Giáo trình nghề Kế toán doanh nghiệp - Luật kinh tế - Trường Cao đẳng Cơ giới Ninh Bình

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN  
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CƠ GIỚI NINH BÌNH  
GIÁO TRÌNH  
MÔN HỌC: LUẬT KINH TẾ  
NGHỀ: KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP  
TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG  
Ban hành kèm theo Quyết định số: TC/TCGNB ngày.....tháng.....năm 20  
của Trường Cao đẳng Cơ giới Ninh Bình  
Ninh Bình, năm 2018  
TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN  
Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể được  
phép dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và tham  
khảo.  
Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh  
doanh thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm.  
2
LỜI NÓI ĐẦU  
Luật kinh tế là môn khoa học cơ sở trong nội dung chương trình đào tạo  
nghề Kế toán doanh nghiệp. Môn học nghiên cứu những kiến thức cơ bản về các  
quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ kinh tế  
phát sinh trong quá trình tổ chức và quản lý kinh tế của nhà nước và trong quá  
trình sản xuất kinh doanh giữa các chủ thể kinh doanh với nhau. Luật kinh tế ra  
đời nhằm duy trì và giải quyết các tranh chấp trong kinh doanh, thương mại  
cũng như đảm bảo quy trình hoạt động của các doanh nghiệp trong quá trình trao  
đổi, giao thương trong nước và quốc tế.  
Môn học cung cấp kiến thức và kỹ năng chuyên sâu về pháp luật, thực  
tiễn pháp lý, pháp luật trong kinh doanh; khả năng nghiên cứu và xử lý những  
vấn đề pháp lý đặt ra trong thực tiễn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và  
quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp.  
Nội dung môn học gồm 5 chương do nhóm giáo viên thuộc tổ bộ môn Kế  
toán doanh nghiệp biên soạn:  
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về Luật kinh tế  
Chương 2: Chế định pháp lý của các loại hình doanh nghiệp  
Chương 3: Chế định pháp lý về Hợp đồng kinh tế  
Chương 4: Chế định pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh tế  
Chương 5: Chế định pháp luật về phá sản doanh nghiệp  
Giáo trình Luật kinh tế đã được Hội đồng thẩm định Trường Cao đẳng  
Cơ giới Ninh Bình xét duyệt.  
Tuy nhiên trong quá trình biên soạn không tránh khỏi những khiếm  
khuyết, rất mong được những ý kiến đóng góp của bạn đọc để giáo trình ngày  
càng hoàn thiện hơn.  
Tham gia biên soạn: Đinh Thị Như Quỳnh  
Đào Thị Thủy  
Phạm Thị Hồng  
3
 
MỤC LỤC  
4
5
6
GIÁO TRÌNH MÔN HỌC  
Tên môn học: Luật kinh tế  
Mã môn học: MH 09  
Vị trí, tính chất, ý nghĩa và vai trò của môn học:  
- Vị trí: Luật kinh tế là môn học được bố trí giảng dạy sau khi học các  
môn chung;  
- Tính chất: Là môn học cơ sở;  
- Ý nghĩa và vai trò của môn học: Môn học nghiên cứu những kiến thức  
cơ bản về các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan  
hệ kinh tế phát sinh trong quá trình tổ chức và quản lý kinh tế của nhà nước và  
trong quá trình sản xuất kinh doanh giữa các chủ thể kinh doanh với nhau. Luật  
kinh tế ra đời nhằm duy trì và giải quyết các tranh chấp trong kinh doanh,  
thương mại cũng như đảm bảo quy trình hoạt động của các doanh nghiệp trong  
quá trình trao đổi, giao thương trong nước và quốc tế.  
Mục tiêu của môn học:  
- Về kiến thức:  
+ Trình bày được khái niệm và vai trò của Luật kinh tế;  
+ Trình bày được khái niệm, nội dung của hợp đồng kinh tế;  
+ Trình bày được bản chất của các tranh chấp kinh tế phát sinh trong quá  
trình kinh doanh;  
+ Trình bày được các hình thức phá sản trong kinh doanh;  
+ Phát hiện các tranh chấp kinh tế phát sinh trong hoạt động kinh doanh;  
+ Vận dụng các chế tài với hành vi vi phạm pháp luật kinh tế và vi phạm  
hợp đồng kinh tế.  
- Về kỹ năng:  
+ Viết được hợp đồng kinh tế đúng quy định pháp luật;  
+ Phân biệt được các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân;  
+ Thực hiện được trình tự, thủ tục để giải quyết phá sản doanh nghiệp;  
+ Vận dụng được các trình tự và thủ tục pháp lý để giải quyết phá sản  
trong kinh doanh.  
