Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong mối liên hệ với hệ thống pháp luật

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT, ĐẠI HỌC HUẾ  
TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP  
TRONG MỐI LIÊN HỆ VỚI HỆ THỐNG PHÁP LUẬT  
LÊ THỊ NGA*  
NGUYỄN HOÀNG LINH CHI  
Ngày nhận bài: 05/02/2021  
Ngày phản biện: 13/02/2021  
Ngày đăng bài: 30/03/2021  
Tóm tắt:  
Abstract:  
The article considers the influence of  
Bài viết xem xét ảnh hưởng của nguồn  
gốc hệ thống luật pháp đối với việc hình the legal system's origin on the construction of  
thành và thực thi trách nhiệm xã hội của corporate social responsibility (CSR) concept.  
doanh nghiệp (TXD). Vấn đề được tiếp cận To what extent the legal system's origin created  
trên nền tảng nội dung TXD được xem xét từ the different of CSR concepts understanding  
ba hợp phần, gồm: 1) Bảo vệ môi trường; and it‟s framework. The article investigates  
2) Việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người; current common CSR content-based includes  
và 3) Nhà nước pháp quyền và quản trị xã three components: 1) Environmental protection;  
hội và môi trường.  
2) The promotion and protection of human  
rights; and 3) The rule of law and social and  
environmental governance.  
Có quan điểm cho rằng TXD “hoạt  
động” như luật không chính thức, vì vậy nó  
không có sự liên quan đến nguồn gốc của hệ  
There are opinions that CSR‟s functions  
thống pháp luật. Ngược lại với nhận định as “informal law”, so it is not relevant to the  
này, bài viết nhận diện ảnh hưởng của tư duy legal system's origin. Contra to that statement,  
pháp lý từ nguồn gốc của hệ thống pháp luật the article aims to explore the influence of  
đối với hành vi thực hiện TXD của doanh legal thinking between two legal system's  
nghiệp. Từ đó, đóng góp một cách tiếp cận origins on the CSR implementing behavior of  
khác cho việc xây dựng và thực thi TXD enterprises. Hence, contribute another approach  
hướng tới các tiêu chuẩn bền vững trên cơ sở to the CSR toward the protection in human  
dựa trên nền tảng nguồn gốc tư duy pháp l  rights and the sustainable development‟s  
của mỗi quốc gia.  
standards based on the legal thinking background  
of each country.  
Từ khóa:  
Key words:  
Hệ thống pháp luật,trách nhiệm xã hội  
Legal Origins, legal systems, corporate  
của doanh nghiệp, thông luật, Luật châu Âu cocial responsibility, common law, Civil Law.  
lục địa.  
* TS., GV Khoa Luật Hành Chính, Trường Đại học Luật, Đại học Huế; Email: [email protected]  
 ThS., GV Khoa Luật Hành Chính, Trường Đại học Luật, Đại học Huế; Email: [email protected]  
47  
TẠP CHÍ PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN - SỐ 46/2021  
Trong những thập niên gần đây, vấn đề TXD được đặt ra và thúc đẩy thực thi trên phạm  
vi toàn cầu1. TXD đòi hỏi trong chuỗi hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp phải  
cân bằng các lợi ích của doanh nghiệp, của nhà đầu tư và sự phát triển bền vững2. Với góc  
nhìn truyền thống, TXD thường được xem xét dưới góc độ tiêu chuẩn đạo đức xã hội chung3.  
Trên phương diện khoa học pháp lý, tại Việt Nam, chưa có nhiều nhà khoa học trong nước  
quan tâm tới góc nhìn liệu có hay không sự ảnh hưởng tư duy pháp l  từ hệ thống pháp luật  
tới hành vi pháp lý về TXD. Điều này cần được được chú   hơn trong bối cảnh toàn cầu hóa,  
tại các quốc gia có nền kinh tế đang phát triển, với các tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa thấp4.  
