Xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi chiếm đất

THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI HÀNH VI CHIẾM ĐẤT  
Nguyễn Minh Thuy*  
* Đại học Trà Vinh  
Tóm tắt:  
Thông tin bài viết:  
Thực tiễn ở nước ta cho thấy, chiếm đất là hành vi vi phạm pháp luật về  
đất đai diễn ra khá phổ biến. Tuy nhiên, quy định của pháp luật về xꢀ  
phạt vi phạm hành chính đꢁi với hành vi chiếm đất vẫn còn bất cập, gây  
trở ngại cho công tác xꢀ phạt vi phạm hành chính. Trong phạm vi bài  
viết này, tác giả tập trung phân tích mꢂt sꢁ bất cập trong các quy định của  
pháp luật về xꢀ phạt vi phạm hành chính đꢁi với hành vi chiếm đất và đề  
xuất kiến nghị hoàn thiện.  
Từ khóa: Chiếm đất, vi phạm  
hành chính, xꢀ phạt vi phạm  
hành chính.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 11/6/2021  
: 28/6/2021  
: 01/7/2021  
Abstract:  
Article Infomation:  
Practices in our country reveals the fact that among the administrative  
violations in the field of land, land appropriation is a quite common  
violation manner. However, there still exist some inadequacies in the law  
on sanctioning administrative violations with this violation, thus causing  
significant difficulties in practices. Within the scope of this article, the  
author focuses on analyzing some inadequacies in the provisions of the  
law on sanctioning administrative violations for the land appropriation and  
also proposes recommendations for improvements.  
Keywords: Land appropriation;  
administrative  
violations;  
sanctioning of administrative  
violations.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 11 Jun 2021  
: 28 Jun 2021  
: 01 July 2021  
Approved  
1. Các quy định của pháp luật về xử  
phạt vi phạm hành chính đối với hành vi  
chiếm đất  
Đất đai là tài sản vô cùng quý giá của  
mỗi quꢁc gia, dân tꢂc, của mỗi con người.  
Ở Việt Nam, đất đai thuꢂc sở hữu toàn dân  
do Nhà nước đại diện chủ sở hữu. Thực hiện  
công cuꢂc Đổi mới toàn diện đất nước, Nhà  
nước ta đã đẩy mạnh trao quyền và mở rꢂng  
quyền của người sꢀ dụng đất nhằm bảo đảm  
từng thꢀa đất được khai thác, sꢀ dụng hiệu  
quả1. Bên cạnh đó, nhằm bảo đảm cho việc  
sꢀ dụng hiệu quả đất đai, Nhà nước thực hiện  
nhiều biện pháp, trong đó có biện pháp hữu  
hiệu là xꢀ phạt các vi phạm hành chính liên  
quan đến đất đai.  
Trong sꢁ các vi phạm hành chính liên  
quan đến đất đai thì chiếm đất là mꢂt vi  
1
Trường Đại học Luật Thành phꢁ Hꢃ Chí Minh, Giáo trình Luật Đất đai, Nxb. Hꢃng Đức - Hꢂi Luật gia  
Việt Nam, năm 2015, tr.158.  
