Hoàn thiện một số quy định về tranh tụng tại phiên tòa trong bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

HOÀN THIỆN MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ TRANH TỤNG...  
TẠI PHIÊN TÒA TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015  
PHẠM MẠNH HÙNG*  
Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 được xây dựng dựa trên một trong những  
nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự là nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm.  
Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để các chủ thể tham gia tiến hành tố tụng hình sự xác định  
được sự thật của vụ án và bảo đảm tính công bằng, minh bạch cho phiên tòa, tránh oan, sai và  
bỏ lọt tội phạm. Song bên cạnh đó, một số quy định về tranh tụng tại phiên tòa trong Bộ luật  
này còn chưa thực sự hợp lý. Do vậy, bài viết tập trung chỉ ra một số vấn đề cần được chỉnh  
sửa để hoàn thiện hơn, cũng như đề xuất các kiến nghị để giải quyết vấn đề này.  
Từ khóa: Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm, tranh tụng tại phiên tòa,  
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015  
Ngày nhận bài: 01/01/2021; Biên tập xong: 12/01/2021; Duyệt đăng: 15/01/2021  
One of the basic principles in criminal proceedings included in the 2015 Criminal  
Procedure Code is ensuring adversary in trials. That important point helps participants  
in criminal proceedings determine the truth in cases, ensure fairness and transparency  
in trials, avoid injustice and prevent crime omission. However, this Code remains some  
unreasonable regulations about adversarial principles, so that the article focuses on  
analyzing limitations and proposing solutions to solve these problems.  
Keywords: The principle of ensuring advesary in trials, trial advocacy, the 2015  
Criminal Procedure Code.  
iến pháp nước ta ghi nhận  
nguyên tắc tranh tụng trong  
xét xử được bảo đảm (khoản  
còn một số vấn đề cần được tiếp tục chỉnh  
sửa để hoàn thiện.  
1. Quy định về nguyên tắc tranh  
tụng trong xét xử được bảo đảm  
H
5 Điều 103 Hiến pháp năm 2013). Trên  
cơ sở đó, BLTTHS năm 2015 quy định  
nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được  
bảo đảm (Điều 26) là một trong những  
nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự  
cũng như quy định về thủ tục tranh tụng  
tại phiên tòa (từ Điều 306 đến Điều 325).  
Đây là cơ sở pháp lý để các cơ quan, người  
có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người  
tham gia tố tụng thực hiện các hoạt động  
tranh tụng tại phiên tòa theo quy định  
của pháp luật nhằm xác định sự thật của  
vụ án, bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và  
người phạm tội, không làm oan người vô  
tội, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp  
của cá nhân, cơ quan, tổ chức bị hành vi  
phạm tội xâm hại. Tuy nhiên, nghiên cứu  
một số quy định của BLTTHS năm 2015  
về tranh tụng tại phiên tòa, chúng tôi thấy  
Điều 26 BLTTHS năm 2015 quy định  
về nguyên tắc tranh tụng trong xét xử  
được bảo đảm. Như vậy, tranh tụng tại  
phiên tòa là một thủ tục tố tụng hình sự,  
bao gồm tranh tụng tại phiên tòa xét xử  
sơ thẩm, tranh tụng tại phiên tòa xét xử  
phúc thẩm và có thể tranh tụng tại phiên  
tòa giám đốc thẩm, tái thẩm.  
Tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ  
thẩm vụ án hình sự được bắt đầu sau khi  
Kiểm sát viên công bố cáo trạng hoặc  
quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn và  
kết thúc khi chủ tọa phiên tòa tuyên bố kết  
thúc tranh luận. Nội dung tranh tụng tại  
phiên tòa xét xử sơ thẩm được thể hiện ở  
các hoạt động: xét hỏi, đưa ra chứng cứ,  
* Tiến sĩ, Nguyên Phó Vụ trưởng Vụ 7, Viện Kiểm sát  
nhân dân tối cao  
Số 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát  
3
HOÀN THIỆN MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ TRANH TỤNG...  
đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu, trình  
bày ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người  
bào chữa, bị hại, đương sự, người bảo vệ  
quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại,  
đương sự1; luận tội của Kiểm sát viên;  
tranh luận giữa các chủ thể tham gia tranh  
tụng dưới sự điều khiển của Thẩm phán  
Chủ tọa phiên tòa.  
