Trách nhiệm dân sự của nền tảng số theo luật mẫu của viện luật châu Âu và những khuyến nghị cho Việt Nam

KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA NỀN TẢNG SỐ  
THEO LUẬT MẪU CỦA VIỆN LUẬT CHÂU ÂU  
VÀ NHỮNG KHUYẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM1  
Đỗ Giang Nam*  
*TS. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội  
Tóm tắt:  
Thông tin bài viết:  
Sự trỗi dậy của nền kinh tế nền tảng đã làm dấy lên những thảo luận sôi  
nổi ở châu Âu về cải cách khung pháp lý hiện hành nhằm đối phó với  
những thách thức pháp lý mới do mô hình kinh tế này tạo ra. Trong đó,  
một trong những chủ đề gây tranh luận nhiều nhất là vấn đề trách nhiệm  
dân sự của nhà điều hành nền tảng số phát sinh từ quan hệ ba bên giữa  
nền tảng số, người cung cấp và người sử dụng hàng hoá dịch vụ. Trong  
phạm vi bài viết này, tác giả đánh giá các quy định về trách nhiệm dân  
sự của nền tảng số theo Luật mẫu (Model rules on online platforms) của  
Viện Luật châu Âu (European Law Institute) và bước đầu đưa ra khuyến  
nghị về chính sách pháp lý và cơ chế pháp lý phù hợp cho Việt Nam.  
Từ khóa: Luật mẫu, Viện Luật  
châu Âu, trách nhiệm dân sự  
của nền tảng số.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 29/9/2021  
: 03/10/2021  
: 03/10/2021  
Abstract:  
Article Infomation:  
The rise of the platform economy has sparked lively discussions in  
Europe about reforming the traditional regulatory framework to address  
the new legal challenges created by this economic model. In particular,  
one of the most controversial topics is the issue of civil liability of online  
platform operators arising from the tripartite relationship between online  
platforms, suppliers and customers. The article assesses the regulations  
on civil liability of online platforms under the Model Rules on Online  
Platforms of the European Law Institute and makes recommendations on  
legal policy and appropriate legal mechanism for Vietnam..  
Keywords: Soft law; European  
Law Institute; civil liability of  
online platforms.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 29 Sep. 2021  
: 03 Oct. 2021  
: 03 Oct. 2021  
Approved  
1. Khái quát chung cách tiếp cận của  
Luật mẫu của Viện Luật châu Âu về  
trách nhiệm dân sự của nền tảng số  
Sự phát triển nhanh chóng của các nền  
tảng số (online platforms) là một trong  
những hiện tượng kinh tế-xã hội đáng chú ý  
nhất trong 10 năm trở lại đây. Nhiều lĩnh vực  
như vận tải, khách sạn, bán lẻ... đã chứng  
kiến sự chuyển dịch căn bản từ mô hình kinh  
tế truyền thống vốn dựa trên chuỗi cung cấp  
tuyến tính (pipelines) sang mô hình kinh tế  
nền tảng (platform economy), trong đó đặc  
trưng là vai trò của các nền tảng số kết nối  
giữa người cung cấp và người sử dụng hàng  
hoá, dịch vụ2.  
1
Bài viết này là một phần kết quả nghiên cứu của nhiệm vụ KH&CN cấp Khoa Luật – Đại học Quốc gia  
Hà Nội năm 2020-2021 “Trách nhiệm dân sự của nền tảng trực tuyến: Kinh nghiệm trên thế giới và khuyến nghị  
cho Việt Nam” do TS. Đỗ Giang Nam làm chủ nhiệm và Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội chủ trì.  
2 Xem tổng quan về kinh tế nền tảng tại Bram Devolder (ed), The Platform Economy, Intersentia 2019.  
42  
Số 19(443) - T10/2021  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
Sự trỗi dậy của nền kinh tế nền tảng  
đã làm dấy lên những thảo luận sôi nổi ở  
châu Âu về nhu cầu và phương thức cải  
cách khung pháp lý hiện hành để đáp ứng  
những thách thức do cấu trúc pháp lý mới  
phát sinh từ quan hệ ba bên giữa nền tảng  
số, người cung cấp hàng hoá dịch vụ, và  
người sử dụng hàng hoá dịch vụ tạo ra3.  
Trong đó, một trong những chủ đề gây  
tranh luận nhiều nhất là vấn đề trách nhiệm  
dân sự của nhà điều hành nền tảng số trong  
trường hợp có sự vi phạm hợp đồng chính  
giữa bên cung cấp và bên sử dụng hàng  
hoá, dịch vụ. Từ phía nền tảng số, họ luôn  
cho rằng, họ chỉ đóng vai trò người trung  
gian đơn thuần kết nối giữa hai bên và do  
đó, không phải chịu trách nhiệm dân sự  
phát sinh từ việc không thực hiện đúng  
hợp đồng của bên cung cấp. Tuy nhiên,  
trên thực tế, trong nhiều trường hợp nền  
tảng số đã đóng vai trò kiểm soát chi phối  
mang tính chất quyết định đến mối quan  
hệ hợp đồng chính cung cấp hàng hoá dịch  
vụ. Vì vậy, ngày càng có nhiều đề xuất về  
việc cần mở rộng việc áp đặt trách nhiệm  
dân sự lên nhà điều hành nền tảng số nhằm  
phản ánh thực chất cấu trúc quan hệ pháp  
lý giữa các bên4.  
