiên cho cho việc chống lại nhà nước phong
kiến “phi lý” và “phi nhân tính” và xây dựng
nhà nước pháp quyền tư sản phù hợp với lý trí
con người và do đó “hợp lý tính”. Tư tưởng
J.J.Rousseau về quyền công dân thống nhất với
trục vận động chính ấy, đồng thời có những
điểm khác biệt có tính cấp tiến và cách mạng
nhất trong phong trào Khai sáng.
Dự án Tư pháp thế giới (The World
Justice Project - WJP) liệt kê bốn nội dung
mang tính nguyên tắc sau đây của pháp quyền:
1) Chính phủ, các quan chức, các cơ quan đại
diện, cá nhân và các tổ chức tư nhân đều phải
tuân thủ pháp luật; 2) luật pháp rõ ràng, công
khai, ổn định và đúng đắn; được áp dụng chung
và bảo vệ các quyền cơ bản, bao gồm sự an
toàn về tính mạng và tài sản của con người và
các quyền con người đã được xác định; 3) quy
trình pháp luật rõ ràng, theo đó luật được ban
hành có thể tiếp cận được, được quản lý và thi
hành một cách công bằng và hiệu quả; 4) hoạt
động tư pháp phải được thực hiện kịp thời bởi
những đại diện có thẩm quyền, có đạo đức, độc
lập và trung lập, có đủ nhân lực và nguồn lực
cần thiết và làm việc với tinh thần phục vụ
cộng đồng [5].
Trước hết, con người ai cũng có quyền được
sống trong một trật tự xã hội, được bảo vệ tính
mạng. Rời bỏ trạng thái tự nhiên, chuyển sang
trạng thái dân sự J.J.Rousseau gắn quyền sống
của con người với nghĩa vụ lao động và gửi gắm
thông điệp: quyền sống không đơn thuần là quyền
được tồn tại, mà phải có điều kiện để lao động và
phát triển bản thân ngày một hoàn thiện hơn.
Thứ hai, con người ai cũng có quyền tự do.
Theo J.J.Rousseau, có ba loại tự do: tự do tự nhiên -
con người sinh ra không ai mang bổn phận phải
phục tùng người khác; tự do dân sự - tự do gắn liền
với những ràng buộc do “ý chí chung quy định”; tự
do luân lý - tuân theo các chuẩn mực đạo lý của bản
thân đặt ra trong sự thống nhất lợi ích chung.
Từ năm 1950, Ủy ban luật gia quốc tế đã
đưa ra các khái niệm về pháp quyền với nội
hàm cơ bản là: “Pháp quyền là yếu tố cốt yếu
để bảo vệ cá nhân khỏi sự chuyên quyền của
chính phủ và giúp các cá nhân có được những
phẩm giá của con người” [3, tr.17].
Tự do dân sự là quyền của tất cả mọi người
trong việc thực hiện những hành động nhằm đạt
được mục đích của mình trong một khuôn khổ luật
định và giới hạn không xâm phạm lợi ích chung
của cộng đồng. J.J.Rousseau quan niệm về một thứ
tự do không những phù hợp với một sự ràng buộc
mà còn bao gồm sự ràng buộc đó, đôi khi đòi hỏi
phải kiềm chế những khát vọng, những nhu cầu lôi
kéo người đó về những chiều hướng đối lập.
Như vậy, có thể hiểu tư tưởng pháp quyền
là hệ thống các quan niệm về những quyền con
người, bảo vệ quyền và lợi ích của công dân
trong xã hội có nhà nước, thông qua việc khẳng
định chủ quyền thuộc về nhân dân được hợp
pháp hóa bằng một hệ thống pháp luật công
bằng, có hiệu lực và công khai, minh bạch.
