Trách nhiệm dân sự của người đại diện pháp nhân

THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA NGƯỜI ĐẠI DIỆN PHÁP NHÂN  
Vũ Quang*  
*TS. Viện Kinh tế và Quản lý, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội.  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Từ khóa: Trách nhiệm dân sự,  
người đại diện pháp nhân.  
Các quy định của pháp luật hiện hành về việc phân định trách nhiệm  
dân sự của pháp nhân và của người đại diện vẫn chưa rõ ràng. Điều này  
dẫn đến tình trạng thoái thác trách nhiệm của pháp nhân, ảnh hưởng đến  
quyền lợi hợp pháp của các bên trong quan hệ với pháp nhân. Trong  
phạm vi bài viết này, tác giả phân tích thực trạng pháp luật và những  
vấn đề đặt ra trong quá trình thực thi các quy định của pháp luật về trách  
nhiệm dân sự của người đại diện pháp nhân (tập trung vào pháp nhân  
thương mại) ở Việt Nam và đưa ra kiến nghị hoàn thiện.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 15/5/2021  
: 12/6/2021  
: 14/6/2021  
Article Infomation:  
Keywords: Civil  
Abstract:  
The current legal provisions on the delimitation of civil liability between  
legal entities and representatives are still unclear, which leads to the  
abolition of the legal entity's responsibilities, affecting the legal rights of  
the parties in relation to legal entities. The following article will discuss  
the legal situation and the issues raised during the implementation of  
legal provisions on civil liability of legal representative (focusing on  
commercial legal entities) in Vietnam.  
liability;  
representative of legal entity.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 15 May 2021  
: 12 Jun 2021  
: 14 Jun 2021  
Approved  
1. Trách nhiệm dân sự của người đại diện  
pháp nhân  
mượn của những con người mà pháp nhân  
hóa thân vào”1. Thông qua các hoạt đꢀng  
của người đại diện, pháp nhân “được hưởng  
những quyền và có những nghĩa vụ tương tự  
như thể nhân, trừ những quyền và nghĩa vụ,  
vì tính chất của chúng, chỉ có thể dành cho  
hoặc mắc chịu bởi một thể nhân”2.  
1.1. Người đại diện của pháp nhân  
Pháp nhân với tư cách là chủ thể của quan  
hệ pháp luật hoạt đꢀng thông qua người đại  
diện. Pháp nhân “dù được nhân cách hóa,  
không phải là con người cụ thể và do đó,  
không thể tự mình xử sự… Suy cho cùng,  
pháp nhân luôn phải được đại diện bởi con  
người cụ thể, từ khi thành lập cho đến khi  
chấm dứt, trong tất cả các hoạt động của  
mình. Năng lực hành vi của pháp nhân thực  
ra là năng lực hành vi mà pháp nhân vay  
Người đại diện là người thay mặt, nhân  
danh pháp nhân tiến hành các hoạt đꢀng vì  
lợi ích của pháp nhân theo quy định của điều  
lệ và pháp luật. “Ý chí của một pháp nhân  
được bày tỏ thông qua những người đại diện  
của pháp nhân đó”3. Người đại diện có thể  
1 Nguyễn Ngọc Điện (2010), Chủ thể quan hệ pháp luật dân sự, Nxb. Chính trị quꢁc gia, Hà Nꢀi, tr.246  
2 Điều 70 Bꢀ luât Dân sự và thương mại Thái Lan (1925), các quyển I - VI theo bản dịch năm 1995 của Nxb.  
Chính trị quꢁc gia, Hà Nꢀi.  
3 Điều 89 BLDS năm 2015.  
Số 14(438) - T7/2021  
31  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
là cá nhân hoặc pháp nhân đại diện cho pháp  
nhân theo pháp luật hoặc theo ủy quyền.  