- Về năng lực tự chủ và trách nhiệm:  
+ Tuân thủ pháp luật kinh tế trong thực hiện hành vi kinh doanh;  
+ Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ kinh tế;  
7
 
+ Có thái độ nghiêm túc trong học tập, xác định đúng đắn động cơ và  
mục đích học tập.  
Nội dung của môn học:  
CHƯƠNG 1  
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LUẬT KINH TẾ  
Mã chương: LKT01  
Giới thiệu:  
Trang bị cho người học những kiến thức cơ bản về Luật kinh tế như khái  
niệm, đối tượng, phương pháp điều chỉnh, chủ thể, vai trò của Luật kinh tế đối  
với nền kinh tế quốc dân.  
Mục tiêu:  
- Trình bày được khái niệm Luật kinh tế;  
- Trình bày được lịch sử hình thành và phát triển của Luật kinh tế;  
- Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của Luật kinh tế đối với hoạt  
động kinh doanh của xã hội;  
- Trung thực, nghiêm túc trong nghiên cứu.  
Nội dung chính:  
1. Khái niệm Luật kinh tế  
1.1. Đối tượng, phương pháp điều chỉnh của Luật kinh tế  
a. Đối tượng điều chỉnh của Luật kinh tế  
- Điều chỉnh mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình hoạt động sản  
xuất kinh doanh giữa các doanh nghiệp như: Mua bán vật tư, tiêu thụ sản phẩm,  
cung ứng dịch vụ, đây là nhóm quan hệ chủ yếu mà ngành Luật kinh tế điều  
chỉnh có các đặc điểm sau:  
+ Phát sinh trực tiếp trong sản xuất kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu hoạt  
động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp;  
+ Chủ thể của nhóm quan hệ này là các doanh nghiệp;  
+ Nhóm quan hệ này chủ yếu phát sinh thông qua Hợp đồng kinh tế.  
- Điều chỉnh mối quan hệ kinh tế phát sinh giữa cơ quan quản lý Nhà nước  
với doanh nghiệp  
Quan hệ phát sinh giữa cơ quan quản lý Nhà nước về kinh tế với các Doanh  
nghiệp, có đặc điểm chung phát sinh trong quá trình quản lý kinh tế, chủ thể  
tham gia nhóm quan hệ này có địa vị pháp lý khác nhau. Một bên là cơ quan  
8
       
quản lý kinh tế cấp trên, một bên là đơn vị kinh tế cấp dưới. Cơ sở pháp lý phát  
sinh quan hệ này là các văn bản quản lý.  
Ví dụ: Quy định về ngành nghề kinh doanh; nghĩa vụ nộp thuế; các văn bản  
về bảo vệ tài nguyên môi trường ...  
- Điều chỉnh mối quan hệ kinh tế phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp: Các  
doanh nghiệp được cấu thành từng bộ phận, phân xưởng, đội sản xuất... việc sản  
xuất của bộ phận này được tiến hành trên cơ sở hạch toán nội bộ, hoặc chế độ  
khoán trong quá trình sản xuất kinh doanh, mỗi bộ phận hợp thành có vai trò  
khác nhau trong việc tạo ra sản phẩm hay kết quả công việc giữa chúng phát  
sinh những quan hệ nhất định. Quan hệ đó người ta gọi là quan hệ nội bộ. Đặc  
điểm của nhóm quan hệ này là chúng phát sinh trong nội bộ một doanh nghiệp  
khi chúng tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh.  
Mỗi bộ phận hợp thành trong một doanh nghiệp không có tư cách pháp  
nhân quan hệ nội bộ được điều chỉnh chủ yếu bằng các quy định của bản thân  
đơn vị đó nhưng phải phù hợp với Pháp luật.  
Ví dụ: Quan hệ giữa các phân xưởng với nhau, giữa phân xưởng với các  
Phòng, ban, bộ phận.  
b. Phương pháp điều chỉnh của Luật kinh tế.  
- Phương pháp thoả thuận (bình đẳng): Là phương pháp chủ yếu điều chỉnh  
những quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh giữa các  
doanh nghiệp đó là các đơn vị sản xuất hàng hoá độc lập với nhau. Theo phương  
pháp này những vấn đề mà các bên tham gia quan tâm đều được giải quyết trên  
cơ sở bình đẳng, thoả thuận bàn bạc.  
