Tội đưa hối lộ theo công ước chống tham nhũng và quy định của bộ luật hình sự Việt Nam
TỘI ĐƯA HỐI LỘ THEO CÔNG ƯỚC CHỐNG THAM NHŨNG
VÀ QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TRẦN THỊ NGỌC KIM*
Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (gọi tắt là BLHS năm 2015) ra
đời đã thể hiện được nhiều yêu cầu về nội luật hóa Công ước của Liên hợp quốc về chống
tham nhũng (gọi tắt là Công ước UNCAC) đối với tội phạm tham nhũng. Tuy nhiên, các
quy định trong BLHS năm 2015 về tội đưa hối lộ (Điều 364) chỉ mới tương thích được một
phần các yêu cầu hình sự hóa tội phạm tham nhũng theo Công ước UNCAC. Do đó, việc
tiếp tục nghiên cứu nhằm hoàn thiện các quy định của BLHS năm 2015 về tội phạm này
trên cơ sở yêu cầu của Công ước UNCAC là yêu cầu cần thiết.
Từ khóa: Tội đưa hối lộ, Công ước UNCAC, BLHS năm 2015, chống tham nhũng.
Ngày nhận bài: 01/3/2021; Biên tập xong: 30/3/2021; Duyệt đăng: 09/4/2021
The 2015 Penal Code, amended and supplemented in 2017 has internalized many
regulations of the United Nations Convention against Corruption (UNCAC). However,
its provisions on bribery on Article 364 are only partially compatible with the
requirements of criminalizing corruption crimes under the UNCAC. Therefore, based
on the requirements of the UNCAC, it is necessary to continue perfecting the 2015
Penal Code’s provisions on this crime.
Keywords: Crime on bribery, UNCAC, the 2015 Penal Code, corruption prevention.
1. Vấn đề hình sự hoá hành vi đưa hối lộ không phụ thuộc vào địa vị pháp lý của
lộ theo UNCAC
họ. Công ước còn quy định pháp nhân
cũng có thể là chủ thể của tội phạm hối lộ.
Nếu người phạm tội đưa hoặc nhận hối
lộ hành động vì lợi ích của pháp nhân và
nhân danh pháp nhân, trách nhiệm hình
sự của pháp nhân sẽ được đặt ra đối với
pháp nhân đó. Đó chính là người đứng
đầu của tổ chức đại diện cho pháp nhân
hoặc có quyền quyết định nhân danh
pháp nhân hoặc quyền kiểm soát các hoạt
động trong pháp nhân.
1.1. Những yêu cầu có tính chất bắt buộc
Công ước UNCAC đặt ra cho các quốc
gia thành viên nghĩa vụ hình sự hóa các
hành vi hối lộ gồm hối lộ công chức quốc
gia, hối lộ công chức nước ngoài hoặc
công chức của tổ chức quốc tế công, hối lộ
trong khu vực tư. Trong đó, hành vi đưa
hối lộ trong Công ước gồm Hối lộ công
chức quốc gia (Điều 15), Hối lộ công chức
nước ngoài và công chức tổ chức quốc tế
công (Điều 16).
- Yêu cầu về tội phạm hóa hành vi đưa hối lộ
- Yêu cầu về chủ thể: Người đưa hối lộ
trong quan hệ hối lộ theo quy định của
Công ước UNCAC có thể là bất kỳ cá
nhân, tổ chức nào muốn trục lợi từ hành
vi của người nhận hối lộ. Công ước xác
định đó có thể là bất kỳ người nào đã có
hành vi hứa hẹn chào mời cho một lợi ích
không chính đáng đối với người nhận hối
Theo quy định tại Điều 15, các quốc
gia thành viên phải xác định hành vi vi
phạm hình sự sau đây: Hối lộ chủ động,
được định nghĩa là lời hứa, đề nghị hoặc
đưa đến cho một công chức quốc gia một
mối lợi không chính đáng để hành động
* Thạc sĩ, Phó trưởng khoa Luật, Trường Đại học Đà Lạt
Số 02 - 2021
Khoa học Kiểm sát 61
TỘI ĐƯA HỐI LỘ THEO CÔNG ƯỚC CHỐNG THAM NHŨNG...