Tranh tụng tại phiên tòa xét xử phúc  
thẩm vụ án hình sự được bắt đầu sau khi  
một thành viên của Hội đồng xét xử trình  
bày tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của  
bản án sơ thẩm, nội dung kháng cáo, kháng  
nghị và được thể hiện ở các hoạt động tranh  
tụng cơ bản giống như hoạt động tranh tụng  
tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.  
Một nội dung khác là tại phiên tòa xét xử  
phúc thẩm, trước khi tiến hành xét hỏi, Kiểm  
sát viên, người khác liên quan đến kháng  
cáo, kháng nghị phát biểu ý kiến về nội dung  
kháng cáo, kháng nghị và tại phiên tòa, Kiểm  
sát viên không luận tội mà phát biểu quan  
điểm về việc giải quyết vụ án.  
Tại phiên tòa giám đốc thẩm hoặc tái  
thẩm, trường hợp xét thấy cần thiết hoặc  
có căn cứ sửa một phần bản án, quyết định  
đã có hiệu lực pháp luật, Tòa án triệu tập  
người bị kết án, người bào chữa và những  
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến  
việc kháng nghị tham gia phiên tòa (khoản  
2 Điều 383, Điều 403 BLTTHS năm 2015).  
Nếu những người được triệu tập có mặt  
tại phiên tòa thì Kiểm sát viên, người tham  
gia tố tụng tại phiên tòa giám đốc thẩm, tái  
thẩm thực hiện việc tranh tụng về những  
vấn đề liên quan đến vụ án. Kiểm sát viên  
phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc  
giải quyết vụ án.  
Trường hợp tại phiên tòa giám đốc  
thẩm, tái thẩm Tòa án không triệu tập  
người bị kết án, người bào chữa và những  
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến  
kháng nghị tham gia phiên tòa giám đốc  
thẩm hoặc có triệu tập mà họ không có mặt  
tại phiên tòa thì phiên tòa giám đốc thẩm,  
tái thẩm vẫn được tiến hành mà không có  
thủ tục tranh tụng giữa Kiểm sát viên và  
người bị kết án, người bào chữa và những  
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến  
việc kháng nghị. Như vậy, nhìn chung tại  
phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm không  
có thủ tục tranh tụng tại phiên tòa, trừ  
trường hợp được quy định tại khoản 2  
Điều 386 BLTTHS năm 2015.  
Theo quy định tại khoản 2 Điều 290  
BLTTHS năm 2015, Tòa án có thể xét xử  
vắng mặt bị cáo trong các trường hợp bị  
cáo trốn và việc truy nã không có kết quả;  
bị cáo đang ở nước ngoài và không thể  
triệu tập đến phiên tòa; bị cáo đề nghị xét  
xử vắng mặt và được Hội đồng xét xử chấp  
nhận; nếu sự vắng mặt của bị cáo không  
vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở  
ngại khách quan và sự vắng mặt của bị cáo  
không gây trở ngại cho việc xét xử.  
Trong những trường hợp Tòa án xét  
xử vắng mặt bị cáo và cũng không có mặt  
người bào chữa cho bị cáo thì không có  
việc tranh tụng giữa Kiểm sát viên với bị  
cáo, người bào chữa.  
Nhưvậy, theocácquyđịnhcủaBLTTHS  
năm 2015, không phải mọi phiên tòa xét xử  
vụ án hình sự đều có thủ tục tranh tụng.  
Để bảo đảm tính đồng bộ trong các  
quy định của BLTTHS, theo chúng tôi,  
đoạn cuối Điều 26 BLTTHS năm 2015 về  
nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được  
bảo đảm cần được sửa đổi, bổ sung theo  
hướng: “Bản án, quyết định của Tòa án phải  
căn cứ vào ... kết quả tranh tụng tại phiên tòa,  
trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác”.  