- Phương pháp mệnh lệnh (quyền uy): Là phương pháp sử dụng quyền lực  
Nhà nước chủ yếu để điều chỉnh quan hệ kinh tế phát sinh, trong lĩnh vực quản  
lý sản xuất kinh doanh. Chủ thể tham gia quan hệ này ở vào vị trí không bình  
đẳng, một bên là cơ quan quản lý Nhà nước về kinh tế, một bên là các doanh  
nghiệp trực thuộc, bản chất của phương pháp này là thể hiện ở chỗ cơ quan quản  
lý Nhà nước về kinh tế có quyền đưa ra những quyết định bắt buộc đối với đơn  
vị kinh tế cơ sở trực thuộc ở mức độ nhất định, phương pháp này là sự cần thiết  
cho quản lý của Nhà nước.  
Ví dụ: Thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước (thuế), các quy định bắt buộc  
trong việc sản xuất kinh doanh, buôn bán, bảo vệ tài nguyên môi trường ...  
9
1.2. Khái niệm Luật kinh tế  
Thời kỳ bao cấp: Luật kinh tế có thể hiểu là tổng hợp các quy phạm pháp  
luật do Nhà nước ban hành, quy định thể chế quản lý chặt chẽ và toàn diện của  
Nhà nước đối với các đơn vị kinh tế quốc doanh từ chế độ sở hữu tài sản đến tổ  
chức hoạt động sản xuất, các quan hệ hợp đồng, chế độ phân phối nhằm đảm  
bảo tính kế hoạch hóa và bao cấp của Nhà nước.  
Đặc trưng:  
- Hệ thống pháp luật được xây dựng trên nền tảng chế độ công hữu tư liệu  
sản xuất chủ yếu của xã hội;  
- Các chủ thể không có quyền tự do kinh doanh;  
- Xác lập sự can thiệp toàn diện của Nhà nước vào tất cả các mặt hoạt  
động của doanh nghiệp.  
Công cuộc đổi mới:  
Đại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam (12/1986) đề ra đường lối đổi mới  
chính sách kinh tế chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang  
xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.  
Hiến pháp (1992) sửa đổi, bổ sung năm 2001 đã khẳng định: “....cơ cấu  
kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh đa  
dạng...”  
Sự thay đổi tính chất của các quan hệ kinh tế - pháp luật giữa Nhà nước  
và các chủ thể kinh doanh thể hiện:  
- Thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần;  
- Nhà nước là người đầu tư, chủ sở hữu, còn doanh nghiệp là một pháp  
nhân có quyền tự do trong hoạt động sản xuất kinh doanh.  
Do vậy, Luật kinh tế có thể hiểu là ngành luật điều chỉnh hoạt động kinh  
doanh và là nhà kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế.  
Khoa học pháp lý hiện nay quan niệm:  
Luật kinh tế là tổng thể các quy phạm Pháp luật do Nhà nước ban hành  
hoặc thừa nhận, điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình tổ chức, quản  
lý và hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc mọi thành  
phần kinh tế.  
Ví dụ: Trao đổi mua bán hàng hoá, dịch vụ thông qua các Hợp đồng kinh tế  
10  
 
2. Chủ thể của Luật kinh tế  
2.1. Khái niệm về chủ thể kinh tế  
Chủ thể của Luật kinh tế là các tổ chức, cá nhân có những quyền và nghĩa  
vụ pháp lý khi tham gia vào các quan hệ kinh tế do Luật kinh tế điều chỉnh.  
2.2 Phân loại chủ thể kinh tế  
- Nếu căn cứ vào chức năng hoạt động của chủ thể luật kinh tế gồm:  
+ Cơ quan có chức năng quản lý kinh tế: Đây là những cơ quan nhà nước  
trực tiếp thực hiện chức năng quản lý kinh tế, gồm cơ quan quản lý có thẩm  
quyền chung, cơ quan quản lý có thẩm quyền riêng.  
+ Các đơn vị có chức năng sản xuất kinh doanh trong đó gồm các doanh  
nghiệp thuộc các thành phần kinh tế và cả cá nhân được phép kinh doanh, nhưng  
chủ yếu là các doanh nghiệp  
- Nếu căn cứ vào vị trí, vai trò và mức độ tham gia vào các quan hệ luật  
kinh tế thì có các chủ thể sau:  
+ Chủ thể chủ yếu và thường xuyên của luật kinh tế. Đó là các doanh  
nghiệp bởi vì trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị  
trường của nước ta, các doanh nghiệp được thành lập với mục đích chủ yếu là  
tiến hành các hoạt động kinh doanh. Sự tồn tại của chúng gắn liền với hoạt động  
kinh doanh, vì thế chúng thường xuyên tham gia vào các quan hệ kinh tế. Tức là  
sự tham gia vào các quan hệ kinh tế của các doanh nghiệp thể hiện tính phổ  
biến, tính liên tục và phạm vi rộng rãi.  