hoặc không hành động trong các vấn đề là lời hứa hẹn, đề nghị, đưa ra một mối
liên quan đến công vụ. Pháp luật bắt buộc
phải thực hiện quy định này1. Về hành vi
đưa hối lộ (hối lộ chủ động), đây là hành vi
hứa đưa hối lộ, đưa ra lời mời hối lộ hoặc
đưa của hối lộ. Hành vi hứa đưa hối lộ là
hành vi người phạm tội đưa ra lời cam kết
sẽ trao của hối lộ sau hoặc trường hợp có
một thỏa thuận giữa người đưa hối lộ và
người nhận hối lộ rằng người đưa hối lộ
sẽ trao của hối lộ sau. Đưa ra lời mời hối
lộ bao gồm những trường hợp mà trong
đó, người đưa hối lộ thể hiện sẵn sàng đưa
của hối lộ vào bất kỳ thời điểm nào. Đưa
của hối lộ bao gồm trường hợp người đưa
hối lộ thực hiện hành vi trao của hối lộ cho
người nhận hối lộ với sự thỏa thuận trước
hoặc không. Theo quy định của Công ước,
hành vi đưa hối lộ hoàn thành khi người
có chức vụ quyền hạn nhận thức được sự
tồn tại của lời hứa đưa hối lộ hoặc lời hối lộ
hoặc của hối lộ đã được chuyển tới người
này bất kể người này có chấp nhận lời mời
hoặc của hối lộ đó hay không. Vì hành vi
bao gồm các trường hợp chỉ đưa hối lộ,
nghĩa là, bao gồm cả các trường hợp không
được chấp nhận và do đó không thể ảnh
hưꢀng đến hành vi, nên mối liên hệ phải
là bị cáo không chỉ có ý định đưa hối lộ
mà còn ảnh hưꢀng đến hành vi của người
nhận, bất kể điều này có thực sự diễn ra
hay không2. Công ước không đòi hỏi hành
vi nhận hối lộ và đưa hối lộ không cần có
sự thỏa thuận trước của người nhận hối lộ
và người đưa hối lộ.
lợi không chính đáng cho công chức nước
ngoài hoặc công chức của tổ chức quốc
tế công một cách trực tiếp hoặc gián tiếp
cho chính bản thân công chức đó hoặc cho
người khác, tổ chức khác để công chức đó
hành động hoặc không hành động trong
phạm vi công vụ của họ nhằm duy trì hoạt
động hoặc mối lợi không chính đáng liên
quan đến việc tiến hành hoạt động quốc
tế3. Theo hướng dẫn lập pháp Công ước
của UNODC, tội phạm này tương tự với
hành vi đưa hối lộ (hối lộ chủ động) ꢀ Điều
15 Công ước UNCAC. Điểm khác nhau là
ꢀ điều luật này, hành vi đưa hối lộ là đưa
cho công chức nước ngoài hay công chức
của tổ chức quốc tế công, thay vì là công
chức quốc gia. Mối lợi không chính đáng
hoặc hối lộ phải liên quan đến hoạt động
kinh doanh quốc tế, bao gồm cả việc cung
cấp viện trợ quốc tế. Nếu không, tất cả các
yếu tố bắt buộc của hành vi phạm tội (hứa
hẹn, cung cấp hoặc cho), bản chất của mối
lợi không chính đáng và yếu tố khách quan
hoặc chủ quan bắt buộc vẫn giống như mô
tả ꢀ trên4. Công ước UNCAC không quy
định về hậu quả của hành vi đưa hối lộ, chỉ
cần thực hiện hành vi đưa hối lộ là đã đủ
yếu tố cấu thành hành vi đưa hối lộ. Của
hối lộ được xác định ꢀ đây có thể là lợi ích
vật chất hoặc lợi ích phi vật chất và cũng
không cần phải xác định giá trị của hối lộ.
Việc xác định giá trị của hối lộ là bao nhiêu
để có thể cấu thành tội phạm tùy thuộc vào
luật pháp quốc gia thành viên.
Đối với hành vi hối lộ công chức nước
ngoài hoặc công chức của tổ chức quốc
tế công, theo quy định tại đoạn 1 Điều 16
của Công ước, các quốc gia thành viên
phải xem xét một hành vi là tội phạm khi
hành vi đó được thực hiện một cách cố ý,
- Yêu cầu về lỗi: Hành vi hối lộ theo quy
định của Công ước UNCAC được thực
hiện bꢀi lỗi cố ý. Như vậy, người đưa hối
lộ nhận thức rõ hành vi của mình là phạm
tội, mong muốn thực hiện hành vi phạm
tội của mình đến cùng. Trong trường
hợp vì vô ý mà đưa hối lộ thì không đủ
yếu tố cấu thành tội phạm tội hối lộ theo
1ꢁ United Nations Office on Drugs and Crime
(UNODC), Legislative guide for the implementation
of the United Nations Convention against corruption,
United Nations, New York, 2006, đoạn 183 trang 62.
2ꢁ UNODC, tlđd, 2006, đoạn 193 trang 64.
3ꢁ UNODC, tlđd, 2006, đoạn 205 trang 66.
4ꢁ UNODC, tlđd, 2006, đoạn 208, trang 67.
62 Khoa học Kiểm sát
Số 02 - 2021
TRẦN THỊ NGỌC KIM
quy định của Công ước UNCAC. Người là “Private Sector”. Khu vực tư nhân là một
phạm tội phải nhận thức được rằng họ phần của nền kinh tế được điều hành bꢀi
đang tự mình hoặc thông qua người khác các cá nhân và doanh nghiệp hoạt động vì
thực hiện tội phạm về hối lộ, họ phải thấy
trước điều đó, hành động một cách có chủ
ý, người phạm tội phải mong muốn và
quyết định thực hiện tội phạm đến cùng.
