Cải cách thủ tục tố tụng hành chính trong tiến trình cải cách tư pháp ở Việt Nam
CẢI CÁCH THỦ TỤC TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH...
TRONG TIẾN TRÌNH CẢI CÁCH TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM
NGUYỄN TUẤN KHANH*
Bài viết tập trung phân tích, chỉ rõ một số ưu điểm và hạn chế của thủ tục tố tụng hình
chính trong bảo vệ quyền khởi kiện của đương sự. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả của thủ tục tố tụng hành chính trong tiến trình cải cách tư pháp
ở Việt Nam hiện nay.
Từ khóa: Thủ tục tố tụng hành chính, cải cách tư pháp, bảo vệ quyền khởi kiện.
Ngày nhận bài: 22/7/2020; Biên tập xong: 10/8/2020; Duyệt đăng: 02/10/2020.
The article analyzes some advantages and disadvantages of administrative procedures
in protecting the litigant’s right to sue. Thereby, the author gives a number of solutions to
improve the efficiency of that procedures in judicial reform process of Vietnam.
Keywords: Administrative procedures, judicial reform, protecting right to sue.
1. Giá trị của thủ tục tố tụng hành chế nhà nước Liên bang đã cho phép “tất
cả các công dân đều có quyền kết tội các
công chức trước các quan tòa bình thường,
và tất cả các quan tòa đều có quyền kết án
các công chức, và điều đó diễn ra thật giản
dị tự nhiên”4. Tuy nhiên, tại một số quốc
gia, thẩm quyền xét xử hành chính của tòa
án trước đây đã từng là vấn đề khó có thể
chấp nhận vì có quan điểm cho rằng cơ
quan hành chính có thể giải quyết tranh
chấp phát sinh từ hoạt động hành chính
tốt hơn các tòa án bởi cơ quan hành chính
hiểu biết rõ hơn về tranh chấp. Ví dụ, tại
Cộng hòa Pháp, đã từng có thời kỳ tòa án
không được phép can thiệp vào hoạt động
của bộ máy hành chính dưới bất kỳ hình
thức nào. Tòa án nào không tuân thủ quy
định này thì bị coi là phạm vào trọng tội5.
chính trong bảo vệ quyền con người,
quyền công dân
Hệ thống tư pháp trong một nền dân
chủ là người bảo vệ các quyền và sự tự do
của nhân dân1. Ở các nước phát triển hiện
đại, quyền lực tư pháp đã trở thành quyền
lực nhà nước cao nhất2. Chính vì vậy, bảo
vệ quyền con người, quyền công dân
bằng thủ tục tư pháp đã trở thành nguyên
tắc được ghi nhận trong Tuyên ngôn thế
giới về quyền con người: “Mọi người có
quyền được bảo vệ bằng các Tòa án quốc
gia có thẩm quyền với phương tiện pháp
lý có hiệu lực chống lại những hành vi vi
phạm các quyền cơ bản của họ đã được
hiến pháp hay pháp luật công nhận”3.
Trên thế giới, nhiều quốc gia đã sớm
thiết lập thủ tục tư pháp để thực hiện và
bảo vệ khiếu nại hành chính của công dân.
Tại Hoa Kỳ, với mục tiêu xây dựng nền
dân trị từ cách đây hàng trăm năm, thể
Khi thừa nhận mối quan hệ bình đẳng
giữa Nhà nước và công dân trước pháp
luật đòi hỏi trong trường hợp Nhà nước
có hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích
hợp pháp của công dân thì những hành vi
đó cũng là đối tượng xét xử của tòa án. Sự
1ꢀ Bộ Ngoại giao Hoa kỳ, Chương trình thông tin quốc
tế: Các nguyên lý của nền pháp quyền, năm 2004. tr.23.
2ꢀ Viện Nhà nước và Pháp luật: Xây dựng Nhà nước
* Tiến sĩ, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa
pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai học Thanh tra, Thanh tra Chính phủ
đoạn hiện nay – một số vấn đề lý luận và thực tiễn, 4ꢀ Tocqueville: Nền Dân trị Mỹ, Nxb Tri thức, 2007, tr.238.
