Quản lý Nhà nước các khoản thu từ khai thác và bảo trì đường bộ ở Việt Nam

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI  
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CÁC KHOẢN THU  
TỪ KHAI THÁC VÀ BẢO TRÌ ĐƯỜNG BỘ Ở VIỆT NAM  
HOÀNG NGỌC SƠN  
Mạng lưới giao thông đường bộ của Việt Nam được hình thành và phát triển qua nhiều thập kỷ,  
phân bố tương đối hợp lý theo vùng, là khối tài sản vô cùng to lớn và quý giá của quốc gia. Trong  
những năm qua, mạng lưới đường bộ đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu  
vận tải, đi lại của nhân dân, góp phần phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng, kết  
nối giữa các vùng miền. Việc đầu tư cho xây dựng mới và bảo trì hạ tầng giao thông đường bộ đòi  
hỏi nguồn kinh phí rất lớn, nhưng khó thu hồi hoặc thu hồi vốn chậm. Trong bối cảnh nguồn lực  
ngân sách nhà nước hạn chế và nguồn vốn ODA đang giảm dần, thì các khoản thu từ việc khai thác  
và bảo trì đường bộ là nguồn thu quan trọng, góp phần tái đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông.  
Từ khóa: Giao thông đường bộ, quản lý nhà nước, khai thác, bảo trì  
có tổng chiều dài trên 274.030 km (không kể đường  
THE STATE MANAGEMENT TOWARD ROAD  
EXPLOITATION AND MAINTENANCE REVENUES IN  
VIETNAM  
thôn, xóm và đường trục nội đồng). Mạng lưới đường  
bộ được chia thành sáu hệ thống, gồm: Quốc lộ, đường  
tỉnh, đường huyện, đường xã, đường đô thị và đường  
chuyên dùng, do Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) thống  
nhất quản lý nhà nước (QLNN) trong phạm vi cả  
nước. Thành công nổi bật trong QNLN về khai thác  
và bảo trì đường bộ trong giai đoạn 2013-2018 là số thu  
tăng nhanh, mức thu không đổi, nhưng đối tượng thu  
ngày càng tăng do lượng phương tiện xe cơ giới tham  
gia giao thông đường bộ (GTĐB) ngày càng tăng. Bài  
viết, tác giả xem xét, đánh giá các khoản thu từ công  
trình GTĐB thông qua các nội dung cụ thể sau:  
Phí BOT (xây dựng - vận hành - chuyển giao): Báo  
cáo của Bộ GTVT cho thấy, triển khai Nghị định số  
78/2007/NĐ-CP ngày 11/5/2007; Nghị định số 108/2009/  
NĐ-CP ngày 27/11/2009; Nghị định số 15/2015/NĐ-CP  
ngày 14/2/2015 về đầu tư theo hình thức đối tác công  
tư (PPP), từ năm 2002 đến 6/2018, cả nước đã thu hút  
nhà đầu tư tham gia thực hiện 75 dự án, trong đó có  
68 dự án ký kết hợp đồng BOT trong lĩnh vực đường  
bộ với tổng mức đầu tư 207.987 tỷ đồng; 4 dự án BT;  
01 dự án BOO (xây dựng - sở hữu - kinh doanh) và 02  
dự án vừa thực hiện BOT và BT (xây dựng - chuyển  
giao) đầu tư KCHT giao thông theo hình thức PPP với  
tổng mức đầu tư sau điều chỉnh là 233.705 tỷ đồng. Mục  
tiêu nhằm cải tạo, nâng cấp, mở rộng 2.535 km đường,  
đầu tư mới 526 km đường, 16 nút giao và cầu. Đến nay,  
đã có 58/68 dự án BOT hoàn thành đưa vào khai thác  
(với tổng mức đầu tư là 166.154 tỷ đồng) góp phần giải  
quyết tắc nghẽn, quá tải và từng bước hình thành hệ  
thống kết cấu hạ tầng (KCHT) kinh tế - xã hội, đảm bảo  
Hoang Ngoc Son  
The system of roads in Vietnam has been  
established and developed over decades, it has  
been mapped relatively appropriate by regions  
and been one of the largest and valuable assets  
of the nation. In the past years, the road network  
has played an absolutely important role in  
meeting transportation and traffic demands of  
people contributing considerably to the social  
and economic development, national defense  
and linking regions. The investment in building  
new or maintaining road system requires  
substantial amount of capital with slow or hard  
recovery process. In the context of limited state  
budget and declining ODA, the revenues from  
exploitation and maintenance of roads are being  
considered important incomes contributed to  
the reinvestment in traffic infrastructure.  