Ngoài ra, Công ước cũng quy định lỗi cố
ý đối với tất cả các yếu tố khách quan của
tội phạm. Điều đó có nghĩa là người phạm
tội không chỉ mong muốn thực hiện hành
vi đưa và nhận hối lộ mà còn mong muốn
hành vi làm hoặc không làm một việc của
người nhận hối lộ xảy ra để đem lại lợi ích
cho người đưa hối lộ.
mục tiêu lợi nhuận, không do Nhà nước
kiểm soát. Do đó, khu vực tư nhân bao
gồm tất cả các doanh nghiệp hoạt động vì
mục tiêu lợi nhuận, không thuộc quyền sꢀ
hữu hoặc điều hành của Chính phủ6.
- Yêu cầu về tội phạm hóa hành vi đưa hối
lộ trong khu vực tư: Các yếu tố bắt buộc của
hành vi này là hứa hẹn, đề nghị hoặc đưa
vật nào đó cho một người điều hành hoặc
làm việc cho một tổ chức thuộc khu vực
tư. Hành vi phạm tội phải bao gồm cả các
trường hợp mà vật dùng để hối lộ không
chỉ là một món quà hoặc một vật hữu hình
nào đó được đưa ra. Vì vậy, một mối lợi
không chính đáng có thể là vật hữu hình
hoặc vô hình, cho dù là vật chất hay phi
vật chất7. Mối lợi không chính đáng này
không nhất thiết phải được trao ngay lập
tức hoặc trực tiếp cho một người điều
hành hoặc làm việc cho một tổ chức thuộc
khu vực tư nhân. Nó có thể được hứa hẹn,
đề nghị và đưa ra một cách trực tiếp hoặc
gián tiếp. Một món quà, sự nhượng bộ
hoặc lợi ích khác cũng có thể được đưa
cho một số người khác như người thân
hoặc một tổ chức chính trị. Luật của một
số quốc gia có thể bao hàm cả lời hứa và
lời đề nghị theo các điều khoản liên quan
đến việc cố gắng thực hiện hành vi hối lộ.
Trong trường hợp không phải như vậy,
cần xác định cụ thể việc hứa hẹn (ngụ
ý thỏa thuận giữa người đưa hối lộ và
người nhận hối lộ) và đề nghị (không ngụ
ý thỏa thuận của người nhận hối lộ). Mối
lợi không chính đáng hoặc hối lộ phải liên
quan đến nhiệm vụ của người đó8. Trong
trường hợp người điều hành hoặc làm
việc cho một tổ chức trong khu vực tư
1.2. Những yêu cầu mang tính tùy nghi
- Yêu cầu về tội phạm hóa hành vi hối lộ
(Điều 16(2), Điều 21 Công ước UNCAC)
Công ước UNCAC quy định tội phạm
hóa đối với hành vi nhận hối lộ của công
chức nước ngoài và công chức của tổ chức
quốc tế công, cũng như hành vi đưa hối lộ
cho công chức nước ngoài và công chức
của tổ chức quốc tế công là yêu cầu tùy
nghi. Các quốc gia thành viên cân nhắc tội
phạm hóa yêu cầu này trên cơ sꢀ phù hợp
với luật pháp của quốc gia mình.
Đối với Tội hối lộ trong khu vực tư, các
quốc gia thành viên phải cân nhắc hành vi
sau là tội phạm: Hứa hẹn, chào mời hay
mang đến một lợi ích không chính đáng
một cách trực tiếp hay gián tiếp cho người
điều hành hay làm việc cho tổ chức thuộc
khu vực tư vì lợi ích của chính người đó
hay của người hoặc tổ chức khác, để người
đó vi phạm nhiệm vụ của mình bằng cách
làm hoặc không làm một việc gì (đoạn (a)
Điều 21 Công ước UNCAC)5.
- Yêu cầu về chủ thể: Người thực hiện
hành vi hối lộ chủ động là bất kỳ ai. Công
ước UNCAC cũng như hướng dẫn lập
pháp của Công ước không giải thích thế
hiểu là khu vực tư nhân, trong tiếng Anh
6ꢁ Jim Chappelow, What is the Private Sector? Truy
private-sector.asp vào lúc 22h00 ngày 21/8/2020.
7ꢁ UNODC, tlđd, 2006, đoạn 301, trang 85.
5ꢁ UNODC, tlđd, 2006, đoạn 266, trang 79.
8ꢁ UNODC, tlđd, 2006, đoạn 302, trang 85.
Số 02 - 2021
Khoa học Kiểm sát 63
TỘI ĐƯA HỐI LỘ THEO CÔNG ƯỚC CHỐNG THAM NHŨNG...
không nhận hoặc không chấp nhận hối lộ vi đã đưa hối lộ nghĩa là hành vi đã đưa
thì hành vi đưa hối lộ cũng vẫn bị coi là một lợi ích không chính đáng (lợi ích vật
tội phạm9.
chất có giá trị từ 02 triệu đồng trꢀ lên hoặc
lợi ích phi vật chất) cho người có chức vụ,
quyền hạn hoặc người khác hoặc tổ chức
khác để người có chức vụ, quyền hạn làm
hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc
theo yêu cầu của người đưa hối lộ.