1. Nhận diện mối liên hệ giữa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp với các hệ thống  
pháp luật trên thế giới và các yếu tố chi phối  
Cho dù trong những năm qua TXD thu hút sự quan tâm rộng rãi của cộng đồng quốc tế,  
song cho đến nay vẫn chưa có một cách nhìn thống nhất về khái niệm TXD. Định nghĩa của  
Ủy ban châu Âu (EU) về TXD là: “Sự việc các doanh nghiệp tích hợp mối quan tâm về xã hội  
và môi trường vào trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và trong sự tương tác với  
các bên liên quan”5 được thừa nhận rộng rãi. Cũng tại hướng dẫn này, EU đã hình thành khái  
niệm TXD ở phương diện chung là “thực thi nhiều hơn những gì luật pháp yêu cầu”6. Góc  
nhìn này của EU dường như gần với quan điểm về TXD không chỉ là tối đa hóa lợi nhuận cho  
nhà đầu tư mà cần hướng tới phúc lợi chung cho tất cả các bên liên quan7. Trên phương diện  
quản trị, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ giữa TXD với chi phí của doanh nghiệp, lợi  
tức của cổ đông, danh dự của doanh nghiệp.  
Trên phương diện luật học, dường như không có nhiều nghiên cứu về mối liên hệ giữa  
truyền thống pháp lý với hành vi của doanh nghiệp và các bên liên quan trong việc thực thi  
TXD. Thực tế điều này đặt ra một loạt vấn đề: 1) Có hay không mối liên hệ giữa truyền thống  
pháp lý với TXD; 2) Pháp luật đã đặt ra những yêu cầu hoặc những hướng dẫn cho TXD như  
thế nào và điều này được thể hiện có tương đồng trong các dòng họ pháp luật hay không;  
1 Michel Capron, Francoise Quairel-Lanoizelée (2009) (Lê Minh Tiến, Phạm Như Hổ dịch), “Trách nhiệm  
xã hội của doanh nghiệp”, tr.22-26.  
2 Michel Capron, Francoise Quairel-Lanoizelée (2009), tr.34.  
3 Michel Capron, Francoise Quairel-Lanoizelée (2009), tr.17-18.  
4
Leonardo Becchetti, Rocco Ciciretti and Pierluigi Conzo (2020), “Legal Origins and Corporate Social  
Responsibility”, Sustainability 2020, 12, 2717; doi:10.3390/su12072717, p.2.  
5
“European Commission. Directorate-General for Employment and Social Affairs”, 2001, “Promoting a  
European framework for corporate social responsibility”, Vol. COM (2001) 366. “Sách xanh” (The Green  
6. Định nghĩa này là định nghĩa được đề xuất trong Sách xanh năm 2001 của Ủy ban Liên minh châu Âu về  
CSR (Ủy ban châu Âu 2001).  
7 Leonardo Becchetti, Rocco Ciciretti and Pierluigi Conzo (2020), p.3.  
48  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT, ĐẠI HỌC HUẾ  
3) Các doanh nghiệp dựa trên quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật trong nước để quy  
định khung TXD như thế nào đặc biệt là trong lĩnh vực bảo vệ quyền con người hoặc các vấn  
đề lao động trong chính sách của doanh nghiệp. Với góc nhìn này, các nhà khoa học pháp lý  
quốc tế đã tiến hành một số nghiên cứu. Trong nghiên cứu của mình, La Porta et al cho rằng  
nguồn gốc lịch sử của các hệ thống pháp luật ảnh hưởng sâu sắc đến các quy tắc pháp lý, thực  
tiễn quản lý và kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp8.  
Trên thế giới, từ hai hệ thống pháp luật ban đầu là Hệ thống Thông luật (Common Law)  
và Hệ thống Dân luật (Civil Law System)9, pháp luật được phân thành các nhánh, cụ thể:  
Thông luật Anh, Luật dân sự Pháp, Luật dân sự Đức, Luật dân sự Scandinavia và Luật xã hội  
chủ nghĩa (bao gồm cả các nước xã hội chủ nghĩa hiện tại và trước đây)10. Với sự ảnh hưởng  
từ hệ thống pháp luật gốc, pháp luật các quốc gia ít nhiều đều bị chi phối từ văn hóa pháp l  
của hệ thống pháp luật gốc mà mình chịu ảnh hưởng. Theo Hayek, trong hai hệ thống pháp  
luật mà thuở ban đầu văn hóa pháp l  có sự khác biệt ở quan niệm về tự do đã dẫn đến hai  
hướng tư duy pháp l . Nếu Hệ thống Thông luật quan niệm tự do là “từ” và “của”, điều này  
ngược lại với quan điểm tự do “vì” trong Hệ thống Civil Law, nơi các mục tiêu xã hội truyền  
cảm hứng cho hệ thống quy định của pháp luật11. Phải chăng đây cũng chính là nguyên do dẫn  
đến Hệ thống Civil Law chú trọng tới luật nội dung, trong khi Thông luật chú trọng đến luật  
hình thức mà đặc biệt là việc giải quyết tranh chấp. Đây cũng là l  do dẫn đến có sự khác biệt  
trong TXD ở các quốc gia thuộc các hệ thống pháp luật khác nhau.  
