Trách nhiệm dân sự của người đại diện pháp nhân
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA NGƯỜI ĐẠI DIỆN PHÁP NHÂN
Vũ Quang*
*TS. Viện Kinh tế và Quản lý, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội.
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Từ khóa: Trách nhiệm dân sự,
người đại diện pháp nhân.
Các quy định của pháp luật hiện hành về việc phân định trách nhiệm
dân sự của pháp nhân và của người đại diện vẫn chưa rõ ràng. Điều này
dẫn đến tình trạng thoái thác trách nhiệm của pháp nhân, ảnh hưởng đến
quyền lợi hợp pháp của các bên trong quan hệ với pháp nhân. Trong
phạm vi bài viết này, tác giả phân tích thực trạng pháp luật và những
vấn đề đặt ra trong quá trình thực thi các quy định của pháp luật về trách
nhiệm dân sự của người đại diện pháp nhân (tập trung vào pháp nhân
thương mại) ở Việt Nam và đưa ra kiến nghị hoàn thiện.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 15/5/2021
: 12/6/2021
: 14/6/2021
Article Infomation:
Keywords: Civil
Abstract:
The current legal provisions on the delimitation of civil liability between
legal entities and representatives are still unclear, which leads to the
abolition of the legal entity's responsibilities, affecting the legal rights of
the parties in relation to legal entities. The following article will discuss
the legal situation and the issues raised during the implementation of
legal provisions on civil liability of legal representative (focusing on
commercial legal entities) in Vietnam.
liability;
representative of legal entity.
Article History:
Received
Edited
: 15 May 2021
: 12 Jun 2021
: 14 Jun 2021
Approved
1. Trách nhiệm dân sự của người đại diện
pháp nhân
mượn của những con người mà pháp nhân
hóa thân vào”1. Thông qua các hoạt đꢀng
của người đại diện, pháp nhân “được hưởng
những quyền và có những nghĩa vụ tương tự
như thể nhân, trừ những quyền và nghĩa vụ,
vì tính chất của chúng, chỉ có thể dành cho
hoặc mắc chịu bởi một thể nhân”2.
1.1. Người đại diện của pháp nhân
Pháp nhân với tư cách là chủ thể của quan
hệ pháp luật hoạt đꢀng thông qua người đại
diện. Pháp nhân “dù được nhân cách hóa,
không phải là con người cụ thể và do đó,
không thể tự mình xử sự… Suy cho cùng,
pháp nhân luôn phải được đại diện bởi con
người cụ thể, từ khi thành lập cho đến khi
chấm dứt, trong tất cả các hoạt động của
mình. Năng lực hành vi của pháp nhân thực
ra là năng lực hành vi mà pháp nhân vay
Người đại diện là người thay mặt, nhân
danh pháp nhân tiến hành các hoạt đꢀng vì
lợi ích của pháp nhân theo quy định của điều
lệ và pháp luật. “Ý chí của một pháp nhân
được bày tỏ thông qua những người đại diện
của pháp nhân đó”3. Người đại diện có thể
1 Nguyễn Ngọc Điện (2010), Chủ thể quan hệ pháp luật dân sự, Nxb. Chính trị quꢁc gia, Hà Nꢀi, tr.246
2 Điều 70 Bꢀ luât Dân sự và thương mại Thái Lan (1925), các quyển I - VI theo bản dịch năm 1995 của Nxb.
Chính trị quꢁc gia, Hà Nꢀi.
3 Điều 89 BLDS năm 2015.
Số 14(438) - T7/2021
31
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
là cá nhân hoặc pháp nhân đại diện cho pháp
nhân theo pháp luật hoặc theo ủy quyền.