- Yêu cầu về lỗi: Hành vi đưa hối lộ được
thực hiện với lỗi cố ý. Mục đích của người
nhận hối lộ là đòi hỏi hoặc chấp nhận mối
lợi không chính đáng vi phạm nghĩa vụ
của họ, trong quá trình hoạt động kinh tế,
tài chính hoặc thương mại10.
Hình thức đã đưa hối lộ không quan
trọng, có thể đưa trực tiếp hoặc đưa qua
trung gian, có thể thể hiện ꢀ quà tặng, quà
biếu, hoặc các lợi ích phi vật chất khác.
Tuy nhiên, việc quy định “đã đưa” vô
hình chung đã bỏ qua yếu tố “đang đưa”
hối lộ, ví dụ: Hai bên người nhận hối lộ và
người đưa hối lộ đang trao và nhận của
hối lộ thì hành vi trên có bị xem là tội đưa
hối lộ hay chưa? Trên thực tế, hành vi này
vẫn bị coi là đủ yếu tố cấu thành tội đưa
hối lộ vì đã có nhiều vụ án xảy ra, việc bắt
quả tang hành vi đưa và nhận hối lộ vẫn
bị xử lý là tội phạm đã hoàn thành. Như
vậy, quy định hành vi đưa hối lộ là “đã
đưa” liệu có phù hợp? Ngay trong khoản
6 Điều 364 BLHS năm 2015 quy định về
hành vi đưa hối lộ cho công chức nước
ngoài và công chức của tổ chức quốc tế
công thì hành vi khách quan lại là hành
vi “đưa hoặc sẽ đưa hối lộ”, trong khi đó
trong cấu thành cơ bản tại khoản 1 Điều
364 BLHS năm 2015 lại quy định là “đã
đưa hoặc sẽ đưa”. Do đó, hai quy định
này rõ ràng đã thể hiện sự không hợp lý
trong điều luật.
Hành vi “sẽ đưa” hối lộ cũng được
xem là thỏa thuận giữa người nhận hối
lộ và người đưa hối lộ về việc sẽ đưa một
lợi ích không chính đáng. Tương tự như
hành vi “sẽ nhận” hối lộ, tác giả cho rằng
“sẽ đưa” hối lộ là hành động xảy ra trong
tương lai và là kết quả của hành vi cụ thể
đã thực hiện (thỏa thuận, hứa hẹn). Nó là
dấu hiệu phản ánh ý thức chủ quan của
người đưa. Theo quy định của Công ước
UNCAC, hành vi đưa hối lộ là “hứa hẹn,
đề nghị hay mang đến” chứ không quy
2. Những tương đồng và khác biệt về
tội đưa hối lộ theo Bộ luật hình sự Việt
Nam với quy định của UNCAC
2.1. Về điểm tương đồng
* Đối với yêu cầu bắt buộc
Quy định của BLHS Việt Nam về tội
đưa hối lộ cũng đã được nội luật hóa
khá đầy đủ theo yêu cầu của Công ước
UNCAC (Điều 15, 16(1)).
Về dấu hiệu chủ thể của tội phạm: Công
ước UNCAC cũng không quy định cụ thể
chủ thể phải có dấu hiệu đặc biệt gì, như
vậy có thể hiểu là bất kì ai cũng có thể trꢀ
thành chủ thể của tội phạm đưa hối lộ.
Tại khoản 1 Điều 364 của BLHS Việt Nam
cũng quy định chủ thể của tội đưa hối lộ
là chủ thể thường, nghĩa là bất kỳ ai có
năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ
tuổi theo luật định. Đây được coi là điểm
tương đồng giữa BLHS nước ta và Công
ước UNCAC về chủ thể của tội đưa hối lộ.
Về dấu hiệu hành vi của tội đưa hối lộ: Điều
15(a) của Công ước UNCAC đã được nội
luật hóa thành Điều 364 BLHS năm 2015.
Cụ thể, hành vi hứa đưa hối lộ, chào mời
hối lộ hay cho của hối lộ, trực tiếp hay gián
tiếp theo quy định của Công ước UNCAC
cũng được quy định tại khoản 1 là “ꢀ
dạng trực tiếp hay qua trung gian đã đưa
hoặc sẽ đưa…”. Hành vi đưa hối lộ cho
công chức nước ngoài hoặc công chức của
tổ chức quốc tế công tại Điều 16(1) Công
ước UNCAC quy định tại khoản 6: Hành
9ꢁ UNODC, tlđd, 2006, đoạn 303, trang 86.
10ꢁ UNODC, tlđd, 2006, đoạn 305, trang 86.
64 Khoa học Kiểm sát
Số 02 - 2021
TRẦN THỊ NGỌC KIM
định là “sẽ đưa”. Vì vậy, cần có sự thay đưa hối lộ đã hoàn thành11. Bꢀi lẽ, theo
quy định của BLHS năm 2015, hành vi
đưa hối lộ và nhận hối lộ là hai tội phạm
độc lập, không nhất thiết phải có hành
vi nhận hối lộ mới có hành vi đưa hối lộ.