Trong mối liên hệ giữa pháp luật với TXD có thể thấy các lĩnh vực pháp luật liên quan  
đến TXD rất đa dạng gồm: Luật quốc tế về nhân quyền, lao động và bảo vệ môi trường; luật  
pháp quốc gia (đặc biệt các quy định về không phân biệt đối xử, an ninh, sự tham gia của các  
bên liên quan, sức khỏe và an toàn nghề nghiệp, thù lao, giờ làm việc, độ tuổi tối thiểu, thỏa  
ước lao động tập thể; đánh giá tác động xã hội hoặc môi trường, bảo vệ môi trường)12. La  
Porta et al, Matten and Moon and Aguilera et al đều cho rằng khung khổ thể chế khác nhau  
trong lịch sử của mỗi quốc gia đã định hình “hệ thống kinh doanh của quốc gia”13. Một điều  
không thể phủ nhận là hệ thống pháp luật, TXD không thể tách rời các yếu tố sau:  
8
La Porta, R.; Lopez-De-Silanes, F.; Shleifer, A. “The Economic Consequences of Legal Origins”. J. Econ.  
Lit. 2008, 46, p.285-332.  
9. Leonardo Becchetti, Rocco Ciciretti and Pierluigi Conzo (2020), p.3.  
10  
Réne David (1960) (biên dịch: Nguyễn Sỹ Dũng, Nguyễn Đức Lam) (2003), Những hệ thống pháp luật  
chính trong thế giới đương đại, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, tr.26.  
11 Hayek, F.A. “The Constitution of Liberty (1960)”; Chicago University Press: Chicago, IL, USA.  
12  
Karin Buhmann (2006), “Corporate Social Responsibility: What Role for Law? Some Aspects of Law  
and CSR, Corporate Governance - The International Journal of Business in Society”, Vol. 6, No. 2, 2006,  
p.192.  
13 Leonardo Becchetti, Rocco Ciciretti and Pierluigi Conzo (2020), p.3.  
49  
TẠP CHÍ PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN - SỐ 46/2021  
- Thể chế chính trị: Không có nền kinh tế nào, không có hệ thống pháp luật nào mà  
không chịu sự chi phối của yếu tố chính trị. Trên quan điểm của của tư tưởng Mác- Lê Nin, cơ  
sở kinh tế chi phối chính trị vì kinh tế là cơ sở hạ tầng, còn chính trị thuộc kiến trúc thượng  
tầng. Tuy nhiên, sự tác động qua lại là điều tất yếu, đến lượt mình cơ sở kinh tế lại chịu sự chi  
phối của yếu tố chính trị. Chính trị sẽ thúc đẩy hoặc kìm hãm kinh tế thông qua việc tương  
thích hay không tương thích. Trong mối quan hệ này, pháp luật đóng vai trò là cầu nối và do  
đó, mọi sự tác động của chính trị tới kinh tế đều thông qua pháp luật. Sự chi phối này trước  
tiên thể hiện ở những biện pháp thực thi pháp luật được hoạch định bởi các chính trị gia14.  
Thứ hai, nó thể hiện ở việc kiểm soát tham nhũng thông qua những biện pháp cho phép giám  
sát các chính trị gia theo đuổi sự vụ lợi15. Thứ ba, thể hiện sự minh định trong các quy định  
của pháp luật liên quan đến việc thúc đẩy trách nhiệm xã hội của khu vực tư và sự can thiệp  
của môi trường pháp luật trong nước16. Theo đó, điều này được thể hiện thông qua các quy  
định về mô hình kinh tế bao gồm các hoạt động của Chính phủ can thiệp vào các hoạt động  
kinh tế như chi tiêu của chính phủ, tự do tiền tệ, tự do tài chính, tự do lao động, tự do thương  
mại. Những yếu tố này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, phụ thuộc và quy định lẫn nhau.  