Nhận thức rõ những vấn đề trên, ngay từ  
năm 2016, Viện Luật châu Âu đã chấp nhận  
đề xuất của một nhóm nghiên cứu bao gồm  
các học giả, luật sư để xây dựng một đạo luật  
mẫu phác thảo các quy tắc pháp lý chung  
thúc đẩy và điều tiết các mối quan hệ pháp  
lý phát sinh trong nền kinh tế nền tảng5. Sau  
gần 4 năm xây dựng, tháng 3/2020, Luật  
mẫu về nền tảng số (Luật mẫu) đã được  
Viện Luật châu Âu chính thức thông qua6.  
Nhóm nghiên cứu kỳ vọng, Luật mẫu này  
sẽ khơi nguồn cảm hứng cho việc xây dựng  
mô hình điều chỉnh pháp luật đối với nền  
tảng số trên thế giới.  
Luật mẫu đã tạo ra bước ngoặt quan  
trọng trong cuộc tranh luận xoay quanh ba  
vấn đề cơ bản sau:  
(i) Liệu có nên áp đặt trách nhiệm dân sự  
phát sinh từ hành vi vi phạm của bên cung  
ứng hàng hoá dịch vụ nếu họ đã tuyên bố  
minh thị được mình thuần tuý đóng vai trò  
trung gian (intermediary)?  
(ii) Liệu nhà điều hành nền tảng số có  
phải chịu trách nhiệm liên đới đối với hành  
vi vi phạm hợp đồng chính của bên cung  
cấp hàng hoá dịch vụ nếu họ đã “thực sự chi  
phối, kiểm soát” người cung cấp hàng hoá  
dịch vụ không?  
3 Dariusz Adamski, Lost on the Digital Platform: Europe’s Legal Travails with the Digital Single Market, 55  
Common Market Law Review 719, 2018.  
4
Bram Devolder, ‘Contractual Liability of the Platform’ in Bram Devolder (ed), The Platform Economy,  
Intersentia 2019, 31–88; Christoph Busch; Hans Schulte-Nölke; Aneta Wiewiórowska-Domagalska; Fryderyk  
Zoll, The Rise of the Platform Economy: A New Challenge for EU Consumer Law?, 5 Journal of European  
Consumer and Market Law 2016, 164-169; Caroline Cauffmann, ‘The Commission’s European Agenda for the  
Collaborative Economy – (Too) Platform and Service Provider Friendly?’ EuCML 2016, 240.  
5 Viện Luật châu Âu được thành lập từ năm 2011 với sứ mệnh thúc đẩy các nghiên cứu hàn lâm và ứng dụng,  
nhằm đưa ra các khuyến nghị xây dựng, hài hoà hoá pháp luật ở châu Âu - Research Group on the Law of  
Digital Services, Discussion Draft of a Directive on Online Intermediary Platforms, EuCML 2016, 164–169.  
6 Report of the European Law Institute: Model rules on online platforms, 2019 https://www.europeanlawinstitute.  
eu/fileadmin/user_upload/p_eli/Publications/ELI_Model_Rules_on_Online_Platforms.pdf, truy cập 15.9.2021.  
Số 19(443) - T10/2021  
43  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
(iii) Liệu nhà điều hành nền tảng số có phải  
chịu trách nhiệm do đã vi phạm nghĩa vụ cẩn  
trọng đối với người sử dụng nền tảng số?7  
- Liên quan đến vấn đề thứ nhất, Luật  
mẫu đã tiếp cận theo hướng cần áp đặt  
trách nhiệm dân sự lên nền tảng số nếu họ  
đã không minh bạch hoá vai trò trung gian  
của mình cho bên sử dụng hàng hoá, dịch vụ  
được biết. Cụ thể, Luật mẫu quy định trước  
khi hợp đồng chính giữa bên cung cấp và bên  
sử dụng hàng hoá, dịch vụ được xác lập, nhà  
điều hành nền tảng số phải thông báo cho  
người sử dụng một cách rõ ràng và minh thị  
rằng họ sẽ giao kết hợp đồng với nhà cung  
cấp chứ không phải với nhà điều hành nền  
tảng số8. Vì vậy, nếu nhà điều hành nền tảng  
số vi phạm quy định về tính minh bạch này,  
Luật mẫu cho phép bên sử dụng hàng hoá,  
dịch vụ có thể áp dụng các quy định về quyền  
và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng chính giữa  
bên cung cấp và bên sử dụng hàng hoá, dịch  
vụ– để chống lại nền tảng số9. Ngay cả trong  
trường hợp này, các nhà điều hành nền tảng  
số cũng không đương nhiên trở thành một  
bên trong hợp đồng giữa bên cung cấp và  
bên sử dụng10. Tuy nhiên, việc vi phạm quy  
định về minh bạch hoá vị trí nền tảng trung  
gian của họ, sẽ dẫn đến hậu quả bất lợi là  
họ sẽ phải chịu trách nhiệm dân sự tương  
đương như trách nhiệm dân sự phát sinh từ  
hợp đồng chính giữa bên cung cấp và bên sử  
dụng hàng hoá, dịch vụ.  
Cách tiếp trên của Luật mẫu, thực tế  
không hoàn toàn mới, mà là sự kế thừa các  
án lệ quan trọng của Toà án Công lý châu  
Âu nhằm giải thích Chỉ thị số 1999/44/EC  
ngày 25/5/1999 về việc mua bán hàng hóa  
tiêu dùng. Trong án lệ Wathelet (C-149/15  
ngày 9/11/2016), Toà án Công lý châu Âu  
nhấn mạnh rằng, trong những hoàn cảnh mà  
người tiêu dùng có thể dễ dàng bị lừa dối  
do điều kiện giao dịch chung không rõ ràng  
thì cần phải có biện pháp bảo vệ bổ sung  
cho họ. Theo đó, nếu sự thiếu minh bạch  
của những nền tảng số trung gian tạo ra khả  
năng nhầm lẫn trong tâm trí người tiêu dùng  
khiến họ tin rằng nền tảng số trung gian  
chính là chủ sở hữu của hàng hóa, thì các  
nền tảng số đó cũng phải chịu trách nhiệm  
dân sự phát sinh từ việc không thực hiện  
đúng hợp đồng mua bán tương tự như trách  
nhiệm hợp đồng của bên bán hàng11  
.