+ Chủ thể không thường xuyên của luật kinh tế. Đó là những cơ quan hành  
chính sự nghiệp như trường học, bệnh viện, viện nghiên cứu và các tổ chức xã  
hội trong quá trình hoạt động cũng ký kết hợp đồng kinh tế để phục vụ cho hoạt  
động chính của đơn vị. Sự tham gia vào các quan hệ do luật kinh tế điều chỉnh  
của các tổ chức này là không thường xuyên liên tục do đó chúng không phải là  
chủ thể, thường xuyên chủ yếu của luật kinh tế.  
2.3 Điều kiện trở thành chủ thể của Luật kinh tế  
- Phải được thành lập một cách hợp pháp: Những cơ quan, tổ chức được  
coi là thành lập hợp pháp khi chúng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra  
quyết định thành lập hoặc cho phép thành lập hoặc tuân thủ các thủ tục do luật  
định ra được tổ chức dưới những hình thức nhất định với chức năng, nhiệm vụ  
và phạm vi hoạt động rõ ràng theo các quy định của pháp luật.  
- Phải có tài sản riêng: Một tổ chức được coi là có tài sản riêng khi:  
11  
       
+ Tổ chức đó có một khối lượng tài sản nhất định phân biệt với tài sản của  
cơ quan cấp trên hoặc của các tổ chức khác;  
+ Có khối lượng quyền năng nhất định để chi phối khối lượng tài sản đó  
và phải tự chịu trách nhiệm độc lập bằng chính tài sản đó.  
- Phải có thẩm quyền kinh tế: Thẩm quyền kinh tế là tổng hợp các quyền và  
nghĩa vụ về kinh tế được pháp luật ghi nhận hoặc công nhận. Thẩm quyền kinh  
tế của một chủ thể luật kinh tế luôn phải tương ứng với chức năng nhiệm vụ và  
lĩnh vực hoạt động của nó. Như vậy có thể thấy thẩm quyền kinh tế là giới hạn  
pháp lý mà trong đó các chủ thể luật kinh tế được hành động hoặc phải hành  
động hoặc không được phép hành động. Thẩm quyền kinh tế trở thành cơ sở  
pháp lý để các chủ thể luật kinh tế thực hiện các hành vi pháp lý nhằm tạo ra các  
quyền và nghĩa vụ cụ thể cho mình.  
3. Vai trò của Luật kinh tế đối với nền kinh tế quốc dân  
3.1 Nguồn của Luật kinh tế  
Bao gồm Luật, các văn bản dưới luật và các điều ước quốc tế  
Hiến pháp năm 1992 là đạo luật cơ bản của Nhà nước và là nguồn của  
nhiều ngành luật. Đối với Luật kinh tế, hiến pháp có vai trò đặc biệt quan trọng,  
những quy định trong hiến pháp là cơ sở, nguyên tắc chung cho việc XD Luật  
kinh tế.  
Các Luật do Quốc hội thông qua như: Luật công ty, Luật đầu tư, Luật  
doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã, Luật Thương mại, Luật phá sản, Luật Kế toán ...  
- Những quyết định của Quốc hội như Nghị định của QH thông qua phương  
hướng, nhiệm vụ, kế hoạch của Nhà nước.  
- Pháp lệnh của UB thường vụ Quốc hội như pháp lệnh về hợp đồng kinh  
tế, pháp lệnh bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp ....  
- Nghị định, nghị quyết, quyết định của Chỉnh phủ, của thủ tướng Chính  
phủ, các văn bản của các Bộ ngành và UBND các cấp.  
