Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam (Phần 1)

ĐẠI HỌC HUẾ  
KHOA LUẬT  
TS. ĐOÀN ĐỨC LƯƠNG - THS. NGUYỄN SƠN HẢI  
(ĐỒNG CHỦ BIÊN)  
Giáo trình  
LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ  
VIỆT NAM  
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC HUẾ  
Huế, 2013  
Biên mục trên xuất bản phẩm của Thư viện Quốc gia Việt Nam  
Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam / B.s.: Đoàn Đức Lương,  
Nguyễn Sơn Hải (ch.b.), Nguyễn Thị Thuý Hằng... - Huế: Đại học  
Huế, 2013. - 372tr.; 21cm.  
ĐTTS ghi: Đại học Huế, Khoa Luật. -  
Ph.1. - 2013. - 80tr.  
Thư mục: tr. 371  
1.  
Luật Tố tụng dân sự 2.  
V
iệt Nam 3.  
Giáo trình  
347.597 - dc14  
DUG0033p-CIP  
Mã số sách: GT/117 - 2013  
ĐỒNG CHỦ BIÊN:  
TS. ĐOÀN ĐỨC LƯƠNG - THS. NGUYỄN SƠN HẢI  
THAM GIA BIÊN SOẠN:  
1. TS. Đoàn Đức Lương  
Chương 7, 8, 9  
Chương 1, 2, 3, 5, 6  
Chương 12, 14  
Chương 4, 10, 11  
Chương 13  
2. ThS. Nguyễn Sơn Hải  
3. ThS. Nguyễn Thị Thuý Hằng  
4. PGS,TS. Hà Thị Mai Hiên  
5. ThS. Hồ Thị Vân Anh  
LỜI NÓI ĐẦU  
Luật Tố tụng dân sự là một trong những môn học bắt buộc trong  
chương trình đào tạo ngành Luật. Để đáp ứng nhu cầu học tập của sinh  
viên ngành Luật thuộc Đại học Huế, từ năm 2000, khoa Luật đã biên soạn  
Tài liệu học tập môn học Luật tố tụng dân sự Việt Nam.  
Từ khi Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 được ban hành và được sửa đổi  
bổ sung năm 2011, cùng rất nhiều văn bản hướng dẫn thi hành của cơ  
quan có thẩm quyền trong lĩnh vực tố tụng dân sự. Mặt khác, trên cơ sở  
Chương trình đào tạo ngành Luật dùng cho hệ đại học được Giám đốc  
Đại học Huế ban hành, trong đó quy định kết cấu và những kiến thức tối  
thiểu của môn học Luật Tố tụng dân sự Việt Nam. Vì vậy, khoa Luật trực  
thuộc Đại học Huế đã hoàn chỉnh Tài liệu học tập môn học Luật Tố tụng  
dân sự Việt Nam thành Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam trên cơ  
sở kết cấu chương trình theo quy định, tham khảo và cập nhật các nội  
dung của văn bản pháp luật mới được ban hành và tiếp thu nhiều ý kiến  
đóng góp của các chuyên gia, của các nhà khoa học và sinh viên.  
Tuy nhóm tác giả biên soạn đã cố gắng, nhưng không thể tránh khỏi  
những sai sót nhất định. Chúng tôi mong muốn tiếp tục nhận được các ý  
kiến đóng góp cho cuốn giáo trình này để hoàn thiện cho tái bản lần sau.  