Về chính sách lập pháp, có thể thấy rằng,  
việc áp đặt trách nhiệm dân sự lên nhà điều  
hành nền tảng số trong trường hợp này là  
nhằm thúc đẩy nền tảng số phải nỗ lực hơn  
trong việc cung cấp thông tin cho người tiêu  
dùng về vai trò trung gian của mình. Chế  
định trên cũng hướng tới bảo vệ quyền và  
lợi ích chính đáng của người tiêu dùng: một  
khi họ biết rõ chính xác rằng nhà vận hành  
nền tảng số chỉ đóng vai trò trung gian, mà  
không phải là một bên trong quan hệ hợp  
đồng chính, thì họ sẽ cân nhắc cẩn trọng  
7 Hiển nhiên, trong trường hợp các nhà điều hành nền tảng số vi phạm các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng giữa họ  
với người sử dụng nền tảng số, họ sẽ phải chịu trách nhiệm dân sự. Tuy nhiên, trong trường hợp này cơ chế pháp  
lý được áp dụng đơn thuần là các quy phạm của luật hợp đồng truyền thống. Do vậy, Luật mẫu không tập trung  
vào vấn đề này, mà chỉ tập trung vào các thách thức phi truyền thống mà mô hình kinh tế nền tảng đang đặt ra.  
8 Xem Điều 13 Luật mẫu về nền tảng số.  
9 Xem Điều 19 Luật mẫu về nền tảng số.  
10 Report of the European Law Institute: Model rules on online platforms, 2019, p.39.  
11 CJEU, Case C-149/15 Wathelet v. Garage Bietheres & Fils SPRL, ECLI:EU:C:2016:840, 9/11/2016.  
44  
Số 19(443) - T10/2021  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
hơn trước khi giao kết hợp đồng chính với  
bên cung cấp. Từ góc độ của pháp luật hợp  
đồng, việc áp đặt nghĩa vụ minh bạch hoá  
vị trí của nền tảng số hoàn toàn phù hợp và  
tương thích với triết lý giới hạn sự can thiệp  
của pháp luật ở mức độ tối thiểu bằng nghĩa  
vụ cung cấp thông tin để giảm thiểu sự bất  
cân xứng thông tin giữa các bên nhưng  
đồng thời vẫn tôn trọng quyền tự do hợp  
đồng của các bên.  
- Điểm cải cách đột phá nhất của Luật  
mẫu của Viện Luật châu Âu về nền tảng số  
chính là vấn đề pháp lý thứ hai liên quan  
việc tăng cường áp đặt trách nhiệm dân  
sự lên nền tảng số ngay cả khi họ đã thoả  
mãn yêu cầu minh bạch hoá vai trò trung  
gian của họ. Khoản 1 Điều 20 Luật mẫu  
đã quy định, người tiêu dùng có thể buộc  
nhà điều hành nền tảng số chịu trách nhiệm  
dân sự đối với việc vi phạm nghĩa vụ của  
bên cung cấp hàng hoá, dịch vụ nếu người  
tiêu dùng có cơ sở hợp lý để tin tưởng rằng  
nền tảng số đã “chi phối, kiểm soát thực tế”  
(predominant influence) đối với bên cung  
cấp hàng hoá, dịch vụ. Để hướng dẫn quy  
định chung này, khoản 2 Điều 20 đã đưa  
ra một danh sách bao gồm các tiêu chí bổ  
sung cần được xem xét đánh giá mức độ  
“chi phối, kiểm soát” của nền tảng số đối  
với từng trường hợp cụ thể. Các tiêu chí này  
có thể phân chia một cách tương đối làm hai  
nhóm sau:  
được ký kết trên phương tiện duy nhất do  
nền tảng số cung cấp); (ii) phương thức tiếp  
thị (tiếp thị tập trung vào nhà điều hành nền  
tảng số chứ không phải bên cung cấp hàng  
hoá, dịch vụ);  
+ Nhóm 2 bao gồm những yếu tố ảnh  
hưởng chủ yếu đến nội dung của hợp đồng  
như: (i) khả năng nhà điều hành nền tảng  
kiểm soát phương tiện thanh toán cho phép  
họ giữ lại các khoản thanh toán của khách  
hàng; (ii) nội dung các điều khoản hợp đồng  
chính giữa bên cung cấp hàng hoá và khách  
hàng do nhà điều hành nền tảng xác định;  
(iii) mức giá mà khách hàng phải trả bị  
kiểm soát bởi nhà điều hành nền tảng.  
Như vậy, theo Luật mẫu về nền tảng số,  
trách nhiệm dân sự đối với nhà điều hành  
nền tảng số sẽ phát sinh nếu có cơ sở chứng  
minh khách hàng đã tin tưởng một cách hợp  
lý rằng nền tảng số chính là một bên hợp  
đồng cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho họ.  
Cụ thể, trong những trường hợp này, thay vì  
đơn thuần thực hiện chức năng là bên trung  
gian cung cấp dịch vụ nền tảng, nhà điều  
hành nền tảng số đã hành xử một cách tích  
cực theo hướng can thiệp trực tiếp, kiểm  
soát và chi phối hợp đồng chính giữa khách  
hàng - nhà cung cấp12.  
