Triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2021
VNU Journal of Economics and Business, Vol. 1, No. 1 (2021) 1-9
VNU Journal of Economics and Business
Journal homepage: https://js.vnu.edu.vn/EAB
Original Article
Vietnam Economy Prospect in 2021
Ly Dai Hung*
Vietnam Institute of Economics,
No. 1, Lieu Giai Street, Ba Dinh Distr., Hanoi, Vietnam
Received 12 April 2021
Revised 20 April 2021; Accepted 25 June 2021
Abstract: The paper forecasts the economic growth of the Vietnamese economy in 2021, based on
a quantitative model capturing the macroeconomic fundamentals and accounting for the
international economic integration for the past decades. The method of Bayesian Structural Vector
Autoregression with Time Varying Coefficients (TVC-BSVAR) is employed on a time-series data
sample reflecting the integration and development of Vietnam within the world economy. The
analysis results provide three scenarios of GDP growth rate in 2021, including 3.48% (pessimistic
scenario), 5.49% (baseline scenario) and 6.90% (optimistic scenario). The probability of each
scenario depends on the foreign direct investment absorption capacity, the world oil price and the
prospects for the world economy.
Keywords: Economic forecasting, Vector Autoregression, macroeconomic fundamentals.
________
*
Corresponding author
E-mail address: [email protected]om
1
VNU Journal of Economics and Business, Vol. 1, No. 1 (2021) 1-9
2
Triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2021
Lý Đại Hùng*
Viện Kinh tế Việt Nam, Số 1, Liễu Giai, Ba Đình, Hà Nội, Việt Nam
Nhận ngày 12 tháng 4 năm 2021
Chỉnh sửa ngày 20 tháng 4 năm 2021; Chấp nhận đăng ngày 25 tháng 6 năm 2021
Tóm tắt: Bài viết dự báo tăng trưởng kinh tế của Việt Nam năm 2021 dựa vào một mô hình định
lượng được xây dựng trên nền tảng kinh tế vĩ mô và tính đến sự hội nhập kinh tế quốc tế trong thời
gian vừa qua. Phương pháp vector tự hồi quy cấu trúc với hệ số thay đổi theo thời gian (TVC-
BSVAR) được áp dụng dựa trên một bộ dữ liệu theo chuỗi thời gian phản ánh nền kinh tế Việt
Nam hội nhập và phát triển trong tương quan với nền kinh tế thế giới. Kết quả phân tích đưa ra ba
kịch bản về tốc độ tăng trưởng GDP của năm 2021 gồm 3,48% (bi quan), 5,49% (cơ sở) và 6,90%
(lạc quan). Khả năng đạt được mỗi kịch bản phụ thuộc vào khả năng hấp thụ vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài và triển vọng của nền kinh tế thế giới.
Từ khóa: Dự báo kinh tế, vector tự hồi quy, nền tảng kinh tế vĩ mô.
2
với công tác dự báo tăng trưởng kinh tế trong
năm 2021.
1. Dẫn nhập
Triển vọng tăng trưởng kinh tế của Việt
Mục tiêu của bài viết là đánh giá triển vọng
tăng trưởng tổng sản lượng quốc nội (GDP) của
nền kinh tế Việt Nam trong năm 2021. Để đạt
được mục tiêu này, bài viết sử dụng phương
pháp nghiên cứu định lượng, dựa vào một mô
hình kinh tế lượng và một bộ dữ liệu theo chuỗi
thời gian phản ánh các đặc điểm riêng biệt của
nền kinh tế Việt Nam. Việc vận dụng một mô
hình phân tích để dự báo tăng trưởng GDP mang
lại hai lợi thế quan trọng. Thứ nhất, bài viết cố
gắng bám sát vào thực tiễn của nền kinh tế Việt
Nam, tính đến cấu trúc nền tảng kinh tế vĩ mô
trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Thứ hai,
bài viết vừa đưa ra được kịch bản dự báo, vừa đề
xuất giải pháp khả thi ứng biến cho các kịch bản.
Giải pháp đưa ra được dựa trên các kết quả phân
tích, đánh giá từ mô hình định lượng.