Keywords: Road traffic, state management, exploitation  
and maintenance  
Ngày nhận bài: 15/5/2019  
Ngày hoàn thiện biên tập: 7/6/2019  
Ngày duyệt đăng: 12/6/2019  
Thực trạng quản lý nhà nước  
các khoản thu từ khai thác và bảo trì đường bộ  
Thống kê đến cuối năm 2018, mạng lưới đường bộ cho phát triển nhanh và bền vững. Các dự án cơ bản  
58  
TÀI CHÍNH - Tháng 6/2019  
BẢNG 1: KẾT QUẢ THU PHÍ SỬ DỤNG ĐƯỜNG BỘ GIAI ĐOẠN 2013-2017 (Tỷ đồng)  
Thứ hai, bằng việc thành lập Quỹ  
bảo trì đường bộ, ngành GTVT có  
quỹ riêng dành cho công tác bảo trì,  
Tổng cục đường bộ và các Sở GTVT  
chủ động hơn trong thực hiện công  
tác bảo trì. Đây là cơ sở để huy động  
các nguồn lực tài chính có liên quan  
đến sử dụng đường bộ cho công tác  
bảo trì.  
Năm Năm Năm Năm Năm  
2013 2014 2015 2016 2017  
STT  
Chỉ tiêu  
5.533 4.959 5.776 6.387 7.016  
1
2
3
4
Tống số thu  
55  
0
50  
25  
58  
37  
66  
4
84  
Tổng số được trích để lại đơn vị thu phí  
Số hoàn trả phí  
0,6  
5.478 4.884 5.681 6.319 6.931  
Số phải nộp về Quỹ BTĐB Trung ương  
Nguồn: Tác giả tổng hợp  
đảm bảo chất lượng, khai thác an toàn, doanh thu tài  
Thứ ba, quy mô vốn tăng nhiều lần: Với việc thực  
chính phù hợp với số liệu tính toán trong phương án tài hiện thu phí sử dụng đường bộ trên đầu phương tiện  
chính. Hiện nay vẫn còn 12 dự án đang được triển khai giao thông cơ giới, ngành GTVT đã huy động được  
với tổng mức đầu tư là 43.193 tỷ đồng.  
lượng vốn lớn, ổn định cho công tác BTĐB, NSTW và  
Phí sử dụng đường bộ: Năm 2012, thực hiện Luật NSĐP được chia sẻ khó khăn.  
GTĐB, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 18/2012/  
Thứ tư, nguồn tài chính huy động cho công tác bảo  
NĐ-CP ngày 13/3/2012 về Quỹ Bảo trì đường bộ trì ngày càng nhiều. Trước đây kinh phí cho bảo trì  
(BTĐB) với mục đích thu phí sử dụng đường bộ trên chủ yếu từ NSNN, hiện nay có thêm nguồn phí sử  
đầu phương tiện ô tô, thay thế cho hình thức thu phí dụng đường bộ được thu hàng năm trên đầu phương  
qua các trạm thu phí nộp ngân sách nhà nước (NSNN). tiện giao thông cơ giới đường bộ và các nguồn khác  
Quỹ BTĐB là Quỹ của Nhà nước, có tư cách pháp liên quan đến sử dụng đường bộ.  