2. QuyđịnhvềKiểmsátviênrútquyết  
định truy tố hoặc kết luận về khoản khác  
trong cùng một điều luật hoặc tội khác tại  
phiên tòa trong quá trình tranh tụng  
1ꢀ  
Trong mục III Quy định chung về thủ tục tố tụng  
tại phiên tòa, không có điều nào quy định về sự có  
mặt của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của  
bị hại, đương sự. Khoản 2 Điều 307 BLTTHS về trình  
tự xét hỏi có đề cập đến việc hỏi của người bảo vệ  
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự nhưng lại  
thiếu việc hỏi của người bảo vệ quyền, lợi ích hợp  
pháp của bị hại. Đây là những thiếu sót trong xây  
dựng luật.  
4
Khoa học Kiểm sát  
Số 01 - 2021  
PHẠM MẠNH HÙNG  
Bản cáo trạng hoặc quyết định truy tố danh mà Viện kiểm sát đã truy tố thì Kiểm  
theo thủ tục rút gọn thể hiện quan điểm sát viên phải kết luận và đề nghị Tòa án  
truy tố của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử bị cáo theo hướng đó. Trường hợp  
có căn cứ xác định bị cáo phạm tội về tội  
danh khác nặng hơn tội danh Viện kiểm  
sát đã truy tố thì Kiểm sát viên đề nghị Hội  
đồng xét xử trả hồ sơ vụ án để Viện kiểm  
sát điều tra bổ sung.  
Cùng với việc sửa đổi, bổ sung Điều  
319 BLTTHS năm 2015, điểm c khoản 1  
Điều 266 và khoản 1 Điều 325 BLTTHS  
năm 2015 cũng cần được sửa đổi, bổ sung  
theo hướng khẳng định tại phiên tòa, Kiểm  
sát viên có thể rút một phần quyết định  
truy tố hoặc kết luận về khoản khác trong  
cùng một điều luật hoặc về tội danh khác  
bằng hoặc nhẹ hơn tội danh Viện kiểm sát  
đã truy tố.  
Theo quy định tại Điều 320 BLTTHS  
năm 2015, sau khi kết thúc việc xét hỏi,  
nếu thấy có đủ căn cứ để kết tội bị cáo thì  
Kiểm sát viên trình bày luận tội; nếu thấy  
không có căn cứ để kết tội bị cáo thì Kiểm  
sát viên sẽ không luận tội mà rút toàn bộ  
quyết định truy tố và đề nghị Tòa án tuyên  
bố bị cáo không có tội. Theo quy định tại  
khoản 1 Điều 325 BLTTHS năm 2015, tại  
phiên tòa, khi Kiểm sát viên rút một phần  
quyết định truy tố thì Hội đồng xét xử vẫn  
tiếp tục xét xử vụ án.  
Như trên đã đề cập, Kiểm sát viên rút  
một phần quyết định truy tố tại phiên tòa  
có thể là trường hợp Kiểm sát viên rút một  
hoặc một số tội danh đã truy tố đối với bị  
cáo và giữ nguyên quyết định truy tố về  
tội danh khác hoặc các tội danh khác và  
trường hợp Kiểm sát viên rút quyết định  
truy tố đối với một hoặc một số bị cáo và  
giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị  
cáo hoặc các bị cáo khác. Về nguyên tắc,  
Tòa án chỉ có thể xét xử, kết án bị cáo khi  
có quyết định truy tố và lời buộc tội của  
Kiểm sát viên tại phiên tòa. Nếu tại phiên  
tòa, sau khi xét hỏi, Kiểm sát viên rút một  
truy tố. Tuy nhiên, tại phiên tòa xét xử sơ  
thẩm vụ án hình sự, sau khi kết thúc việc  
xét hỏi, nếu có đủ căn cứ xác định quan  
điểm truy tố trong bản cáo trạng hoặc  
trong quyết định truy tố theo thủ tục rút  
gọn chưa phù hợp thì Kiểm sát viên có thể  
rút quyết định truy tố hoặc kết luận khác  
so với quan điểm truy tố trong bản cáo  
trạng hoặc trong quyết định truy tố. Điều  
319 BLTTHS năm 2015 quy định: “Sau khi  
kết thꢀc viꢁc xét hỏi, Kiểm sát viên có thể rꢀt  
một phần hoꢂc toàn bộ quyết định truy tố hoꢂc  
kết luận về tội nhẹ hơn”.  