Số 14(438) - T7/2021  
49  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
phạm khá phổ biến2. Hiện nay, việc xꢀ phạt  
vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai nói  
chung và đꢁi với hành vi chiếm đất nói riêng  
được thực hiện theo Nghị định sꢁ 91/2019/  
NĐ-CP về xꢀ phạt vi phạm hành chính trong  
lĩnh vực đất đai (Nghị định sꢁ 91) và mꢂt sꢁ  
nghị định chuyên ngành khác về giao thông  
đường bꢂ và đường sắt, về khai thác và bảo  
vệ công trình thủy lợi; đê điều…  
đất trꢃng lúa, đất rừng đặc dụng, đất rừng  
phòng hꢂ, đất rừng sản xuất; ii. chiếm đất  
trꢃng lúa, đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng  
hꢂ, đất rừng sản xuất, đất phi nông nghiệp  
không phải là đất ở trừ đất hành lang bảo  
vệ an toàn công trình; iii. chiếm đất ở. Nghị  
định sꢁ 91 đã có sự phân định giữa khu vực  
nông thôn và khu vực đô thị để từ đó xác  
định hình thức xꢀ phạt và mức tiền phạt  
tương ứng. Theo quy định tại khoản 1, 2, 3,  
4 Điều 14 của Nghị định này, đꢁi với khu  
vực nông thôn, mức phạt tương ứng với 04  
loại chiếm đất đó là: i. đất chưa sꢀ dụng;  
ii. đất nông nghiệp không phải là đất trꢃng  
lúa, đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hꢂ,  
đất rừng sản xuất; iii. đất nông nghiệp là đất  
trꢃng lúa, đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng  
hꢂ, đất rừng sản xuất; iv. đất phi nông nghiệp  
(trừ đất thuꢂc hành lang bảo vệ an toàn công  
trình và đất công trình có hành lang bảo vệ,  
đất trụ sở làm việc và cơ sở hoạt đꢂng sự  
nghiệp của cơ quan, tổ chức theo quy định  
của pháp luật về quản lý, sꢀ dụng tài sản nhà  
nước). Đꢁi với khu vực đô thị, mức xꢀ phạt  
cũng tương ứng với 04 loại đất chiếm để từ  
đó xác định mức tiền phạt tương ứng theo  
nguyên tắc xꢀ phạt bằng 02 lꢄn mức xꢀ phạt  
đꢁi với loại đất tương ứng ở nông thôn: i. đất  
chưa sꢀ dụng; ii. đất nông nghiệp không phải  
là đất trꢃng lúa, đất rừng đặc dụng, đất rừng  
phòng hꢂ, đất rừng sản xuất; iii. đất nông  
nghiệp là đất trꢃng lúa, đất rừng đặc dụng,  
đất rừng phòng hꢂ, đất rừng sản xuất; iv. đất  
phi nông nghiệp (khoản 5 Điều 14 Nghị định  
sꢁ 91). So với Nghị định sꢁ 102, đây là quy  
định mới và cꢄn thiết, bởi lẽ cùng mꢂt diện  
tích đất nhưng đất ở đô thị giá trị luôn cao  
hơn so với khu vực nông thôn4. Do đó, nếu  
xꢀ phạt vi phạm hành chính cùng mꢂt mức  
Theo quy định của khoản 2 Điều 3 Nghị  
định sꢁ 91, chiếm đất là việc sꢀ dụng đất  
thuꢂc mꢂt trong các trường hợp sau đây: a.  
tự ý sꢀ dụng đất mà không được cơ quan  
quản lý nhà nước về đất đai cho phép; b. tự  
ý sꢀ dụng đất thuꢂc quyền sꢀ dụng hợp pháp  
của tổ chức, cá nhân khác mà không được tổ  
chức, cá nhân đó cho phép; c. sꢀ dụng đất  
được Nhà nước giao, cho thuê đất đã hết thời  
hạn sꢀ dụng mà không được Nhà nước gia  
hạn sꢀ dụng (trừ trường hợp hꢂ gia đình, cá  
nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp sꢀ dụng  
đất nông nghiệp); d. sꢀ dụng đất trên thực  
địa mà chưa hoàn thành các thủ tục giao đất,  
cho thuê đất theo quy định của pháp luật.  
Khác với hành vi chiếm mꢂt loại tài sản  
khác, chiếm đất không phải là lấy đi quyền  
sở hữu mà chỉ lấy đi quyền sꢀ dụng của chủ  
thể bởi pháp luật quy định đất đai thuꢂc sở  
hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở  
hữu và thꢁng nhất quản lý3. Ngoài ra, khác  
với hành vi chiếm mꢂt loại tài sản là đꢂng  
sản, chiếm đất không nhằm mục đích dịch  
chuyển đất khỏi quyền quản lý của chủ sở  
hữu quyền mà chỉ là hành vi đưa đất vào sꢀ  
dụng mꢂt cách bất hợp pháp.  
Trước đây, Nghị định sꢁ 102/2014/NĐ-  
CP của Chính phủ (Nghị định sꢁ 102) xác  
định hành vi chiếm đất theo ba loại đất cụ  
thể: i. chiếm đất nông nghiệp không phải là  
2 Cao Vũ Minh, “Hoàn thiện các quy định pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai”,  
Tạp chí Nhà nước và pháp luật, sꢁ 4, năm 2017.  
3 Điều 4 Luật Đất đai năm 2013.  
4 Châu Hoàng Thân (2018), “Công khai thông tin trong xác định giá đất tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu  
hồi đất”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, sꢁ 9.  