- Quyền của chủ sở hữu: Với tư cách là chủ sở hữu công ty, chủ doanh nghiệp có đủ các  
quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với công ty của mình. Điều này được thể hiện trong  
việc đưa ra các quyết định về: Chiến lược và kế hoạch kinh doanh, giải pháp phát triển thị  
trường, tiếp thị, công nghệ, tăng vốn điều lệ về tổ chức lại doanh nghiệp,… Điều này cho  
thấy, chính doanh nghiệp là người quyết định mức độ và phạm vi thực thi TXD thông qua các  
quyết định được doanh nghiệp ban hành với tư cách là chủ sở hữu.  
- Mức độ và phạm vi kiểm soát của Nhà nước đối với doanh nghiệp: Mặc dù nền kinh tế  
của các quốc gia hiện nay đều vận hành theo quy luật của kinh tế thị trường, nhưng ở các thể  
chế khác nhau, mức độ và phạm vi can thiệp của Nhà nước vào hoạt động của doanh nghiệp  
cũng khác nhau. Sự can thiệp của Nhà nước trong lĩnh vực TXD thể hiện rõ ràng trong định  
hình các chương trình nghị sự về chính sách công, biểu hiện: 1) Loại hình can thiệp được  
chính phủ sử dụng để thúc đẩy các nỗ lực kinh doanh có trách nhiệm đối với các doanh nghiệp;  
2) Vấn đề hoặc lĩnh vực hành động cụ thể cần giải quyết17.  
2. Sự ảnh hƣởng của văn hóa pháp lý từ nguồn gốc pháp luật tới việc thực thi trách  
nhiệm xã hội của doanh nghiệp  
Câu hỏi đặt ra là có hay không sự liên hệ giữa văn hóa pháp l  của hệ thống pháp luật  
tới việc thực thi TXD của doanh nghiêp. Chúng ta sẽ phần nào có câu trả lời khi nhìn vào số  
liệu bảng dưới đây:  
14  
Hao Liang, Luc Rennboog (2017), “On the foundations of corporate social responsibility, Journal of  
Finance”. 72, (2), p.853-910. Bản PDF tại: https://ink.library.smu.edu.sg/lkcsb_research/5014, p.9.  
15 Hao Liang, Luc Rennboog (2017), p.9.  
16 Hao Liang, Luc Rennboog (2017), p.9.  
17Anna Peters, Daniela Röß (2010), “The Role of Governments in Promoting Corporate Responsibility and  
Private Sector Engagement in Development”, Bertelsmann Stiftung, p.16.  
50  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT, ĐẠI HỌC HUẾ  
Bảng 1. Nguồn gốc pháp luật và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp18  
Hệ thống  
pháp luật  
Tổng  
điểm  
Nguồn  
Môi  
Hành vi  
thƣơng  
mại  
Quản trị  
doanh  
Yếu tố  
cộng  
Quyền  
con  
nhân lực  
trƣờng  
nghiệp  
đồng  
ngƣời  
Anh  
35.794  
24.554  
29.842  
39.150  
55.757  
36.996  
37.298  
(10.989)  
(14.282)  
(17.874)  
(12.663)  
(13.002) (18.398) (12.625)  
43.557 44.566 44.625  
(13.819) (17.556) (15.326)  
44.399 32.718 42.855  
(12.381) (17.689) (14.847)  
32.581 33.266 37.501  
(18.324) (17.953) (15.362)  
55.763 36.998 37.303  
(13.002) (18.395) (12.624)  
39.495 38.922 41.327  
(16.451) (18.618) (15.644)  
Pháp  
40.097  
43.340  
39.334  
44.560  
(12.856)  
(16.052)  
(17.369)  
(13.396)  
Scandianvian  
Đức  
36.845  
35.269  
34.771  
40.741  
(11.229)  
(15.959)  
(18.285)  
(13.167)  
32.120  
30.363  
34.356  
38.013  
(13.320)  
(18.088)  
(18.757)  
(13.156)  
Thông luật  
Civil Law  
35.800  
24.555  
29.849  
39.162  
(10.989)  
(14.284)  
(17.877)  
(12.656)  
36.239  
37.494  
36.923  
41.639  
(13.387)  
(17.908)  
18.173)  
(13.625)  
Các số liệu trong bảng trên cho thấy rõ ràng có mối liên hệ mật thiết giữa nguồn gốc hệ  
thống pháp luật với việc thực thi TXD trong các doanh nghiệp, điều này thể hiện ở các điểm  