Cấu trúc của mô hình dựa trên sự tương tác
của ba biến số gồm tăng trưởng, tỷ giá và lạm
phát. Đồng thời, mô hình tính đến vai trò điều tiết
của Nhà nước thông qua thanh khoản của hệ
thống ngân hàng, thể hiện bởi dư nợ tín dụng. Với
vai trò là một nền kinh tế nhỏ và mở cửa hội nhập
quốc tế, nền kinh tế Việt Nam chịu tác động một
chiều từ các diễn biến của nền kinh tế thế giới,
được thể hiện đại diện qua tăng trưởng kinh tế thế
giới, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và giá
dầu thế giới. Từ đó, mô hình dự báo tốc độ tăng
Nam năm 2021 đang thể hiện những đường nét
tươi sáng. Nền kinh tế đang có dấu hiệu phục
hồi, mức tăng trưởng đạt 4,48% vào quý
IV/2020, tăng mạnh so với mức đáy 0,32% của
quý II/2020 [1]. Trong cả năm 2020, mức tăng
trưởng của Việt Nam đạt 2,91%, cao hơn
nhiều so với mức bình quân (-2,22%) của 8
nền kinh tế hàng đầu có giao thương lớn nhất
với Việt Nam, trở thành một điểm sáng trong
khu vực và trên thế giới [2]. Tuy vậy, nền kinh
tế toàn cầu đang tiếp tục hứng chịu các đợt
bùng phát mới của đại dịch COVID-19, trong
đó có các nền kinh tế trọng yếu đối với xuất
nhập khẩu của Việt Nam như Hoa Kỳ, châu
Âu, Nhật Bản. Hơn nữa, nền kinh tế trong
nước cũng đang bước vào thời kỳ thực hiện
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn
10 năm mới (2021-2030) [3]. Do đó, năm 2021
là năm vừa kế thừa các kết quả phát triển kinh
tế của giai đoạn trước (2011-2020), vừa tạo đà
cho giai đoạn phát triển trong tương lai. Bối
cảnh quốc tế và trong nước đặt ra nhu cầu đối
________
2
* Tác giả liên hệ
Địa chỉ email: [email protected]om
L.D. Hung / VNU Journal of Economics and Business, Vol. 1, No. 1 (2021) 1-9
3
trưởng kinh tế của Việt Nam năm 2021 có thể đạt
5,49% theo kịch bản cơ sở với sự phục hồi của
kinh tế thế giới, sự ổn định của giá dầu thế giới và
sự cải thiện năng lực hấp thụ dòng vốn của Việt
Nam. Còn theo kịch bản lạc quan (kinh tế thế giới
tăng trưởng mạnh, giá dầu thế giới giảm, vốn FDI
gia tăng), tăng trưởng kinh tế Việt Nam đạt
6,90%, trong khi theo kịch bản bi quan (kinh tế
thế giới ảm đạm, giá dầu thế giới tăng, vốn FDI
giảm) thì mức tăng trưởng đạt 3,48%.
nước ngoài suy giảm, mô hình phân tích gợi ý
thêm rằng, chính sách tiền tệ trong nước có thể
mở rộng tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng như
một giải pháp khả thi thay thế cho vốn nước
ngoài để vẫn giữ vững được tốc độ tăng trưởng
kinh tế nội địa.
2. Khung phân tích
Bài viết sử dụng mô hình và phương pháp
đã được xây dựng trong nghiên cứu của tác giả
Lý Đại Hùng (2020) về độ vững mạnh của nền
tảng kinh tế vĩ mô tại Việt Nam [8]. Mô hình
này cũng mang tính kế thừa và phát triển từ
khung phân tích định lượng được xây dựng
trong một nghiên cứu về sự đánh đổi giữa tăng
trưởng và lạm phát [9] và về tác động của chiến
tranh thương mại Mỹ - Trung đối với nền kinh
tế Việt Nam [10].
Các tổ chức nghiên cứu quốc tế và trong
nước đã đưa ra các kết quả dự báo kinh tế của
năm 2021 (Phụ lục B). Ngân hàng Thế giới tại
Việt Nam (2020) dự báo mức tăng trưởng 6,8%
[4], Ngân hàng Phát triển Châu Á (2020) dự
báo mức 6,3% [5], Quỹ Tiền tệ Quốc tế (2020)
dự báo mức 6,7% [6]. Các tổ chức này cùng
chia sẻ nhận định rằng triển vọng tăng trưởng
của Việt Nam khả quan do sức chống chịu của
khu vực kinh tế trong nước, sự kiểm soát tốt
dịch bệnh COVID-19 và tăng trưởng của xuất
khẩu. Ngoài ra, trong Kế hoạch phát triển kinh
tế - xã hội năm 2021 ban hành kèm theo Nghị
quyết số 01/NQ-CP ngày 01/01/2021, Chính
phủ Việt Nam đã đề ra mục tiêu tăng trưởng đạt
6,4% năm 2021 [7]. So với các chỉ tiêu dự báo
vừa nêu, bài viết này bổ sung thêm một dự báo
kinh tế thông qua sự đánh giá dựa vào phân tích
định lượng đối với nền kinh tế Việt Nam. Theo
kịch bản cơ sở, kết quả dự báo của bài viết thấp
hơn so với các tổ chức quốc tế và trong nước,
bởi kết quả dự báo của các tổ chức này chỉ đạt
được trong kịch bản lạc quan, tức là khi nền
kinh tế thế giới tăng trưởng mạnh mẽ trở lại
như trước thời kỳ đại dịch COVID-19, khi Việt
Nam hấp thụ được thêm nhiều dòng vốn FDI và
giá dầu giảm nhẹ so với năm 2020, tạo điều
kiện thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế.