Trong hoạt đꢀng của mình, “sự biểu lộ ý chí
bởi người đại diện thể hiện rằng sự biểu lộ ý
chí đó được lập ra nhân danh người được đại
diện trong phạm vi thẩm quyền của người đại
diện ràng buộc người được đại diện”4. Như
vậy, trong mọi hoạt đꢀng, hành vi của người
đại diện luôn phải được thực hiện vì lợi ích
của pháp nhân. Pháp nhân phải chịu sự ràng
buꢀc về quyền và nghĩa vụ pháp lý phát sinh
từ các quan hệ pháp luật mà người đại diện
nhân danh pháp nhân tham gia. Phạm vi đại
diện người đại diện của pháp nhân là “có
quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân
sự vì lợi ích của người được đại diện, trừ
trường hợp pháp luật có quy định khác”5.
Theo quy định này, việc xác định phạm vi
đại diện của người đại diện theo pháp luật
của pháp nhân căn cứ vào mục đích tham gia
giao dịch của người đại diện. Điều này có
nghĩa là, giao dịch mà người đại diện theo
pháp luật tham gia phải nhằm đáp ứng lợi ích
của pháp nhân, chứ không phải vì lợi ích cá
nhân của người đại diện.
đều có quyền đại diện cho công ty) có thể có
từ hai đại diện theo pháp luật trở lên và “điều
lệ công ty quy định cụ thể số lượng, chức
danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người
đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp”7.
Bên cạnh người đại diện theo pháp luật
của pháp nhân, theo BLDS năm 2015 thì
“pháp nhân có thể ủy quyền cho cá nhân,
pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao
dịch dân sự”8. Nếu như trước đây, theo quy
định của Bꢀ luật Dân sự (BLDS) năm 2005
thì “Người đại diện theo pháp luật của pháp
nhân có thể ủy quyền cho người khác xác
lập, thực hiện giao dịch dân sự”9. Như vậy,
BLDS năm 2015 đã thay đổi quan điểm về
đại diện theo ủy quyền là của pháp nhân
hay của người đại diện theo pháp luật của
pháp nhân. Người đại diện theo ủy quyền
chỉ được thực hiện những hoạt đꢀng trong
phạm vi và thời hạn theo văn bản ủy quyền.
Hành vi của người được ủy quyền thực hiện
trong phạm vi ủy quyền được coi là hành
vi của pháp nhân, làm phát sinh quyền và
nghĩa vụ dân sự với pháp nhân.
1.2. Trách nhiệm dân sự của pháp
nhân và người đại diện pháp nhân
Người đại diện theo pháp luật là người đại
diện đương nhiên thường xuyên của pháp
nhân trong các quan hệ với người thứ ba. Đại
diện theo pháp luật của pháp nhân được quy
định trong điều lệ của pháp nhân hoặc trong
quyết định thành lập pháp nhân. “Một pháp
nhân có thể có nhiều người đại diện theo
pháp luật”6. Theo Luật Doanh nghiệp năm
2020, pháp nhân là công ty trách nhiệm hữu
hạn, công ty cổ phꢂn (chưa kể trong công ty
hợp danh thì tất cả các thành viên hợp danh
Trong bất cứ trường hợp nào, pháp nhân
chỉ phải chịu trách nhiệm dân sự của người
đại diện nhân danh vì lợi ích của pháp nhân
và được coi là hành vi của pháp nhân. Pháp
nhân không thể chꢁi bỏ trách nhiệm của
mình, khi người đại diện tham gia xác lập
các giao dịch với tư cách của pháp nhân và
trong phạm vi thẩm quyền theo quy định
của điều lệ hoặc của pháp luật. “Một pháp
4 Điều 99 BLDS Nhật Bản năm 2005.