cụ thể sau:  
Thứ nhất, vai trò của nguồn gốc pháp luật trong định hướng hành vi của doanh nghiệp  
thực thi TXD: Nghiên cứu đã cho thấy có sự liên hệ giữa văn hóa pháp l  với hành vi của  
doanh nghiệp trong hình thành và thực thi TXD. Trước đây, vấn đề này ít được đặt ra vì quan  
điểm truyền thống cho rằng các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường có nhiệm vụ tối đa  
lợi ích của các cổ đông, điều này hoàn toàn trái ngược với việc thực thi TXD vì TXD hướng  
tới thúc đẩy phúc lợi cho các bên liên quan. Với các nghiên cứu của Karin Buhmann, Hao  
Liang, Luc Renneboog, Leonardo Becchetti, Rocco Ciciretti and Pierluigi Conzo chỉ ra có sự  
liên quan mật thiết giữa truyền thống pháp lý và việc định hướng hành vi của doanh nghiệp  
trong việc thực thi TXD. Theo đó, với văn hóa pháp l  là hướng tới lợi ích chung như văn hóa  
của hệ thống Civil Law hay tối đa hóa lợi nhuận theo hệ thống thông luật sẽ dẫn đến kết quả  
khác nhau trong việc ứng xử của doanh nghiệp trong thực thi TXD.  
Ở hệ thống pháp luật Common Law, một thể chế chính trị cho nền kinh tế thị trường  
hoàn hảo, với truyền thống chú trọng vào khu vực tư nhân theo hướng bảo về quyền sở hữu  
18 Leonardo Becchetti, Rocco Ciciretti and Pierluigi Conzo (2020), p.8.  
51  
TẠP CHÍ PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN - SỐ 46/2021  
tuyệt đối, điều này dẫn dắt các doanh nghiệp hành động hướng tới tối đa hóa lợi ích và lợi ích  
tốt nhất cho các cổ đông19. Hơn nữa, với truyền thống án lệ, hệ thống pháp luật này dựa trên  
nền tảng của thiết chế tư pháp để giải quyết vấn đề nảy sinh khi có xung đột. Ở các quốc gia  
này, việc áp dụng TXD được xác định chủ yếu theo quyết định của công ty20. Ở các nước  
thuộc Hệ thống Thông luật, sự độc lập của doanh nghiệp là rất lớn, xuất phát từ lý thuyết “lợi  
ích tối đa của cổ đông”, do đó Nhà nước can thiệp vào hoạt động của doanh nghiệp chủ yếu  
thông qua hình thức gián tiếp.  
Trong chiều hướng ngược lại, với truyền thống chính trị can thiệp mạnh của Nhà nước  
vào kinh tế, các nước thuộc Hệ thống Civil Law đặt ra nhiều hạn chế hơn về giá cả và điều  
chỉnh thị trường sản phẩm để giải quyết lợi ích của các bên liên quan khác nhau21. Trong quá  
trình giải quyết xung đột, hệ thống pháp luật này trước tiên dựa trên quy tắc hành vi được xác  
lập bởi luật nội dung22. Với những quy định nội dung chặt chẽ của pháp luật tư, các bên liên  
quan dễ dàng dựa trên hệ thống luật thực định để khiếu nại doanh nghiệp để bảo vệ quyền và  
lợi ích của mình mà ít cần đến TXD trong các chiến lược của doanh nghiệp. Thêm nữa, với lý  
thuyết “phúc lợi chung” các nước thuộc Hệ thống Dân luật tăng cường sự can thiệp của Nhà  
nước vào hoạt động của các doanh nghiệp. Sự cạn thiệp này được thực hiện bằng những quy  
định của pháp luật đối với các lĩnh vực lao động, việc làm, mức lương tối thiểu.  
Thứ hai, vai trò của văn hóa từ nguồn gốc pháp luật trong việc định hướng hành vi của  
doanh nghiệp về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Ở phương diện này văn hóa pháp  
l  tác động như thế nào việc thực thi nghĩa vụ bảo vệ môi trường trong chuỗi sản xuất. Dường  
như ở lĩnh vực này không có sự khác biệt đáng kể trong hành vi của các doanh nghiệp đối với  
chiến lược thực thi TXD.  