Nxb Từ điển Bách khoa, 2009, tr.296.
5ꢀ Nhà pháp luật Việt pháp: Pháp luật hành chính của
Cộng hòa Pháp, Nxb Tư pháp, 2007, tr.26.
3ꢀ Điều 8 Tuyên ngôn thế giới về quyền con người
Số 06 - 2020
Khoa học Kiểm sát 37
CẢi CÁCH THỦ TỤC TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH...
ra đời và tồn tại của cơ quan tư pháp độc thẩm quyền giải quyết khiếu kiện đối
lập được xem là một yêu cầu thiết yếu và với 8 nhóm việc. Lần sửa đổi năm 1998,
đó là nơi mà công dân có thể trình bày
khiếu nại đối với chính phủ6. Xu hướng
chung của các nước trên thế giới là mở
rộng thẩm quyền của tòa án. Ngoài các
vấn đề về hình sự, dân sự, thương mại,
lao động, thì ngày nay Tòa án còn “xử
những hành vi vi phạm pháp luật của
các quan chức hành pháp trong việc ban
hành các quyết định của mình”7.
Tòa án nhân dân được giao thẩm quyền
giải quyết khiếu kiện đối với 10 nhóm và
năm 2006 là 22 nhóm. Trong xét xử các vụ
án cụ thể, tòa án chỉ có thẩm quyền hủy
quyết định hành chính, buộc thực hiện
hoặc chấm dứt hành vi hành chính nếu
phát hiện quyết định hành chính, hành vi
hành chính không hợp pháp mà không có
quyền sửa quyết định hành chính.
Ý nghĩa của việc trao cho tòa thẩm
quyền xét xử hành chính cũng được đánh
giá rất cao tại các nước châu Âu. Tòa án
Liên minh châu Âu về quyền con người
nhấn mạnh điều này tại bản án Kressc/
France, ngày 07/6/2001: “Việc thành lập
và duy trì sự tồn tại của Tòa án hành
chính có thể được coi là một trong những
thành tựu quan trọng nhất của một Nhà
nước pháp quyền… Trước đây, bộ máy
hành pháp đã rất khó chấp nhận việc
tòa án kiểm tra, giám sát các quyết định,
hành vi của mình”8.
Trong giai đoạn trước khi có Luật Tố
tụng hành chính năm 2010 và Luật Khiếu
nại năm 2011, trước khi khởi kiện vụ
án hành chính, công dân phải thực hiện
việc khiếu nại hành chính đến cơ quan,
tổ chức, cá nhân đã ra quyết định hành
chính hoặc có hành vi hành chính. Theo
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án
hành chính năm 1996 thì công dân chỉ
được khởi kiện ra tòa án sau khi thực
hiện việc khiếu nại hành chính lần hai.
Đến Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung năm
2006 thì công dân có thể khởi kiện ra tòa
ngay sau khi khiếu nại hành chính lần
đầu không được giải quyết hoặc không
đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu.
Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính
trong giai đoạn này gần giống như trong
tố tụng dân sự, cũng bao gồm các bước
thụ lý, chuẩn bị xét xử, phiên tòa sơ thẩm,
phiên tòa phúc thẩm, thủ tục giám đốc
thẩm, tái thẩm... Tuy nhiên, do tính chất
đặc thù của vụ án hành chính, nhất là
tính đặc thù của đối tượng xét xử cũng
như sự khác biệt về các quyền và nghĩa
vụ của các bên đương sự so với vụ án dân
sự nên thủ tục giải quyết các vụ án hành
chính không thể quy định gộp chung vào
Bộ luật tố tụng dân sự (trước đó là Pháp
lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự).
2. Thực tiễn thủ tục tố tụng hành
chính ở Việt Nam
Trước đây, việc bảo đảm quyền khiếu
nại hành chính ở Việt Nam chỉ được thực
hiện bởi thủ tục hành chính. Tố tụng
hành chính chỉ chính thức ra đời kể từ
năm 1996 với việc Ủy ban thường vụ
Quốc hội ban hành Pháp lệnh giải quyết
các vụ án hành chính (sau đó được sửa
đổi, bổ sung vào năm 1998 và năm 2006).