Khi đưa một lợi ích không chính đáng thì
người đưa hối lộ nghĩ rằng người nhận
hối lộ có khả năng làm hoặc không làm
một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của
mình, chính vì thế hành vi đưa hối lộ
trong trường hợp này đã đủ yếu tố cấu
thành tội đưa hối lộ. Ngoài ra, việc đưa
hối lộ trong trường hợp “tặng quà tạ ơn”
không bị coi là phạm tội đưa hối lộ, giữa
người tặng quà và người nhận quà không
có sự thỏa thuận cũng như không gắn
với chức vụ quyền hạn của người nhận.
Người nhận quà trong trường hợp này
không lợi dụng chức vụ, quyền hạn của
mình để làm hoặc không làm một việc
theo yêu cầu hoặc vì lợi ích của người
tặng quà, ꢀ đây không có sự hứa hẹn sẽ
trả ơn hay bất kỳ điều gì.
Điều này cũng phù hợp với Luật hình
sự của một số quốc gia, ví dụ như Hoa Kỳ
có quy định đưa hối lộ là hành vi trực tiếp
hoặc gián tiếp đưa, đề xuất đưa hay hứa
hẹn đưa bất kỳ lợi ích vật chất nào cho
viên chức nhà nước hoặc người được bầu
là đưa bất kỳ lợi ích vật chất nào cho viên
chức, cá nhân hay tổ chức khác12. Chính
vì quy định đưa hối lộ là phải có sự thỏa
thuận nên Luật hình sự Hoa Kỳ cũng cho
thấy nếu đó là tặng quà hoặc hối lộ tạ ơn sẽ
không coi là phạm tội đưa hối lộ. Tội phạm
hoàn thành khi người đưa hối lộ đưa yêu
cầu và người nhận chấp nhận yêu cầu đó
của người đưa hối lộ. Tuy nhiên, rất khó
xác định thế nào là “sẽ đưa” hối lộ vì thực
tế hành vi này chưa xảy ra. Điều này có thể
bị nhầm lẫn là thuộc trường hợp “hối lộ tạ
ơn”, từ đó dẫn đến việc bỏ lọt tội phạm.
đổi trong sử dụng cụm từ “sẽ đưa” hối
lộ cho phù hợp, có thể thay bằng “hứa
hẹn đưa” hay “thỏa thuận đưa”. Vậy tội
phạm sẽ được coi là hoàn thành trong
trường hợp này là tại thời điểm nào? Đó
chính là thời điểm người nhận hối lộ và
người đưa hối lộ đạt được sự thỏa thuận
sẽ đưa hối lộ, không nhất thiết phải sau
khi người nhận hối lộ làm hoặc không
làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu
của người đưa hối lộ.
Mặt khác, trong tội nhận hối lộ thì chủ
thể của tội nhận hối lộ là cá nhân nhưng
trong tội đưa hối lộ thì việc đưa hối lộ là
cá nhân hoặc pháp nhân. Liệu quy định
này của BLHS về tội đưa hối lộ có mâu
thuẫn với tội nhận hối lộ? Bên cạnh đó,
khi quy định hành vi đã đưa hoặc sẽ đưa
hối lộ cho “người có chức vụ, quyền hạn
hoặc người khác hoặc tổ chức khác”,
nhưng khi quy định để chủ thể đó làm
hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc
theo yêu cầu của người đưa hối lộ thì chỉ
quy định là “người có chức vụ, quyền
hạn”, vậy còn “người khác hoặc tổ chức
khác” trong việc nhận hối lộ này như thế
nào, họ làm hoặc không làm một việc vì
lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa
hối lộ thì người đưa hối lộ đã đưa hoặc sẽ
đưa hối lộ cho họ nhằm mục đích gì? Quy
định này đã bộc lộ điểm mâu thuẫn ngay
trong điều luật.
Về vấn đề lợi ích vật chất có giá trị
từ 02 triệu đồng trꢀ lên hoặc lợi ích phi
vật chất. Trong thực tiễn, người đưa hối
lộ lầm tưꢀng người nhận hối lộ là người
có chức vụ, quyền hạn mà đưa hối lộ, ví
dụ như bị lừa dối mà đưa hối lộ nhưng
người này không có khả năng làm hoặc
không làm một việc vì lợi ích hoặc theo
yêu cầu của người đưa hối lộ thì hành vi
này có bị coi là phạm tội đưa hối lộ hay
11ꢁ Trịnh Tiến Việt, Tội đưa hối lộ trong Bộ luật hình sự
năm 1999, Tạp chí Kiểm sát, số 22 (11-2006), trang 45.
không? Hành vi này vẫn cấu thành tội 12ꢁ Điều 201(1(b)), Bộ luật hình sự Hoa Kỳ.
Số 02 - 2021
Khoa học Kiểm sát 65
TỘI ĐƯA HỐI LỘ THEO CÔNG ƯỚC CHỐNG THAM NHŨNG...