50  
Số 14(438) - T7/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
như nhau thì không tạo được tính răn đe đꢁi  
với người vi phạm.  
rꢂng diện tích đất sꢀ dụng mà không được cơ  
quan quản lý nhà nước về đất đai cho phép  
hoặc không được người sꢀ dụng hợp pháp  
diện tích đất bị lấn đó cho phép5.  
Mꢂt điểm khác biệt nữa là Nghị định sꢁ  
91 đã tăng mức tiền phạt đꢁi với hành vi  
chiếm đất lên rất nhiều lꢄn so với Nghị định  
sꢁ 102. Đặc biệt, Nghị định sꢁ 91 đã cụ thể  
hóa mức tiền phạt tăng lên theo nguyên tắc  
phân loại diện tích đất bị chiếm, loại đất bị  
chiếm và vị trí đất bị chiếm. Cụ thể, khoản 1,  
2, 3, 4, 5 Điều 14 Nghị định sꢁ 91 chia thành  
05 khung tiền phạt từ thấp đến cao căn cứ  
vào diện tích đất bị chiếm là dưới 0,05 hecta;  
từ 0,05 đến dưới 0,1 hecta; từ 0,1 hecta đến  
dưới 0,5 hecta; từ 0,5 hecta đến dưới 01 hecta  
và từ 01 hecta trở lên. Nghị định sꢁ 91 chia  
thành 04 khung tiền phạt khác nhau căn cứ  
vào loại đất bị chiếm là đất chưa sꢀ dụng; đất  
nông nghiệp không phải là đất trꢃng lúa, đất  
rừng đặc dụng, đất rừng phòng hꢂ, đất rừng  
sản xuất; đất nông nghiệp là đất trꢃng lúa,  
đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hꢂ, đất  
rừng sản xuất; đất phi nông nghiệp (khoản 1,  
2, 3, 4 Điều 14 Nghị định sꢁ 91). Cuꢁi cùng,  
Nghị định sꢁ 91 chia thành 02 khung tiền  
phạt khác nhau căn cứ vào vị trí đất bị chiếm  
là ở khu vực đô thị hay nông thôn (khoản 5  
Điều 14 Nghị định sꢁ 91).  
2. Bất cập trong quy định của pháp luật về  
xử phạt đối với hành vi chiếm đất  
Bên cạnh những điểm tích cực nêu trên,  
các quy định của pháp luật về xꢀ phạt đꢁi  
với hành vi chiếm đất hiện vẫn còn mꢂt sꢁ  
bất cập sau đây:  
Thứ nhất, việc phân định giữa hành vi lấn  
đất và hành vi chiếm đất để xꢀ phạt là chưa  
hợp lý, gây trở ngại cho việc áp dụng trong  
thực tiễn.  
Ngoài hành vi chiếm đất thì Nghị định sꢁ  
91 còn quy định về hành vi lấn đất. Theo  
đó, lấn đất là việc người sꢀ dụng đất chuyển  
dịch mꢁc giới hoặc ranh giới thꢀa đất để mở  
Quy định của Nghị định sꢁ 91 cho thấy,  
hành vi “lấn đất” phải tꢃn tại các dấu hiệu:  