Việc Luật mẫu sử dụng bài kiểm tra  
“chi phối, kiểm soát thực tế” (predominant  
influence) đối với bên cung cấp hàng hoá,  
dịch vụ làm tiêu chí để xác định trách nhiệm  
của người điều hành nền tảng số, hiển nhiên  
gợi sự liên tưởng tới hai án lệ nổi tiếng Uber  
+ Nhóm 1 bao gồm những yếu tố đánh  
giá kiểm soát về hình thức như: (i) phương  
thức giao kết hợp đồng (hợp đồng chính  
12  
(C-435/15 ngày 20/12/2017)13  
và Airbnb  
Xem bình luận thêm quy định này tại Marlena Pecyna, Liability of the Platform Operator for the Non-  
Performance of Suppliers in Christoph Busch (eds) Discussion Draft of a Directive on Online Intermediary  
Platforms: Commentary, Jagiellonian University Press 2019, 157-165.  
13 CJEU, Case C-434/15, Asociación Profesional Elite Taxi v Uber Systems Spain SL, ECLI:EU:C:2017:981.,  
20/12/2017  
Số 19(443) - T10/2021  
45  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
(C-390/18 ngày 19/12/2019)14 của Toà án  
Công lý châu Âu liên quan đến giải thích  
Chỉ thị 2000/31/EC về thương mại điện  
tử. Điều 2(a) của Chỉ thị này quy định các  
quốc gia thành viên của Liên minh châu  
Âu không được phép hạn chế quyền tự do  
của nền tảng số cung cấp dịch vụ thông tin  
xuyên biên giới. Vì vậy, câu hỏi mấu chốt  
đặt ra là liệu các nền tảng thông tin như  
Uber, Airbnb có được coi là nền tảng trung  
gian đơn thuần cung cấp các dịch vụ thông  
tin (information society services) hay phải  
được coi là người cung cấp dịch vụ vận tải  
hoặc lưu trú.  
Trong án lệ Uber, Toà án Công lý châu  
Âu đã nhận định rằng dịch vụ cung cấp  
bởi Uber đã vượt quá phạm vi của dịch vụ  
cung cấp thông tin (information society  
services) - vốn được định nghĩa là các dịch  
vụ được cung cấp bằng phương tiện điện  
tử và theo yêu cầu cá nhân của người nhận  
nhằm kết nối người sử dụng dịch vụ. Theo  
Toà án Công lý châu Âu, thực tế Uber đã có  
sự chi phối mang tính quyết định (decisive  
influence) đối với quan hệ cung cấp dịch  
vụ vận chuyển của người lái xe và hành  
khách15. Thứ nhất, Uber cung cấp nền tảng  
kỹ thuật số cho người lái xe và hành khách,  
và nền tảng này đã tạo lập thị trường mà nếu  
không có nó những người lái xe sẽ không  
thể cung cấp dịch vụ vận tải. Thứ hai, quan  
trọng hơn là việc Uber đã quyết định: (i)  
giá dịch vụ, (ii) trực tiếp nhận khoản thanh  
toán từ hành khách (sau đó mới chi trả một  
phần cho tài xế và một phần được Uber giữ  
lại như khoản lợi nhuận từ sự vận hành nền  
tảng kỹ thuật số và (iii) Uber đã thực hiện  
kiểm soát chất lượng phương tiện, tài xế và  
hành vi của họ. Do đó, Toà án Công lý châu  
Âu phán quyết rằng, dịch vụ được tạo ra bởi  
nền tảng số Uber phải được coi là “một bộ  
phận cấu thành của một dịch vụ tổng thể  
mà trong đó thành phần chính yếu của nó  
là dịch vụ vận tải và như vậy nó không thể  
được coi là dịch vụ thông tin đơn thuần”16.  
Trong án lệ Airbnb, Toà án Công lý châu  
Âu đã một lần nữa khẳng định giá trị của  
bài kiểm tra Uber và áp dụng bài kiểm tra  
này để xem xét dịch vụ nền tảng số cung  
cấp bởi Airbnb Ireland có được xem là dịch  
vụ cung cấp thông tin đơn thuần hay phải  
xem là dịch vụ cung cấp lưu trú. Tuy nhiên,  
trái với phán quyết trong án lệ Uber, Toà  
án đã cho rằng, trong mô hình kinh doanh  
của Airbnb, các nhà điều hành nền tảng đã  
không chi phối mang tính quyết định đối  
với dịch vụ lưu trú được cung cấp bởi chủ  
sở hữu căn hộ và khách hàng; do đó, phải  
được xem là dịch vụ cung cấp thông tin  
đơn thuần17.  