Rút toàn bộ quyết định truy tố là rút  
toàn bộ Bản cáo trạng hoặc Quyết định  
truy tố theo thủ tục rút gọn đối với bị cáo.  
Rút một phần quyết định truy tố là rút một  
hoặc một số tội danh đã truy tố đối với bị  
cáo và giữ nguyên quyết định truy tố về tội  
danh khác hoặc các tội danh khác hoặc rút  
quyết định truy tố đối với một hoặc một số  
bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố đối  
với bị cáo hoặc các bị cáo khác.  
Theo quy định tại Điều 319 BLTTHS  
năm 2015, ngoài việc rút một phần hoặc  
toàn bộ quyết định truy tố, sau khi xét hỏi,  
Kiểm sát viên có thể kết luận về tội (tội  
danh) nhẹ hơn tội (tội danh) Viện kiểm  
sát đã truy tố. Theo chúng tôi, việc chỉ quy  
định Kiểm sát viên có thể kết luận về tội  
danh nhẹ hơn là chưa phù hợp. Bởi lẽ theo  
quy định tại Điều 298 BLTTHS năm 2015,  
Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản  
khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy  
tố trong cùng một điều luật (khoản có  
khung hình phạt nhẹ hơn hoặc khung hình  
phạt nặng hơn) hoặc về một tội khác (tội  
danh khác) bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện  
kiểm sát đã truy tố. Do vậy, sẽ là phù hợp  
hơn nếu Điều 319 được sửa đổi, bổ sung  
theo hướng, sau khi xét hỏi, thấy có căn cứ  
xác định bị cáo phạm tội theo khoản khác phần quyết định truy tố thì Kiểm sát viên  
trong cùng một điều luật hoặc bị cáo phạm sẽ không luận tội và tranh luận theo hướng  
tội về tội danh khác bằng hoặc nhẹ hơn tội buộc tội đối với phần đã rút quyết định  
Số 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát  
5
HOÀN THIỆN MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ TRANH TỤNG...  
truy tố. Do vậy, nếu Kiểm sát viên đã rút xử của Tòa án và từ các nguyên tắc cơ bản  
một phần quyết định truy tố mà Hội đồng của tố tụng hình sự (nguyên tắc tôn trọng  
và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi  
ích hợp pháp của cá nhân; nguyên tắc suy  
đoán vô tội; nguyên tắc tranh tụng trong  
xét xử được bảo đảm; nguyên tắc bảo đảm  
quyền được bồi thường của người bị thiệt  
hại trong hoạt động tố tụng hình sự…)  
cũng như để bảo đảm việc giải quyết vụ án  
được kịp thời, tiết kiệm và phù hợp với quy  
định tại điểm b khoản 1 Điều 282 BLTTHS  
năm 20152, cần sửa đổi, bổ sung quy định  
tại khoản 1 Điều 320 BLTTHS theo hướng:  
Sau khi kết thúc việc xét hỏi, Kiểm sát viên  
trình bày luận tội; nếu sau khi kết thúc việc  
xét hỏi thấy không có căn cứ để kết tội thì  
rút toàn bộ quyết định truy tố và đề nghị  
Hội đồng xét xử đình chỉ vụ án.  
xét xử vẫn tiếp tục xét xử, kết tội bị cáo về  
phần Kiểm sát viên rút quyết định truy tố  
là không phù hợp.  
Khoản 2 Điều 325 và khoản 4 Điều 326  
BLTTHS năm 2015 quy định trường hợp  
Kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy  
tố thì trước khi nghị án, Hội đồng xét xử  
yêu cầu những người tham gia phiên tòa  
trình bày ý kiến về việc rút quyết định truy  
tố đó.  
Theo những quy định trên, sau khi xét  
hỏi mà Kiểm sát viên rút toàn bộ quyết  
định truy tố thì Kiểm sát viên sẽ không  
thực hiện việc luận tội và việc tranh luận  
xung quanh quan điểm buộc tội của Kiểm  
sát viên cũng sẽ không diễn ra.  