2.1. Mô hình
Mô hình định lượng về nền kinh tế Việt
Nam được xây dựng dựa trên ba đặc điểm
chính sau:
Thứ nhất, tỷ giá hối đoái có vai trò quan
trọng đối với nền kinh tế Việt Nam. Hiện nay,
trong bộ ba bất khả thi của tài chính quốc tế,
nền kinh tế Việt Nam đang lựa chọn chính sách
kiểm soát dòng vốn, kết hợp với giữ độc lập về
chính sách tiền tệ và quản lý thị trường ngoại
hối. Trong đó, tỷ giá VND/USD được Ngân
hàng Nhà nước điều tiết theo chế độ tỷ giá
trung tâm kể từ tháng 01/2016, và trước đó,
theo chế độ tỷ giá hối đoái cố định [11]. Theo
hình thái quản lý này, các biến động của tỷ giá
hối đoái sẽ được Ngân hàng Nhà nước quan sát
và tác động thông qua điều chỉnh tỷ giá hối đoái
trung tâm và biên độ dao động của tỷ giá. Trên
bình diện quốc tế, Obstfeld và cộng sự (2019)
cũng chỉ ra rằng tỷ giá hối đoái đóng vai trò dẫn
truyền và hấp thụ tác động của các biến động từ
nền kinh tế thế giới đối với các nền kinh tế mới
nổi và đang phát triển [12]. Vì vậy, việc nhấn
mạnh vai trò của tỷ giá hối đoái vừa phản ánh
thực tiễn của Việt Nam, vừa phù hợp với kết
quả nghiên cứu quốc tế.
Ngoài ra, vì kết quả dự báo dựa trên phân
tích, đánh giá nền kinh tế, nên bài viết này còn
đóng góp thêm ở khía cạnh về hàm ý chính
sách. Trong ba yếu tố của bối cảnh dự báo, bên
cạnh hai biến số mà Việt Nam chịu ảnh hưởng
gồm tăng trưởng GDP của thế giới và giá dầu
quốc tế, Việt Nam có thể chủ động tăng cường
cải thiện lượng giải ngân vốn FDI để nâng cao
tốc độ tăng trưởng trong nước. Nếu dòng vốn
Thứ hai, Ngân hàng Nhà nước điều tiết nền
kinh tế thông qua chính sách điều chỉnh thanh
L.D. Hung / VNU Journal of Economics and Business, Vol. 1, No. 1 (2021) 1-9
4
phù hợp để phản ánh sự thay đổi về hình thái
của một số biến số kinh tế vĩ mô điển hình, thể
hiện trong Hình 1, như tỷ lệ lạm phát và tốc độ
tăng tỷ giá VND/USD tại Việt Nam [15]. Và
nền tảng thống kê Bayesian được sử dụng để xử
lý mẫu số liệu nhỏ, vì vậy, phù hợp với bộ số
liệu chỉ gồm 55 quan sát theo chuỗi thời gian
trong bài viết này [16]. Cụ thể, nền tảng
Bayesian này coi hệ số ước lượng mang tính
ngẫu nhiên, còn mẫu số thu thập được mang
tính cố định. Vì vậy, mô hình định lượng chú
trọng vào ước lượng hệ số, trong khi giữ
nguyên mẫu số thu thập được.
Các biến nội sinh gồm các biến số thể hiện
cấu trúc nền tảng của nền kinh tế, gồm: lạm phát
(Dycpi), tăng trưởng (VNgdp), tốc độ tăng tỷ giá
VND/USD (VND) và tốc độ tăng trưởng dư nợ
tín dụng (Gcredit). Các biến ngoại sinh mang
tính đại diện, thể hiện sự hội nhập của nền kinh
tế Việt Nam trong nền kinh tế thế giới, gồm: tốc
độ tăng trưởng trung bình của GDP thế giới
(Wgdp), lượng giải ngân của vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài (Fdi) và giá dầu thế giới (Doil).
khoản hệ thống ngân hàng. Công cụ truyền
thống của một ngân hàng trung ương sử dụng
để can thiệp vào nền kinh tế thể hiện qua điều
chỉnh lượng cung tiền, ví dụ như bằng tỷ lệ dự
trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở. Ngoài ra,
theo Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010, một
số công cụ khác cũng được sử dụng như lãi
suất, tái cấp vốn và nghiệp vụ thị trường mở
[13]. Vài năm gần đây, tốc độ tăng trưởng dư
nợ tín dụng toàn hệ thống ngân hàng cũng được
Ngân hàng Nhà nước theo sát và công bố
thường kỳ như một biến số quan trọng của thị
trường tài chính, tiền tệ. Cũng theo
Bhattacharya (2014), tốc độ dư nợ tín dụng có
vai trò quan trọng hơn hẳn so với tốc độ gia
tăng của lượng cung tiền M2 đối với các biến số
nền tảng kinh tế vĩ mô khác, thể hiện qua hệ số
ước lượng có ý nghĩa thống kê, với mức tác
động mạnh hơn trong một mô hình định lượng,
áp dụng trên một bộ dữ liệu theo quý từ quý
I/1999 đến quý III/2012 [14].