Điều dễ nhận thấy là thẩm quyền của
tòa án trong giải quyết các vụ án hành
chính ngày càng mở rộng. Theo Pháp
lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành
chính năm 1996 thì Tòa án nhân dân có
6ꢀ Bộ Ngoại giao Hoa kỳ, Chương trình thông tin
quốc tế: Các nguyên lý của nền pháp quyền, năm
2004. tr.29.
Trong giai đoạn 1996-2011, thủ tục tư
pháp thực hiện và bảo vệ quyền khiếu
nại hành chính của công dân vẫn còn
nhiều hạn chế, bất cập. Do giới hạn
thẩm quyền của Tòa án trong xét xử
hành chính nên tòa án không thể thụ lý
7ꢀ TS. Nguyễn Ngọc Chí: Tổ chức tòa án theo cấp xét xử
trong Hiến pháp sửa đổi, bổ sung, Kỷ yếu Hội thảo “Sửa
đổi, bổ sung Hiến pháp 1992: Đề xuất và lập luận”, Khoa
Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, 2/7/2012, tr.193.
8ꢀ Nhà pháp luật Việt pháp, Tlđd, tr.32.
38 Khoa học Kiểm sát
Số 06 - 2020
NGUYỄN TUẤN KHANH
và giải quyết khiếu kiện đối với nhiều luật, buộc cơ quan nhà nước hoặc người
quyết định hành chính, hành vi hành có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước
chấm dứt hành vi hành chính trái pháp
luật11. Thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của
tòa án cấp huyện và cấp tỉnh trong khiếu
kiện hành chính căn cứ vào địa giới hành
chính nơi đặt tòa án và cấp có thẩm quyền
ban hành quyết định hành chính hoặc có
hành vi hành chính. Tòa án xét xử theo hai
cấp, bản án phúc thẩm đồng thời có giá trị
chung thẩm.
chính. Mặt khác, tòa án không có thẩm
quyền trong việc thi hành các bản án,
quyết định của mình. Vì vậy, hiệu quả
thi hành các bản án, quyết định của tòa
án còn thấp. Cơ quan thi hành án dân
sự chỉ nắm được nội dung thi hành án
liên quan đến phần tài sản, còn các nội
dung khác phải thi hành không giao cho
cơ quan nào theo dõi. Bên cạnh đó, trình
độ, chuyên môn của đội ngũ Thẩm phán
chuyên xét xử các vụ án hành chính còn
hạn chế nên đã xảy ra nhiều vi phạm,
thiếu sót như thụ lý vụ án không thuộc
thẩm quyền, đánh giá chứng cứ thiếu
khách quan9, xác định thẩm quyền của
tòa án không đúng, xác định đối tượng
bị kiện không đúng, quyết định tại bản
án vượt quá thẩm quyền...10. Chính vì
vậy, tỷ lệ các bản án bị hủy, bị sửa còn
cao. Ví dụ, trong năm 2009, có 6,92%
bản án, quyết định bị hủy, 4,77% bản án,
quyết định bị sửa.
Thủ tục tố tụng hành chính bảo vệ
quyền khởi kiện ở Việt Nam hiện nay có
một số ưu điểm sau:
Thứ nhất, đã mở rộng điều kiện khởi
kiện hành chính. Từ sau khi Luật tố tụng
hành chính năm 2015 có hiệu lực đến
nay, số lượng các vụ án hành chính tăng
lên nhiều do việc tăng thẩm quyền theo
phương án loại trừ và nới lỏng hoàn toàn
điều kiện khởi kiện vụ án hành chính.
Khả năng tiếp cận đối với thủ tục tố tụng
hành chính trong bảo vệ quyền khởi kiện
của công dân được tăng cường.
Luật Tố tụng hành chính năm 2010 và
Luật Tố tụng hành chính năm 2015 tiếp
tục mở rộng thẩm quyền của tòa án trong
giải quyết các vụ án hành chính bằng việc
quy định các loại quyết định hành chính,
hành vi hành chính được khởi kiện ra Tòa
án vừa theo phương pháp liệt kê, vừa theo
phương pháp loại trừ, bao gồm bốn nhóm.