3.2. Vai trò của Luật kinh tế trong quản lý kinh tế  
Trong hệ thống pháp luật phục vụ cho quản lý kinh tế của nước ta. Luật  
kinh tế có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, điều đó được quyết định bởi tính  
12  
     
chất quan trọng của những quan hệ kinh tế mà nó điều chỉnh. Vai trò của Luật  
kinh tế được biểu hiện cụ thể ở các mặt sau:  
- Thông qua Luật kinh tế, Nhà nước đã thể chế hoá các đường lối, chủ  
trương, chính sách kinh tế của Đảng thành các quy định pháp lý có tính chất bắt  
buộc chung đối với các chủ thể của Luật kinh doanh;  
- Luật kinh tế tạo hành lang pháp lý thuận lợi để khuyến khích tổ chức, cá  
nhân trong và ngoài nước đầu tư vào kinh doanh nhằm tăng nguồn vốn kinh  
doanh, mở rộng các hoạt động kinh doanh, các hình thức tổ chức kinh doanh,  
các ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh. Thông qua đó thúc đẩy nền kinh tế ổn  
định và tăng trưởng;  
- Luật kinh doanh là cơ sở pháp lý xác định địa vị pháp lý cho các chủ thể  
kinh doanh với đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý của nó;  
- Luật kinh doanh điều chỉnh các hành vi kinh doanh của các chủ thể kinh  
doanh, đảm bảo hoạt động kinh doanh diễn ra lành mạnh;  
- Luật kinh doanh quy định các vấn đề tài phán trong kinh doanh, quy định  
trình tự, thủ tục, các cơ quan có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp trong kinh  
doanh vừa bảo đảm được quyền tự định đoạt của các chủ thể kinh doanh vừa  
đảm bảo nguyên tắc pháp chế XHCN;  
- Luật kinh doanh quy định điều kiện và trình tự thủ tục giải quyết việc phá  
sản doanh nghiệp, nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ nợ,  
doanh nghiệp mắc nợ và các bên có liên quan; thúc đẩy doanh nghiệp hoạt động  
kinh doanh có hiệu quả và bảo đảm trật tự kỷ cương trong hoạt động kinh tế và  
trật tự xã hội.  
Tóm lại, trong nền kinh tế thị trường Luật kinh doanh đóng vai trò hết sức  
quan trọng. Nó đảm bảo cho Nhà nước kiểm soát các hoạt động kinh doanh của các  
chủ thể kinh doanh một cách hiệu quả, đồng thời không can thiệp sâu vào hoạt  
động của các tổ chức kinh tế, góp phần đảm bảo nền kinh tế quốc dân ổn định và  
tăng trưởng vững chắc.  
13  
BÀI TẬP THỰC HÀNH  
1. Đối tượng điều chỉnh của Luật kinh tế  
2. Điều kiện trở thành chủ thể của Luật kinh tế  
3. So sánh giữa pháp nhân và thể nhân  
- 01 cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi dân sự được gọi là thể nhân.  
- 01 tổ chức đáp ứng đầy đủ 04 điều kiện theo điều 84 Bộ Luật Dân sự:  
+ Được thành lập một cách hợp pháp;  
+ Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; (có bộ máy quản lý, có tài sản riêng, có con  
dấu..)  
+ Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác, tự chịu trách nhiệm bằng tài  
sản đó.  
+ Nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập thì  
được gọi là pháp nhân.  
14  
   
CHƯƠNG 2  
CHẾ ĐỊNH PHÁP LÝ CỦA CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP  
Mã chương: LKT02  
Giới thiệu:  
Trang bị cho người học những kiến thức chung về các loại hình doanh  
nghiệp như khái niệm, đặc điểm, vai trò, thành lập và giải thể các loại hình  
doanh nghiệp đối với nền kinh tế quốc dân.  
Mục tiêu:  
- Mô tả được mô hình kinh doanh tập trung phổ biến hiện nay là các  
doanh nghiệp;  
- Trình bày được quy định pháp lý về các loại hình doanh nghiệp;  
- Phân biệt được sự khác nhau giữa các loại hình doanh nghiệp;  
- Trung thực, nghiêm túc trong nghiên cứu.  
Nội dung chính:  
1. Chế định pháp lý của doanh nghiệp nhà nước  
1.1 Khái niệm doanh nghiệp Nhà nước (DNNN)  
Theo điều 1 Luật DNNN năm 2003: Doanh nghiệp Nhà nước là tổ chức  
kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi  
phối, được tổ chức dưới hình thức Công ty Nhà nước, công ty Cổ phần, Công  
ty TNHH.  
1.2 Đặc điểm, phân loại của doanh nghiệp Nhà nước  
a. Đặc điểm doanh nghiệp nhà nước  
So với các loại hình doanh nghiệp khác được tổ chức hoạt động trong nền  
kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay như: Doanh nghiệp tư nhân, Công ty, Hợp  
tác xã, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Doanh nghiệp của các đoàn thể  
thì DNNN có những đặc trưng cơ bản sau đây:  
+ Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn  
điều lệ, hoặc có cổ phần vốn góp chi phối thành lập và tổ chức quản lý. (vốn  
Nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ và nhà nước giữ quyền chi phối doanh  
nghiệp).  
+ Doanh nghiệp nhà nước được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau  
như Công ty nhà nước, Công ty cổ phần và Công ty TNHH.  