Trong một nghiên cứu khác, để đánh giá mối liên hệ giữa TXD với các hệ thống pháp  
luật trong sự kiểm soát, ứng phó với các thảm họa thiên nhiên và các scandal, Hao Liang, Luc  
Rennboog, các học giả đã lựa chọn Scandal về sữa xảy ra tại Trung Quốc vào tháng 11/2008,  
sự cố tràn dầu Deepwater Horizon vào tháng 3, 4/2010 và sự kiện động đất và sóng thần tại  
châu Á tháng 12/2004. Với các dữ liệu được phân tích qua các vụ việc điển hình trên mà mức  
độ ảnh hưởng lên toàn cầu, các tác giả đã thấy không có sự khác biệt về TXD giữa các quốc  
gia Common Law với Civil Law trong ứng xử với môi trường23.  
Thứ ba, vai trò của văn hóa từ nguồn gốc pháp luật trong điều chỉnh hành vi của doanh  
nghiệp về bảo vệ lợi ích của người lao động. Theo đó, vấn đề đặt ra là có hay không sự khác  
19 Hao Liang, Luc Rennboog (2017), p.6.  
20 Hao Liang, Luc Rennboog (2017), p.7.  
21 Hao Liang, Luc Rennboog (2017), p.6.  
22 Hao Liang, Luc Rennboog (2017), p.6.  
23.Hao Liang, Luc Rennboog (2017), p.7.  
52  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT, ĐẠI HỌC HUẾ  
biệt giữa các doanh nghiệp thuộc các hệ thống pháp luật khác nhau trong việc ứng xử đối với  
người lao động và thành viên của gia đình họ trong việc bảo đảm thực thi quyền và lợi ích  
hợp pháp của người lao động. Số liệu bảng trên cho thấy có sự khác biệt đáng kể giữa Hệ  
thống Thông luật với các hệ thống pháp luật chịu ảnh hưởng từ Hệ thống Dân luật trên lĩnh  
vực này. Dường như, ở Hệ thống pháp luật Civil Law mối quan hệ này được thực hiện tốt hơn  
hẳn so với hệ thống Thông luật. Với vai trò của Nhà nước như là một người điều phối quan  
trọng của các khu vực kinh tế. Tại các quốc gia thuộc hệ thống pháp luật này đều có thiết chế  
công đoàn mạnh, vì thế trong pháp luật chứa đựng các quy định chặt chẽ hơn về việc sa thải,  
thỏa ước lao động có phạm vi điều chỉnh rộng, luật bảo vệ người tiêu dùng chặt chẽ.  
Thứ tư, vai trò của văn hóa pháp l  hình thành từ nguồn gốc pháp luật trong việc bảo vệ  
lợi ích của các bên liên quan. Ở khía cạnh này cũng cho thấy sự khác biệt đáng kể giữa nhóm  
quốc gia thuộc Hệ thống Civil Law với Hệ thống Thông luật. Với tư duy pháp l  chú   tới  
mục tiêu chung, sự hiện diện của các quy định nghiêm ngặt của luật để bảo vệ quyền và lợi  
ích của các bên liên quan, pháp luật các quốc gia thuộc hệ thống Civil Law đồng thời phản  
ánh mạnh yêu cầu của xã hội đối với các doanh nghiệp. Điều này cho thấy ở các quốc gia theo  
tư duy dân luật, việc áp dụng TXD được xác định bởi các quy định của luật24. Trong khi đó,  
trong hệ thống Common Law, với truyền thống chú trọng bảo vệ “quyền tư hữu”, điều này  
dẫn đến việc thiếu vắng các quy định trực tiếp về TXD trong pháp luật mà chủ yếu thông qua  
con đường tố tụng.  
Trên cơ sở xếp hạng TXD dựa trên 3 tiêu chí: 1) Bảo vệ môi trường; 2) Bảo vệ xã hội;  
và 3) Trách nhiệm của các thiết chế liên quan (dựa trên pháp quyền và quản trị), cho thấy có  
mối liên quan chặt chẽ giữa truyền thống pháp luật của quốc gia với TXD. Theo đó, TXD ở  
các nước thuộc hệ thống pháp luật Scandinave tốt nhất, theo sau là các nước thuộc hệ thống  
Civil Law và Common Law thấp hơn cả. Tuy nhiên, quan sát kết quả bảng trên cho thấy là sự  
tương tác giữa doanh nghiệp và cộng đồng lại được thực hiện tốt hơn ở hệ thống pháp luật  
Common Law.  