Trong hoạt đꢀng của mình, “sự biểu lộ ý chí  
bởi người đại diện thể hiện rằng sự biểu lộ ý  
chí đó được lập ra nhân danh người được đại  
diện trong phạm vi thẩm quyền của người đại  
diện ràng buộc người được đại diện”4. Như  
vậy, trong mọi hoạt đꢀng, hành vi của người  
đại diện luôn phải được thực hiện vì lợi ích  
của pháp nhân. Pháp nhân phải chịu sự ràng  
buꢀc về quyền và nghĩa vụ pháp lý phát sinh  
từ các quan hệ pháp luật mà người đại diện  
nhân danh pháp nhân tham gia. Phạm vi đại  
diện người đại diện của pháp nhân là “có  
quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân  
sự vì lợi ích của người được đại diện, trừ  
trường hợp pháp luật có quy định khác”5.  
Theo quy định này, việc xác định phạm vi  
đại diện của người đại diện theo pháp luật  
của pháp nhân căn cứ vào mục đích tham gia  
giao dịch của người đại diện. Điều này có  
nghĩa là, giao dịch mà người đại diện theo  
pháp luật tham gia phải nhằm đáp ứng lợi ích  
của pháp nhân, chứ không phải vì lợi ích cá  
nhân của người đại diện.  
đều có quyền đại diện cho công ty) có thể có  
từ hai đại diện theo pháp luật trở lên và “điều  
lệ công ty quy định cụ thể số lượng, chức  
danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người  
đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp”7.  
Bên cạnh người đại diện theo pháp luật  
của pháp nhân, theo BLDS năm 2015 thì  
“pháp nhân có thể ủy quyền cho cá nhân,  
pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao  
dịch dân sự”8. Nếu như trước đây, theo quy  
định của Bꢀ luật Dân sự (BLDS) năm 2005  
thì “Người đại diện theo pháp luật của pháp  
nhân có thể ủy quyền cho người khác xác  
lập, thực hiện giao dịch dân sự”9. Như vậy,  
BLDS năm 2015 đã thay đổi quan điểm về  
đại diện theo ủy quyền là của pháp nhân  
hay của người đại diện theo pháp luật của  
pháp nhân. Người đại diện theo ủy quyền  
chỉ được thực hiện những hoạt đꢀng trong  
phạm vi và thời hạn theo văn bản ủy quyền.  
Hành vi của người được ủy quyền thực hiện  
trong phạm vi ủy quyền được coi là hành  
vi của pháp nhân, làm phát sinh quyền và  
nghĩa vụ dân sự với pháp nhân.  
1.2. Trách nhiệm dân sự của pháp  
nhân và người đại diện pháp nhân  
Người đại diện theo pháp luật là người đại  
diện đương nhiên thường xuyên của pháp  
nhân trong các quan hệ với người thứ ba. Đại  
diện theo pháp luật của pháp nhân được quy  
định trong điều lệ của pháp nhân hoặc trong  
quyết định thành lập pháp nhân. “Một pháp  
nhân có thể có nhiều người đại diện theo  
pháp luật”6. Theo Luật Doanh nghiệp năm  
2020, pháp nhân là công ty trách nhiệm hữu  
hạn, công ty cổ phꢂn (chưa kể trong công ty  
hợp danh thì tất cả các thành viên hợp danh  
Trong bất cứ trường hợp nào, pháp nhân  
chỉ phải chịu trách nhiệm dân sự của người  
đại diện nhân danh vì lợi ích của pháp nhân  
và được coi là hành vi của pháp nhân. Pháp  
nhân không thể chꢁi bỏ trách nhiệm của  
mình, khi người đại diện tham gia xác lập  
các giao dịch với tư cách của pháp nhân và  
trong phạm vi thẩm quyền theo quy định  
của điều lệ hoặc của pháp luật. “Một pháp  
4 Điều 99 BLDS Nhật Bản năm 2005.  