Về khái niệm “mối lợi không chính
Về dấu hiệu chủ thể: Người thực hiện
đáng” của hành vi tham nhũng được hành vi hối lộ chủ động (đưa hối lộ) là bất
đề cập trong Công ước UNCAC là phù
hợp với quy định của BLHS 2015. “Mối
lợi không chính đáng” trong Công ước
UNCAC được hiểu là lợi ích vật chất (tài
sản, các lợi ích vật chất khác) và lợi ích
phi vật chất (được khen, phong tặng các
danh hiệu cao quý, thăng chức, cho quan
hệ tình dục…), động sản hay bất động
sản, hữu hình hay vô hình, và các văn bản
pháp lý hay giấy tờ chứng minh quyền sꢀ
hữu hoặc lợi ích đối với tài sản đó13. Trong
khi đó, BLHS năm 2015 cũng quy định đối
tượng của hành vi tham nhũng bao gồm
tiền, tài sản14 hoặc lợi ích vật chất khác
và lợi ích phi vật chất. Như vậy, theo quy
định của BLHS năm 2015, lợi ích không
chính đáng cũng bao gồm cả lợi ích vật
chất và lợi ích phi vật chất.
Về quy định người được hưꢀng lợi ích
khi thực hiện các hành vi liên quan đến
tham nhũng, theo Công ước UNCAC có
thể là công chức nhà nước hoặc là một cá
nhân, tổ chức khác. Trong khi đó, BLHS
năm 2015 cũng quy định người được
hưꢀng lợi trong các tội phạm về tham
nhũng là người có chức vụ quyền hạn,
người khác hoặc tổ chức khác. Về người
được hưꢀng lợi ích khi thực hiện các hành
vi liên quan đến tham nhũng, Công ước
quy định đó có thể là chính bản thân công
chức nhà nước hoặc là một cá nhân, tổ
chức khác; và BLHS năm 2015 quy định
người được hưꢀng lợi là người có chức vụ
quyền hạn hoặc người khác hoặc tổ chức
khác. Như vậy, hai quy định này cơ bản
đã đáp ứng được yêu cầu của Công ước.
kỳ ai. Quy định này đã được tội phạm hóa
tại khoản 6 Điều 364 BLHS năm 2015; theo
đó, chủ thể thực hiện hành vi này là chủ
thể thường, bất kỳ ai. Quy định này được
coi là phù hợp với quy định tại Điều 21(a)
Công ước UNCAC.
Về dấu hiệu hành vi: Hối lộ chủ động
(đưa hối lộ), theo quy định tại Điều 21(a),
các yếu tố bắt buộc của hành vi phạm tội
này là hứa hẹn hoặc đưa một lợi ích không
chính đáng, trực tiếp hay gián tiếp cho một
người điều hành hoặc làm việc cho một tổ
chức thuộc khu vực tư. Trong khi đó, quy
định về hành vi đưa hối lộ của BLHS năm
2015 là hành vi đã đưa hoặc sẽ đưa hối lộ
trực tiếp hay qua trung gian. Lợi ích không
chính đáng theo quy định của Công ước
UNCAC là lợi ích vật chất hoặc lợi ích phi
vật chất, được coi là phù hợp với quy định
của BLHS năm 2015 về của hối lộ có thể là
tài sản (có giá trị 02 triệu đồng trꢀ lên) hoặc
lợi ích phi vật chất.
2.2. Những điểm khác biệt
* Đối với yêu cầu bắt buộc
Về tính chất của hành vi đưa hối lộ: Hành
vi đưa hối lộ, theo quy định tại Điều 15(a)