“chuyển dịch mốc giới hoặc ranh giới thửa  
đất để mở rộng diện tích đất sử dụng” và  
“không được cơ quan quản lý nhà nước về  
đất đai cho phép hoặc không được người sử  
dụng hợp pháp diện tích đất bị lấn đó cho  
phép”. Do đất đai thuꢂc sở hữu toàn dân nên  
Nhà nước sẽ là chủ thể trao quyền sꢀ dụng  
đất cho người sꢀ dụng đất. Việc trao quyền  
sꢀ dụng đất cho người sꢀ dụng đất được thực  
hiện thông qua hoạt đꢂng của các cơ quan  
quản lý nhà nước về đất đai6. Mꢂt khi được  
cơ quan quản lý nhà nước về đất đai trao  
quyền sꢀ dụng đất thì chủ thể quyền mới có  
thể cho phép cá nhân, tổ chức khác tiếp tục  
sꢀ dụng đất. Như vậy, hành vi sꢀ dụng đất  
mà “không được cơ quan quản lý nhà nước  
về đất đai cho phép” đꢃng nghĩa với việc  
“tự ý sử dụng đất mà không được cơ quan  
quản lý nhà nước về đất đai cho phép”. Với  
góc nhìn đó thì khi “không được người sử  
dụng hợp pháp diện tích đất cho phép” mà  
có hành vi sꢀ dụng đất thì bị xem là “tự ý  
sử dụng đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp  
của tổ chức, cá nhân khác mà không được tổ  
chức, cá nhân đó cho phép”. Vì vậy, yếu tꢁ  
“không được cơ quan quản lý nhà nước về  
đất đai cho phép” tương đꢃng với việc “tự  
ý sử dụng đất mà không được cơ quan quản  
lý nhà nước về đất đai cho phép”. Tương tự,  
“không được người sử dụng hợp pháp diện  
tích đất cho phép” với “tự ý sử dụng đất  
thuộc quyền sử dụng hợp pháp của tổ chức,  
cá nhân khác mà không được tổ chức, cá  
nhân đó cho phép” là đꢃng nhất với nhau. Do  
vậy, việc Nghị định sꢁ 91 quy định,“không  
5 Khoản 1 Điều 3 Nghị định sꢁ 91/2019/NĐ-CP.  
6 Nguyễn Minh Tuấn, “Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai - Một vấn đề cần kiên quyết thực hiện”, Tạp chí  
Cꢂng sản, sꢁ 9, năm 2013.  
Số 14(438) - T7/2021  
51  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
được cơ quan quản lý nhà nước về đất đai  
cho phép hoặc không được người sử dụng  
hợp pháp diện tích đất bị lấn đó cho phép” là  
dấu hiệu để xác định hành vi lấn đất, còn “tự  
ý sử dụng đất mà không được cơ quan quản  
lý nhà nước về đất đai cho phép hoặc tự ý  
sử dụng đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp  
của tổ chức, cá nhân khác mà không được  
tổ chức, cá nhân đó cho phép” - dấu hiệu  
để xác định hành vi chiếm đất là không cꢄn  
thiết và không có ý nghĩa thực tiễn trong đấu  
tranh phòng, chꢁng các vi phạm hành chính  
về đất đai. Bởi lẽ, cả chiếm đất hay lấn đất  
đều là việc sꢀ dụng đất trái pháp luật và đều  
có chung mục đích để mở rꢂng diện tích đất  
sꢀ dụng.  
héc ta thì bị xꢀ phạt cao nhất là 500.000.000  
đꢃng. Trong khi đó, cũng hành vi này nhưng  
diễn ra tại khu vực đô thị, mặc dù quy định  
mức tiền phạt có cao gấp 02 lꢄn so với khu  
vực nông thôn, nhưng suy ra, nếu chiếm trên  
01 héc ta thì mức tiền phạt tꢁi đa cũng chỉ  
là 500.000.000 triệu đꢃng. Bất cập này phát  
sinh là do quy định chưa hợp lý giữa mức tiền  
phạt tꢁi thiểu và tꢁi đa đꢁi với hành vi chiếm  
đất phi nông nghiệp tại nông thôn mà diện  
tích đất bị chiếm từ 01 héc ta trở lên. Theo  
đó, hành vi này bị phạt tiền từ 200.000.000  
đꢃng đến 500.000.000 đꢃng - tức là mức tiền  
phạt tꢁi đa đã bằng mức tiền phạt tꢁi đa đꢁi  
với hành vi chiếm đất phi nông nghiệp tại đô  
thị mà diện tích đất bị chiếm từ 01 héc ta trở  
lên. Ngoài ra, mức tiền phạt này có đꢂ vênh  
giữa mức tꢁi thiểu và tꢁi đa quá lớn (vênh  
nhau 300.000.000 đꢃng). Mức tiền phạt giữa  
tꢁi thiểu và tꢁi đa vênh nhau 300.000.000  
đꢃng đꢁi với cá nhân đꢃng nghĩa với việc là  
vênh nhau 600.000.000 đꢃng đꢁi với tổ chức  
bởi lẽ tổ chức bị phạt gấp đôi so với cá nhân.  
Khoảng cách quá xa giữa mức tiền phạt tꢁi  
thiểu và tꢁi đa vô hình trung tạo lỗ hổng cho  
hành vi thỏa thuận giữa người thi hành công  
vụ với người vi phạm để phạt mức tiền thấp  
nhất, nhưng lại thu thêm những khoản lợi từ  
tiền hꢁi lꢂ của người vi phạm7.  
Hai là, mức tiền phạt đꢁi với hành vi  
chiếm đất tại đô thị so với mức tiền phạt đꢁi  
với hành vi chiếm đất tại nông thôn quy định  
trong Nghị định sꢁ 91 chưa hợp lý.  