5 Khoản 1 Điều 144 BLDS năm 2015.  
6 Khoản 2 Điều 13 BLDS năm 2015.  
7 Khoản 2 Điều 12 Luật Doanh nghiệp năm 2020.  
8 Khoản 1 Điều 138 BLDS năm 2015.  
9 Khoản 1 Điều 143 BLDS năm 2005.  
32  
Số 14(438) - T7/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
nhân buộc phải bồi thường về bất cứ thiệt  
hại nào, do người quản lý hoặc những người  
đại diện khác của pháp nhân gây ra cho  
những người khác trong khi thi hành nhiệm  
vụ của mình, đồng thời dành quyền khiếu  
nại những người gây ra thiệt hại đó”10.  
pháp nhân, chủ sở hữu của pháp nhân và  
cho bên thứ ba.  
Trách nhiệm dân sự của người đại diện  
pháp nhân là trách nhiệm về tài sản của cá  
nhân người đại diện đꢁi với pháp nhân hoặc  
đꢁi với bên thứ ba có quan hệ pháp luật với  
pháp nhân. Trách nhiệm đó phát sinh trong  
quá trình người đại diện thực hiện các hoạt  
đꢀng nhân danh pháp nhân, nhưng đã vi phạm  
nghĩa vụ hoặc phạm vi đại diện theo quy định  
của điều lệ pháp nhân hoặc của pháp luật.  
Trong quá trình hoạt đꢀng, pháp nhân  
có thể gây thiệt hại cho bên thứ ba bởi hành  
đꢀng của người đại diện. Nếu người đại diện  
của pháp nhân đã thực hiện các hoạt đꢀng  
nhân danh và vì lợi ích của pháp nhân trong  
phạm vi thẩm quyền của người đại diện, thì  
pháp nhân không thể chꢁi bỏ trách nhiệm  
dân sự của mình. Hoạt đꢀng của người đại  
diện của pháp nhân trên cơ sở quy định của  
điều lệ pháp nhân được quyền tự mình quyết  
định và được coi là hành vi của pháp nhân.  
Trách nhiệm dân sự của người đại diện là  
mꢀt hậu quả pháp lý bất lợi cho người đại diện  
và là mꢀt loại chế tài áp dụng cho vi phạm  
nghĩa vụ dân sự. Trách nhiệm dân sự của đại  
diện pháp nhân có thể phát sinh do vi phạm  
nghĩa vụ hợp đꢃng hoặc trong quan hệ ngoài  
hợp đꢃng. Trách nhiệm dân sự của người đại  
diện có thể được đặt ra chỉ đꢁi với cá nhân  
người đại diện hoặc liên đới với chính pháp  
nhân, với người khác có liên quan.  
Trong trường hợp, pháp nhân chꢁi bỏ  
trách nhiệm bằng cách thay đổi các văn bản  
nꢀi bꢀ của mình, pháp luật Thái Lan dự liệu  
và đưa ra quy định cụ thể: “Bất cứ sự hạn  
chế hoặc sửa đổi nào về quyền hạn đại diện  
của những người quản lý, không được thiết  
lập nhằm chống lại những người thứ ba  
có thiện chí”11. Vấn đề này chưa được quy  
định trong pháp luật Việt Nam hiện hành.  
Trong quan hệ đại diện của mình, người  
đại diện chịu trách nhiệm trước pháp nhân  
về việc thực hiện đúng đắn nghĩa vụ của  
mình, pháp nhân có quyền yêu cꢂu người  
đại diện bꢃi thường thiệt hại do hành vi mà  
người đó gây ra cho pháp nhân.  
Trong thực tiễn, cꢂn phân định rõ trách  
nhiệm dân sự của pháp nhân và trách nhiệm  
dân sự của cá nhân người đại diện. Người  
đại diện của pháp nhân hành đꢀng vì quyền  
lợi riêng của mình hoặc phải được các cơ  
quan có thẩm quyền trong nꢀi bꢀ pháp nhân  
chấp thuận. Hoạt đꢀng đó sẽ không làm phát  
sinh trách nhiệm dân sự cho pháp nhân, mà  
trách nhiệm đó phát sinh đꢁi với người đại  
diện của pháp nhân. Vì thế, pháp luật đặt ra  
trách nhiệm dân sự đꢁi với người đại diện  
của pháp nhân nhằm đảm bảo lợi ích của  
2. Các trường hợp đặt ra trách nhiệm  
dân sự của người đại diện pháp nhân  
Trong các hoạt đꢀng nhân danh, đại diện  
cho pháp nhân, người đại diện phải thực hiện  
trách nhiệm của mình trên cơ sở quy định  
của điều lệ và của pháp luật. Trách nhiệm  
dân sự của cá nhân người đại diện có thể đꢁi  
với pháp nhân, chủ sở hữu của pháp nhân  
hoặc với bên thứ ba. Các trường hợp đặt ra  
trách nhiệm dân sự của người đại diện của  
pháp nhân nếu thực hiện các hoạt đꢀng như:  
10 Điều 76 Bꢀ luật Dân sự và thương mại Thái Lan (1925), các quyển I - VI theo bản dịch năm 1995 của Nxb.  