Ý nghĩa pháp lý quan trọng nhất của án  
lệ Uber là việc Toà án đã xây dựng một bài  
kiểm tra (sau này thường được gọi là Uber  
test) để xác định khi nào một nền tảng số đã  
trở thành người tạo lập thị trường (market  
maker) có ảnh hưởng chi phối mang tính  
quyết định lên người cung cấp hàng hoá,  
dịch vụ đến mức họ không thể được coi là  
nền tảng trung gian đơn thuần. Như đã phân  
tích, trên thực tế, bài kiểm tra Uber đã được  
14 CJEU, Case C-390/18, ECLI:EU:C:2019:1112, 19/12/2019.  
15 CJEU, C-435/15, para.40.  
16 CJEU, C-435/15, para.40.  
17 CJEU, Case C-390/18.  
46  
Số 19(443) - T10/2021  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
Luật mẫu kế thừa và phát triển khi xây dựng  
chế độ trách nhiệm dân sự của người điều  
hành nền tảng số. Về mặt kỹ thuật pháp  
lý, việc kết hợp đồng thời quy định chung  
(general clause) và quy định đưa ra tiêu chí  
cụ thể để đánh giá “mức độ, chi phối kiểm  
soát” của nền tảng số là hợp lý, phù hợp  
với tính chất đa dạng, phức tạp của các loại  
thị trường liên quan có thể được vận hành  
trên nền tảng số. Về chính sách pháp lý,  
có thể hiểu rằng, Luật mẫu đã chuyển hoá,  
đưa các quy định trong các án lệ trên thành  
quy định chung về trách nhiệm dân sự của  
nền tảng số. Trong đó, hướng tới xây dựng  
những tiêu chí khách quan để đánh giá mức  
độ “kiểm soát, chi phối” của nền tảng số  
dựa vào cách thức người điều hành nền tảng  
điều tiết mối quan hệ của mình với các bên  
cung cấp hàng hóa và dịch vụ (ví dụ cách  
thiết kế hệ thống thanh toán và cách kiểm  
soát giá cả, dịch vụ của nhà cung cấp). Tuy  
nhiên, việc chuyển hoá quy định vốn được  
tạo ra để nhằm mục đích thúc đẩy lợi ích  
công vào thành các quy định điều tiết quan  
hệ tư giữa các chủ thể cũng đặt ra khá nhiều  
thách thức, đặc biệt là sự phù hợp của cách  
tiếp cận này với các nguyên lý chung của  
luật hợp đồng vốn dựa trên ý niệm tự do ý  
chí và hiệu lực tương đối của hợp đồng.18  
Đặc biệt, xét về tính hệ thống của quy định  
về trách nhiệm dân sự đối với nền tảng số,  
bên cạnh quy định tại Điều 20 nêu trên,  
Luật mẫu còn có những quy định bổ sung  
áp đặt trách nhiệm của nền tảng số. Trong  
đó, Điều 23 Luật mẫu đã quy định về trách  
nhiệm của nền tảng số trong trường hợp  
18  
nền tảng số này tự nguyện đưa ra các bảo  
đảm đối với hành vi không thực hiện đúng  
hợp đồng của bên cung cấp dịch vụ; Điều  
19 Luật mẫu như quy định trách nhiệm liên  
đới lên nền tảng số nếu họ không đáp ứng  
yêu cầu minh bạch hoá vai trò nền tảng số.  
- Vấn đề thứ ba liên quan đến nghĩa vụ  
cẩn trọng của nền tảng số đối với người  
dùng (bao gồm cả bên cung cấp và bên sử  
dụng hàng hoá, dịch vụ). Kế thừa cách tiếp  
cận truyền thống của pháp luật châu Âu về  
khuyến khích và bảo vệ tự do internet, Luật  
mẫu khẳng định nguyên tắc chung là nền  
tảng số không có nghĩa vụ giám sát hoạt  
động của người dùng nền tảng số, cũng như  
bất kỳ thông tin nào được người dùng tải  
lên nền tảng số19  
. Tuy nhiên, bên cạnh quy  
định chung về loại trừ trách nhiệm dân sự  
nêu trên, Luật mẫu đưa ra những trường  
hợp ngoại lệ nhằm áp đặt trách nhiệm dân  
sự lên nhà điều hành nền tảng số trong hai  
trường hợp cơ bản sau:  
Thứ nhất, khoản 2 Điều 8 Luật mẫu quy  
định nếu nhà điều hành nền tảng số có bằng  
chứng đáng tin cậy về hành vi bất hợp pháp  
gây bất lợi cho người dùng khác, bao gồm:  
(i) hành vi phạm tội hình sự của một nhà  
cung cấp hoặc khách hàng, (ii) hành vi của  
một nhà cung cấp hoặc khách hàng có khả  
năng xâm phạm tính mạng sức khoẻ, quyền  
nhân thân khác hay quyền tài sản của người  
dùng nền tảng số - họ phải có nghĩa vụ thực  
hiện các biện pháp thích hợp để ngăn ngừa  
tổn hại cho những người dùng khác. Nếu vi  
phạm nghĩa vụ đó, nhà điều hành nền tảng  
số sẽ phải chịu trách nhiệm dân sự về thiệt  
Domurath I, Platforms as contract partners: Uber and beyond, Maastricht Journal of European and  
Comparative Law, 2018, 565.  
19 Xem khoản 1 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật mẫu về nền tảng số.  
Số 19(443) - T10/2021  
47  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
hại gây ra cho người dùng nền tảng. Về nội  
dung, mặc dù kế thừa quy định trước đó  
của Chỉ thị về thương mại điện tử 2000/31/  
EC, nhưng Luật mẫu đã có những cải cách  
theo hướng truyền tải thông điệp mạnh mẽ  
hơn nhằm thúc đẩy nghĩa vụ tích cực của  
nền tảng số để bảo vệ người dùng nền tảng.  
Thực vậy, Điều 14 của Chỉ thị về thương  
mại điện tử 2000/31/EC không quy định  
trực tiếp về áp đặt bất cứ nghĩa vụ nền tảng  
số, thay vào đó quy định về cơ chế miễn trừ  
trách nhiệm cho các nhà cung cấp dịch vụ;  
trong khi đó, Luật mẫu quy định trực tiếp  
một số nghĩa vụ cơ bản của nhà điều hành  
nền tảng số để bảo vệ người sử dụng nền  
tảng, việc vi phạm nghĩa vụ này sẽ khiến  
nhà điều hành nền tảng số phải chịu trách  
nhiệm dân sự đối với người sử dụng nền  
tảng số20.  
nhận được thông báo trên, nhà điều hành  
nền tảng số phải hợp tác với người đưa ra  
thông báo để không chỉ để xác minh, gỡ bỏ  
những thông tin gây nhầm lẫn cho người  
dùng, mà còn phải thực hiện những nghĩa  
vụ tích cực hơn như tiến hành các biện pháp  
hợp lý và cần thiết để cải chính những nội  
dung sai lệch21.  