2.1.1.TưtưởngcủaJ.J.Rousseauvềquyềnconngười
Khẳng định quyền công dân có nền tảng từ
quyền tự nhiên - bản chất vốn có của con người
trước khi xã hội dân sự được thiết lập, là thiêng
liêng, bất khả xâm phạm, cần phải luôn được
tôn trọng và bảo vệ thông qua phương án Khế
ước xã hội là nội dung căn bản trong tư tưởng
Tự do luân lý trong quan niệm của
J.J.Rousseau xuất hiện khi một người có được
sự tự trị, hay sự thiết lập luật lệ cho chính bản
thân họ. Dục vọng thúc đẩy con người hành
động vì những nhu cầu bản năng, trong khi
đạo đức, luân lý thúc đẩy con người hành
động với sự cân nhắc của lý trí lại vượt lên
trên để khẳng định cá nhân với tư cách là
“Người”. Theo J.J.Rousseau, cần phải đạt
được tự do luân lý thì con người mới thực sự
48
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Nguyễn Trung Hiểu
được tự do. J.J.Rousseau đưa ra luận điểm có
tính kết luận “Con người dân sự còn có tự do
luân lý khiến anh ta trở thành người chủ thật
sự của chính mình; vì rằng làm theo kích thích
của dục vọng là nô lệ, mà tuân theo quy tắc tự
mình đặt ra lại là tự do” [2, tr.52]. Con người
sinh ra có quyền tự do, không một ai được từ bỏ
quyền tự do của chính mình, càng không được
tước đoạt quyền tự do của người khác, ngay cả
cha mẹ đối với con cái, vì “từ bỏ tự do của mình
là từ bỏ phẩm chất con người, từ bỏ quyền làm
người và cả nghĩa vụ làm người” [2, tr.36]
của cải đã loại trừ họ đối với những của cải
khác. Luận điểm này của J.J.Rousseau phần nào
đã chỉ ra được sở hữu tư nhân là nguồn gốc của
bất bình đẳng xã hội, gần với quan điểm mác-xít
về sự bất bình đẳng xã hội, nhưng ông vẫn chưa
đi đến quan điểm triệt để cần phải xóa bỏ tư hữu
tư nhân mà chỉ hạn chế sự tích lũy tư bản: Để có
bình đẳng thì: “không công dân nào có thể giàu
có đến mức có thể mua kẻ khác và không ai
nghèo đến nỗi phải tự bán mình” [2, tr.98].
2.1.2. Tư tưởng của J.J.Rousseau về pháp luật
Trong những mong muốn của J.J.Rousseau
Thứ ba, con người ai cũng có quyền bình
về một xã hội tốt đẹp, pháp luật được xem là nhân
tố có tính quyết định. Giữ vai trò trung tâm của hệ
thống quyền lực, pháp luật - khi đã trở về với bản
chất vốn có của nó sẽ là công cụ cơ bản và quan
trọng nhất để bảo vệ tự do, bình đẳng, công bằng
trong xã hội, hợp pháp hóa quyền con người và
chủ quyền nhà nước thuộc về nhân dân. “Chỉ có
duy nhất luật pháp mới làm cho con người có
được công bằng và tự do” [4, tr.102]. Đó là lời
khẳng định của J.J.Rousseau trong Luận về
kinh tế chính trị, tuy nhiên, hiện thực phơi bày,
pháp luật có xu hướng đi ngược lại giá trị công
bằng, tự do và bình đẳng trong xã hội, ông chỉ
rõ: “….luật pháp luôn có lợi cho những kẻ có
của và thiệt hại cho những kẻ bạch đinh” [2,
tr.58]. Sở dĩ như vậy là vì pháp luật đã xa rời
“ý chí chung” mà biểu hiện cơ bản là quyền lập
pháp không thực sự thuộc về nhân dân, pháp
luật rời xa với mục đích của cộng đồng, chỉ
hướng đến lợi ích của cá nhân. Do đó,
J.J.Rousseau lên tiếng chống đối quan điểm của
J.Locke và Ch.Montesquieu ở tính đại diện của
quyền lập pháp, theo ông, một khi dân chúng
chấp nhận để người khác đại diện cho mình thì
họ không còn tự do nữa; thậm chí không còn
hiện hữu nữa. Nhìn lại nền dân chủ đầu tiên của
nhân loại - nền dân chủ Athen, J.J.Rousseau tỏ
rõ sự đồng thuận với cách làm của những người
lãnh đạo - Hội đồng 10 người (Decemvirs), họ
luôn tuyên bố: “Những gì mà chúng tôi đề nghị
không bao giờ trở thành luật nếu đồng bào
đẳng. Ở đây bình đẳng không phải là tất cả mọi
người đều có thể trạng tự nhiên hay có mức độ
quyền lực về tài sản phải tuyệt đối ngang nhau,
cốt lõi của bình đẳng thể hiện ở chỗ: mọi người
cống hiến bao nhiêu thì thụ hưởng bấy nhiêu. Tuy
nhiên, hiện thực phơi bày khắp nơi là tình trạng
bất bình đẳng, mà theo J.J.Rousseau, nguồn gốc
xuất phát từ trong lòng xã hội, với sự xuất hiện sở
hữu tư nhân cùng với những thiết chế xã hội ra
đời với mục đích củng cố địa vị của những người
giàu, tạo ra thêm những bất bình đẳng xã hội.