5 Khoản 1 Điều 144 BLDS năm 2015.
6 Khoản 2 Điều 13 BLDS năm 2015.
7 Khoản 2 Điều 12 Luật Doanh nghiệp năm 2020.
8 Khoản 1 Điều 138 BLDS năm 2015.
9 Khoản 1 Điều 143 BLDS năm 2005.
32
Số 14(438) - T7/2021
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
nhân buộc phải bồi thường về bất cứ thiệt
hại nào, do người quản lý hoặc những người
đại diện khác của pháp nhân gây ra cho
những người khác trong khi thi hành nhiệm
vụ của mình, đồng thời dành quyền khiếu
nại những người gây ra thiệt hại đó”10.
pháp nhân, chủ sở hữu của pháp nhân và
cho bên thứ ba.
Trách nhiệm dân sự của người đại diện
pháp nhân là trách nhiệm về tài sản của cá
nhân người đại diện đꢁi với pháp nhân hoặc
đꢁi với bên thứ ba có quan hệ pháp luật với
pháp nhân. Trách nhiệm đó phát sinh trong
quá trình người đại diện thực hiện các hoạt
đꢀng nhân danh pháp nhân, nhưng đã vi phạm
nghĩa vụ hoặc phạm vi đại diện theo quy định
của điều lệ pháp nhân hoặc của pháp luật.
Trong quá trình hoạt đꢀng, pháp nhân
có thể gây thiệt hại cho bên thứ ba bởi hành
đꢀng của người đại diện. Nếu người đại diện
của pháp nhân đã thực hiện các hoạt đꢀng
nhân danh và vì lợi ích của pháp nhân trong
phạm vi thẩm quyền của người đại diện, thì
pháp nhân không thể chꢁi bỏ trách nhiệm
dân sự của mình. Hoạt đꢀng của người đại
diện của pháp nhân trên cơ sở quy định của
điều lệ pháp nhân được quyền tự mình quyết
định và được coi là hành vi của pháp nhân.
Trách nhiệm dân sự của người đại diện là
mꢀt hậu quả pháp lý bất lợi cho người đại diện
và là mꢀt loại chế tài áp dụng cho vi phạm
nghĩa vụ dân sự. Trách nhiệm dân sự của đại
diện pháp nhân có thể phát sinh do vi phạm
nghĩa vụ hợp đꢃng hoặc trong quan hệ ngoài
hợp đꢃng. Trách nhiệm dân sự của người đại
diện có thể được đặt ra chỉ đꢁi với cá nhân
người đại diện hoặc liên đới với chính pháp
nhân, với người khác có liên quan.
Trong trường hợp, pháp nhân chꢁi bỏ
trách nhiệm bằng cách thay đổi các văn bản
nꢀi bꢀ của mình, pháp luật Thái Lan dự liệu
và đưa ra quy định cụ thể: “Bất cứ sự hạn
chế hoặc sửa đổi nào về quyền hạn đại diện
của những người quản lý, không được thiết
lập nhằm chống lại những người thứ ba
có thiện chí”11. Vấn đề này chưa được quy
định trong pháp luật Việt Nam hiện hành.
Trong quan hệ đại diện của mình, người
đại diện chịu trách nhiệm trước pháp nhân
về việc thực hiện đúng đắn nghĩa vụ của
mình, pháp nhân có quyền yêu cꢂu người
đại diện bꢃi thường thiệt hại do hành vi mà
người đó gây ra cho pháp nhân.
Trong thực tiễn, cꢂn phân định rõ trách
nhiệm dân sự của pháp nhân và trách nhiệm
dân sự của cá nhân người đại diện. Người
đại diện của pháp nhân hành đꢀng vì quyền
lợi riêng của mình hoặc phải được các cơ
quan có thẩm quyền trong nꢀi bꢀ pháp nhân
chấp thuận. Hoạt đꢀng đó sẽ không làm phát
sinh trách nhiệm dân sự cho pháp nhân, mà
trách nhiệm đó phát sinh đꢁi với người đại
diện của pháp nhân. Vì thế, pháp luật đặt ra
trách nhiệm dân sự đꢁi với người đại diện
của pháp nhân nhằm đảm bảo lợi ích của
2. Các trường hợp đặt ra trách nhiệm
dân sự của người đại diện pháp nhân
Trong các hoạt đꢀng nhân danh, đại diện
cho pháp nhân, người đại diện phải thực hiện
trách nhiệm của mình trên cơ sở quy định
của điều lệ và của pháp luật. Trách nhiệm
dân sự của cá nhân người đại diện có thể đꢁi
với pháp nhân, chủ sở hữu của pháp nhân
hoặc với bên thứ ba. Các trường hợp đặt ra
trách nhiệm dân sự của người đại diện của
pháp nhân nếu thực hiện các hoạt đꢀng như:
10 Điều 76 Bꢀ luật Dân sự và thương mại Thái Lan (1925), các quyển I - VI theo bản dịch năm 1995 của Nxb.