Mối liên hệ tích cực giữa nguồn gốc Dân luật và TXD có thể được giải thích bởi do  
truyền thống luật nội dung dẫn đến rủi ro kiện tụng của cổ đông thấp hơn, sự hiện diện của  
quy tắc đa số trong một công ty, các quy định về quan hệ lao động mạnh hơn và mức độ tham  
gia cao của Nhà nước vào kinh doanh. Bằng chứng từ các vụ scandal và các thảm họa cũng  
cho thấy rằng các công ty ở các quốc gia theo truyền thống Dân luật phản ứng nhanh hơn so  
với các công ty ở các quốc gia Thông luật về việc cải thiện các thực hành TXD của họ khi  
những cú sốc này xảy ra và rằng phản ứng này không có khả năng bị thúc đẩy bởi sự thay đổi  
thị phần25.  
24 Hao Liang, Luc Rennboog (2017), p.7.  
25 Hao Liang, Luc Rennboog (2017), p.25.  
53  
TẠP CHÍ PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN - SỐ 46/2021  
Ở mức độ vĩ mô, hệ thống pháp luật Common Law ít quan tâm tới TXD hơn so với việc  
quan tâm tới quyền của nhà đầu tư cũng như sự tự do kinh doanh. Điều này phù hợp với  
truyền thống Thông luật nhấn mạnh quyền ưu tiên của cổ đông và thị trường tư nhân được  
định hướng bởi chiến lược kiểm soát xã hội, và có lẽ vì sự nhấn mạnh này, nó cũng ít hướng  
đến các bên liên quan hơn. Quyền của các bên liên quan thường được bảo vệ bởi các quy tắc  
và cách tiếp cận mà Nhà nước mong muốn để kiểm soát xã hội.  
3. Kết luận  
Không thể phủ nhận mối liên hệ giữa nguồn gốc pháp luật với hành vi TXD là mật thiết.  
Bất chấp xu thế phát triển của nền kinh tế toàn cầu đã làm xóa nhòa ít nhiều ranh giới khác  
biệt, thể hiện:  
Một là, toàn cầu hóa làm giảm ảnh hưởng của hiệu ứng quốc gia xuất xứ (tạo ra sự hội  
tụ cả trong và giữa các khu vực xuất xứ hợp pháp). Điều này dẫn tới thái độ của doanh nghiệp  
đối với TXD có sự khác nhau.  
Hai là, trong một số lĩnh vực cụ thể, chẳng hạn như tính bền vững về môi trường, sự  
xuất hiện của một quy chuẩn xã hội toàn cầu (có thể được thúc đẩy bởi việc tạo ra và áp dụng  
tự nguyện một số tiêu chuẩn quốc tế) đã làm giảm nhanh chóng sự khác biệt giữa các tập đoàn  
đến từ các nền văn hóa pháp l  khác nhau. Các tập đoàn đa quốc gia thường chú trọng về  
TXD bởi sự tác động từ tiêu chuẩn của luật pháp quốc tế về môi trường và bảo đảm quyền  
con người. Theo đó, sự tác động từ nguồn gốc của dòng họ pháp luật giảm sự tác động tới  
hành vi của doanh nghiệp đối với TXD.  
Ba là, việc tăng cường sử dụng các phương pháp đo điểm chuẩn củng cố các quá trình  
tạo ra các chuẩn mực xã hội toàn cầu. Và vì thế TXD càng ngày càng có sự thống nhất. Thực  
tế, TXD có sự tích hợp quản trị môi trường và xã hội vào quy trình hoạt động kinh doanh  
hướng tới mục tiêu phát triển bền vững với nỗ lực nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực có  
thể gây ảnh hưởng xấu đến môi trường, hệ sinh thái và cộng đồng. Điều này một mặt làm xóa  
nhòa ranh giới trong văn hóa pháp l  từ nguồn gốc pháp luật giữa các doanh nghiệp. Mặt  
khác, nó lại chính là sự hiện thân của văn hóa pháp l  từ nguồn gốc pháp luật biểu hiện qua  
chính sách của doanh nghiệp về TXD.  