Thứ tư, dù nhận thấy sở hữu là nguồn gốc
nảy sinh bất bình đẳng, J.J.Rousseau mặt khác
thấy rằng, sở hữu lại là nền tảng thực sự của xã
hội, do đó là quyền đặc biệt quan trọng, cần
thiết phải được bảo vệ như một quyền thiêng
liêng, bất khả xâm phạm. Trong tác phẩm Luận
về kinh tế chính trị (1755), quyền tư hữu được
J.J.Rousseau đánh giá: “Chắc chắn quyền tư hữu
là quyền thiêng liêng nhất trong các quyền của
công dân” [4, tr.116]. Quyền sở hữu trong quan
niệm của J.J.Rousseau có nét tương đồng với
J.Locke. Theo cả hai triết gia, lao động là
nguồn gốc và nền tảng của sở hữu, tuy nhiên,
hành động lao động để chiếm giữ của cải cần
phải vừa đủ cho cuộc sống của người chiếm
hữu, tránh tình trạng sở hữu của cải để thừa
mứa trong khi người khác không có dùng, thể
chế hóa trong xã hội dân sự là những điều
khoản quy định cho một người sở hữu một số
49
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Số 22, Tháng 7 - 2020
không đồng ý. Hỡi dân La Mã, hãy tự mình là
những nhà làm luật để đem lại hạnh phúc cho
chính mình” [2, tr.83]. J.J.Rousseau khẳng định
nguyên tắc súc tích nhưng đầy ý nghĩa: Dân
chủ và tự do chỉ có thể ở nơi nhân dân là người
lập pháp. Dân chúng chịu quyền của pháp luật
nên cũng phải là những người làm ra luật và
quyền này chỉ thuộc về những người kết hợp lại
để thành lập xã hội mà thôi, có như thế thì luật
không bao giờ bất công, bởi lẽ không ai lại đi
bất công với chính mình. Tuân theo luật nhưng
vẫn đảm bảo tự do cho tất cả, ở đây thể hiện sự
thống nhất biện chứng giữa quyền và luật, giữa
tự do và phục tùng trong tư tưởng pháp quyền
của J.J.Rousseau.
chế lẫn nhau như tư tưởng tam quyền phân lập của
Ch.Montesquieu, vì thực ra giữa ba cơ quan chỉ là
sự tách biệt ở khía cạnh chức năng và chỉ mang
tính tương đối mà thôi, còn quyền thì luôn thống
nhất thể hiện ở chủ quyền của nhân dân.
2.2. Ý nghĩa của tư tưởng pháp quyền của
J.J.Rousseau đối với thời đại ngày nay
Tư tưởng pháp quyền của J.J.Rousseau gắn
liền với hệ tư tưởng giai cấp tư sản đấu tranh
chống chế độ phong kiến còn chứa đựng những
hạn chế có tính lịch sử cụ thể, tuy nhiên, với tính
độc lập tương đối của ý thức xã hội, tư tưởng pháp
quyền của J.J.Rousseau có những nội dung chứa
đựng giá trị vượt lên trên những quy định của xã
hội cũ, có ý nghĩa rất lớn đối với thời đại ngày nay.