và 16(1) của Công ước UNCAC bao gồm
hành vi hứa hẹn, chào mời hay cho. Trong
khi đó, quy định tại Điều 364 BLHS Việt
Nam về hành vi đưa hối lộ gồm hành vi
đã đưa hoặc sẽ đưa. Quy định này của
BLHS năm 2015 được coi là mới hình sự
hóa được hành vi đưa hối lộ ꢀ dạng hứa
hẹn, cho theo quy định của Công ước
UNCAC, còn hành vi chào mời hối lộ,
tức là hành vi đưa hối lộ hoàn thành khi
người có chức vụ, quyền hạn nhận thức
được sự tồn tại của sự chào mời đưa hối
lộ hoặc lời hối lộ hoặc của hối lộ đã được
chuyển tới người này, bất kể người này có
chấp nhận lời mời hoặc của hối lộ đó hay
không. Hành vi đã đưa hoặc sẽ đưa trong
tội đưa hối lộ tại Điều 364 BLHS Việt Nam
* Đối với yêu cầu mang tính tùy nghi
Hành vi đưa hối lộ trong khu vực tư
quy định tại Điều 21 Công ước UNCAC
đã được tội phạm hóa tại khoản 6 Điều
364 BLHS năm 2015.
13ꢁ Điều 2(d) Công ước UNCAC
14ꢁ Điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015
66 Khoa học Kiểm sát
Số 02 - 2021
TRẦN THỊ NGỌC KIM
là phải đạt được sự thỏa thuận giữa người
đưa hối lộ và nhận hối lộ bất kể đã nhận
được của hối lộ hay chưa. Như vậy, về bản
chất, hành vi đưa hối lộ theo quy định tại
Công ước UNCAC chưa được hình sự
hóa đầy đủ trong BLHS Việt Nam. Hành
vi tại Điều 15 và 16(1) Công ước UNCAC
đã được tội phạm hóa tại Điều 353 và 364
BLHS Việt Nam. Về hành vi đưa hối lộ,
gồm các hành vi hứa hẹn, chào mời hay
cho một lợi ích không chính đáng (Điều
15(a), 16(1)), hành vi hứa hẹn và cho một
lợi ích không chính đáng đã được tội phạm
hóa tại Điều 364 BLHS Việt Nam, hành vi
chào mời hối lộ chưa được tội phạm hóa.
Chào mời hối lộ được coi như một gợi ý,
đề nghị của người đưa hối lộ, điều này
không cần biết người nhận hối lộ có nhận
được lời chào mời hối lộ hay không vì đây
là một tội phạm độc lập với tội nhận hối
lộ, kể cả trong trường hợp không có hành
vi nhận hối lộ thì hành vi đưa hối lộ cũng
cấu thành tội phạm. Như vậy, chào mời
hối lộ là hành vi đơn phương của người
đưa hối lộ.
3. Một số kiến nghị hoàn thiện quy định
về tội đưa hối lộ theo yêu cầu của UNCAC
3.1. Đối với những yêu cầu bắt buộc
Hành vi hứa hẹn và cho một lợi ích
không chính đáng theo quy định của Công
ước UNCAC đã được tội phạm hóa tương
ứng với hành vi sẽ đưa hoặc đã đưa tại Điều
364 BLHS Việt Nam, hành vi chào mời hối
lộ chưa được tội phạm hóa. Đưa hối lộ và
nhận hối lộ là hai tấm gương phản chiếu
với nhau, vì vậy khi xây dựng tội đưa hối
lộ ngoài đáp ứng yêu cầu của Công ước
TOC (Công ước chống tội phạm có tổ chức
xuyên quốc gia) và Công ước UNCAC, cần
phải có những quy định phù hợp với quy
định về tội đưa hối lộ. Trong tội danh này,
tác giả có một số kiến nghị sau:
- Thứ nhất, bổ sung tình tiết “đề nghị
đưa” hối lộ vào cấu thành cơ bản của tội
đưa hối lộ, bên cạnh hai tình tiết “đã đưa
và sẽ đưa” hối lộ;
- Thứ hai, nên thay đổi cụm từ “đã đưa”
hối lộ thành “đưa” hối lộ cho phù hợp vì
“đưa” hối lộ bao gồm cả “đang đưa và đã
đưa” hối lộ. Nếu quy định “đã đưa” hối lộ
thì sẽ bỏ qua hành vi “đang đưa” hối lộ,
dễ dẫn đến bỏ lọt tội phạm. Cũng cần có
sự thay đổi cụm từ “sẽ đưa” thành “thỏa
thuận đưa” cho phù hợp với yêu cầu của
Công ước UNCAC.
Từ những phân tích trên, tác giả cho
rằng cần sửa đổi, bổ sung quy định về tội
đưa hối lộ như sau: “1. Người nào trực tiếp
hay qua trung gian đề nghị, đưa hoặc thoả
thuận đưa cho người có chức vụ, quyền hạn
hoặc người khác hoặc tổ chức khác một lợi
ích không chính đáng nào sau đây để người
có chức vụ, quyền hạn hoặc người đó hoặc
tổ chức đó làm hoặc không làm một việc
vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa
hối lộ, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng
đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không
giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06
tháng đến 03 năm...”.
* Các yêu cầu mang tính tùy nghi
Đối với hành vi đưa hối lộ trong khu
vực tư, quy định tại khoản 6 Điều 364
BLHS Việt Nam gồm hành vi đưa hoặc sẽ
đưa hối lộ cho công chức nước ngoài hoặc
công chức của tổ chức quốc tế công nhưng
hành vi tại Điều 21(a) Công ước UNCAC
rộng hơn, bao gồm các hành vi hứa hẹn,
chào mời hoặc cho một lợi ích không chính
đáng cho công chức nước ngoài hoặc công
chức của tổ chức quốc tế công. Như vậy,
hành vi chào mời đưa hối lộ chưa được
hình sự hóa trong BLHS Việt Nam. Hành
vi chào mời đưa hối lộ bị coi là tội phạm
cả khi không có sự thỏa thuận, đồng ý của
người nhận hối lộ theo quy định của Điều
21(a) Công ước UNCAC. Trong khi đó,
hành vi đưa hoặc sẽ đưa hối lộ tại khoản
6 Điều 364 BLHS Việt Nam là hành vi cần
sự thỏa thuận hay chấp nhận lời mời hối
lộ của người nhận hối lộ.
Số 02 - 2021
Khoa học Kiểm sát 67
TỘI ĐƯA HỐI LỘ THEO CÔNG ƯỚC CHỐNG THAM NHŨNG...