Như vậy, trên cơ sở quy định hiện hành  
của pháp luật châu Âu về thương mại điện  
tử, Luật mẫu đã tiếp cận theo hướng tăng  
cường áp đặt nghĩa vụ cẩn trọng lên nhà  
điều hành nền tảng số. Điều này xuất phát  
từ vai trò trung tâm của nền tảng số trong  
mô hình này: một mặt nền tảng số chính  
là người tạo lập thị trường kết nối các bên;  
mặt khác, nền tảng số khai thác thương mại,  
thu lợi nhuận từ quan hệ cung cấp hàng hoá  
dịch vụ giữa các bên. Chính vì vai trò trung  
tâm của mình, nhà điều hành nền tảng số  
phải có nghĩa vụ duy trì và bảo đảm quyền  
và lợi ích của người sử dụng khi họ tham  
gia thị trường và do vậy, phải chịu trách  
nhiệm dân sự nếu thất bại trong việc tiến  
hành các biện pháp hợp lý và tương xứng để  
phản ứng, hiệu chỉnh những hành vi, thông  
tin sai lệch, gây nhầm lẫn hoặc tạo ra nguy  
cơ rủi ro, mất an toàn đối với người sử dụng  
thị trường.  
Thứ hai, khoản 2 Điều 9 Luật mẫu quy  
định các nhà điều hành nền tảng số sẽ phải  
chịu trách nhiệm dân sự nếu họ không thực  
hiện các bước hợp lý và phù hợp khi nhận  
được thông báo của người dùng nền tảng số  
về các thông tin gây nhầm lẫn (misleding  
informnation) được đăng tải trên nền tảng  
bởi người dùng khác. Tương tự như trường  
hợp trên, quy định này kế thừa quy định của  
Điều 14 (1) (b) Chỉ thị thương mại điện tử  
2000/31/EC, theo đó nếu nhà điều hành nền  
tảng số nhận được thông báo về thông tin  
sai lệch, gây nhầm lẫn họ phải thực hiện các  
bước hợp lý để loại bỏ hoặc vô hiệu hoá  
thông tin sai lệch đó. Tuy nhiên, Luật mẫu  
đã mở rộng thêm theo hướng áp đặt nhiều  
nghĩa vụ hơn lên nhà điều hành nền tảng  
số. Cụ thể, theo Luật mẫu, trong trường hợp  
2. Những khuyến nghị cho Việt Nam  
trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật  
về trách nhiệm dân sự của nền tảng số  
Kinh tế nền tảng đã trở thành xu thế  
không thể đảo ngược và sẽ ngày đóng vai trò  
quan trọng trong xã hội Việt Nam. Mô hình  
kinh tế nền tảng đặc trưng bởi mối quan hệ  
tam giác giữa ba bên nền tảng số (platform),  
20 Report of the European Law Institute: Model rules on online platforms, 2019, p.30.  
21 Report of the European Law Institute: Model rules on online platforms, 2019, tr.31.  
48  
Số 19(443) - T10/2021  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
bên cung cấp hàng hoá dịch vụ (supplier)  
và khách hàng (customer) thông qua ba hợp  
đồng tương tác lẫn nhau là “hợp đồng giữa  
bên cung cấp- khách hàng”, “hợp đồng giữa  
nền tảng số và bên cung cấp hàng hoá, dịch  
vụ” và “hợp đồng giữa nền tảng số và khách  
hàng”. Trung tâm của cấu trúc này là vai  
trò trung gian của nền tảng số kết nối nhóm  
nhà cung ứng với nhóm khách hàng. Các  
nhà vận hành nền tảng, về nguyên tắc, đều  
cho rằng, mình chỉ đơn thuần là nơi cung  
cấp kết nối giữa các bên, mà không trực tiếp  
tham gia chuỗi cung ứng để cung cấp hàng  
hoá, dịch vụ cho khách hàng. Tuy nhiên,  
trên thực tế trong rất nhiều trường hợp,  
các nền tảng số đã kiểm soát mang tính chi  
phối, áp đặt luật chơi cho các bên bằng cách  
soạn thảo tất cả các hợp đồng theo mẫu điều  
tiết các mối quan hệ pháp lý không chỉ giữa  
họ với người cung ứng và người tiêu dùng  
mà cả giữa người cung ứng với người tiêu  
dùng. Vì vậy, giống như tình trạng ở nhiều  
quốc gia khác, mô hình kinh tế nền tảng số  
đã và đang tạo ra các thách thức lớn đối với  
khung pháp lý hiện hành của Việt Nam vốn  
được xây dựng để điều chỉnh mối quan hệ  
hợp đồng mang tính tuyến tính từ người sản  
xuất, người cung cấp đến khách hàng.  
sẻ là quan hệ ba bên nên các chính sách  
kèm theo cần xử lý được mối quan hệ này  
thay vì quan hệ giữa hai đối tác trong hợp  
đồng kinh tế như trước đây22; trong Kế  
hoạch tổng thể phát triển thương mại điện  
tử quốc gia giai đoạn 2021 – 2025 ban  
hành kèm theo Quyết định số 645/QĐ-  
TTg ngày 15/5/2021, Chính phủ đã hướng  
tới nghiên cứu chính sách thiết lập cơ chế  
nhằm tăng cường trách nhiệm và vai trò  
của các doanh nghiệp vận hành nền tảng  
công nghệ cho thương mại điện tử trong  
việc quản lý các giao dịch trên nền tảng  
của mình23; Nghị định 85/2021/NĐ-CP ban  
hành ngày 25/9/2021 sửa đổi, bổ sung một  
số điều của nghị định số 52/2013/NĐ-CP  
ngày 16/5/2013 của Chính phủ về thương  
mại điện tử đã đưa ra một số quy định mới  
nhằm áp đặt trách nhiệm liên đới lên chủ  
sàn giao dịch điện trong trường hợp không  
thực hiện nghĩa vụ xử lý kịp thời khi phát  
hiện hoặc nhận được phản ánh về hành  
vi kinh doanh vi phạm pháp luật trên sàn  
giao dịch thương mại điện tử; Nghị định  
số 10/2020/NĐ-CP ngày 17/01/2020 của  
Chính phủ đã quy định về trách nhiệm của  
nền tảng số trong lĩnh vực vận tải bằng  
xe ôtô.  