T/M Nhóm tác giả  
TS. Đoàn Đức Lương  
vi  
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT  
BLDS 2005  
Bộ luật Dân sự năm 2005  
BLTTDS 2004  
BPKCTT  
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004  
Biện pháp khẩn cấp tạm thời  
Cơ quan thi hành án dân sự  
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh  
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000  
Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2002  
Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân năm  
2002  
CQTHADS  
GCNĐKKD  
LHNGĐ 2000  
LTCTAND 2002  
LTCVKSND 2002  
LTHADS 2008  
PLTTGQCVADS  
1989  
Luật Thi hành án dân sự năm 2008  
Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân  
sự năm 1989  
PLTTGQCVAKT  
1994  
Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh  
tế năm 1994  
TAND  
Toà án nhân dân  
TANDTC  
UBND  
Toà án nhân dân tối cao  
Uỷ ban nhân dân  
VKSND  
Viện Kiểm sát nhân dân  
VKSNDTC  
Viện Kiểm sát nhân dân tối cao  
viii  
MỤC LỤC  
Lời mở đầu  
Mục lục  
15  
15  
Chương 1. Khái niệm và nguyên tắc cơ bản của luật tố  
tụng dân sự việt nam  
1. Khái niệm, đối tượng và phương pháp điều chỉnh của Luật  
Tố tụng dân sự  
2. Vai trò và nguồn gốc của Luật tố tụng dân sự  
3. Các nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng dân sự Việt Nam  
4. Quan hệ pháp luật tố tụng dân sự  
20  
22  
44  
48  
Chương 2. Thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự của  
TAND  
1. Thẩm quyền theo vụ việc  
48  
2. Thẩm quyền TAND các cấp  
69  
74  
78  
3. Thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ  
4. Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu  
cầu  
5. Về cách ghi số, ký hiệu và trích yếu trong bản án, quyết  
định dân sự  
80  
81  
83  
6. Chuyển vụ việc dân sự cho Toà án khác, giải quyết tranh  
chấp về thẩm quyền  
Chương 3. Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố  
tụng và người tham gia tố tụng dân sự  
1. Cơ quan tiến hành tố tụng dân sự  
2. Người tiến hành tố tụng dân sự  
3. Việc thay đổi người tiến hành tố tụng  
83  
84  
91  
x
4. Người tham gia tố tụng dân sự  
93  
Chương 4. Chứng cứ và hoạt động chứng minh trong tố  
tụng dân sự  
117  
1. Khái niệm chứng cứ và hoạt động chứng minh trong tố tụng  
dân sự  
117  
2. Phân loại chứng cứ  
121  
123  
138  
3. Hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự  
4. Đối tượng chứng minh và các tình tiết, sự kiện không phải  
chứng minh  
Chương 5. Các biện pháp khẩn cấp tạm thời; cấp, thống  
đạt, thông báo văn bản tố tụng  
142  
1. Các biện pháp khẩn cấp, tạm thời  
2. Cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng  
Chương 6. Án phí và các chi phí tố tụng  
1. Án phí, lệ phí  
142  
157  
162  
162  
170  
177  
177  
188  
196  
196  
204  
211  
2. Các chi phí tố tụng khác  
Chương 7. Khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự  
1. Khởi kiện vụ án dân sự  
2. Thụ lý vụ án dân sự  
Chương 8. Chuẩn bị xét sử sơ thẩm vụ án dân sự  
1. Hoà giải vụ án dân sự  
2. Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự  
3. Các quyết định trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ  
án dân sự  
Chương 9. Trình tự, thủ tục tại phiên toà sơ thẩm  
215  
1. Những quy định chung về phiên toà sơ thẩm dân sự  
215  
xi  
2. Trình tự, thủ tục và vai trò của các chủ thể trong phiên toà  
sơ thẩm dân sự  
221  
3. Những thủ tục cần tiến hành sau phiên toà sơ thẩm  
Chương 10. Thủ tục phúc thẩm dân sự  
1. Khái niệm, ý nghĩa của thủ tục phúc thẩm  
2. Kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm  
3. Xét xử phúc thẩm vụ án dân sự  
231  
233  
233  
234  
249  
253  
272  
4. Phiên toà xét xử phúc thẩm  
5. Thủ tục phúc thẩm quyết định của Toà án cấp sơ thẩm và  
gửi bản án, quyết định phúc thẩm  
Chương 11. Thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm và thủ tục  
đặc biệt của hội đồng thẩm phán toà án nhân tối cao  
274  
A. Thủ tục giám đốc thẩm  
274  
274  
275  
1. Khái niệm và ý nghĩa của thủ tục giám đốc thẩm  