nhân, có con dấu và tài khoản mở tại Kho bạc Nhà  
Thứ năm, việc triển khai công tác thu phí được đánh  
nước. Quỹ hoạt động không vì mục đích lợi nhuận. giá đồng bộ, hiệu quả, việc lập dự toán thu khoa học,  
Như vậy, ngành đường bộ có một quỹ ổn định cho góp phần đảm bảo nguồn vốn của Qũy BTĐB được  
công tác quản lý, bảo trì, chất lượng của công tác bảo thu đúng, hạn chế thất thoát và đảm bảo tính ổn định  
trì được cải thiện rõ rệt.  
hàng năm.  
Nhằm huy động nguồn lực để bảo trì và phát triển  
Quỹ BTĐB được hình thành từ các nguồn sau: phí sử  
dụng đường bộ thu hàng năm trên đầu phương tiện hệ thống GTĐB, Chính phủ đã ban hành Nghị định  
giao thông cơ giới đường bộ; NSNN cấp bổ sung hàng số 10/2013/NĐ-CP quy định việc quản lý, sử dụng và  
năm cho Quỹ; các nguồn thu liên quan đến sử dụng khai thác tài sản KCHT GTĐB, trong đó, đề cập đến ba  
đường bộ và các nguồn thu khác theo quy định của hình thức khai thác tài sản hạ tầng đường bộ như sau:  
pháp luật. Nhờ đó, nguồn vốn dành cho công tác bảo  
trì KCHT GTĐB đã tăng đáng kể.  
- Bán quyền thu phí sử dụng tài sản hạ tầng đường bộ:  
Là việc Nhà nước chuyển giao quyền thu phí sử dụng  
Theo quy định, nguồn tài chính của Quỹ BTĐB tài sản hạ tầng đường bộ cho tổ chức, cá nhân thực  
được hình thành từ nguồn thu phí sử dụng đường hiện trong một thời hạn nhất định theo Hợp đồng để  
bộ trên đầu phương tiện là ô tô, từ NSNN cấp và các nhận một khoản tiền tương ứng. Việc bán quyền thu  
nguồn thu hợp pháp khác theo quy định. Hiện tại do phí sử dụng tài sản hạ tầng đường bộ được thực hiện  
chưa huy động được các nguồn thu hợp pháp khác theo hình thức đấu giá và chỉ áp dụng đối với đường  
nên nguồn của Quỹ BTĐB được hình thành từ 2 nguồn bộ đã được xây dựng.  
sau: Thu phí sử dụng đường bộ theo đầu phương tiện  
ô tô và NSNN cấp bổ sung.  
- Cho thuê quyền khai thác tài sản hạ tầng đường bộ: Là  
việc Nhà nước chuyển giao quyền khai thác tài sản hạ  
Từ năm 2013 khi Quỹ BTĐB đi vào hoạt động, ngân tầng đường bộ cho tổ chức, cá nhân thực hiện trong  
sách trung ương (NSTW) và ngân sách các địa phương một thời hạn nhất định theo Hợp đồng để nhận một  
(NSĐP) đã được chia sẻ khó khăn, giảm gánh nặng khoản tiền tương ứng. Việc cho thuê quyền khai thác  
cho ngân sách các cấp trong việc cân đối cho công tác tài sản hạ tầng đường bộ được thực hiện theo hình  
BTĐB. Công tác huy động vốn cho BTĐB đã đạt được thức đấu thầu, được áp dụng đối với tài sản hạ tầng  
một số kết quả quan trọng như sau:  
Thứ nhất, thành công về mặt cơ chế, chính sách tạo xe, nhà hạt quản lý đường bộ, trạm dừng nghỉ...  