Chính trị quꢁc gia, Hà Nꢀi.
11 Điều 76 Bꢀ luât Dân sự và thương mại Thái Lan (1925), tlđd.
Số 14(438) - T7/2021
33
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
- Trường hợp thứ nhất, người đại diện
thực hiện hành vi vi phạm pháp luật
thì Bộ luật Dân sự quy định cả pháp nhân và
giám đốc đều liên đới chịu trách nhiệm”13.
Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định
về trách nhiệm dân sự của người đại diện
trong việc để cổ đông rút lợi nhuận hoặc rút
vꢁn khỏi pháp nhân trái quy định của pháp
luật như sau: “Trường hợp có cổ đông rút
một phần hoặc toàn bộ vốn cổ phần đã góp
trái với quy định tại khoản này thì cổ đông
đó và người có lợi ích liên quan trong công
ty phải cùng liên đới chịu trách nhiệm về các
khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công
ty trong phạm vi giá trị cổ phần đã bị rút”14.
Người đại diện nhân danh pháp nhân thực
hiện hành vi vi phạm pháp luật nhưng hành
vi đó lại nằm ngoài hoặc vượt quá phạm vi
đại diện. Trong trường hợp pháp nhân biết
hoặc có thể kiểm soát được hành vi của
người đại diện, thì pháp nhân vẫn phải liên
đới chịu trách nhiệm cùng với người đại diện
vi phạm. Bởi lẽ, nếu không có danh nghĩa
của pháp nhân thì cá nhân người đại diện sẽ
không thể thực hiện được hành vi vi phạm.
Trường hợp người đại diện thực hiện hành
vi ngoài phạm vi đại diện mà pháp nhân
không thể biết và cũng không thể kiểm soát,
thì pháp nhân không có lỗi và không phải chịu
trách nhiệm dân sự. Người đại diện phải chịu
trách nhiệm cá nhân về hành vi của mình. Vấn
đề này được pháp luật Thái Lan quy định:
“Nếu thiệt hại gây ra cho những người khác
là do một hành vi không nằm trong phạm vi
mục đích hoạt động của pháp nhân, thì những
thành viên hoặc những người quản lý tán
thành hành vi đó, những người quản lý và
những người đại diện khác thực thi hành vi
đó phải liên đới chịu bồi thường”12.
- Trường hợp thứ hai, người đại diện
không phục vụ lợi ích của pháp nhân
Người đại diện xác lập và thực hiện các
giao dịch, hợp đꢃng nhưng không phục vụ lợi
ích của pháp nhân, lợi ích của các chủ sở hữu
pháp nhân. Hoạt đꢀng của người đại diện có
thể làm gây thiệt hại cho pháp nhân hoặc chủ
sở hữu pháp nhân. Không sꢄ dụng thông tin,
bí quyết, cơ hꢀi kinh doanh của doanh nghiệp,
không lạm dụng địa vị, chức vụ và sꢄ dụng tài
sản của doanh nghiệp để tư lợi hoặc phục vụ
lợi ích của tổ chức, cá nhân khác.