2. Trình tự thực hiện quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc  
thẩm  
3. Xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm  
B. Thủ tục tái thẩm  
280  
286  
286  
287  
296  
1. Khái niệm và ý nghĩa của thủ tục tái thẩm  
2. Trình tự thực hiện quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm  
C. Thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của Hội đồng  
Thẩm phán TANDTC  
1. Căn cứ để xét lại quyết định  
296  
296  
2. Thời hạn xem xét lại quyết định của Hội đồng thẩm phán  
TANDTC  
3. Hình thức xem xét lại quyết định của Hội đồng thẩm phán  
296  
xii  
TANDTC  
4. Thẩm quyền xem xét lại quyết định của Hội đồng thẩm  
phán TANDTC  
297  
Chương 12. Thủ tục giải quyết việc dân sự  
298  
298  
308  
311  
1. Nhhững quy định chung về thủ tục giải quyết việc dân sự  
2. Thủ tục xác định năng lực hành vi dân sự của cá nhân  
3. Thủ tục giải quyết yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng  
mặt, tuyên bố một người mất tích hoặc đã chết  
4. Thủ tục giải quyết các việc dân sự liên quan đến hoạt động  
của trọng tài thương mại  
316  
5. Thủ tục giải quyết các yêu cầu về hôn nhân và gia đình  
323  
Chương 13. Thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt  
Nam bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài và  
quyết định của trọng tài nước ngoài  
329  
1. Khái niệm và ý nghĩa của thủ tục công nhận và cho thi hành  
tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài  
và quyết định của trọng tài nước ngoài  
329  
333  
2. Những quy định chung về thủ tục công nhận và cho thi  
hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước  
ngoài và quyết định của trọng tài nước ngoài  
3. Thủ tục xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt  
Nam bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài  
340  
346  
4. Thủ tục xét đơn yêu cầu không công nhận bản án, quyết  
định dân sự của Toà án nước ngoài không có yêu cầu thi hành  
tại Việt Nam  
5. Thủ tục xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt  
Nam quyết định của trọng tài nước ngoài  
348  
353  
6. Thủ tục phúc thẩm quyết định xét đơn yêu cầu công nhận,  
không công nhận bản án, quyết định dân sự của Toà án nước  
xiii  
ngoài và quyết định của trọng tài nước ngoài  
Chương 14. Xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng,  
khiếu nại và tố cáo trong tố tụng dân sự  
355  
1. Xử lý các hành vi trong tố tụng dân sự  
2. Khiếu nại tố cáo trong tố tụng dân sự  
355  
359  
369  
3. Trách nhiệm của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại,  
tố cáo trong tố tụng dân sự  
Tài liệu tham khảo  
371  
xiv  
Chương 1  
KHÁI NIỆM VÀ NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN  
CỦA LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM  
1. KHÁI NIỆM, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU CHỈNH  
CỦA LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ  
1.1. Khái niệm luật tố tụng dân sự  
Về lý luận thì có thể nói rằng hệ thống pháp luật của mỗi một quốc  
gia được phân chia thành hai nhóm: nhóm ngành luật nội dung và nhóm  
ngành luật thủ tục1. Trong đó, các ngành luật nội dung qui định địa vị  
pháp lý của mỗi chủ thể với những quyền và nghĩa vụ gắn liền với những  
quan hệ về tài sản hoặc nhân thân. Các ngành luật nội dung là sự bảo  
đảm về mặt pháp lý các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong  
những quan hệ pháp luật phát sinh từ lĩnh vực mà ngành luật đó tác động  
và điều chỉnh, vì vậy có thể gọi chung là quan hệ pháp luật nội dung. Tuy  
nhiên, trong quá trình thực hiện các quan hệ pháp luật có thể xay ra  
những tranh chấp, xung đột về quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các chủ  
thể tham gia quan hệ pháp luật nội dung đó và yêu cầu cơ quan có thẩm  
quyền giải quyết. Việc giải quyết của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền  
thông qua những thủ tục, trình tự pháp lý chặt chẽ để bảo vệ quyền và lợi  
ích hợp pháp của các chủ thể gọi là thủ tục tố tụng, trong đó có thủ tục tố  
tụng dân sự mà thẩm quyền áp dụng là Tòa án nhân dân.  