Chính trị quꢁc gia, Hà Nꢀi.  
11 Điều 76 Bꢀ luât Dân sự và thương mại Thái Lan (1925), tlđd.  
Số 14(438) - T7/2021  
33  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
- Trường hợp thứ nhất, người đại diện  
thực hiện hành vi vi phạm pháp luật  
thì Bộ luật Dân sự quy định cả pháp nhân và  
giám đốc đều liên đới chịu trách nhiệm”13.  
Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định  
về trách nhiệm dân sự của người đại diện  
trong việc để cổ đông rút lợi nhuận hoặc rút  
vꢁn khỏi pháp nhân trái quy định của pháp  
luật như sau: “Trường hợp có cổ đông rút  
một phần hoặc toàn bộ vốn cổ phần đã góp  
trái với quy định tại khoản này thì cổ đông  
đó và người có lợi ích liên quan trong công  
ty phải cùng liên đới chịu trách nhiệm về các  
khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công  
ty trong phạm vi giá trị cổ phần đã bị rút”14.  
Người đại diện nhân danh pháp nhân thực  
hiện hành vi vi phạm pháp luật nhưng hành  
vi đó lại nằm ngoài hoặc vượt quá phạm vi  
đại diện. Trong trường hợp pháp nhân biết  
hoặc có thể kiểm soát được hành vi của  
người đại diện, thì pháp nhân vẫn phải liên  
đới chịu trách nhiệm cùng với người đại diện  
vi phạm. Bởi lẽ, nếu không có danh nghĩa  
của pháp nhân thì cá nhân người đại diện sẽ  
không thể thực hiện được hành vi vi phạm.  
Trường hợp người đại diện thực hiện hành  
vi ngoài phạm vi đại diện mà pháp nhân  
không thể biết và cũng không thể kiểm soát,  
thì pháp nhân không có lỗi và không phải chịu  
trách nhiệm dân sự. Người đại diện phải chịu  
trách nhiệm cá nhân về hành vi của mình. Vấn  
đề này được pháp luật Thái Lan quy định:  
“Nếu thiệt hại gây ra cho những người khác  
là do một hành vi không nằm trong phạm vi  
mục đích hoạt động của pháp nhân, thì những  
thành viên hoặc những người quản lý tán  
thành hành vi đó, những người quản lý và  
những người đại diện khác thực thi hành vi  
đó phải liên đới chịu bồi thường”12.  
- Trường hợp thứ hai, người đại diện  
không phục vụ lợi ích của pháp nhân  
Người đại diện xác lập và thực hiện các  
giao dịch, hợp đꢃng nhưng không phục vụ lợi  
ích của pháp nhân, lợi ích của các chủ sở hữu  
pháp nhân. Hoạt đꢀng của người đại diện có  
thể làm gây thiệt hại cho pháp nhân hoặc chủ  
sở hữu pháp nhân. Không sꢄ dụng thông tin,  
bí quyết, cơ hꢀi kinh doanh của doanh nghiệp,  
không lạm dụng địa vị, chức vụ và sꢄ dụng tài  
sản của doanh nghiệp để tư lợi hoặc phục vụ  
lợi ích của tổ chức, cá nhân khác.  