Điều 325 BLTTHS năm 2015 cũng cần  
được sửa đổi, bổ sung theo hướng: Khi  
Kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy  
tố thì Hội đồng xét xử ra quyết định đình  
chỉ vụ án. Khi Kiểm sát viên rút một phần  
quyết định truy tố thì Hội đồng xét xử  
quyết định đình chỉ vụ án đối với phần  
mà Kiểm sát viên đã rút quyết định truy  
tố. Đối với phần quyết định truy tố còn lại  
và trường hợp Kiểm sát viên kết luận về  
tội danh khác bằng hoặc nhẹ hơn tội danh  
Viện kiểm sát đã truy tố thì Hội đồng xét  
xử vẫn tiếp tục xét xử vụ án.  
3. Quy định về thủ tục trong trường  
hợp đang tranh tụng mà bị hại hoặc người  
đại diện của họ rút yêu cầu tại phiên tòa  
xét xử vụ án được khởi tố theo yêu cầu của  
bị hại  
Theo Điều 155 BLTTHS năm 2015, các  
cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng  
chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm  
quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136,  
138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ  
luật hình sự (BLHS) khi có yêu cầu của bị  
hại hoặc người đại diện của bị hại là người  
dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm  
thần hoặc thể chất hoặc đã chết.  
Khoản 4 Điều 326 BLTTHS năm 2015  
quy định trường hợp Kiểm sát viên rút  
toàn bộ quyết định truy tố thì khi nghị án,  
Hội đồng xét xử vẫn giải quyết những vấn  
đề của vụ án theo nguyên tắc biểu quyết  
theo đa số. Nếu có căn cứ xác định bị cáo  
không có tội thì Hội đồng xét xử tuyên bị  
cáo không có tội; nếu thấy việc rút quyết  
định truy tố không có căn cứ thì quyết  
định tạm đình chỉ vụ án và kiến nghị Viện  
trưởng Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện  
trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp.  
Vấn đề đặt ra là Hội đồng xét xử có  
thể quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với  
trường hợp Kiểm sát viên rút toàn bộ quyết  
định truy tố thì căn cứ quy định nào và với  
điều kiện nào Hội đồng xét xử có thể phục  
hồi vụ án? Trường hợp Hội đồng xét xử  
kiến nghị Viện trưởng Viện kiểm sát cùng  
cấp hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát cấp  
trên trực tiếp xem xét về việc rút toàn bộ  
quyết định truy tố tại phiên tòa của Kiểm  
sát viên mà Viện trưởng Viện kiểm sát  
cùng cấp, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp  
trên trực tiếp vẫn đồng ý với quan điểm rút  
quyết định truy tố đó thì việc tiếp tục giải  
quyết vụ án sẽ theo trình tự, thủ tục nào?  
2ꢀ Điều 282 BLTTHS quy định về căn cứ đình chỉ vị án  
buộc tội của Viện kiểm sát, chức năng xét của chủ tọa phiên tòa trong giai đoạn chuẩn bị xét xử  
Theo chúng tôi, xuất phát từ chức năng  
6
Khoa học Kiểm sát  
Số 01 - 2021  
PHẠM MẠNH HÙNG  
Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố  
Với quy định như trên, có quan điểm cho  
rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ rằng, để thực hiện đúng nguyên tắc tranh tụng  
trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu trong xét xử được bảo đảm thì việc BLTTHS  
cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của  
họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người  
đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều  
tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến  
hành tố tụng đối với vụ án.  
quy định khi xét hỏi, chủ tọa phiên tòa hỏi  
trước là chưa phù hợp, mà nên quy định Kiểm  
sát viên hỏi trước.  
Chúng tôi cho rằng, với tư cách là người  
điều hành việc hỏi, sau khi Kiểm sát viên  
công bố cáo trạng hoặc quyết định truy  
tố theo thủ tục rút gọn, chủ tọa phiên tòa  
thường phải hỏi ý kiến bị cáo về nội dung  
bản cáo trạng hoặc quyết định truy tố theo  
thủ tục rút gọn. Ví dụ, chủ tọa phiên tòa  
hỏi bị cáo có ý kiến gì về nội dung cáo trạng  
mà Kiểm sát viên vừa công bố? Hoặc bị cáo  
cho biết nội dung bản cáo trạng mà Kiểm  
sát viên vừa công bố có giống với nội dung  
bản cáo trạng mà bị cáo đã được nhận  
không? Sau đó là phần trình bày ý kiến của  
bị cáo. Như vậy, việc hỏi trước của chủ tọa  
phiên tòa trong trường hợp này mang tính  
chất gợi mở và hoàn toàn hợp lý.  