Hiện nay, các quốc gia, dân tộc tiếp tục kế thừa
và “hiện đại hóa” tư tưởng chính trị - pháp quyền
J.J.Rousseau trong bối cảnh lịch sử với nhiều vấn đề
mới. Vấn đề “ý chí chung” và kiểm soát quyền lực
được J.J.Rousseau nêu ra đang được mở rộng và cụ
thể hóa trong Hiến pháp của các quốc gia. Những băn
khoăn, day dứt của ông về một nền dân chủ triệt để
“ở trên trời” cũng được chia sẻ trong điều kiện phức
tạp của sinh hoạt chính trị, khi mà những nguyên tắc
cơ bản của dân chủ, của chủ quyền nhân dân đang bị
xâm phạm hoặc bị xuyên tạc, trò chơi dân chủ ngày
càng có nhiều biến tướng và khó lường. Bóng ma của
chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa phân biệt chủng tộc,
những xung đột văn hóa - dân tộc - tôn giáo chứng tỏ
rằng, để nhân loại đạt được sự tiến bộ bền vững rất
cần vận dụng bài học của lịch sử, trong đó có bài học
về sự tôn trọng quyền và phẩm giá con người, khắc
phục mâu thuẫn giữa tiến bộ của nền văn minh và các
chuẩn mực đạo đức và lý tưởng chính trị.
2.1.3. Quan điểm về chủ quyền thuộc về nhân dân
Quyền lập pháp - quyền lực cao nhất của
quốc gia thuộc về nhân dân, đồng nghĩa với
việc chủ quyền tối cao thuộc về nhân dân,
quyền này không được chuyển nhượng với bất
kỳ hình thức nào: các thành viên của chính
quyền “Không là và không thể là đại diện cho
dân chúng được: Họ chỉ là những người phục
vụ dân chúng và không thể quyết định tối hậu
vấn đề gì” [2, tr.165]. Đối với J.J.Rousseau, chủ
quyền nhân dân không nằm đơn giản thông qua
hành động thiết lập và bãi bỏ chính quyền mà
nằm ở ý chí điều hành liên tục và xuyên suốt,
thông qua việc trực tiếp nắm quyền lập pháp.
Chủ quyền nhà nước thuộc về nhân dân, cùng
với nguyên tắc không thể chuyển nhượng thì cũng
không thể bị phân chia. Nếu như Ch.Montesquieu
chủ trương tam quyền phân lập, ở đó các bộ phận
quyền lực tách ra và trở thành đối trọng lẫn nhau
trong vận hành nhà nước thì J.J.Rousseau cho rằng
cả ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp đều
thống nhất ở ý chí chung, là sự thể hiện ý chí của
nhân dân: “Sự hiện hữu của những quyền này chỉ
là sự thể hiện một ý chí tối cao đã hiện hữu từ
trước mà thôi” [2, tr.61]. Sự tồn tại độc lập giữa
các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là điều
cần thiết nhằm đảm bảo hiệu quả của từng cơ
2.2.1. Tư tưởng pháp quyền của J.J.Rousseau
có ý nghĩa to lớn với việc bảo vệ quyền con
người đối với thời đại ngày nay
Tư tưởng về quyền con người là nội dung
cốt lõi và nền tảng trong tư tưởng pháp quyền
của J.J.Rousseau. Ông đề cao con người ở
phương diện cá nhân với những quyền họ có,
thống nhất quyền con người với quyền công
quan, nhưng giữa chúng không đối trọng hay kiềm dân trên cơ sở pháp lý, giải phóng con người
50
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Nguyễn Trung Hiểu
thoát khỏi quan điểm thần học, khẳng định vai
trò, giá trị của con người trong mối quan hệ với
xã hội và nhà nước, đấu tranh bảo vệ con người
trước mọi sự xâm phạm của chế độ phong kiến
lẫn tư sản trên cơ sở “ý chí chung” làm cho lý
luận về quyền con người của ông có giá trị vượt
lên trên cả J.Locke và Ch.Montesquieu trở
thành lý luận nền tảng cho phong trào đấu tranh
vì quyền con, có giá trị và ý nghĩa vượt lên trên
thời đại. Nếu cả J.Locke và Ch.Montesquieu
cho rằng: nhà nước phải ban hành luật pháp
làm sao đảm bảo các quyền cơ bản của con
người, thì J.J.Rousseau khẳng định: nhân dân
phải trực tiếp ban hành luật pháp để đảm bảo
những quyền của chính mình. Sự khác nhau
quá rõ rệt, một bên công dân được tự do vì tuân
theo nhà nước, một bên là công dân luôn luôn
tự do vì họ chỉ tuân theo chính họ.