Thứ ba là sự thay đổi về hình thái của một
số biến số kinh tế vĩ mô tại Việt Nam trong vài
năm gần đây. Kể từ khi chế độ tỷ giá hối đoái
trung tâm được áp dụng từ tháng 01/2016, tỷ lệ
lạm phát và tốc độ gia tăng tỷ giá VND/USD
đều giảm hẳn so với giai đoạn trước đó (Hình
1). Trong đó, tỷ lệ lạm phát hàng quý so với
cùng kỳ năm trước giảm xuống dưới 5% kể từ
đầu năm 2014, còn tỷ lệ lạm phát hàng năm so
với năm trước giảm xuống dưới 4% kể từ năm
2016 [1]. Còn theo số liệu về tỷ giá từ cơ sở dữ
liệu của Bloomberg, khi so sánh giai đoạn từ
quý I/2007 đến quý IV/2015 với giai đoạn từ
quý I/2016 đến nay, tốc độ gia tăng tỷ giá
VND/USD đã giảm hẳn giá trị trung bình hàng
quý, từ 3,70% xuống còn 1,19%, và độ dao
động thể hiện qua độ lệch chuẩn cũng giảm
đáng kể, từ 3,44% xuống còn 1,30%. Ba đặc
điểm này tương tác với nhau, chi phối khả năng
thích ứng của nền kinh tế Việt Nam trước các
diễn biến trên thị trường tài chính quốc tế.
2.2. Phương pháp
Cấu trúc của mô hình yêu cầu có tổng thể
15 = 4 x 3 + 3 hệ số cần ước lượng cho mỗi
phương trình cho một biến nội sinh. Với 4 biến
nội sinh, tổng cộng sẽ có 60 = 4 x 15 hệ số cần
ước lượng cho mô hình TVC-BSVAR đầy đủ.
Với phương pháp ước lượng sử dụng kỹ
thuật hồi quy với hệ số thay đổi theo thời
gian, được phát triển bởi Cogley và Sargent
(2001) [15] và Sims (1980) [17], phương
trình hồi quy với t = 1, 2,…, t được viết dưới
dạng rút gọn như sau:
Yt = A1,tYt-1 + A2,tYt-2 + A3,tYt-3 + CXt + εt
Trong đó:
- Yt = (Dycpit, VNgdpt, VNDt, Gcreditt) là
một vector (4x1) của 4 biến nội sinh, gồm: lạm
phát (Dycpi), tăng trưởng (VNgdp), tỷ giá
(VND) và thanh khoản ngân hàng (Gcredit).
- A1,t, A2,t, A3,t là các ma trận (4x4) chứa các
hệ số ước lượng, thay đổi theo thời gian; vì vậy,
mỗi hệ số phụ thuộc vào thời điểm t.
- Xt là một vector (4x1) chứa 1 hệ số cố
định và 3 biến ngoại sinh, gồm: tốc độ tăng
trưởng kinh tế của thế giới (Wgdp), vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài (Fdi) và giá dầu thế
giới (Doil).
Bài viết này sử dụng mô hình định lượng
được viết tắt là TVC-BSVAR. Đây là một mô
hình hồi quy đa biến (VAR - Vector
Autoregressive) mang tính cấu trúc (S -
Structural), được ước lượng với phương pháp
hệ số thay đổi theo thời gian (TVC - Time
Varying Coefficients) dựa trên nền tảng thống
kê Bayesian (B). Trong đó, phương pháp TVC
L.D. Hung / VNU Journal of Economics and Business, Vol. 1, No. 1 (2021) 1-9
5
εt được giả sử mang tính chất không tự
tương quan, theo đó, giá trị kỳ vọng vô điều
kiện E(휀ꢀ, 휀ꢀꢁ) = Σ, và E(휀ꢀ, 휀ꢂꢁ) = 0, nếu t ≠ 푠.
Ngoài ra, Σ là một ma trận phương sai (4x4)
đối xứng xác định dương, với các thành phần
phương sai tại hàng chéo và hiệp phương sai
nằm ngoài hàng chéo.
- C là một ma trận (4x4) chứa hệ số ước
lượng của hệ số cố định và các biến ngoại sinh.
- εt là một vector của các phần dư
(residuals), được giả định có phân bố đa biến
chuẩn (multivariate normal distribut ion)
như sau:
휀ꢀ~풩(0, Σ)
Hình 1: Sự thay đổi về hình thái kinh tế vĩ mô tại Việt Nam
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước và Tổng cục Thống kê (2021) [1, 18].
biến của thị trường tài chính [14]. Còn giá dầu
2.3. Số liệu
Bộ số liệu sử dụng được thu thập hàng
thế giới được đại diện bởi giá dầu quốc tế
Brent trung bình mỗi quý theo đơn vị USD
cùng được lấy từ cơ sở dữ liệu của Bloomberg.