3.2. Đối với những yêu cầu tùy nghi
chức của tổ chức quốc tế công thì cũng bị xử
lý theo quy định tại Điều này”.
Đối với nhóm hành vi đưa hối lộ cho
công chức nước ngoài, công chức của tổ chức
quốc tế công, đưa hối lộ trong khu vực tư
và trách nhiệm hình sự của pháp nhân: Tại
khoản 6 Điều 364 BLHS năm 2015, đưa
hối lộ cho công chức nước ngoài, công
chức của tổ chức quốc tế công và người có
chức vụ trong các doanh nghiệp, tổ chức
ngoài nhà nước cũng cần bổ sung thêm
hành vi “đề nghị đưa” hối lộ cùng với
hành vi “đưa hoặc thỏa thuận đưa hối lộ”
trong điều luật cho phù hợp. Bên cạnh đó,
khoản 1 Điều 364 BLHS năm 2015 cũng
quy định hành vi đưa hoặc thỏa thuận đưa
hối lộ cho đối tượng là “người có chức vụ,
quyền hạn hoặc người khác hoặc tổ chức
khác”. Tuy nhiên, khi quy định để chủ thể
đó làm hoặc không làm một việc vì lợi ích
hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ,
pháp luật hình sự chỉ quy định là “người
có chức vụ, quyền hạn”, vậy còn “người
khác hoặc tổ chức khác” trong việc nhận
hối lộ này như thế nào, họ làm hoặc không
làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu
của người đưa hối lộ thì người đưa hối lộ
đã đưa hoặc sẽ đưa hối lộ cho họ nhằm
mục đích gì?
Đối với hành vi đưa hối lộ trong khu
vực tư, hành vi này về bản chất và nhiều
yếu tố định khung sẽ có những điểm khác
biệt so với tội nhận hối lộ trong khu vực
công. Do đó, tác giả cho rằng cần quy
định tội đưa hối lộ trong khu vực tư là
tội phạm độc lập với tội đưa hối lộ trong
khu vực công. Theo tác giả, nên xây dựng
điều luật này như sau: “1. Người nào trực
tiếp hay qua trung gian đề nghị, đưa hoặc thỏa
thuận đưa cho người có chức vụ, quyền
hạn hoặc người làm việc ꢀ bất kỳ cương
vị nào trong các doanh nghiệp, tổ chức
ngoài nhà nước hoặc tổ chức khác để người
đó hoặc tổ chức đó làm hoặc không làm một
việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa
hối lộ, thì bị phạt...”. Trong điều luật này,
cần bổ sung thêm trách nhiệm hình sự
của pháp nhân thương mại khi thực hiện
hành vi đưa hối lộ như sau: “Pháp nhân
thương mại nào mà trực tiếp hay qua trung
gian đề nghị, đưa hoặc thỏa thuận đưa cho
người có chức vụ, quyền hạn hoặc người
làm việc ꢀ bất kỳ cương vị nào trong các
doanh nghiệp, tổ chức ngoài nhà nước
hoặc tổ chức nào để người đó hoặc tổ chức đó
làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc
theo yêu cầu của người đưa hối lộ, thì bị…”./.
Do đó, theo tác giả, quy định này nên
bổ sung thêm vào cụm từ “để người có
chức vụ, quyền hạn, người khác, tổ chức
khác làm hoặc không làm một việc vì lợi
ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối
lộ”. Ngoài ra, quy định về hành vi đưa hối
lộ cho tổ chức khác là thừa nhận có pháp
nhân thương mại nhận hối lộ. Quy định
này đã có sự mâu thuẫn. Theo như kiến
nghị của tác giả về tội nhận hối lộ, khi bổ
sung thêm hành vi nhận hối lộ của pháp
nhân thương mại vào điều luật thì quy
định đưa hối lộ cho tổ chức là hợp lý. Từ
những phân tích trên, tác giả cho rằng cần
sửa đổi, bổ sung quy định về tội đưa hối
lộ như sau: “6. Người nào trực tiếp hay qua
trung gian đề nghị đưa, đưa hoặc thỏa thuận
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ luật dân sự năm 2015;
2. Bộ luật hình sự Hoa Kỳ;
3. Jim Chappelow, What is the Private Sector?
terms/p/private-sector.asp vào lúc 22h00 ngày
21/8/2020;
4. Trịnh Tiến Việt, Tội đưa hối lộ trong Bộ luật
hình sự năm 1999, Tạp chí Kiểm sát, số 22 (11-2006),
trang 45;
5. United Nations Office on Drugs and
Crime, Legislative guide for the implementation of the
United Nations Convention against corruption, United
đưa hối lộ cho công chức nước ngoài, công Nations, New York, 2006.
68 Khoa học Kiểm sát
Số 02 - 2021
Bạn đang xem tài liệu "Tội đưa hối lộ theo công ước chống tham nhũng và quy định của bộ luật hình sự Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
toi_dua_hoi_lo_theo_cong_uoc_chong_tham_nhung_va_quy_dinh_cu.pdf