Điều 127 Hiến pháp 1992 (sửa đổi bổ sung năm 2001)2 qui định:  
TAND là cơ quan xét xử của nước CHXHCN Việt Nam.  
Điều 1 Luật Tổ chức TAND năm 20023 qui định: các Toà án xét xử  
những vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế,  
1 Pháp luật một số quốc gia khác được phân thành hai nhóm ngành luật là luật nội dung  
(règle du fond) và luật thủ tục (règle du procédure), chẳng hạn như hệ thống pháp luật  
của Công hoà Pháp.  
2
Hiến pháp 1992 được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25  
tháng 12 năm 2001.  
3 Luật này được thông qua vào ngày 02/04/2002 tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khoá X.  
15  
hành chính và giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật;  
Toà án có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế XHCN; bảo vệ chế độ XHCN và  
quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể;  
bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân.  
Điều 4 BLTTDS 2004 qui định: cá nhân, cơ quan, tổ chức theo qui  
định của pháp luật có quyền khởi kiện, yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự  
tại Toà án có thẩm quyền để yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp  
pháp của mình hoặc của người khác.  
Như vậy, các tranh chấp, các yêu cầu phát sinh từ các quan hệ pháp  
luật dân sự, hôn nhân - gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động  
thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND. Khi có chủ thể yêu cầu Toà án  
bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của họ trong trường hợp có vi phạm  
hoặc có tranh chấp thì Toà án có trách nhiệm xem xét, thụ lý giải quyết  
để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Quá trình giải quyết vụ việc  
dân sự và thi hành án dân sự là quá trình phức tạp, bao gồm nhiều hoạt  
động khác nhau của TAND, VKSND, CQTHADS và của những người  
tham gia tố tụng khác. Các chủ thể này tham gia vào quá trình đó với  
những mục đích, động cơ, nhiệm vụ, quyền hạn khác nhau và giữa họ  
nảy sinh các quan hệ khác nhau. Để bảo đảm việc giải quyết các vụ việc  
dân sự và thi hành án dân sự được nhanh chóng, đúng đắn; bảo vệ được  
quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức và lợi ích của Nhà  
nước, pháp luật qui định cụ thể quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham  
gia vào các quan hệ đó. Trong khoa học pháp lý, trình tự do pháp luật  
quy định cho việc giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án dân sự được  
gọi là "tố tụng dân sự". Hoạt động của các chủ thể nêu trên tiến hành  
trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án dân sự theo quy  
định của pháp luật được gọi là hoạt động tố tụng dân sự. Tập hợp các quy  
phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong tố tụng dân sự tạo  
thành ngành luật được gọi là Luật Tố tụng dân sự. Như vậy, Luật Tố tụng  
dân sự Việt Nam là một ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam,  
bao gồm hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát  
sinh trong tố tụng dân sự.  
16  
1.2. Đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh  
Mỗi một ngành luật có đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều  
chỉnh riêng phù hợp với đặc điểm của ngành luật đó. Trong lĩnh vực tố  
tụng dân sự, khi giải quyết các vụ việc dân sự và thi hành án dân sự theo  
thủ tục mà Luật Tố tụng dân sự qui định thì sẽ xuất hiện những quan hệ  
giữa Toà án, Viện Kiểm sát, CQTHADS với đương sự, với những người  
tham gia tố tụng khác; các quan hệ giữa Toà án, Viện Kiểm sát,  
CQTHADS với nhau; các quan hệ giữa các đương sự với những người  
tham gia tố tụng khác, v.v.. Các quan hệ này được các chủ thể thực hiện  
trong khuôn khổ mà Luật Tố tụng dân sự xác định nhằm giải quyết các vụ  
việc dân sự. Điều đó cũng có nghĩa là hành vi của mỗi một chủ thể tham  
gia vào các quan hệ đó đã được những qui phạm pháp luật tố tụng dân sự  
điều chỉnh, buộc các chủ thể này thực hiện các quyền và nghĩa vụ nhất  
định. Nói cách khác các quan hệ phát sinh trong quá trình giải quyết và thi  
hành án dân sự chính là đối tượng điều chỉnh của Luật Tố tụng dân sự.  