Việc giải quyết các vụ án hành chính theo
hai cấp là sơ thẩm và phúc thẩm, Hội đồng
xét xử có quyền tuyên hủy một phần hoặc
toàn bộ quyết định hành chính trái pháp
luật; buộc cơ quan nhà nước hoặc người
có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước
thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy
định của pháp luật; tuyên bố một số hoặc
toàn bộ các hành vi hành chính là trái pháp
Thứ hai, thủ tục tố tụng hành chính
hiện nay khá rõ, người dân dễ tiếp cận và
đã thể hiện được tính dân chủ thông qua
các quy định về quyền của người khởi
kiện, quy định về sự bình đẳng của các
đương sự trước tòa án trong việc cung
cấp chứng cứ, đối thoại... Trình tự, thủ
tục, thời hạn giải quyết các vụ án hành
chính được quy định khá chặt chẽ, việc
thực hiện có sự kiểm sát của Viện kiểm
sát nhân dân từ khi thụ lý đến khi kết
thúc giải quyết vụ án và thi hành án.
Thứ ba, Luật Tố tụng hành chính đã quy
định một chương riêng về thủ tục thi hành
án hành chính, trong đó tập trung vào các
quy định về thủ tục yêu cầu và thực hiện
yêu cầu, trách nhiệm của các chủ thể, xử lý
vi phạm trong thi hành án hành chính và
kiểm sát việc thi hành án hành chính.
9ꢀ Tòa Hành chính TAND tối cao: Báo cáo tham luận
về công tác giải quyết, xét xử các vụ án hành chính
năm 2004 và một số kiến nghị, tháng 12/2004.
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm
nêu trên, thủ tục tố tụng hành chính bảo
10ꢀ Tòa Hành chính TAND tối cao: Báo cáo tham luận
về công tác giải quyết, xét xử các vụ án hành chính
năm 2005 và một số kiến nghị, ngày 29/12/2005.
11ꢀ Điều 163 Luật Tố tụng hành chính.
Số 06 - 2020
Khoa học Kiểm sát 39
CẢi CÁCH THỦ TỤC TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH...
vệ quyền của người khởi kiện hiện nay vẫn ban hành quyết định hành chính bị khởi
còn nhiều hạn chế, trong đó, có những hạn kiện đã không có mặt tại phiên tòa mà ủy
quyền cho công chức dưới quyền tham
gia. Với việc chỉ có công chức dưới quyền
của người bị kiện đại diện tham gia phiên
xét xử, nhiều vấn đề công chức phải “xin ý
kiến” nên chất lượng xét hỏi và tranh luận
tại phiên tòa để làm rõ nội dung vụ việc
cũng không được bảo đảm. Điều này vừa
ảnh hưởng đến tính chính xác của bản án,
vừa ảnh hưởng để hiệu quả thi hành án
hành chính vì việc thi hành án hành chính
còn phụ thuộc vào nhận thức và sự hợp
tác của thủ trưởng cơ quan hành chính.
chế đã được phát hiện từ nhiều năm qua
nhưng vẫn chưa được khắc phục, cụ thể là:
Thứ nhất, hệ thống tòa án được tổ chức
theo lãnh thổ nên sự độc lập trong giải
quyết các vụ án hành chính không tránh
khỏi bị ảnh hưởng bởi cơ quan hành chính
nhà nước ở địa phương. Trên thực tế, việc
giải quyết các vụ án hành chính, Tòa án vẫn
còn ít nhiều bị áp lực liên quan đến mối
quan hệ với người có thẩm quyền ban hành
quyết định hành chính hoặc cơ quan quản
lý hành chính nhà nước bị khiếu kiện.
2. Một số giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả của thủ tục tố tụng hành chính
trong tiến trình cải cách tư pháp
Thứ hai, biện pháp bảo đảm thi hành các
bản án, quyết định của tòa án chưa thực sự
hiệu quả. Trong thi hành các bản án, quyết
định của tòa án thì người được thi hành
án có quyền yêu cầu người thi hành án thi
hành bản án, nếu người phải thi hành án
không thi hành thì có quyền đề nghị cơ
quan thi hành án dân sự đôn đốc. Cơ quan
thi hành án dân sự chỉ có thể đôn đốc và
thông báo bằng văn bản đến cơ quan cấp
trên của người phải thi hành án để chỉ đạo.