Bꢀ luật Dân sự và Thương mại của Thái
Lan quy định: “Trong một vấn đề mà quyền
lợi của một pháp nhân xung đột quyền lợi của
một người quản lý, thì người quản lý không
có quyền đại diện”15. Tương tự, Bꢀ luật Dân
sự Nhật Bản quy định: “Các giám đốc không
có quyền đại diện trong các vấn đề mà quyền
lợi của pháp nhân và của bản thân họ xung
đột với nhau. Trong những trường hợp như
vậy, một đại diện đặc biệt sẽ được chỉ định”16.
Pháp luật dân sự Nhật Bản quy định:
“Khi người đại diện thực hiện hành vi trái
pháp luật ngoài phạm vi nghĩa vụ đại diện
thì người chịu trách nhiệm không phải là
pháp nhân mà là người đại diện, theo quy
định chung về bồi thường thiệt hại. Tuy
nhiên, việc người đại diện trực tiếp hoặc
gián tiếp lợi dụng uy tín của pháp nhân hoặc
khi người bị thiệt hại là số đông công dân
12 Điều 76 Bꢀ luật Dân sự và thương mại Thái Lan (1925), tlđd.
13 Xaca Vacaxum, Tori Aritdumi, Bình luận khoa học Bộ luật Nhật Bản, Theo bản dịch của Viện Nghiên cứu
khoa học pháp lý - Bꢀ Tư pháp, Nxb. Chính trị quꢁc gia, năm 1995, tr.90.
14 Điều 119 Luật Doanh nghiệp năm 2020.
15 Điều 80 Bꢀ luật Dân sự và thương mại Thái Lan (1925), tlđd.
16 Điều 76 BLDS Nhật Bản năm 2005.
34
Số 14(438) - T7/2021
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
Những quy định này cho thấy, pháp luật minh
định rằng, nếu quyền lợi xung đꢀt giữa pháp
nhân và người quản lý thì người đó không có
quyền đại diện cho pháp nhân trong vấn đề
đó. Trong đó, pháp luật Nhật Bản đưa ra giải
pháp là chỉ định người “đại diện đặc biệt” để
đại diện thay thế.
(nếu là công ty trách nhiệm hữu hạn hai
thành viên trở lên) chấp thuận.
Trong trường hợp hợp đꢃng, giao dịch
được ký kết hoặc thực hiện mà chưa được
chấp thuận hợp lệ và gây thiệt hại cho công
ty, thì người ký kết hợp đꢃng, cổ đông, thành
viên Hꢀi đꢃng quản trị hoặc Giám đꢁc hoặc
Tổng giám đꢁc có liên quan phải chịu trách
nhiệm: Thứ nhất, liên đới bꢃi thường thiệt
hại phát sinh; thứ hai, hoàn trả cho công ty
các khoản lợi thu được từ việc thực hiện
hợp đꢃng, giao dịch đó.
- Trường hợp thứ ba, người đại diện thực
hiện việc thanh toán khoản nợ trước hạn
Người đại diện của pháp nhân thực hiện
việc thanh toán các khoản nợ chưa đến hạn
của pháp nhân dẫn đến nguy cơ lâm vào
tình trạng phá sản. Trong hoạt đꢀng quản
lý, đại diện của mình, người đại diện phải
biết được tình trạng tài chính của pháp
nhân, nhưng người đại diện đã thực hiện
việc thanh toán những khoản nợ khi chưa
đến hạn trả, làm cho tình trạng tài chính của
pháp nhân lâm vào tình trạng không có khả
năng thanh toán các khoản nợ đến hạn.
Trong trường hợp, người đại diện nhân
danh pháp nhân nhưng xác lập, thực hiện
vượt quá phạm vi đại diện thì sẽ không làm
phát sinh quyền, nghĩa vụ của người được
đại diện đꢁi với phꢂn giao dịch được thực
hiện vượt quá phạm vi đại diện, trừ mꢀt
trong các trường hợp sau đây: “a) Người
được đại diện đồng ý; b) Người được đại
diện biết mà không phản đối trong một thời
hạn hợp lý; c) Người được đại diện có lỗi
dẫn đến việc người đã giao dịch không biết
hoặc không thể biết về việc người đã xác
lập, thực hiện giao dịch dân sự với mình
vượt quá phạm vi đại diện”17.