Ở các mức độ khác nhau, các nhà hoạch  
định chính sách ở Việt Nam đã nhận diện  
những thách thức này và đang hướng tới  
xây dựng khung pháp lý điều chỉnh phù  
hợp. Cụ thể, trong Đề án thúc đẩy mô hình  
kinh tế chia sẻ ban hành kèm theo Quyết  
định số 999/QĐ-TTg ngày 12/8/2019,  
Chính phủ đã nhận định rằng, do quan  
hệ hợp đồng mới trong nền kinh tế chia  
Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể,  
chúng ta vẫn chưa xây dựng được một cách  
tiếp cận hệ thống về cơ chế pháp lý mới  
phân bổ trách nhiệm phù hợp trong mối  
mối quan hệ tam giác giữa nhà điều hành  
nền tảng số, người cung cấp và người sử  
dụng hàng hoá dịch vụ. Trên cơ sở nghiên  
cứu Luật mẫu, có thể rút ra một số khuyến  
nghị cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp  
22 Xem Đề án thúc đẩy mô hình kinh tế chia sẻ, tr. 29.  
23 Xem Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử quốc gia giai đoạn 2021 - 2025, tr. 4.  
Số 19(443) - T10/2021  
49  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
luật về trách nhiệm dân sự của nền tảng số  
sau đây:  
trong mối quan hệ với nền tảng số và bên  
cung ứng hàng hoá dịch vụ.  
Kinh nghiệm của Luật mẫu cũng cho  
thấy, các mô hình nền tảng số rất đa dạng,  
khác nhau giữa các lĩnh vực. Vì vậy, khung  
pháp lý điều tiết nền tảng số cần phải đáp  
ứng yêu cầu kép là vừa phải linh hoạt, nhưng  
cũng đảm bảo tính khả đoán, xác định.  
Thứ nhất, về chính sách pháp lý  
Quy định của Luật mẫu cho thấy, triết lý  
chủ đạo định hướng việc xây dựng khung  
pháp lý về trách nhiệm dân sự của nền tảng  
số là nhu cầu cân bằng giữa mục tiêu thúc  
đẩy sáng tạo (innovation) và bảo vệ người  
tiêu dùng (consumer protection), cạnh tranh  
công bằng (fair competition) trong nền kinh  
tế nền tảng. Trước hết, cần phải nhận thức  
rằng, các nền tảng số, với tư cách là ứng  
dụng mới nổi bật của quá trình đổi mới,  
sáng tạo về công nghệ, phải được xem như  
là “một cơ hội, chứ không phải là mối đe  
doạ”24. Vì vậy, cần xây dựng quy chế pháp  
lý về trách nhiệm dân sự của nền tảng số  
theo hướng thân thiện với quá trình đổi mới  
công nghệ. Đặc biệt, khi nền kinh tế nền  
tảng vẫn còn ở giai đoạn phát triển ban đầu,  
cần tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp tục  
đổi mới nền tảng công nghệ, tránh xây dựng  
các quy tắc pháp lý quá cứng nhắc tạo ra  
nguy cơ cản trở, kìm hãm sự đổi mới và  
sáng tạo25. Tuy nhiên, bên cạnh việc thúc  
đẩy đổi mới sáng tạo, khung pháp lý mới  
phải hướng tới mục đích bảo vệ người tiêu  
dùng và cạnh tranh lành mạnh, công bằng  
trong nền kinh tế nền tảng. Do vậy, để tránh  
nguy cơ lạm dụng quyền của nền tảng số,  
cần có cơ chế pháp lý phù hợp để áp đặt  
trách nhiệm pháp lý tối thiểu lên nhà điều  
hành nền tảng số, đặc biệt nhằm đảm bảo  
quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng  
24  
Thứ hai, về cơ chế trách nhiệm  
Quy định của Luật mẫu cho thấy, trách  
nhiệm dân sự của nhà điều hành số được  
phân thành hai loại: (i) trách nhiệm bồi  
thường thiệt hại ngoài hợp đồng do vi phạm  
nghĩa vụ cẩn trọng và (ii) trách nhiệm liên  
đới từ hành vi vi phạm hợp đồng chính của  
bên cung cấp hàng hoá, dịch vụ.  
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại  
ngoài hợp đồng của nhà điều hành số, Luật  
mẫu áp đặt nghĩa vụ cẩn trọng lên nhà điều  
hành nền tảng số đối với người sử dụng.  
Về nguyên tắc, xuất phát từ quan hệ ba bên  
chặt chẽ giữa nền tảng số, người cung cấp  
và người sử dụng; vì vậy, cần thiết lập, áp  
đặt nghĩa vụ tích cực lên nền tảng số để bảo  
vệ quyền và lợi ích chính đáng của người sử  
dụng nền tảng thông qua quy định về nghĩa  
vụ hợp tác của nhà điều hành nền tảng số để  
xác minh, gỡ bỏ không những thông tin mua  
bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thuộc danh  
mục hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, mà  
cả những thông tin gây nhầm lẫn cho người  
sử dụng nền tảng, hay thậm chí, còn có thể  
buộc họ phải thực hiện những nghĩa vụ tích  
cực hơn nữa như tiến hành các biện pháp  
Research Group on the Law of Digital Services, Discussion Draft of a Directive on Online Intermediary  
Platforms, EuCML 2016, 165.  