Như vậy, hiện nay không có biện pháp
cưỡng chế mạnh mẽ để thi hành bản án,
quyết định của tòa án. Việc xử lý vi phạm
của người phải thi hành án khi không chấp
hành bản án, quyết định của tòa án cũng chỉ
được quy định chung là bị “xử lý vi phạm
hành chính, xử lý kỷ luật hoặc truy cứu
trách nhiệm hình sự”. Nếu cơ quan hành
chính hoặc người có thẩm quyền trong cơ
quan hành chính không chấp hành bản
án, quyết định của tòa án thì tòa án cũng
không có quyền xử lý trực tiếp (ví dụ như
xử phạt) đối với những hành vi vi phạm.
Do đó, tính bảo đảm việc thi hành các bản
án, quyết định của tòa án chưa cao.
Nội dung chủ yếu của cải cách tư
pháp là cải cách tổ chức và phương thức
hoạt động của các cơ quan tư pháp bao
gồm Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan điều
tra, Cơ quan thi hành án và các cơ quan,
tổ chức bổ trợ tư pháp như công chứng,
giám định tư pháp, hộ tịch, quốc tịch, lý
lịch tư pháp, luật sư, tư vấn pháp luật...
Những nội dung cơ bản này được đề cập
trong Nghị quyết số 08/NQ-TƯ của Đảng
Cộng sản Việt Nam về một số nhiệm vụ
trọng tâm công tác tư pháp trong thời
gian tới. Nghị quyết đặt ra yêu cầu đối
với công tác tư pháp là phải bảo vệ trật
tự kỷ cương, bảo đảm và tôn trọng quyền
dân chủ, quyền, lợi ích hợp pháp của các
tổ chức và công dân. Các cơ quan tư pháp
phải dựa vào nhân dân để hoạt động,
đồng thời phải là chỗ dựa vững chắc của
nhân dân trong đấu tranh phòng, chống
tội phạm, các hành vi vi phạm pháp luật
và giải quyết tranh chấp12. Tiếp đó, ngày
02/6/2005, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị
quyết số 49-NQ/TW về Chiến lược cải
cách tư pháp đến năm 2020 và xác định
nhiều nhiệm vụ quan trọng trong cải
cách tư pháp, trong đó có những nhiệm
Thứ ba, chưa có chế tài bắt buộc người
có thẩm quyền quyết định trong cơ quan
hành chính phải tham gia phiên tòa nên
hiệu quả xét xử chưa được bảo đảm.
Trong nhiều vụ án hành chính, khi tòa
án giải quyết các vụ án hành chính, chủ
tịch Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền
12ꢀ Bộ Chính trị: Nghị quyết số 08/NQ-TƯ ngày
02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác
tư pháp trong thời gian tới.
40 Khoa học Kiểm sát
Số 06 - 2020
NGUYỄN TUẤN KHANH
vụ liên quan trực tiếp đến công tác giải
Thứnhất, cầnsớmđổimớihệthốngTòa
quyết các khiếu kiện hành chính. Đề cập án nhân dân theo tinh thần Nghị quyết số
49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính
trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến
năm 2020. Cụ thể là hệ thống Tòa án nhân
dân được tổ chức theo hướng tinh gọn, tổ
chức theo thẩm quyền xét xử, theo khu
vực và không phụ thuộc vào đơn vị hành
chính. Việc thành lập tòa hành chính phải
căn cứ vào thực tiễn xét xử của từng cấp
tòa án, từng khu vực15.
Thứ hai, bảo đảm rằng việc đối thoại
giữa người khởi kiện và người bị kiện có
thể được thực hiện thông qua người đại
diện nhưng khi xét xử thì người có quyết
định hành chính, hành vi hành chính phải
tham gia phiên tòa. Việc tham gia phiên
tòa của người có quyết định hành chính
và hành vi hành chính vừa góp phần bảo
đảm hoạt động xét xử được chính xác,
kịp thời, vừa tác động tích cực đến nhận
thức của người có quyết định hành chính,
hành vi hành chính để việc thi hành các
bản án, quyết định của tòa án có hiệu quả.