Hoạt đꢀng này có thể vì lợi ích của chính
người đại diện hoặc của mꢀt người nào đó,
nhưng dẫn đến ảnh hưởng đến các quyền lợi
hợp pháp của chủ nợ hoặc chủ sở hữu khác
của pháp nhân.
- Trường hợp thứ tư, người đại diện nhân
danh pháp nhân giao kết hợp đồng hoặc
giao dịch chưa được phê duyệt
Trách nhiệm của người đại diện của pháp
nhân được đặt ra trong trường hợp “người
đại diện và người giao dịch với người đại
diện cố ý xác lập, thực hiện giao dịch dân
sự vượt quá phạm vi đại diện mà gây thiệt
hại cho người được đại diện thì phải chịu
trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại”18.
Như vậy, trong trường hợp này, trách nhiệm
dân sự của người đại diện và của bên thứ ba
là “liên đới” với nhau để bꢃi thường thiệt
hại gây ra cho pháp nhân.
Người đại diện công ty có hành vi nhân
danh pháp nhân tham gia giao kết các hợp
đꢃng hoặc giao dịch với người liên quan
không được sự phê duyệt của người hoặc cơ
quan có thẩm quyền của pháp nhân. Theo
quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020,
đꢁi với các loại hình doanh nghiệp, các hợp
đꢃng, giao dịch phải được Đại hꢀi đꢃng cổ
đông hoặc Hꢀi đꢃng quản trị (nếu là công
ty cổ phꢂn), hoặc được Hꢀi đꢃng thành viên
Tuy vậy, có thể thấy rằng, nếu điều lệ
là cơ sở để hạn chế quyền hạn người đại
17 Điều 143 BLDS năm 2015.
18 Khoản 4 Điều 143 BLDS năm 2015.
Số 14(438) - T7/2021
35
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
diện của pháp nhân bằng các đòi hỏi phải
có sự đꢃng ý trước Hꢀi đꢃng quản trị, nếu
giá trị hợp đꢃng ký vượt quá mꢀt mức nào
đó. Nhưng giới hạn này không có giá trị
với người ngoài, người ngoài vẫn có quyền
đòi phải thi hành hợp đꢃng dù chưa có phê
chuẩn. Bởi lẽ, người đại diện của pháp nhân
mặc dù xác lập và thực hiện giao dịch vượt
quá thẩm quyền của mình, nhưng vẫn vì lợi
ích của pháp nhân. Vì vậy, pháp nhân phải
chịu trách nhiệm dân sự trong trường hợp
này, sau đó có thể yêu cꢂu người đại diện
phải thực hiện trách nhiệm dân sự với pháp
nhân về phꢂn vượt quá thẩm quyền. BLDS
Nhật Bản quy định “không có sự hạn chế
nào trong quyền đại diện của bất kỳ giám
đốc nào có thể được sử dụng chống người
thứ ba ngay tình”19.
Theo quy định của Luật Doanh nghiệp
năm 2020, công ty mẹ với tư cách là cổ đông
kiểm soát công ty con, thì người đại diện
của công ty mẹ nếu là người quản lý công
ty mẹ phải chịu trách nhiệm liên đới đền bù
thiệt hại cho công ty con nếu can thiệp vào
các hoạt đꢀng của công ty con. Sự can thiệp
của người đại diện của công ty mẹ có thể
là “can thiệp ngoài thẩm quyền của chủ sở
hữu, thành viên hoặc cổ đông và buộc công
ty con phải thực hiện hoạt động kinh doanh
trái với thông lệ kinh doanh bình thường
hoặc thực hiện hoạt động không sinh lợi
mà không đền bù hợp lý”20. Đꢁi với hành vi
này, “chủ nợ hoặc thành viên, cổ đông có
sở hữu ít nhất 01% vốn điều lệ của công ty
con có quyền nhân danh chính mình hoặc
nhân danh công ty con yêu cầu công ty mẹ
đền bù thiệt hại cho công ty con”21.