15  
       
+ Doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, có thẩm quyền kinh tế  
bình đẳng với các doanh nghiệp khác và hạch toán kinh tế độc lập trong phạm  
vi vốn do doanh nghiệp quản lý.  
+ Doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân  
được giao chức năng kinh doanh hoặc hoạt động công ích.  
+ Doanh nghiệp nhà nước có trụ sử chính trên lãnh thổ Việt Nam.  
b. Phân loại doanh nghiệp nhà nước  
* Dựa theo hình thức tổ chức, doanh nghiệp nhà nước được chia thành các  
loại sau:  
+ Công ty Nhà nước là doanh nghiệp do nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều  
lệ, thành lập, tổ chức quản lý, đăng ký hoạt động theo quy định của Luật doanh  
nghiệp nhà nước. Công ty nhà nước được tổ chức dưới hai hình thức là Công ty  
nhà nước độc lập và Tổng công ty nhà nước.  
+ Công ty cổ phần Nhà nước là công ty cổ phần mà toàn bộ cổ đông là các  
công ty Nhà nước hoặc tổ chức được NN uỷ quyền góp vốn, được tổ chức và  
hoạt động theo Luật doanh nghiệp.  
+ Công ty TNHH Nhà nước một thành viên là công ty TNHH Nhà nước do  
nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, được tổ chức quản lý và đăng ký hoạt động  
theo quy định của Luật doanh nghiệp.  
+ Công ty TNHH Nhà nước hai thành viên trở lên là công ty TNHH trong  
đó tất cả các thành viên là công ty nhà nước và thành viên khác được nhà nước  
uỷ quyền góp vốn, được tổ chức và hoạt động theo luật doanh nghiệp.  
+ Doanh nghiệp có cổ phần hoặc vốn góp của Nhà nước chiếm trên 50%  
vốn điều lệ và Nhà nước giữ quyền chi phối doanh nghiệp đó.  
* Dựa theo cơ cấu chủ sở hữu của doanh nghiệp. Doanh nghiệp nhà nước  
được chia thành các loại sau:  
+ Doanh nghiệp nhà nước do nhà nước sở hữu 100% vốn: Công ty nhà  
nước, công ty Cổ phần nhà nước, Công ty TNHH một thành viên, công ty  
TNHH hai thành viên trở lên;  
* Dựa theo mô hình quản trị, DNNN được chia thành các loại sau:  
+ Doanh nghiệp nhà nước có hội đồng quản trị: Công ty nhà nước có quy  
mô lớn, doanh nghiệp nhà nước là công ty cổ phần;  
+ Doanh nghiệp nhà nước không có hội đồng quản trị: Công ty nhà nước  
không thuộc diện tổ chức HĐQT, doanh nghiệp nhà nước là công ty TNHH một  
thành viên và công ty TNHH hai thành viên trở lên.  
16  
1.3 Thành lập và giải thể, phá sản doanh nghiệp nhà nước  
a. Thành lập doanh nghiệp nhà nước  
Bước 1: Đề nghị thành lập doanh nghiệp  
Phải lập hồ sơ đề nghị thành lập doanh nghiệp nhà nước và gửi hồ sơ đến  
người có quyền quyết định thành lập doanh nghiệp nhà nước.  
Hồ sơ gồm:  
- Tờ trình đề nghị thành lập doanh nghiệp  
- Đề án thành lập doanh nghiệp  
- Dự kiến mức vốn điều lệ  
- Dự thảo điều lệ  
- Giấy đề nghị cho doanh nghiệp sử dụng đất  
Bước 2: Lập hội đồng thẩm định  
- Đề án thành lập doanh nghiệp phải có tính khả thi và hiệu quả phù hợp với  
chiến lược phát triển kinh tế xã hội, đáp ứng được yêu cầu công nghệ và quy  
định của nhà nước về bảo vệ môi trường.  
- Mức vốn điều lệ phải phù hợp với quy mô ngành nghề kinh doanh, lĩnh  
vực hoạt động và không thấp hơn vốn pháp định, có chứng nhận của cơ quan tài  
chính về nguồn và mức vốn được cấp.  
- Dự thảo điều lệ không trái với quy định của pháp luật  
- Có xác nhận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về nơi đặt trụ sở làm  
việc và mặt bằng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.  
Sau khi xem xét hội đồng thẩm định phải có ý kiến bằng văn bản.  