Bꢀ luật Dân sự và Thương mại của Thái  
Lan quy định: “Trong một vấn đề mà quyền  
lợi của một pháp nhân xung đột quyền lợi của  
một người quản lý, thì người quản lý không  
có quyền đại diện”15. Tương tự, Bꢀ luật Dân  
sự Nhật Bản quy định: “Các giám đốc không  
có quyền đại diện trong các vấn đề mà quyền  
lợi của pháp nhân và của bản thân họ xung  
đột với nhau. Trong những trường hợp như  
vậy, một đại diện đặc biệt sẽ được chỉ định”16.  
Pháp luật dân sự Nhật Bản quy định:  
“Khi người đại diện thực hiện hành vi trái  
pháp luật ngoài phạm vi nghĩa vụ đại diện  
thì người chịu trách nhiệm không phải là  
pháp nhân mà là người đại diện, theo quy  
định chung về bồi thường thiệt hại. Tuy  
nhiên, việc người đại diện trực tiếp hoặc  
gián tiếp lợi dụng uy tín của pháp nhân hoặc  
khi người bị thiệt hại là số đông công dân  
12 Điều 76 Bꢀ luật Dân sự và thương mại Thái Lan (1925), tlđd.  
13 Xaca Vacaxum, Tori Aritdumi, Bình luận khoa học Bộ luật Nhật Bản, Theo bản dịch của Viện Nghiên cứu  
khoa học pháp lý - Bꢀ Tư pháp, Nxb. Chính trị quꢁc gia, năm 1995, tr.90.  
14 Điều 119 Luật Doanh nghiệp năm 2020.  
15 Điều 80 Bꢀ luật Dân sự và thương mại Thái Lan (1925), tlđd.  
16 Điều 76 BLDS Nhật Bản năm 2005.  
34  
Số 14(438) - T7/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
Những quy định này cho thấy, pháp luật minh  
định rằng, nếu quyền lợi xung đꢀt giữa pháp  
nhân và người quản lý thì người đó không có  
quyền đại diện cho pháp nhân trong vấn đề  
đó. Trong đó, pháp luật Nhật Bản đưa ra giải  
pháp là chỉ định người “đại diện đặc biệt” để  
đại diện thay thế.  
(nếu là công ty trách nhiệm hữu hạn hai  
thành viên trở lên) chấp thuận.  
Trong trường hợp hợp đꢃng, giao dịch  
được ký kết hoặc thực hiện mà chưa được  
chấp thuận hợp lệ và gây thiệt hại cho công  
ty, thì người ký kết hợp đꢃng, cổ đông, thành  
viên Hꢀi đꢃng quản trị hoặc Giám đꢁc hoặc  
Tổng giám đꢁc có liên quan phải chịu trách  
nhiệm: Thứ nhất, liên đới bꢃi thường thiệt  
hại phát sinh; thứ hai, hoàn trả cho công ty  
các khoản lợi thu được từ việc thực hiện  
hợp đꢃng, giao dịch đó.  
- Trường hợp thứ ba, người đại diện thực  
hiện việc thanh toán khoản nợ trước hạn  
Người đại diện của pháp nhân thực hiện  
việc thanh toán các khoản nợ chưa đến hạn  
của pháp nhân dẫn đến nguy cơ lâm vào  
tình trạng phá sản. Trong hoạt đꢀng quản  
lý, đại diện của mình, người đại diện phải  
biết được tình trạng tài chính của pháp  
nhân, nhưng người đại diện đã thực hiện  
việc thanh toán những khoản nợ khi chưa  
đến hạn trả, làm cho tình trạng tài chính của  
pháp nhân lâm vào tình trạng không có khả  
năng thanh toán các khoản nợ đến hạn.  
Trong trường hợp, người đại diện nhân  
danh pháp nhân nhưng xác lập, thực hiện  
vượt quá phạm vi đại diện thì sẽ không làm  
phát sinh quyền, nghĩa vụ của người được  
đại diện đꢁi với phꢂn giao dịch được thực  
hiện vượt quá phạm vi đại diện, trừ mꢀt  
trong các trường hợp sau đây: “a) Người  
được đại diện đồng ý; b) Người được đại  
diện biết mà không phản đối trong một thời  
hạn hợp lý; c) Người được đại diện có lỗi  
dẫn đến việc người đã giao dịch không biết  
hoặc không thể biết về việc người đã xác  
lập, thực hiện giao dịch dân sự với mình  
vượt quá phạm vi đại diện”17.  