Trong pháp luật Việt Nam, Điều 167 Luật
Doanh nghiệp năm 2020 quy định: “Hợp
đồng, giao dịch phải được Đại hội đồng cổ
đông hoặc Hội đồng quản trị chấp thuận”.
Nếu người đại diện theo pháp luật của công
ty thực hiện các giao dịch thuꢀc Điều 167
mà không có sự chấp của Đại hꢀi đꢃng cổ
đông hoặc Hꢀi đꢃng quản trị thì giao dịch
đó bị coi là vượt quá thẩm quyền. Bên thứ
ba không thể bắt công ty thực hiện nghĩa
vụ của mình, mà chỉ có thể yêu cꢂu người
đại diện theo pháp luật chịu trách nhiệm cá
nhân mà thôi. Quy định hiện hành chưa bảo
vệ người thứ ba trong giao dịch với pháp
nhân, là bên được coi là yếu thế đꢁi với các
vấn đề nꢀi bꢀ của công ty.
3. Kiến nghị hoàn thiện các quy định
của pháp luật về trách nhiệm dân sự của
người đại diện pháp nhân
Như đã phân tích ở trên, sự phân biệt không
rõ ràng trong các quy định của pháp luật về
trách nhiệm của người đại diện và của pháp
nhân trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ
với bên thứ ba đã gây ảnh hưởng đến quyền
lợi hợp pháp của bên thứ ba. Khi người đại
diện của pháp nhân thực hiện việc giao dịch
đꢁi với bên thứ ba theo đúng thẩm quyền theo
quy chế nꢀi bꢀ công ty đang áp dụng, thì phát
sinh trách nhiệm của pháp nhân đꢁi với bên
thứ ba trong việc thực hiện không đúng hoặc
không thực hiện nghĩa vụ đꢁi với bên thứ ba.
Pháp nhân không thể chꢁi bỏ trách nhiệm của
mình khi cho rằng, người đại diện đã vi phạm
các quy trình, hoặc có dấu hiệu lạm quyền
trong quá trình thực hiện giao dịch.
- Trường hợp thứ năm, người đại diện
của công ty mẹ can thiệp vào hoạt động
của công ty con theo quy định của Luật
Doanh nghiệp.
19 Điều 54 BLDS Nhật Bản năm 2005.
20 Khoản 3, 4 Điều 196 Luật Doanh nghiệp năm 2020.
21 Khoản 5 Điều 196 Luật Doanh nghiệp năm 2020.
36
Số 14(438) - T7/2021
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
Rất nhiều tranh chấp liên quan đến việc
pháp nhân chꢁi bỏ trách nhiệm của giao
dịch do người đại diện của mình đã xác lập,
bằng cách yêu cꢂu cơ quan điều tra khởi tꢁ
vụ án, khởi tꢁ bị can đꢁi với người đại diện
theo pháp luật của mình về tꢀi lạm dụng
quyền hạn… Nguyên nhân của những thực
trạng này, xuất phát từ việc không rõ ràng
về trách nhiệm của pháp nhân do người đại
diện của mình xác lập.
chưa có ý kiến của Hội đồng quản trị hoặc
Đại hội đồng cổ đông…”.