Thứ ba, bảo đảm người khởi kiện,
người bị khởi kiện bình đẳng trước tòa án.
Để đạt được mục tiêu đó, ngoài việc quy
định tòa án tạo điều kiện để các bên đương
sự đối thoại về việc giải quyết vụ án, cần
bổ sung nguyên tắc tranh tụng trong Luật
Tố tụng hành chính và bảo đảm thực hiện
nghiêm túc nguyên tắc này trên thực tế. Ở
đây, trong mối quan hệ giữa công quyền
và công dân, tòa án đều phải đóng vai trò
của một nhân tố trung lập, là một trọng tài
thật sự công tâm.
Thứ tư, khắc phục bất cập trong thi
hành án hành chính. Trong các vụ án
hành chính, nếu bên bị thi hành án là
công dân thì việc thi hành án không gặp
nhiều trở ngại, khó khăn. Tuy nhiên,
nếu cơ quan, tổ chức nhà nước và người
có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức
nhà nước không chịu thi hành bản án,
đến vai trò của hệ thống tư pháp trong
bảo vệ công lý, tôn trọng, bảo vệ quyền
con người trong xây dựng nhà nước pháp
quyền XHCN ở Việt Nam. Báo cáo chính
trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ XI của Đảng cũng xác định “mở
rộng thẩm quyền xét xử của toà án đối
với các khiếu kiện hành chính… Nâng
cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và
đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ
tư pháp và bổ trợ tư pháp. Tăng cường
các cơ chế giám sát, bảo đảm sự tham gia
giám sát của nhân dân đối với hoạt động
tư pháp”13.
Những yêu cầu của cải cách tư pháp
đối với hoạt động giải quyết các khiếu
kiện hành chính được thể hiện trên ba
bình diện cơ bản: Một là, mở rộng thẩm
quyền xét xử của Toà án đối với các khiếu
kiện hành chính; đổi mới mạnh mẽ thủ
tục giải quyết các khiếu kiện hành chính
tại toà án; tạo điều kiện thuận lợi cho
người dân tham gia tố tụng, bảo đảm sự
bình đẳng giữa công dân và cơ quan công
quyền trước toà án. Hai là, xây dựng cơ
chế bảo đảm cho mọi bản án của toà án
có hiệu lực pháp luật phải được thi hành,
các cơ quan hành chính vi phạm bị xử lý
theo phán quyết của toà án phải nghiêm
chỉnh chấp hành14. Ba là, nâng cao trình
độ, chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ
cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp và bảo
đảm việc giải quyết khiếu kiện hành
chính phải khách quan, dân chủ, chịu sự
giám sát của xã hội.
Từ những chủ trương lớn trên đây và
nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập
của thủ tục tố tụng hành chính, cần thực
hiện một số giải pháp sau:
13ꢀ Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia,
2011, tr.54.
15ꢀ Ban Chấp hành Trung ương: Nghị quyết số 49-
NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến
lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
14ꢀ Bộ Chính trị: Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày
02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
Số 06 - 2020
Khoa học Kiểm sát 41
CẢi CÁCH THỦ TỤC TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH...
quyết định của tòa án thì cũng không thể xe, không cấp chứng minh nhân dân...)