Bước 3: Ký quyết định thành lập DNNN là Thủ tướng chính phủ, Bộ  
trưởng Bộ quản lý ngành, Chủ tịch UBND Tỉnh và phải bổ nhiệm chủ tịch và  
các thành viên HĐQT (nếu có); Tổng giám đốc hoặc giám đốc trong thời hạn 30  
ngày kể từ ngày có quyết định thành lập  
Bước 4: Đăng ký kinh doanh  
Chỉ sau khi được cấp giấy đăng ký kinh doanh thì DNNN mới đi vào hoạt  
động trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày có quyết định thành lập DNNN phải tiến  
hành đăng ký kinh doanh tại phòng đăng ký kinh doanh cấp Tỉnh nơi Công ty  
đặt trụ sở chính.  
* Hồ sơ xin đăng ký kinh doanh gồm:  
- Đơn xin cấp giấy đăng ký kinh doanh  
- Quyết định thành lập doanh nghiệp  
- Điều lệ doanh nghiệp  
17  
 
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của doanh nghiệp  
- Quyết định bổ nhiệm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc  
Trong trường hợp 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đăng ký kinh doanh thì  
phòng đăng ký kinh doanh phải cấp giấy đăng ký kinh doanh, trường hợp không  
chấp thuận sẽ trả lời bằng văn bản.  
Bước 5: Đăng báo công khai  
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được cấp giấy đăng ký kinh doanh thì  
doanh nghiệp phải đăng báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng. Cụ  
thể là phải đăng 5 số báo liên tiếp trên báo trung ương và báo địa phương về  
việc thành lập mới donh nghiệp.  
b. Giải thể doanh nghiệp nhà nước trong các trường hợp sau:  
- Doanh nghiệp hết thời hạn hoạt động ghi trong điều lệ mà không xin gia  
hạn  
- Doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ kéo dài nhưng chưa lâm vào tình trạng  
mất khả năng thanh toán nợ đến hạn  
- Doanh nghiệp không thực hiện được các nhiệm vụ do nhà nước quy định  
sau khi đã áp dụng các biện pháp cần thiết.  
- Việc tiếp tục duy trì doanh nghiệp là không cần thiết  
Trình tự và thủ tục thực hiện quyết định giải thể doanh nghiệp do Chính  
phủ quy định  
- Người có thẩm quyền quyết định thành lập Doanh nghiệp thì là người ký  
quyết định giải thể. Trước khi quyết định giải thể thì phải thành lập Hội đồng  
giải thể. Hội đồng này đồng thời là người tổ chức thực hiện quyết định giải thể  
khi có hiệu lực.  
c. Phá sản Doanh nghiệp Nhà nước  
Được thực hiện theo quy định của pháp luật về phá sản doanh nghiệp.  
1.4 Tổ chức và quản lý của doanh nghiệp Nhà nước  
Theo luật DNNN năm 2003, cơ cấu quản lý DNNN được chia thành 2 loại  
là DNNN có Hội đồng quản trị và DNNN không có Hội đồng quản trị  
* Doanh nghiệp Nhà nước có Hội đồng quản trị (áp dụng đối với DNNN  
độc lập có quy mô lớn)  
Mô hình này áp dụng đối với Tổng công ty Nhà nước bao gồm hội đồng  
quản trị, ban kiểm soát, Tổng giám đốc, các Phó tổng giám đốc, Kế toán trưởng  
và bộ máy giúp việc.  
18  
 
- Hội đồng quản trị là cơ quan đại diện chủ sở hữu Nhà nước tại Tổng công  
ty Nhà nước, Công ty Nhà nước độc lập có Hội đồng quản trị có quyền nhân  
danh Công ty để quyết định mọi vấn đề có liên quan đến việc xác định và thực  
hiện mục tiêu, nhiệm vụ và quyền lợi của Công ty trừ những vấn đề thuộc thẩm  
quyền, trách nhiệm của chủ sở hữu phân cấp cho các cơ quan, tổ chức khác là  
đại diện chủ sở hữu thực hiện.  
Hội đồng quản trị gồm chủ tịch và các phó chủ tịch. Chủ tịch Hội đồng  
quản trị không kiêm chức tổng giám đốc.  
- Tổng giám đốc là người điều hành mọi hoạt động hàng ngày của Công ty  
theo quy định của pháp luật phù hợp với điều lệ công ty và nghị quyết của hội  
đồng quản trị, chịu trách nhiệm trước hội đồng quản trị và trước pháp luật về  
việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao.  
- Phó Tổng giám đốc, Kế toán trưởng giúp giám đốc điều hành hoạt động  
theo quyền hạn và nhiệm vụ được giao.  