Việt Nam, cùng với việc thiết lập nền kinh tế thị trường, TXD cũng ngày càng được chú  
trọng. Chính phủ đã ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự  
2030 vì sự phát triển bền vững phù hợp với các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp  
quốc. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1393/QĐ -TTg, phê duyệt Chiến lược  
quốc gia về tăng trưởng xanh để đảm bảo phát triển kinh tế một cách bền vững. Đối với ngành  
Tài chính, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã k  Quyết định số 2183/QĐ-BTC ngày 20/10/2013 ban  
hành Kế hoạch hành động của ngành Tài chính thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng  
xanh đến năm 2020. Theo đó, yêu cầu xuyên suốt đến năm 2020, cần đảm bảo cân bằng, hài  
54  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT, ĐẠI HỌC HUẾ  
hòa giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường, trách nhiệm xã hội với phát triển xã hội.  
TXD là cách tiếp cận có hệ thống, tích hợp các yếu tố phi tài chính vào quyết định hoạt động  
kinh doanh dựa trên cơ sở xây dựng hướng đến phát triển bền vững, thay vì làm xói mòn hoặc  
phá hủy đối với nền kinh tế, xã hội, con người và nguồn tài nguyên.  
Với truyền thống tư duy pháp l  của hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa gần gũi với tư  
duy pháp lý của hệ thống Civil Law, doanh nghiệp Việt Nam vận hành trên cơ sở nền tảng  
luật thực định. Chính vì vậy nếu như các tiêu chuẩn pháp luật về TXD chưa đầy đủ và không  
được luật hóa sẽ dẫn đến việc các doanh nghiệp không phát triển chính sách TXD với quy  
trình kiểm soát tốt các rủi ro về trách nhiệm với môi trường, xã hội và quản trị công ty thì tác  
động tiêu cực đến toàn xã hội và môi trường là không nhỏ. Mặt khác, số lượng doanh nghiệp  
nhỏ và vừa chiếm tỷ lệ lớn (chiếm khoảng 97% tổng số doanh nghiệp).  
Cuối cùng, hàm ý từ nghiên cứu hướng tới việc nhận diện văn hóa pháp l  của hệ thống  
pháp luật nói chung và văn hóa pháp l  của Hệ thống pháp luật trong nước. Từ đó, nhận diện  
các yếu tố có ảnh hưởng tới việc thúc đẩy nhu cầu đối với các mối quan tâm về xã hội và môi  
trường. Xây dựng điểm chuẩn và các chuẩn mực xã hội toàn cầu là những yếu tố chính tăng  
cường sự chú ý của doanh nghiệp trong việc đóng góp vào giải quyết các vấn đề xã hội, bảo  
đảm tăng trưởng bền vững và giải quyết các tác nhân bên ngoài.  
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Anna Peters, Daniela Röß (2010), “The Role of Governments in Promoting Corporate  
Responsibility and Private Sector Engagement in Development”, Bertelsmann Stiftung.  
2. Hao Liang, Luc Rennboog (2017), “On the foundations of corporate social responsibility”,  
research/5014  
3. Hayek, F.A. “The Constitution of Liberty (1960)”, Chicago University Press: Chicago,  
IL, USA.  
4. Karin Buhmann (2006), “Corporate Social Responsibility: What Role for Law?  
Some Aspects of Law and CSR, Corporate Governance - The International Journal of  
Business in Society”, Vol. 6, No. 2, 2006.  
5. Leonardo Becchetti, Rocco Ciciretti and Pierluigi Conzo (2020), “Legal Origins and  
Corporate Social Responsibility”, Sustainability 2020, 12, 2717; doi:10.3390/su12072717  
6. Michel Capron, “Francoise Quairel-Lanoizelée” (2009) (Lê Minh Tiến, Phạm Như  
Hổ dịch), Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.  
7. European Commission, “Directorate-General for Employment and Social Affairs”, 2001,  
Promoting a European.  
8. European Commission, “framework for corporate social responsibility”, Vol. COM  
(2001) 366. “Sách Xanh (The Green Paper)”, https://ec.europa.eu/commission/presscorner  
/detail/en/DOC_01_9 (accessed on 15 March 2014).  
55  
pdf 9 trang Thùy Anh 10180 Free
Bạn đang xem tài liệu "Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong mối liên hệ với hệ thống pháp luật", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftrach_nhiem_xa_hoi_cua_doanh_nghiep_trong_moi_lien_he_voi_he.pdf