25 Aneta Wiewiſrowska-Domagalska, Online Platforms: How to Adapt Regulatory Framework to the Digital  
BRIE/2017/607323/IPOL_BRI(2017)607323_EN.pdf, truy cập ngày 15.9.2021  
50  
Số 19(443) - T10/2021  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
hợp lý và cần thiết để cải chính những nội  
dung thông tin sai lệch để bảo vệ người sử  
dụng nền tảng số.  
giải pháp thứ hai của Luật mẫu nhằm áp  
đặt trách nhiệm dân sự lên nhà điều hành  
số ngay khi có cơ sở chứng minh thực tế  
sự “kiểm soát chi phối” của họ đối với  
người cung cấp. Cách tiếp cận này sẽ xung  
đột đối với nguyên tắc tự do hợp đồng –  
nguyên tắc cơ bản của luật hợp đồng vốn  
dựa trên nền tảng sự thống nhất ý chí của  
các bên. Đặc biệt, cần lưu ý rằng trên thực  
tiễn trong các hợp đồng với người sử dụng  
nền tảng, nhà điều hành nền tảng số thông  
thường đều đã thể hiện ý chí công khai,  
minh bạch là mình chỉ là thiết chế trung  
gian và không chịu trách nhiệm về việc vi  
phạm hợp đồng chính giữa các bên. Bên  
cạnh đó, trong bối cảnh nền kinh tế số Việt  
Nam vẫn đang ở trong giai đoạn sơ khởi,  
việc áp đặt trách nhiệm nặng nề lên nền  
tảng số có thể tạo ra hiệu ứng ngược, cản  
trở việc phát triển mô hình kinh tế nền  
tảng trong tương lai. Vì vậy, có lẽ trong  
giai đoạn hiện nay, chưa nên thiết lập quy  
định chung áp đặt trách nhiệm liên đới lên  
các nền tảng số chỉ bởi vì họ đã kiểm soát  
chi phối bên cung cấp hàng hoá dịch vụ,  
mà chỉ nên tập trung quy định về nghĩa vụ  
minh bạch hoá vai trò của nền tảng số. Tuy  
nhiên, điều đó không có nghĩa là chúng ta  
chỉ nên sử dụng các cơ chế truyền thống  
của luật hợp đồng để điều tiết vai trò của  
nền tảng số. Từ bài học của việc xây dựng  
mô hình trách nhiệm sản phẩm trong Luật  
Bảo vệ người tiêu dùng năm 2010 để đối  
phó với thiệt hại do sản phẩm khuyết tật  
gây ra, một hướng đi khả dĩ là chúng ta  
cũng cần nghiên cứu để có thể từng bước  
mở rộng cơ chế trách nhiệm sản phẩm để  
đáp ứng thách thức mới mà mô hình cấu  
Về trách nhiệm liên đới từ hành vi vi  
phạm hợp đồng chính của bên cung ứng  
hàng hoá, dịch vụ, Luật mẫu quy định tăng  
cường trách nhiệm dân sự lên nhà điều hành  
nền tảng số phát sinh từ hành vi vi phạm  
nghĩa vụ của bên cung ứng hàng hoá dịch  
vụ trong hai trường hợp: (i) nhà điều hành  
nền tảng số đã không minh bạch về vai trò  
trung gian của mình; (ii) nền tảng số đã “chi  
phối, kiểm soát thực tế” đối với bên cung  
cấp. Chúng tôi cho rằng, cách tiếp cận theo  
hướng áp đặt trách nhiệm liên đới của nhà  
điều hành nền tảng số trong trường hợp họ  
đã không nỗ lực để cung cấp thông tin cho  
người tiêu dùng về vai trò trung gian, dẫn  
đến việc người tiêu dùng có khả năng nhầm  
lẫn (chính họ là bên cung cấp hàng hoá  
dịch vụ) là hoàn toàn cần thiết và phù hợp  
với khung pháp luật Việt Nam hiện hành.  
Triết lý của việc áp đặt trách nhiệm trong  
trường hợp này là một mặt khuyến khích  
tính minh bạch của nền tảng số, thúc đẩy  
họ cung cấp thông tin cho người tiêu dùng  
về vai trò trung gian của mình, từ đó khắc  
phục tình trạng bất cân xứng về thông tin,  
giúp người tiêu dùng có lựa chọn phù hợp  
khi biết chính xác đối tác cung cấp hàng  
hoá cho mình. Mặt khác, cách tiếp cận dựa  
trên nguyên tắc cung cấp thông tin này- là  
những sự can thiệp tối thiểu vào quan hệ  
hợp đồng giữa các bên- phù hợp với xu thế  
phát triển của luật hợp đồng Việt Nam hiện  
đại hướng tới sự cân bằng giữa sự tự do và  
thiện chí trong quan hệ hợp đồng.  
Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, Việt Nam  
cần cân nhắc kỹ lưỡng nếu muốn tiếp nhận  
trúc của nền tảng số đặt ra  
Số 19(443) - T10/2021  
51  
pdf 10 trang Thùy Anh 8180 Free
Bạn đang xem tài liệu "Trách nhiệm dân sự của nền tảng số theo luật mẫu của viện luật châu Âu và những khuyến nghị cho Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftrach_nhiem_dan_su_cua_nen_tang_so_theo_luat_mau_cua_vien_lu.pdf