Từ đó, số liệu này được dùng để tính ra sai
phân thứ nhất của giá dầu thế giới, để đạt được
tính dừng của số liệu. Cuối cùng, số liệu về
tăng trưởng GDP hàng quý so với cùng kỳ
năm trước theo đơn vị % của 8 nền kinh tế có
giao thương lớn nhất với Việt Nam (theo số
liệu của Tổng cục Thống kê [1], các nền kinh
tế này gồm Hoa Kỳ, Khu vực đồng tiền chung
Euro, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái
Lan, Singapore và Đài Loan) được lấy từ cơ sở
dữ liệu của Cục Dự trữ Liên bang của bang St.
Louis và bổ sung từ các Cục Thống kê của mỗi
nước [19].
quý, gồm 55 quan sát, từ quý II/2007 đến quý
IV/2020. Mỗi số liệu đều được xử lý thêm nếu
cần để đạt được tính dừng (stationary), phù
hợp làm nguyên liệu đầu vào cho mô hình định
lượng. Số liệu về tăng trưởng GDP hàng quý
so với cùng kỳ năm trước theo đơn vị %, lạm
phát hàng quý so với cùng kỳ năm trước theo
đơn vị % cùng được lấy từ Tổng cục Thống kê
[1]. Riêng số liệu về lạm phát hàng quý được
biểu đạt theo sai phân thứ nhất để đạt được
tính dừng của số liệu. Tiếp theo, lượng giá trị
dư nợ tín dụng hàng quý theo đơn vị tỷ VND
được khai thác từ Ngân hàng Nhà nước [18].
Từ đó, số liệu này được sử dụng để tính tốc độ
tăng trưởng dư nợ tín dụng hàng quý so với
cùng kỳ năm trước theo đơn vị %, để đạt được
tính dừng của số liệu. Ngoài ra, tỷ giá liên
ngân hàng trung bình mỗi quý theo đơn vị
VND/USD được lấy từ cơ sở dữ liệu của
Bloomberg, dùng để tính tốc độ thay đổi tỷ giá
hàng quý so với cùng kỳ năm trước theo đơn
vị %, cũng để đạt được tính dừng của số liệu.
Biến số này được sử dụng làm đại diện cho tỷ
giá bởi độ dao động cao, phản ánh sát diễn
3. Dự báo
Để tập trung đánh giá triển vọng của nền
kinh tế Việt Nam trong năm 2021, phần này
trình bày bối cảnh quốc tế và trong nước, từ đó
đưa ra kết quả dự báo của mô hình theo ba kịch
bản riêng biệt.
L.D. Hung / VNU Journal of Economics and Business, Vol. 1, No. 1 (2021) 1-9
6
3.1. Bối cảnh
công nghiệp hiện đại và thu nhập trung bình
cao vào năm 2030. Kế thừa từ chiến lược gần
đây của giai đoạn 2011-2020, các trụ cột của
ba đột phá chiến lược, gồm thể chế, nhân lực
và cơ sở hạ tầng tiếp tục được đẩy mạnh. So
với giai đoạn trước, nền kinh tế Việt Nam
đang bước vào một giai đoạn phát triển mới,
với sự chuyển biến về chất lượng tăng trưởng
như nhấn mạnh vào đổi mới, sáng tạo của khoa
học công nghệ, và song song với chuyển động
quan trọng về thượng tầng lãnh đạo quốc gia.
Bối cảnh trong nước đó khiến cho năm 2021
chủ yếu kế thừa đà tăng trưởng của giai đoạn
cũ và tạo bước đệm cho một giai đoạn phát
triển mới.
Cũng như nền kinh tế thế giới, Việt Nam
đang trải qua giai đoạn phát triển đầy khó khăn
và thách thức.
Về bình diện quốc tế, đại dịch COVID-19
tạo ra sự thay đổi về cấu trúc của các nền kinh
tế. Cụ thể, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân
của 8 nền kinh tế có giao thương lớn nhất với
Việt Nam lần đầu tiên đạt giá trị âm và âm liên
tục 4 quý trong năm 2020. Trong nước, tốc độ
tăng trưởng GDP theo quý cũng rơi mạnh,
chạm đáy ở mức 0,29% vào quý II/2020. Mức
đáy này thậm chí còn thấp hơn nhiều so với
mức đáy (3,10%) của quý I/2009, liên quan đến
cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008.
Bối cảnh quốc tế này tạo nên một môi trường
có tính không chắc chắn cao đối với công tác
dự báo, bởi vì xu hướng phát triển gần như chỉ
quan sát được một cách rõ ràng sau khi nền
kinh tế đã trải qua sự đứt gãy về cấu trúc.