Khoản 5 Điều 14 Nghị định sꢁ 91 quy  
định hành vi chiếm đất chưa sꢀ dụng, đất  
nông nghiệp, đất phi nông nghiệp tại khu  
vực đô thị theo nguyên tắc phạt gấp hai lꢄn  
mức xꢀ phạt đꢁi với loại đất tương ứng ở  
nông thôn nhưng mức phạt tꢁi đa không quá  
500.000.000 đꢃng đꢁi với cá nhân, không  
quá 1.000.000.000 đꢃng đꢁi với tổ chức. Sở  
dĩ hành vi chiếm đất tại khu vực đô thị có  
mức tiền phạt cao hơn so với khu vực nông  
thôn là vì đất ở đô thị luôn cao giá hơn đất  
ở nông thôn. Do đó, việc Nghị định quy  
định phạt tiền gấp hai lꢄn là khá hợp lý. Tuy  
nhiên, việc giới hạn “tối đa cũng không quá  
500.000.000 đồng đối với cá nhân và không  
quá 1.000.000.000 đồng đối với tổ chức”  
lại chưa hợp lý. Bởi lẽ, trong mꢂt sꢁ trường  
hợp, mức tiền của hành vi chiếm đất tại đô  
thị và chiếm đất tại nông thôn hoàn toàn  
giꢁng nhau mà không có sự khác biệt. Đơn  
cꢀ, mꢂt cá nhân có hành vi chiếm đất phi  
nông nghiệp tại khu vực nông thôn trên 01  
Ba là, quy định về thẩm quyền áp dụng  
biện pháp khắc phục hậu quả “buꢂc trả lại  
đất đã chiếm” là chưa hợp lý.  
Theo quy định của khoản 1 Điều 38 Nghị  
định sꢁ 91, khi xꢀ lý vi phạm hành chính trong  
lĩnh vực đất đai, Chủ tịch Ủy ban nhân dân  
cấp xã có quyền phạt tiền đến 5.000.000 đꢃng,  
đꢃng thời áp dụng biện pháp khắc phục hậu  
quả buꢂc khôi phục lại tình trạng ban đꢄu của  
đất trước khi vi phạm. Đꢁi chiếu với mức tiền  
phạt đꢁi với hành vi chiếm đất, Chủ tịch Ủy  
ban nhân dân cấp xã có thể xꢀ phạt vi phạm  
hành chính đꢁi với hành vi chiếm đất trong  
7 Cao Vũ Minh, “Bất cập và hướng hoàn thiện các quy định pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong  
lĩnh vực môi trường”, Tạp chí Khoa học pháp lý sꢁ 6, năm 2017.  
52  
Số 14(438) - T7/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
các trường hợp: i. Chiếm đất chưa sꢀ dụng  
tại khu vực nông thôn - diện tích đất chiếm  
dưới 0,05 hecta (phạt tiền từ 2.000.000 đꢃng  
đến 3.000.000 đꢃng); ii. Chiếm đất chưa sꢀ  
dụng tại khu vực nông thôn - diện tích đất  
chiếm từ 0,05 hecta đến dưới 0,1 hecta (phạt  
tiền từ 3.000.000 đꢃng đến 5.000.000 đꢃng);  
iii. Chiếm đất nông nghiệp không phải là đất  
trꢃng lúa, đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng  
hꢂ, đất rừng sản xuất tại khu vực nông thôn -  
diện tích đất chiếm dưới 0,05 hecta (phạt tiền  
từ 3.000.000 đꢃng đến 5.000.000 đꢃng); iv.  