Ch.Montesquieu và J.Locke trong khi đề cao
quyền con người và ủng hộ đấu tranh vì những
quyền ấy tập trung ở phương diện cá nhân thì
J.J.Rousseau nhấn mạnh tính tập thể. Mỗi cá
nhân muốn bảo vệ được quyền của chính mình
thì trong quá trình góp tiếng nói vào ý chí chung,
phải đảm bảo rằng tiếng nói ấy vì quyền của
mình nhưng không xâm phạm quyền của người
khác, qua đó, một thông điệp được truyền tải:
lên tiếng bảo vệ quyền của người khác chính là
bảo vệ quyền của bản thân. Tư tưởng về quyền
con người của J.J.Rousseau có giá trị thúc đẩy to
lớn phong trào đấu tranh vì quyền con người thế
kỷ XVIII và cả về sau; là nền tảng cho bản
Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ năm 1776,
Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của nước
Pháp năm 1789 và Tuyên ngôn độc lập nước
Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1945.
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam. Ngay sau khi giải phóng dân tộc và
cho đến hiện nay, chủ trương gắn chặt độc lập,
tự do của đất nước với tự do, hạnh phúc của
nhân dân, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội làm nền tảng để bảo đảm
triệt để các quyền con người, giải phóng con
người là những tư tưởng cốt lõi trong đường lối
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
2.2.2. Tư tưởng chủ quyền thuộc về nhân dân
và ý nghĩa đối với sự nghiệp xây dựng Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trong nhà nước pháp quyền tư sản, quyền
lực của nhân dân trên mặt pháp lý, mà quyền
đó như J.J.Rousseau nhấn mạnh: là quyền mà
nhân dân có được để chọn người đại diện trong
nghị viện để thay những người cũ tiếp tục đàn
áp họ. Ông viết: “Dân Anh cho mình là tự do,
nhưng họ nhầm lẫn lớn; họ chỉ tự do trong khi
bầu cử những nghị viên Quốc hội. Ngay khi các
nghị viên được bầu lên, dân chúng trở thành nô
lệ và không còn là gì nữa” [2, tr.165-166], một
kết luận có tính cách mạng được nêu ra: để
quyền lực nhà nước thực sự thuộc về nhân dân
thì quyền lập pháp phải trực tiếp thuộc về họ.
Nguyên tắc quyền lập pháp trực tiếp thuộc về
nhân dân của J.J.Rousseau khó để có thể hiện
thức hóa trong thực tiễn đời sống chính trị, tuy
nhiên, nguyên tắc ấy trở thành một yêu cầu
chung cho mọi nền dân chủ thực sự.
Trong sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cần phải ngày
càng mở rộng dân chủ trực tiếp để nhân dân trực
tiếp thực hiện quyền lực của họ, đồng thời nhà nước
cần phải xây dựng và phát huy năng lực làm chủ
cho nhân dân. Một lý luận rất đơn giản: muốn tự
làm chủ thì phải có quyền và có năng lực. Đây là
yếu tố quan trọng bậc nhất trong tiến trình xây dựng
nhà nước pháp quyền của dân do dân và vì dân, bởi
vì, nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân
mà dân không dám làm chủ hay không biết làm chủ
bằng cách nào thì rõ ràng chúng ta sẽ không bao giờ
đạt được mục tiêu như đã định hướng.