Hoạt đꢀng này có thể vì lợi ích của chính  
người đại diện hoặc của mꢀt người nào đó,  
nhưng dẫn đến ảnh hưởng đến các quyền lợi  
hợp pháp của chủ nợ hoặc chủ sở hữu khác  
của pháp nhân.  
- Trường hợp thứ tư, người đại diện nhân  
danh pháp nhân giao kết hợp đồng hoặc  
giao dịch chưa được phê duyệt  
Trách nhiệm của người đại diện của pháp  
nhân được đặt ra trong trường hợp “người  
đại diện và người giao dịch với người đại  
diện cố ý xác lập, thực hiện giao dịch dân  
sự vượt quá phạm vi đại diện mà gây thiệt  
hại cho người được đại diện thì phải chịu  
trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại”18.  
Như vậy, trong trường hợp này, trách nhiệm  
dân sự của người đại diện và của bên thứ ba  
là “liên đới” với nhau để bꢃi thường thiệt  
hại gây ra cho pháp nhân.  
Người đại diện công ty có hành vi nhân  
danh pháp nhân tham gia giao kết các hợp  
đꢃng hoặc giao dịch với người liên quan  
không được sự phê duyệt của người hoặc cơ  
quan có thẩm quyền của pháp nhân. Theo  
quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020,  
đꢁi với các loại hình doanh nghiệp, các hợp  
đꢃng, giao dịch phải được Đại hꢀi đꢃng cổ  
đông hoặc Hꢀi đꢃng quản trị (nếu là công  
ty cổ phꢂn), hoặc được Hꢀi đꢃng thành viên  
Tuy vậy, có thể thấy rằng, nếu điều lệ  
là cơ sở để hạn chế quyền hạn người đại  
17 Điều 143 BLDS năm 2015.  
18 Khoản 4 Điều 143 BLDS năm 2015.  
Số 14(438) - T7/2021  
35  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
diện của pháp nhân bằng các đòi hỏi phải  
có sự đꢃng ý trước Hꢀi đꢃng quản trị, nếu  
giá trị hợp đꢃng ký vượt quá mꢀt mức nào  
đó. Nhưng giới hạn này không có giá trị  
với người ngoài, người ngoài vẫn có quyền  
đòi phải thi hành hợp đꢃng dù chưa có phê  
chuẩn. Bởi lẽ, người đại diện của pháp nhân  
mặc dù xác lập và thực hiện giao dịch vượt  
quá thẩm quyền của mình, nhưng vẫn vì lợi  
ích của pháp nhân. Vì vậy, pháp nhân phải  
chịu trách nhiệm dân sự trong trường hợp  
này, sau đó có thể yêu cꢂu người đại diện  
phải thực hiện trách nhiệm dân sự với pháp  
nhân về phꢂn vượt quá thẩm quyền. BLDS  
Nhật Bản quy định “không có sự hạn chế  
nào trong quyền đại diện của bất kỳ giám  
đốc nào có thể được sử dụng chống người  
thứ ba ngay tình”19.  
Theo quy định của Luật Doanh nghiệp  
năm 2020, công ty mẹ với tư cách là cổ đông  
kiểm soát công ty con, thì người đại diện  
của công ty mẹ nếu là người quản lý công  
ty mẹ phải chịu trách nhiệm liên đới đền bù  
thiệt hại cho công ty con nếu can thiệp vào  
các hoạt đꢀng của công ty con. Sự can thiệp  
của người đại diện của công ty mẹ có thể  
là “can thiệp ngoài thẩm quyền của chủ sở  
hữu, thành viên hoặc cổ đông và buộc công  
ty con phải thực hiện hoạt động kinh doanh  
trái với thông lệ kinh doanh bình thường  
hoặc thực hiện hoạt động không sinh lợi  
mà không đền bù hợp lý”20. Đꢁi với hành vi  
này, “chủ nợ hoặc thành viên, cổ đông có  
sở hữu ít nhất 01% vốn điều lệ của công ty  
con có quyền nhân danh chính mình hoặc  
nhân danh công ty con yêu cầu công ty mẹ  
đền bù thiệt hại cho công ty con”21.  