3.2. Kết quả
Bảng 1 trình bày về tăng trưởng kinh tế của
Việt Nam vào năm 2021 theo ba kịch bản dự
báo dựa vào bối cảnh quốc tế và trong nước.
Trong kịch bản cơ sở, nền kinh tế thế giới
phục hồi, với sự ổn định về giá dầu thế giới,
đồng thời nền kinh tế Việt Nam cải thiện được
năng lực hấp thụ vốn đầu tư, giúp lượng giải
ngân vốn FDI gia tăng. Theo kịch bản này, tăng
trưởng GDP đạt 5,49% vào năm 2021.
Về bình diện trong nước, năm 2021 là năm
đầu tiên mà nền kinh tế Việt Nam bước vào
thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
5 năm (2021-2025) và Chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội 10 năm (2021-2030) [3], với
mục tiêu trở thành một nước đang phát triển có
Bảng 1: Các kịch bản cho nền kinh tế Việt Nam năm 2021
Kịch bản
Bi quan
Cơ sở
Lạc quan
Kinh tế thế giới tăng
mạnh mẽ
Kinh tế thế giới tiếp
tục ảm đạm
Kinh tế thế giới phục
hồi
Dòng vốn FDI vào
Việt Nam cải thiện
đáng kể
Dòng vốn FDI vào
Việt Nam giảm nhẹ
Dòng vốn FDI vào
Việt Nam cải thiện
Diễn biến
Giá dầu thế giới tăng
nhẹ so với năm 2020
Giá dầu thế giới diễn
biến như năm 2020
Giá dầu thế giới giảm
so với năm 2020
Tăng trưởng GDP (%)
3,48 %
5,49 %
6,90 %
Nguồn: Tính toán của tác giả từ kết quả ước lượng mô hình định lượng.
Theo kịch bản lạc quan, nền kinh tế thế
Theo kịch bản bi quan, nền kinh tế thế giới
tiếp tục ảm đạm, với cú sốc tăng nhẹ của giá dầu
thế giới, và nền kinh tế Việt Nam chưa cải thiện
được năng lực hấp thụ vốn đầu tư, dẫn tới lượng
giải ngân vốn FDI suy giảm. Theo kịch bản này,
tăng trưởng GDP đạt 3,48% vào năm 2021.
giới tăng trưởng mạnh mẽ với sự hỗ trợ bởi
sự sụt giảm của giá dầu, và nền kinh tế Việt
Nam chuyển đổi được mô hình tăng trưởng để
gia tăng khả năng hấp thụ dòng vốn quốc tế.
Theo kịch bản này, tăng trưởng GDP đạt
6,90% vào năm 2021.
L.D. Hung / VNU Journal of Economics and Business, Vol. 1, No. 1 (2021) 1-9
7
Khi so với các kết quả dự báo của các tổ
chức quốc tế tiêu biểu [20], bài viết này đang ở
mức thấp hơn. Cụ thể, theo thống kê trong Phụ
lục B, mức trung bình của các dự báo quốc tế
về tăng trưởng GDP của Việt Nam đạt khoảng
6,5% trong năm 2021 như 6,8% của Ngân hàng
Thế giới, 6,7% của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, 6,3%
của Ngân hàng Phát triển Châu Á và 6,46% của
Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương.
Như vậy, các kết quả trong bài viết này đề xuất
rằng tốc độ tăng trưởng mà các tổ chức quốc tế
dự báo chỉ đạt được trong kịch bản lạc quan.
Với lợi thế dựa trên một mô hình phân tích
về nền kinh tế, bài viết này cũng đóng góp thêm
thảo luận về điều kiện cần thiết để thay đổi triển
vọng tăng trưởng kinh tế theo các kịch bản. Cụ
thể, ba kịch bản gồm bi quan, cơ sở và lạc quan
khác nhau ở diễn biến của tăng trưởng kinh tế
thế giới, giá dầu quốc tế và lượng hấp thụ vốn
FDI. Trong đó, diễn biến của kinh tế thế giới và
giá dầu mang tính bất định cao, đặc biệt trong
bối cảnh của đại dịch COVID-19. Với hai yếu tố
này, nền kinh tế Việt Nam chỉ có thể dự đoán và
chủ động ứng phó mà không tác động được, do
Việt Nam là một nền kinh tế nhỏ, đồng thời chỉ
có lượng hấp thụ vốn FDI có một phần thuộc về
khả năng điều chỉnh chủ động của nền kinh tế
nội địa. Cụ thể, khi môi trường kinh doanh tiếp
tục được cải thiện, chất lượng thể chế được nâng
cao, lượng vốn FDI có thể gia tăng. Như vậy,
trong khuôn khổ của mô hình trong bài viết này,
tăng cường lượng hấp thụ vốn FDI là chìa khóa
mà Việt Nam có thể chủ động để đạt được tốc độ
tăng trưởng GDP ở mức 6,90% trong kịch bản
tăng trưởng lạc quan.
của Việt Nam vào năm 2021 đạt 5,49% theo
kịch bản cơ sở, đạt mức cao nhất là 6,90% theo
kịch bản lạc quan, và đạt mức thấp nhất là
3,48% theo kịch bản bi quan. Cũng theo các kết
quả này, mức dự báo trung bình (6,5%) của một
số tổ chức quốc tế và trong nước tiêu biểu sẽ
đạt được trong kịch bản lạc quan, khi mà nền
kinh tế thế giới tăng trưởng mạnh mẽ, giá dầu
giảm và lượng vốn FDI vào Việt Nam gia tăng.