Chiếm đất nông nghiệp là đất trꢃng lúa, đất  
rừng đặc dụng, đất rừng phòng hꢂ, đất rừng  
sản xuất tại khu vực nông thôn - diện tích đất  
chiếm dưới 0,02 hecta (phạt tiền từ 3.000.000  
đꢃng đến 5.000.000 đꢃng)8. Tuy nhiên, theo  
quy định hiện hành, Chủ tịch Ủy ban nhân  
dân cấp xã không có quyền áp dụng biện  
pháp khắc phục hậu quả “buộc trả lại đất đã  
chiếm”. Do vậy, trong trường hợp cꢄn áp dụng  
biện pháp khắc phục hậu quả “buộc trả lại  
đất đã lấn, chiếm”, Chủ tịch Ủy ban nhân dân  
cấp xã phải chuyển cho Chủ tịch Ủy ban nhân  
dân cấp huyện ra quyết định xꢀ phạt. Như vậy,  
cấp trên trở thành cấp xꢀ phạt nhiều hơn, “ôm  
đꢃm” xꢀ phạt luôn cả những vi phạm vꢁn dĩ  
thuꢂc thẩm quyền của các chức danh có thẩm  
quyền xꢀ phạt ở cấp cơ sở9. Đây là phương  
án đi ngược lại với chủ trương mở rꢂng thẩm  
quyền cho cấp dưới, cấp cơ sở, đꢃng thời cũng  
đi ngược lại với phân cấp quản lý nhà nước về  
hoạt đꢂng xꢀ phạt và mâu thuẫn với nguyên  
tắc xác định thẩm quyền xꢀ phạt dựa trên tính  
chất, mức đꢂ nguy hiểm của hành vi10.  
Thứ nhất, sꢀa đổi Điều 14 Nghị định sꢁ  
91 theo hướng gꢂp hai hành vi “lấn đất”  
và “chiếm đất” thành hành vi “chiếm đất”,  
đꢃng thời sꢀa đổi các điều khoản khác của  
Nghị định sꢁ 91 có liên quan đến xꢀ phạt  
hành vi “lấn đất” thành xꢀ phạt hành vi  
“chiếm đất”.  
Thứ hai, rà soát nhằm bảo đảm tính  
hợp lý trong quy định về mức tiền phạt tꢁi  
thiểu và tꢁi đa đꢁi với hành vi chiếm đất  
phi nông nghiệp tại nông thôn mà diện tích  
đất bị chiếm từ 01 héc ta trở lên. Tác giả  
cho rằng, đꢁi với hành vi này mức phạt  
tiền từ 200.000.000 đꢃng đến 250.000.000  
đꢃng là hợp lý. Việc rút ngắn “biên đꢂ dao  
đꢂng” giữa mức tiền phạt tꢁi thiểu và tꢁi  
đa của hành vi vi phạm này nhằm hạn chế  
tiêu cực khi áp dụng biện pháp xꢀ phạt  
này. Bên cạnh đó, mức tiền phạt tꢁi đa là  
250.000.000 đꢃng phù hợp với quy định  
phạt gấp hai lꢄn đꢁi với hành vi chiếm đất  
phi nông nghiệp tại đô thị mà diện tích đất  
bị chiếm từ 01 héc ta trở lên nhưng cũng  
không quá 500.000.000 đꢃng đꢁi với cá  
nhân, không quá 1.000.000.000 đꢃng đꢁi  
với tổ chức.  
Thứ ba, sꢀa đổi điểm d khoản 1 Điều 38  
Nghị định sꢁ 91 theo hướng bổ sung thẩm  
quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp  
xã áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả  
“buộc trả lại đất đã chiếm”. Theo đó, điểm  
d khoảng 1 Điều 38 Nghị định sꢁ 91 được  
viết lại như sau:  
“d) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu  
quả: Buꢂc khôi phục lại tình trạng ban đꢄu  
của đất trước khi vi phạm; buꢂc trả lại đất  
3. Kiến nghị  
Để hoàn thiện các quy định của pháp luật  
về xꢀ phạt vi phạm hành chính đꢁi với hành  
vi chiếm đất, tác giả kiến nghị:  
đã chiếm”  
8 Điều 14 Nghị định sꢁ 91/2019/NĐ-CP.  
9 Cao Vũ Minh (chủ biên), Một số biện pháp khắc phục hậu quả trong xử phạt vi phạm hành chính - Thực trạng  
và hướng hoàn thiện, Nxb. Chính trị quꢁc gia, năm 2019, tr.98.  
10 Nguyễn Cảnh Hợp - Mai Thị Lâm, “Quy định thẩm quyền xử phạt theo tỷ lệ phần trăm có khống chế mức  
trần: Ưu điểm hay hạn chế?”, Tạp chí Khoa học pháp lý, sꢁ 6, 2015.  
Số 14(438) - T7/2021  
53  
pdf 5 trang Thùy Anh 11460 Free
Bạn đang xem tài liệu "Xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi chiếm đất", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfxu_phat_vi_pham_hanh_chinh_doi_voi_hanh_vi_chiem_dat.pdf