Trong pháp luật Việt Nam, Điều 167 Luật  
Doanh nghiệp năm 2020 quy định: “Hợp  
đồng, giao dịch phải được Đại hội đồng cổ  
đông hoặc Hội đồng quản trị chấp thuận”.  
Nếu người đại diện theo pháp luật của công  
ty thực hiện các giao dịch thuꢀc Điều 167  
mà không có sự chấp của Đại hꢀi đꢃng cổ  
đông hoặc Hꢀi đꢃng quản trị thì giao dịch  
đó bị coi là vượt quá thẩm quyền. Bên thứ  
ba không thể bắt công ty thực hiện nghĩa  
vụ của mình, mà chỉ có thể yêu cꢂu người  
đại diện theo pháp luật chịu trách nhiệm cá  
nhân mà thôi. Quy định hiện hành chưa bảo  
vệ người thứ ba trong giao dịch với pháp  
nhân, là bên được coi là yếu thế đꢁi với các  
vấn đề nꢀi bꢀ của công ty.  
3. Kiến nghị hoàn thiện các quy định  
của pháp luật về trách nhiệm dân sự của  
người đại diện pháp nhân  
Như đã phân tích ở trên, sự phân biệt không  
rõ ràng trong các quy định của pháp luật về  
trách nhiệm của người đại diện và của pháp  
nhân trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ  
với bên thứ ba đã gây ảnh hưởng đến quyền  
lợi hợp pháp của bên thứ ba. Khi người đại  
diện của pháp nhân thực hiện việc giao dịch  
đꢁi với bên thứ ba theo đúng thẩm quyền theo  
quy chế nꢀi bꢀ công ty đang áp dụng, thì phát  
sinh trách nhiệm của pháp nhân đꢁi với bên  
thứ ba trong việc thực hiện không đúng hoặc  
không thực hiện nghĩa vụ đꢁi với bên thứ ba.  
Pháp nhân không thể chꢁi bỏ trách nhiệm của  
mình khi cho rằng, người đại diện đã vi phạm  
các quy trình, hoặc có dấu hiệu lạm quyền  
trong quá trình thực hiện giao dịch.  
- Trường hợp thứ năm, người đại diện  
của công ty mẹ can thiệp vào hoạt động  
của công ty con theo quy định của Luật  
Doanh nghiệp.  
19 Điều 54 BLDS Nhật Bản năm 2005.  
20 Khoản 3, 4 Điều 196 Luật Doanh nghiệp năm 2020.  
21 Khoản 5 Điều 196 Luật Doanh nghiệp năm 2020.  
36  
Số 14(438) - T7/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
Rất nhiều tranh chấp liên quan đến việc  
pháp nhân chꢁi bỏ trách nhiệm của giao  
dịch do người đại diện của mình đã xác lập,  
bằng cách yêu cꢂu cơ quan điều tra khởi tꢁ  
vụ án, khởi tꢁ bị can đꢁi với người đại diện  
theo pháp luật của mình về tꢀi lạm dụng  
quyền hạn… Nguyên nhân của những thực  
trạng này, xuất phát từ việc không rõ ràng  
về trách nhiệm của pháp nhân do người đại  
diện của mình xác lập.  
chưa có ý kiến của Hội đồng quản trị hoặc  
Đại hội đồng cổ đông…”.  