Tuy nhiên, để hoạt động tranh tụng trong  
xét xử được thực hiện dân chủ, bình đẳng,  
thể hiện đúng vai trò của các chủ thể buộc  
tội, chủ thể gỡ tội, chủ thể xét xử và vai trò  
điều hành của chủ tọa phiên tòa, Điều 307  
BLTTHS năm 2015 về trình tự xét hỏi cũng  
cần được sửa đổi theo hướng xác định rõ chủ  
tọa phiên tòa hỏi trước về ý kiến của bị cáo  
đối với bản cáo trạng (hoặc quyết định truy  
tố theo thủ tục rút gọn) và yêu cầu bị cáo trình  
bày về những tình tiết của vụ án, trừ trường  
hợp phiên tòa xét xử vắng mặt bị cáo. Sau đó,  
chủ tọa phiên tòa sẽ điều hành việc hỏi của  
Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ  
quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự.  
Hội đồng xét xử chỉ nên hỏi thêm về những  
tình tiết mà người được hỏi trình bày chưa  
đầy đủ hoặc có mâu thuẫn hoặc xét thấy còn  
những tình tiết khác cần được làm sáng tỏ để  
kiểm tra tính hợp pháp của các chứng cứ, tài  
liệu liên quan đến vụ án và tính hợp pháp  
của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra  
Theo quy định trên, trường hợp vụ án  
khởi tố theo yêu cầu của bị hại mà bị hại  
hoặc người đại diện của họ rút yêu cầu hoàn  
toàn theo ý muốn của họ thì vụ án phải được  
đình chỉ. Như vậy, trường hợp bị hại hoặc  
người đại diện của họ tự nguyện rút yêu cầu  
tại phiên tòa thì vụ án cũng phải được đình  
chỉ. Tuy nhiên, trong các quy định về thủ tục  
xét xử vụ án hình sự lại không có quy định  
về việc Hội đồng xét xử quyết định đình chỉ  
vụ án khi bị hại hoặc người đại diện của họ  
rút yêu cầu tại phiên tòa xét xử vụ án được  
khởi tố theo yêu cầu của bị hại. Đây là một  
thiếu sót khi xây dựng luật. Theo chúng tôi,  
có thể sửa đổi, bổ sung Điều 325 BLTTHS  
năm 2015 hoặc bổ sung thêm một điều luật  
mới về việc xem xét việc rút yêu cầu khởi  
tố của bị hại hoặc đại diện của họ tại phiên  
tòa xét xử vụ án được khởi tố theo yêu cầu  
của bị hại với nội dung: Khi bị hại hoặc đại  
diện của họ rút yêu cầu khởi tố tại phiên tòa  
xét xử vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại  
thì Hội đồng xét xử ra quyết định đình chỉ  
vụ án.  
4. Quy định về trình tự xét hỏi khi  
thực hiện thủ tục tranh tụng tại phiên tòa  
xét xử sơ thẩm vụ án hình sự  
Theo quy định tại Điều 307 BLTTHS  
năm 2015, tại phiên tòa xét xử vụ án hình  
sự, Hội đồng xét xử phải xác định đầy đủ  
những tình tiết về từng sự việc, từng tội  
trong vụ án và từng người. Chủ tọa phiên  
tòa điều hành việc hỏi, quyết định người  
hỏi trước, hỏi sau theo thứ tự hợp lý. Khi  
xét hỏi từng người, chủ tọa phiên tòa hỏi  
trước, sau đó quyết định để Thẩm phán,  
Hội thẩm, Kiểm sát viên, người bào chữa, viên, Kiểm sát viên, người bào chữa, người  
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp tham gia tố tụng khác trong quá trình điều  
của đương sự thực hiện việc hỏi.  
tra, truy tố, xét xử vụ án./.  
Số 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát  
7
pdf 5 trang Thùy Anh 8560 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hoàn thiện một số quy định về tranh tụng tại phiên tòa trong bộ luật tố tụng hình sự năm 2015", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhoan_thien_mot_so_quy_dinh_ve_tranh_tung_tai_phien_toa_trong.pdf