* Doanh nghiệp Nhà nước không có hội đồng quản trị (áp dụng đối với  
DNNN có quy mô vừa và nhỏ). Gồm có: Giám đốc, các Phó giám đốc, Kế toán  
trưởng và bộ máy giúp việc  
- Giám đốc là người điều hành Công ty, đại diện theo pháp luật của Công ty  
và chịu trách nhiệm trước người bổ nhiệm, người ký hợp đồng thuê và trước  
pháp luật về việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ được giao.  
- Phó giám đốc là người giúp việc giám đốc điều hành công ty theo phân  
công và uỷ quyền của giám đốc, chịu trách nhiệm trước giám đốc và trước pháp  
luật về nhiệm vụ được phân công và uỷ quyền.  
- Kế toán trưởng có nhiệm vụ tổ chức thực hiện công tác kế toán của Công  
ty, giúp giám đốc giám sát tài chính tại Công ty theo pháp luật về tài chính kế  
toán, chịu trách nhiệm trước giám đốc và trước pháp luật về nhiệm vụ được  
phân công và uỷ quyền.  
* Mô hình này áp dụng với các công ty không phải là Tổng công ty hay  
công ty độc lập.  
Vợ, chồng, anh chị em ruột của giám đốc công ty không được giữ chức  
danh Kế toán trưởng, Thủ quỹ tại cùng công ty. Hợp đồng kinh tế, dân sự, lao  
động của công ty ký kết với giám đốc là vợ, chồng, con, anh, chị em ruột phải  
thông báo cho người bổ nhiệm, người thuê hợp đồng biết nếu phát hiện có sự tư  
lợi thì phải đình chỉ và bồi thường thiệt hại theo quy định của Pháp luật.  
19  
1.5. Quyền và nghĩa vụ doanh nghiệp Nhà nước  
* Các quyền cơ bản của doanh nghiệp Nhà nước  
a. Quyền đối với tài sản Nhà nước giao  
- Chiếm hữu sử dụng vốn và tài sản của Công ty để kinh doanh, thực hiện  
các lợi ích hợp pháp từ vốn và tài sản của doanh nghiệp, theo quy định của luật  
này và quy định khác của pháp luật có liên quan.  
- Sử dụng và quản lý các tài sản của Nhà nước giao, cho thuê là đất đai, tài  
nguyên theo quy định của pháp luật về đất đai, tài nguyên.  
- Nhà nước không điều chuyển vốn Nhà nước đầu tư tại Công ty và vốn, tài  
sản của Công ty theo phương thức không thanh toán, trừ trường hợp quyết định  
tổ chức lại Công ty hoặc thực hiện mục tiêu cung ứng sản phẩm, dịch vụ công  
ích.  
b. Quyền kinh doanh của Doanh nghiệp Nhà nước  
- Chủ động tổ chức sản xuất, kinh doanh, tổ chức bộ máy quản lý theo yêu  
cầu kinh doanh và bảo đảm kinh doanh có hiệu quả.  
- Kinh doanh những ngành, nghề mà pháp luật không cấm; mở rộng quy  
mô kinh doanh theo khả năng của công ty và nhu cầu của thị trường trong và  
ngoài nước.  
- Tìm kiếm thị trường khách hàng trong và ngoài nước, ký kết hợp đồng  
- Tự quyết định giá mua, giá bán sản phẩm dịch vụ (Trừ những sản phẩm  
dịch vụ do Nhà nước quy định giá)  
- Sử dụng vốn của Công ty, hoặc vốn huy động để đầu tư thành lập Công ty  
TNHH Nhà nước một thành viên cùng với các nhà đầu tư khác thành lập Công  
ty cổ phần hoặc Công ty TNHH hai thành viên trở lên.  
- Mở chi nhánh văn phòng đại diện ở trong nước, nước ngoài theo quy định  
của pháp luật.  
- Quyết định các dự án đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư sử  
dụng vốn, tài sản để liên doanh, liên kết.  
- Có quyền kinh doanh khác theo nhu cầu của thị trường phù hợp với quy  
định của pháp luật.  
c. Quyền về tài chính của doanh nghiệp  
- Huy động vốn để kinh doanh dưới hình thức phát hành trái phiếu, kỳ  
phiếu, tín phiếu ... vay vốn của các tổ chức ngân hàng, tín dụng và các hình thức  
huy động vốn khác theo quy định của pháp luật.  
20  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
doc 74 trang Thùy Anh 11180 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình nghề Kế toán doanh nghiệp - Luật kinh tế - Trường Cao đẳng Cơ giới Ninh Bình", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • docgiao_trinh_nghe_ke_toan_doanh_nghiep_luat_kinh_te_truong_cao.doc