Bên cạnh đó, pháp luật hiện hành cho  
phép mꢀt pháp nhân có thể có nhiều người  
đại diện theo pháp luật. Tuy nhiên, việc có  
nhiều người đại diện theo pháp luật sẽ kéo  
theo sự phân quyền quản lý và quyết định  
các vấn đề thường trực của pháp nhân như  
thế nào để có thể phù hợp cho các hoạt đꢀng  
của pháp nhân. Người thứ ba có quan hệ  
giao dịch hoặc hợp đꢃng với pháp nhân sẽ  
gặp khó khăn trong việc xác định người đại  
diện theo pháp luật của pháp nhân và thẩm  
quyền ký kết hợp đꢃng theo điều lệ của pháp  
nhân hay không. Cꢂn thiết phải quy định  
về trách nhiệm của pháp nhân trong trường  
hợp có nhiều người đại diện theo pháp luật  
theo hướng “Mọi quy định hạn chế của pháp  
nhân về phân công thẩm quyền giữa những  
người đại diện theo pháp luật của mình đều  
không có hiệu lực đối với bên thứ ba”.  
Khi tham gia giao dịch đꢁi với các bên  
liên quan, người đại diện theo pháp luật  
phải thông qua sự chấp thuận của Hꢀi đꢃng  
quản trị hoặc Đại hꢀi đꢃng cổ đông. Quy  
định này đã dẫn đến nhiều cách hiểu khác  
nhau là sự hạn chế phạm vi thẩm quyền của  
người đại diện theo pháp luật hoặc chỉ là  
các thủ tục mà người đại diện phải thực hiện  
trước khi giao kết các hợp đꢃng, giao dịch  
thuꢀc các trường hợp của Điều 167 Luật  
Doanh nghiệp năm 2020 quy định.  
Tuy nhiên, quy định của pháp luật phải  
đảm bảo quyền lợi cho bên thứ ba, là bên  
yếu thế trong quan hệ với công ty trước  
những hành vi mang tính nꢀi bꢀ của công  
ty. Vì vậy, tác giả cho rằng, cꢂn sꢄa đổi  
Điều 167 Luật Doanh nghiệp năm 2020  
theo hướng bổ sung quy định bảo đảm  
quyền lợi của bên thứ ba trong giao dịch  
với pháp nhân. Cụ thể bổ sung quy định  
“Nếu điều lệ hạn chế quyền hạn của Chủ  
tịch Hội đồng quản trị hoặc Tổng giám  
đốc/Giám đốc bằng các đòi hỏi phải có sự  
đồng ý trước Hội đồng quản trị hoặc Đại  
hội đồng cổ đông, hoặc giá trị hợp đồng,  
giao dịch ký vượt quá một mức nào đó,  
thì những giới hạn này không có giá trị  
với bên thứ ba; bên thứ ba vẫn có quyền  
đòi phải thực hiện hợp đồng, giao dịch dù  
Về vấn đề này, pháp luật của Nhật Bản  
quy định “pháp nhân có một hoặc nhiều  
giám đốc. Trường hợp có nhiều giám đốc,  
công việc của pháp nhân sẽ được giải quyết  
bởi đa số giám đốc nếu như điều khoản  
thành lập pháp nhân hoặc văn bản góp vốn  
không có quy định khác”22. Về vấn đề đại  
diện, Bꢀ luật Dân sự Nhật Bản cũng có quy  
định: “Từng giám đốc sẽ đại diện cho pháp  
nhân trong tất cả mọi hoạt động song không  
được làm trái với điều khoản về thành lập  
hay nội dung của văn bản góp vốn”23. Việc  
quy định nhiều đại diện cho pháp nhân sẽ  
tạo điều kiện cho pháp nhân trong quá trình  
hoạt đꢀng. Tuy vậy, pháp luật cꢂn thiết phải  
đưa ra những quy định rõ hơn về phân định  
thẩm quyền và trách nhiệm của các đại diện  
của pháp nhân  
22 Điều 52 BLDS Nhật Bản năm 2005.  
23 Điều 53 BLDS Nhật Bản năm 2005.  
Số 14(438) - T7/2021  
37  
pdf 7 trang Thùy Anh 8020 Free
Bạn đang xem tài liệu "Trách nhiệm dân sự của người đại diện pháp nhân", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftrach_nhiem_dan_su_cua_nguoi_dai_dien_phap_nhan.pdf