nguồn vốn: Xã hội đã nhận thức rõ hơn vai trò của - Chuyển nhượng có thời hạn tài sản hạ tầng đường  
đường bộ đã được xây dựng, bao gồm: Bến xe, bãi đỗ  
BTĐB trong chiến lược phát triển GTVT, nhằm tận bộ: Là việc Nhà nước chuyển giao quyền đầu tư nâng  
dụng tối đa năng lực KCHT GTĐB hiện có, đã ban hành cấp, mở rộng và quyền khai thác tài sản hạ tầng đường  
nhiều chính sách để tăng thêm nguồn lực tài chính cho bộ trong một thời hạn nhất định theo Hợp đồng để  
công tác này.  
nhận một khoản tiền tương ứng. Việc chuyển nhượng  
59  
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI  
Một số vấn đề đặt ra  
có thời hạn tài sản hạ tầng đường bộ được thực hiện  
thông qua hình thức đấu giá, được áp dụng đối với tài  
Bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn tồn tại  
sản hạ tầng đường bộ hiện có đã được cơ quan nhà một số hạn chế cần khắc phục như:  
nước có thẩm quyền phê duyệt dự án đầu tư nâng  
Thứ nhất, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật  
cấp, mở rộng, bao gồm: Công trình đường bộ; bến xe, về phí sử dụng đường bộ còn chồng chéo, chưa hoàn  
bãi đỗ xe, nhà hạt quản lý đường bộ, trạm dừng nghỉ. thiện. Vẫn còn hạn chế trong việc quản lý, giám sát và  
Số tiền thu được từ bán quyền thu phí sử dụng phân bổ vốn.  
tài sản hạ tầng đường bộ, cho thuê tài sản hạ tầng  
Thứ hai, một số trạm thu phí gây bức xúc trong dư  
đường bộ, chuyển nhượng có thời hạn tài sản hạ luận hiện nay như: Trạm đặt không đúng vị trí; trạm  
tầng đường bộ sau khi trừ các chi phí có liên quan thu mức phí quá cao so với quãng đường lưu hành;  
được sử dụng để đầu tư phát triển và bảo trì tài sản khoảng cách các trạm thu phí còn bất cập.  
hạ tầng đường bộ theo quy định của pháp luật về  
ngân sách nhà nước.  
Thứ ba, nhu cầu kinh phí bảo trì mạng lưới đường bộ  
ở Việt Nam bình quân trên một km cao hơn bình quân  
trên một km kinh phí bảo trì mạng lưới đường bộ của  
các quốc gia trên thế giới. Kinh phí cấp cho công tác đầu  
tư phát triển và bảo trì đường bộ ở Việt Nam còn thấp.  
Đặc biệt, vẫn còn thiếu hụt kinh phí cho công tác bảo trì.  
Thứ tư, công nghệ thu thu phí đã được cải thiện  
song một số tuyến đường có lưu lượng phương tiện  
cao vẫn còn ùn tắc.  
Thứ năm, nguồn thu từ đối tượng dụng đường bộ  
chưa rõ ràng giữa lợi ích và chi phí bỏ ra của người sử  
dụng đường bộ, mức thu chưa hợp lý. Nguồn thu được  
tập trung vào NSNN, sau đó phân bổ lại cho ngành  
Giao thông, như vậy nguồn vốn để xây dựng, BTĐB  
Từ năm 2002 đến 6/2018, cả nước đã thu hút  
nhà đầu tư tham gia thực hiện 75 dự án, trong  
đó có 68 dự án ký kết hợp đồng BOT trong lĩnh  
vực đường bộ với tổng mức đầu tư 207.987 tỷ  
đồng; 4 dự án BT; 01 dự án BOO (xây dựng - sở  
hữu - kinh doanh) và 02 dự án vừa thực hiện BOT  
và BT (xây dựng - chuyển giao) đầu tư kết cấu hạ  
tầng giao thông theo hình thức công tư với tổng  
mức đầu tư sau điều chỉnh là 233.705 tỷ đồng.  