Các kết quả dự báo gợi ý hàm ý chính sách
quan trọng. Trong năm 2021, Việt Nam có thể
tiếp tục chú trọng cải thiện môi trường kinh
doanh, cải cách thể chế để tăng cường cải thiện
thu hút dòng vốn FDI để bổ trợ cho tăng trưởng
trong nước. Nếu dòng vốn nước ngoài suy
giảm, mô hình phân tích gợi ý thêm rằng, chính
sách tiền tệ trong nước, như việc mở rộng tiền
tệ thông qua gia tăng tốc độ tăng trưởng dư nợ
tín dụng, có thể trở thành một giải pháp thay thế
cho sự sụt giảm lượng giải ngân vốn FDI mà
vẫn đảm bảo duy trì được tốc độ tăng trưởng
kinh tế. Mô phỏng chính sách này dựa trên kết
quả của mô hình định lượng rằng cả tốc độ tăng
trưởng dư nợ tín dụng và lượng hấp thụ vốn
FDI đều có đóng góp cho tăng trưởng kinh tế.
PHỤ LỤC
Phụ lục A. Kiểm tra độ nhạy của mô hình
dự báo: So sánh kết quả dự báo bằng
các mô hình khác nhau
Hình A so sánh kết quả dự báo theo kịch
bản cơ sở bởi các mô hình phân tích và dự báo
khác nhau. Với mô hình SVAR, chỉ tính đến
cấu trúc kinh tế vĩ mô của nền kinh tế, năm
2021 có tốc độ tăng trưởng đạt 7,49%. Với mô
hình BSVAR, dùng phương pháp ước lượng
Bayesian để xử lý kích cỡ khá ngắn của mẫu dự
báo, tăng trưởng đạt 6,92%. So với hai mô hình
này, mô hình đang sử dụng (TVC-BSVAR) tính
đến sự thay đổi về nền tảng kinh tế vĩ mô theo
thời gian, và dự báo về tốc độ tăng trưởng thấp
nhất, đạt 5,49%.
4. Kết luận và hàm ý chính sách
Bài viết này dự báo tăng trưởng GDP của
Việt Nam trên cơ sở áp dụng một mô hình định
lượng phân tích nền kinh tế giai đoạn 2002-
2020. Mô hình này được xây dựng trên cấu trúc
nền tảng kinh tế vĩ mô, tính đến sự hội nhập
kinh tế quốc tế của nền kinh tế Việt Nam trong
nền kinh tế thế giới. Tốc độ tăng trưởng GDP
L.D. Hung / VNU Journal of Economics and Business, Vol. 1, No. 1 (2021) 1-9
8
Hình A: Tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2021 theo kịch bản cơ sở (%, yoy)
Ghi chú: SVAR là mô hình vector tự hồi quy cấu trúc; BSVAR là mô hình vector tự hồi quy cấu trúc
với ước lượng Baysian; TVC-BSVAR là mô hình vector tự hồi quy cấu trúc với ước lượng Baysian và
với hệ số ước lượng thay đổi theo thời gian.
Nguồn: Tính toán của tác giả từ kết quả ước lượng các mô hình định lượng.
Phục lục B. Tổng hợp kết quả dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2021
Ngân hàng Thế giới Quỹ Tiền tệ Quốc tế Ngân hàng Phát triển
1. Tổ chức quốc tế
(WB)
(IMF)
châu Á (ADB)
Tăng trưởng GDP
Thời điểm công bố
6,8%
01/2021
6,7%
11/2020
6,3%
09/2020
Viện Nghiên cứu
Kinh tế và Chính
sách (VEPR)
1,8-2,0% (kịch bản
bất lợi) và 5,6-5,8%
(kịch bản cơ sở)
02/2021
Đại học Ngân hàng
Thành phố Hồ Chí
Minh (BUH)
5,0% (kịch bản kém
lạc quan) và 6,5%
(kịch bản lạc quan)
01/2021
Viện Nghiên cứu và
Quản lý Kinh tế
Trung ương (CIEM)
2. Tổ chức trong nước
5,98% (kịch bản thấp)
và 6,46% (kịch bản cao)
Tăng trưởng GDP
Thời điểm công bố
01/2021
Tài liệu tham khảo
[1] Vietnam General Statistics Office, “Quarterly
Economic-Social Report”, and online database,
2021 (in Vietnamese).