cưỡng chế thi hành bằng các biện pháp
như “cưỡng chế thu hồi quyết định hành
chính”, “cưỡng chế ban hành quyết định
hành chính”, “cưỡng chế thực hiện hành
vi hành chính”. Vì vậy, thi hành bản án,
quyết định của tòa án về vụ việc hành
chính chỉ có thể bảo đảm tốt nhất bởi
sự kết hợp giữa hình thức kỷ luật hành
chính với biện pháp xử lý về kinh tế
(phạt tiền). Để đạt được điều đó, trong
các bản án phải quy định rõ những việc
mà cơ quan, tổ chức, cá nhân bắt buộc
phải thực hiện và quy định khuyến cáo,
kiến nghị về những nội dung có thể thực
hiện hoặc không thực hiện. Điều quan
trọng hơn cả là cần giao cho tòa án có
thẩm quyền xử phạt đối với cơ quan, tổ
chức, người có thẩm quyền trong các cơ
quan, tổ chức của nhà nước không chấp
hành bản án, quyết định của tòa án. Cụ
thể là sau khi có sự đôn đốc của cơ quan
thi hành án mà bản án, quyết định của
tòa án về vụ án hành chính vẫn không
được thi hành thì cơ quan thi hành án
đề nghị tòa án ra quyết định xử phạt, có
thể sử dụng hình thức phạt tiền đối với
cả các cơ quan hành chính nhà nước và
người có thẩm quyền trong các cơ quan
hành chính nhà nước. Trong trường hợp
cơ quan, tổ chức nhà nước và người có
thẩm quyền phải bồi thường cho công
dân theo bản án hành chính mà không
chịu bồi thường thì tòa án có thẩm
quyền lệnh cho ngân hàng chuyển tiền
từ tài khoản của cơ quan, tổ chức đó cho
cá nhân.
thì sau một thời hạn nhất định, bản án
của tòa án có giá trị như quyết định hành
chính cần phải ban hành. Tại một số quốc
gia Châu Âu, trong trường hợp công dân
khởi kiện chính quyền địa phương không
cấp đăng ký kinh doanh, nếu tòa án ghi
rõ trong bản án rằng cơ quan hành chính
phải cấp giấy đăng ký kinh doanh nhưng
cơ quan hành chính không cấp thì sau
một thời hạn nhất định, kể từ khi bản án
có hiệu lực pháp luật, bản án có giá trị
như giấy đăng ký kinh doanh16.
Thứ sáu, không nên quy định tòa án
có thẩm quyền “tuyên hủy” một phần
hoặc toàn bộ quyết định hành chính bởi
lẽ quan niệm như vậy có thể coi tòa án
như một cơ quan cấp trên của cơ quan,
tổ chức của nhà nước. Do đó, cần sửa
thẩm quyền “tuyên hủy” thành “tuyên vô
hiệu”. Khi tòa án tuyên bố một quyết định
hành chính bị vô hiệu một phần hoặc toàn
bộ thì nội dung bị tuyên vô hiệu sẽ không
có hiệu lực pháp luật. Ở đây cũng cần lưu
ý rằng mặc dù một số nước trên thế giới
trao cho tòa án thẩm quyền sửa quyết
định hành chính, tuy nhiên, không nên
áp dụng điều này ở Việt Nam bởi quy
định như vậy sẽ dẫn đến xu hướng tòa án
làm thay chức năng của các cơ quan, tổ
chức của nhà nước.
Thứ bảy, cần có quy định đặc thù trong
việc lựa chọn, bổ nhiệm Thẩm phán hành
chính. Bởi lẽ, Thẩm phán hành chính là
người “xử quan”, do đó, cần được tuyển
chọn từ những người có bề dày kinh
nghiệm trong lĩnh vực quản lý hành
chính nhà nước, đặc biệt là lựa chọn từ
những người giỏi về luật pháp và giữ các
chức vụ lãnh đạo, quản lý trong các cơ
quan hành chính nhà nước./.
Thứ năm, cần quy định giá trị áp dụng
trực tiếp đối với bản án trong một số
trường hợp. Ví dụ, khi tòa án ra phán
quyết buộc cơ quan nhà nước hoặc người
có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước
thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy
định nhưng cơ quan nhà nước hoặc người
có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước
không ban hành quyết định hành chính
để thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo phán
quyết (ví dụ như không cấp Giấy phép lái
16ꢀ Thanh tra Chính phủ: Báo cáo của Tổ Công tác
nghiên cứu kinh nghiệm Cộng hòa Pháp và Liên
bang Đức về giải quyết khiếu nại, tố cáo, 2010.
42 Khoa học Kiểm sát
Số 06 - 2020
Bạn đang xem tài liệu "Cải cách thủ tục tố tụng hành chính trong tiến trình cải cách tư pháp ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
cai_cach_thu_tuc_to_tung_hanh_chinh_trong_tien_trinh_cai_cac.pdf