Bên cạnh đó, pháp luật hiện hành cho
phép mꢀt pháp nhân có thể có nhiều người
đại diện theo pháp luật. Tuy nhiên, việc có
nhiều người đại diện theo pháp luật sẽ kéo
theo sự phân quyền quản lý và quyết định
các vấn đề thường trực của pháp nhân như
thế nào để có thể phù hợp cho các hoạt đꢀng
của pháp nhân. Người thứ ba có quan hệ
giao dịch hoặc hợp đꢃng với pháp nhân sẽ
gặp khó khăn trong việc xác định người đại
diện theo pháp luật của pháp nhân và thẩm
quyền ký kết hợp đꢃng theo điều lệ của pháp
nhân hay không. Cꢂn thiết phải quy định
về trách nhiệm của pháp nhân trong trường
hợp có nhiều người đại diện theo pháp luật
theo hướng “Mọi quy định hạn chế của pháp
nhân về phân công thẩm quyền giữa những
người đại diện theo pháp luật của mình đều
không có hiệu lực đối với bên thứ ba”.
Khi tham gia giao dịch đꢁi với các bên
liên quan, người đại diện theo pháp luật
phải thông qua sự chấp thuận của Hꢀi đꢃng
quản trị hoặc Đại hꢀi đꢃng cổ đông. Quy
định này đã dẫn đến nhiều cách hiểu khác
nhau là sự hạn chế phạm vi thẩm quyền của
người đại diện theo pháp luật hoặc chỉ là
các thủ tục mà người đại diện phải thực hiện
trước khi giao kết các hợp đꢃng, giao dịch
thuꢀc các trường hợp của Điều 167 Luật
Doanh nghiệp năm 2020 quy định.
Tuy nhiên, quy định của pháp luật phải
đảm bảo quyền lợi cho bên thứ ba, là bên
yếu thế trong quan hệ với công ty trước
những hành vi mang tính nꢀi bꢀ của công
ty. Vì vậy, tác giả cho rằng, cꢂn sꢄa đổi
Điều 167 Luật Doanh nghiệp năm 2020
theo hướng bổ sung quy định bảo đảm
quyền lợi của bên thứ ba trong giao dịch
với pháp nhân. Cụ thể bổ sung quy định
“Nếu điều lệ hạn chế quyền hạn của Chủ
tịch Hội đồng quản trị hoặc Tổng giám
đốc/Giám đốc bằng các đòi hỏi phải có sự
đồng ý trước Hội đồng quản trị hoặc Đại
hội đồng cổ đông, hoặc giá trị hợp đồng,
giao dịch ký vượt quá một mức nào đó,
thì những giới hạn này không có giá trị
với bên thứ ba; bên thứ ba vẫn có quyền
đòi phải thực hiện hợp đồng, giao dịch dù
Về vấn đề này, pháp luật của Nhật Bản
quy định “pháp nhân có một hoặc nhiều
giám đốc. Trường hợp có nhiều giám đốc,
công việc của pháp nhân sẽ được giải quyết
bởi đa số giám đốc nếu như điều khoản
thành lập pháp nhân hoặc văn bản góp vốn
không có quy định khác”22. Về vấn đề đại
diện, Bꢀ luật Dân sự Nhật Bản cũng có quy
định: “Từng giám đốc sẽ đại diện cho pháp
nhân trong tất cả mọi hoạt động song không
được làm trái với điều khoản về thành lập
hay nội dung của văn bản góp vốn”23. Việc
quy định nhiều đại diện cho pháp nhân sẽ
tạo điều kiện cho pháp nhân trong quá trình
hoạt đꢀng. Tuy vậy, pháp luật cꢂn thiết phải
đưa ra những quy định rõ hơn về phân định
thẩm quyền và trách nhiệm của các đại diện
của pháp nhân
22 Điều 52 BLDS Nhật Bản năm 2005.
23 Điều 53 BLDS Nhật Bản năm 2005.
Số 14(438) - T7/2021
37
Bạn đang xem tài liệu "Trách nhiệm dân sự của người đại diện pháp nhân", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
trach_nhiem_dan_su_cua_nguoi_dai_dien_phap_nhan.pdf