Trong sợi dây liên kết dựa trên tinh thần
nhân văn và cách mạng cao cả, tư tưởng về
quyền con người của J.J.Rousseau có ý nghĩa
quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
ngày nay. Theo đó, bảo vệ quyền con người là
mục tiêu vừa là động lực trong sự nghiệp xây
51
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Số 22, Tháng 7 - 2020
Dù không hoàn toàn đồng nhất, nhưng tư
tưởng “trực tiếp” trong việc nhân dân ban hành
luật ở J.J.Rousseau cần được tái hiện trong quá
trình phát huy dân chủ trực tiếp ở Việt Nam ta
hiện nay. Nhân dân tuy không trực tiếp là
người ban hành luật pháp nhưng ngày càng trực
tiếp hơn trong việc góp ý, xây dựng luật, nói
lên tiếng nói của mình. Lập luận của
J.J.Rousseau về chủ quyền tối thượng không thể
phân chia và chuyển nhượng tiếp tục được kế
thừa trong nguyên tắc tổ chức quyền lực Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ba
quyền lực, lập pháp, hành pháp, tư pháp về thực
chất chỉ là sự phân công, phối hợp để thực hiện
chức năng, nhiệm vụ chuyên trách, còn về quyền
lực thì luôn thống nhất ở nhân dân, tất cả đều
xuất phát từ quyền lực ủy nhiệm từ nhân dân.
Chúng ta loại bỏ khả năng phân chia và đối
trọng các nhánh quyền lực theo kiểu mà
Ch.Montesquieu đề xướng. Nghiên cứu tư tưởng
pháp quyền của J.J.Rousseau, vận dụng vào xây
dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam cho thấy, thực chất xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là xây dựng tính
hiến định mối quan hệ Đảng lãnh đạo, Nhà nước
quản lý, nhân dân làm chủ nhằm đảm bảo quyền
và lợi ích hợp pháp của nhân dân. Xây dựng nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vừa có tính phổ
biến, vừa có tính đặc thù phù hợp với truyền thống
văn hóa, cách mạng của dân tộc. Trên cơ sở kế
thừa nhà nước pháp quyền tư sản, nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa là sự phát triển cao hơn ở
tính “pháp quyền” gắn liền với tính “nhân dân”.
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
là nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân
và vì nhân dân, quyền lực nhà nước thuộc về nhân
dân là bản chất và là tiến trình phát triển tất yếu
của sự vận động lịch sử xã hội.
3. KẾT LUẬN
Xuất phát từ một hiện thực đầy tính phản
nhân văn: “Con người ta sinh ra là tự do,
nhưng đâu đâu cũng sống trong xiềng xích”
[2, tr.29], J.J.Rousseau trình bày tư tưởng về
quyền con người, về luật pháp và quyền làm
chủ của nhân dân thống nhất với nhau trên cơ
sở “Ý chí chung” (General Will) với khát khao
đưa con người trở về bản chất tự do, bình đẳng
vốn có của họ. Tư tưởng pháp quyền của
J.J.Rousseau phác họa một đích đến là những
đặc trưng của chủ nghĩa xã hội, điều đó thể
hiện tính nhân văn vượt trước thời đại trong tư
tưởng pháp quyền của ông, có ý nghĩa rất lớn
đối với thời đại ngày nay. C.Mác viết trong tác
phẩm Gia đình thần thánh: “Chủ nghĩa duy vật
Pháp có hai phái: một phái bắt nguồn từ
Đêcáctơ, một phái bắt nguồn từ Lốccơ. Phái
thứ hai thì chủ yếu là một yếu tố của văn hóa
Pháp và trực tiếp dẫn tới chủ nghĩa xã hội” [1,
tr.191]. J.J.Rousseau thuộc về “phái thứ hai”,
đóng vai trò một trong những tiền đề lý luận
của chủ nghĩa xã hội khoa học và triết học
chính trị phương Tây hiện đại.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] C.Mác và Ph.Ăngghen (2005), Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[2] Jacques Rousseau (2008), Khế ước xã hội (Dương Văn Hóa dịch), Nxb Thế giới.
[3] Nguyễn Hùng Vương (2015), Tư tưởng pháp quyền phương Tây cận đại với việc xây dựng nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, Nxb Đà Nẵng.
[4] Jacques Rousseau (2008), Discourse on the Origin of Inequality (Translated by G.D.H.Cole),
Published by Barnes & Noble, Inc.
Ngày nhận bài: 30-6-2020. Ngày biên tập xong: 03-7-2020. Duyệt đăng: 24-7-2020
52
Bạn đang xem tài liệu "Tư tưởng pháp quyền của Jean Jacques Rousseau và ý nghĩa của nó trong thời đại ngày nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tu_tuong_phap_quyen_cua_jean_jacques_rousseau_va_y_nghia_cua.pdf