Thực hiện cơ chế này, đến nay, Nhà nước đã triển không được chủ động, hoàn toàn phụ thuộc NSNN.  
khai thực hiện đấu giá quyền thu phí đường cao tốc Như vậy, ngoài nguồn NSNN, nguồn ngân sách tài  
TP. Hồ Chí Minh - Trung Lương với số tiền 2.004 tỷ trợ từ nước ngoài thì vấn đề huy động nguồn tài chính  
đồng, thời hạn 05 năm (từ 01/01/2014 đến 01/01/2019) của các tổ chức, cá nhân trong nước là hết sức quan  
để nộp vào NSNN theo quy định; Cho thuê quyền trọng. Việc nghiên cứu thực trạng các khoản thu hiện tại  
khai thác tài sản KCHT đường bộ cho một số tổ chức, để hoàn thiện hình thức thu, mức thu đồng thời đề xuất  
cá nhân; Mọi thông tin đều được công bố công khai, khoản thu mới với lộ trình thích hợp, phù hợp với điều  
minh bạch, phù hợp với cơ chế thị trường.  
kiện kinh tế thực tế là cần thiết. Có như vậy mới có thể  
Các khoản thu phí gián tiếp khác: Các khoản thu phí đạt mục tiêu có đủ vốn cho bảo trì, xây dựng hệ thống  
gián tiếp khác hiện nay nước ta đang thu theo Luật số đường bộ, hệ thống giao thông vận tải hiện đại, sớm đưa  
97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội về Phí Việt Nam trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện  
và Lệ phí bao gồm: Phí sử dụng tạm thời lòng đường, đại vào năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.  
hꢀ phố; Phí cắm quảng cáo trên hꢀ và giải phân cách.  
Tài liệu tham khảo:  
Theo quy định tại Thông tư số 250/2016/TT-BTC ngày  
11/11/2016 của Bộ Tài chính hướng dẫn về phí và lệ 1. Chính phủ, Nghị định số 10/2013/NĐ-CP ngày 11/01/2013 về việc quản lý,  
phí thuộc thẩm quyền quyết định của HĐND tỉnh,  
sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ;  
thành phố trực thuộc Trung ương hiện vẫn chưa quy 2. Bộ Giao thông vận tải (2016), Báo cáo đánh giá công tác đầu tư kết cấu  
định về việc thu phí đặt biển quảng cáo trên giải phân  
cách. Ngoài ra, theo các văn bản hướng dẫn chuyên  
hạ tầng giao thông theo hình thức hợp đồng BOT, BT giai đoạn 2011-  
2015 do Bộ Giao thông vận tải quản lý;  
ngành về quảng cáo, quản lý đường đô thị chưa quy 3. Quỹ Bảo trì đường bộ Trung ương (9/2017), Tài liệu hội nghị Tổng kết và đánh giá  
định rõ việc được phép sử dụng giải phân cách để 05 năm hoạt động của Quỹ Bảo trì đường bộ (giai đoạn 2013-2017);  
thực hiện việc quảng cáo. Hiện nay, mức thu phí đặt 4. Nguyễn Thị Tuyết Dung (2018), Nghiên cứu giải pháp huy động và sử dụng vốn  
biển quảng cáo trên giải phân cách (thuộc phí sử dụng  
hꢀ, lề đường, bến bãi, mặt nước) theo các Nghị quyết,  
Quyết định của HĐND, UBND TP. Hà Nội là 50.000  
đồng/biển/tháng. Đơn vị được phép thu phí là Sở  
GTVT, UBND các quận, huyện theo phân cấp.  
cho bảo trì đường bộ, Luận án tiến sĩ kinh tế, Đại học Giao thông Vận tải Hà Nội.  
Thông tin tác giả:  
NCS., ThS. Hoàng Ngọc Sơn - Thanh tra Bộ Tài chính  
Email: hoangngocson.1982@gmail.com  
60  
pdf 3 trang Thùy Anh 13600 Free
Bạn đang xem tài liệu "Quản lý Nhà nước các khoản thu từ khai thác và bảo trì đường bộ ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfquan_ly_nha_nuoc_cac_khoan_thu_tu_khai_thac_va_bao_tri_duong.pdf