[2] Communist Party of Vietnam Online
Newspaper, “Vietnam economy is a bright point
in region and world economy”, 11 February
vao-du-thao-cac-van-kien-trinh-dai-hoi-xiii-
cua-dang-2480, accessed 20 January 2021 (in
Vietnamese).
[4] WorldBank, “Global Economic Prospect 2021”,
2020,
al-economic-prospects, accessed 20 January
2021.
2021,
suu-2021/dat-nuoc-vao-xuan/kinh-te-viet-nam-
2020-la-diem-sang-trong-khu-vuc-va-the-gioi-
574667.html, accessed 12 February 2021 (in
Vietnamese).
[5] Asian Development Bank, “Asian Development
Outlook
2020”,
2020,
on/635666/ado2020-update.pdf, accessed 20
January 2021.
[3] Communist Party of Vietnam Online
Newspaper, “Report on Implementing the 10-
[6] International Monetary Fund, “World Economic
Outlook 2020: A Long And Difficult Ascent”,
year
Constructing the 10-year Economic Strategy
2021-2030”, 23 October 2020,
Economic
Strategy
2010-2020,
October
2020,
L.D. Hung / VNU Journal of Economics and Business, Vol. 1, No. 1 (2021) 1-9
9
es/2020/09/30/world-economic-outlook-
october-2020, accessed 20 January 2021.
[7] Vietnam Government, Decision No.01/NQ-CP
on the main objectives, solutions implementing
the economic-social development plan and
completing national account in 2021, issued on
[13] National Assembly of the Socialist Republic of
Vietnam, Law No.46/2010/QH12 on State Bank
of Vietnam, issued on 16 June 2010.
luocdo.aspx?ItemID=25692,
January 2021 (in Vietnamese).
accessed
20
1
January
2021,
[14] Bhattacharya, R., “Inflation dynamics and
monetary policy transmission in Vietnam and
emerging Asia”, Journal of Asian Economics,
34 (2014), 16-26.
[15] Cogley, T., & Sargent, T. J., “Evolving post-
world war II US inflation dynamics”, NBER
Macroeconomics Annual, 16 (2001), 331-373.
[16] Sims, C. A., “Bayesian methods in applied
econometrics, or, why econometrics should
always and everywhere be Bayesian”, Hotelling
Lecture, presented 29 June 2007.
inhphu/hethongvanban?class_id=509&_page=1
&mode=detail&document_id=202225, accessed
20 January 2021 (in Vietnamese).
[8] Ly Dai Hung, “The Soundness of
Macroeconomic Fundamentals in Vietnam”,
HAL Working Papers, No. hal-03195651, 2020,
(in Vietnamese).
[9] Ly Dai Hung, “Output-Inflation Trade-Off in
the Presence of Foreign Capital: Evidence for
[17] Sims,
reality”, Econometrica 48 (1980) 1, 1-48.
[18] State Bank of Vietnam, Online database on
domestic credit growth rate.
C.
A.,
“Macroeconomics
and
Vietnam”,
Macroeconomics
doi.org/10.1177/2277978720979890, 2021 (in
Vietnamese).
South
Asian
Journal
of
and Public
Finance,
nu/trangchu/tk/dntddvnkt?_afrLoop=22384933
015534224#%40%3F_afrLoop%3D223849330
15534224%26centerWidth%3D80%2525%26le
ftWidth%3D20%2525%26rightWidth%3D0%2
525%26showFooter%3Dfalse%26showHeader
%3Dfalse%26_adf.ctrl-
[10] Ly Dai Hung, “Vietnam Economy Within 3-
Dimension Space of US-China Trade War”,
HAL Working Papers, No. hal-03140322, 2020,
[11] State Bank of Vietnam, Decision No.2730/QĐ-
NHNN on Information disclosure on the central
exchange rate of Vietnam Dong with USD,
cross exchange rate of VND with some other
currencies, issued on 31 December 2015,
nhnn-cong-bo-ty-gia-trung-tam-cua-dong-viet-
nam-voi-do-la-my. accessed 20 January 2021
(in Vietnamese).
state%3Dbup3q9dtl_302, accessed 20 January
2021 (in Vietnamese).
[19] Federal Reserve Bank of St.Louis, Online
January 2021 (in Vietnamese).
[20] Thanhnien Online Newspaper, “A Summary on
Vietnam Economic Forecasting 2021 by
International Organizations”, 22 December
[12] Obstfeld, M., Ostry, J. D., & Qureshi, M. S.,
“A tie that binds: Revisiting the trilemma in
emerging market economies”, Review of
Economics and Statistics, 101 (2019) 2,
279-293.
2020,
doanh/viet-nam-la-diem-sang-kinh-te-2021-
1319888.html, accessed 20 January 2021 (in
Vietnamese).
Bạn đang xem tài liệu "Triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2021", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
trien_vong_kinh_te_viet_nam_nam_2021.pdf