Vậy đối tượng điều chỉnh của Luật Tố tụng dân sự Việt Nam là các  
quan hệ xã hội phát sinh giữa TAND, VKSND, CQTHADS, đương sự và  
những người tham gia tố tụng khác trong quá trình giải quyết và thi hành  
án dân sự.  
Với các qui phạm pháp luật, Luật Tố tụng dân sự đã tác động tới  
đối tượng điều chỉnh bằng các phương pháp điều chỉnh sau đây:  
Thứ nhất, phương pháp quyền uy mệnh lệnh. Luật Tố tụng dân sự  
điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong tố tụng bằng phương pháp quyền  
uy mệnh lệnh thể hiện ở chỗ quy định địa vị pháp lý của Toà án, Viện  
Kiểm sát, CQTHADS và các chủ thể khác trong tố tụng không giống  
nhau; các chủ thể khác đều phải phục tùng Toà án, Viện Kiểm sát và  
CQTHADS. Các quyết định của Toà án, Viện Kiểm sát và CQTHADS  
có giá trị bắt buộc các chủ thể khác phải thực hiện, nếu không sẽ bị  
cưỡng chế thực hiện. Sở dĩ pháp luật tố tụng dân sự qui định như vậy là  
xuất phát ở chỗ Toà án, Viện Kiểm sát, CQTHADS có nhiệm vụ bảo vệ  
pháp luật, giải quyết vụ việc dân sự, tổ chức thi hành án dân sự và kiểm  
sát các hoạt động tố tụng. Để các cơ quan này thực hiện được chức năng,  
nhiệm vụ của mình, các cơ quan này phải có những quyền lực pháp lý  
17  
nhất định đối với các chủ thể khác. Do đó, ở các quan hệ do Luật Tố tụng  
dân sự điều chỉnh không có sự bình đẳng giữa Toà án, Viện Kiểm sát và  
CQTHADS với các chủ thể khác.  
Thứ hai, phương pháp "mềm dẻo - linh hoạt" dựa trên nguyên tắc  
đảm bảo quyền bình đẳng và tự định đoạt của các đương sự. Luật Tố  
tụng dân sự sử dụng phương pháp điều chỉnh này bởi lẽ các quan hệ pháp  
luật nội dung mà Toà án có nhiệm vu giải quyết trong các vụ việc dân sự  
là các quan hệ dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động, hôn nhân và gia  
đình. Các chủ thể của các quan hệ này có quyền tự quyết định quyền lợi  
của mình khi tham gia vào các quan hệ đó. Trong vụ việc dân sự, các chủ  
thể đó là đương sự. Do vậy, để bảo đảm quyền tự quyết định quyền lợi  
của các đương sự trong tố tụng, Luật Tố tụng dân sự điều chỉnh các quan  
hệ giữa Toà án với các đương sự phát sinh trong quá trình tố tụng bằng  
phương pháp điều chỉnh này, theo đó các đương sự được tự quyết định  
việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ trước Toà án. Khi có quyền,  
lợi ích hợp pháp bị xâm hại hay tranh chấp các đương sự tự quyết định  
việc khởi kiện, yêu cầu Toà án giải quyết vụ việc. Trong quá trình giải  
quyết vụ việc dân sự và thi hành án dân sự, các đương sự vẫn có thể  
thương lượng, dàn xếp, thoả thuận giải quyết những vấn đề tranh chấp,  
rút yêu cầu, rút đơn khởi kiện, tự thi hành án hoặc không yêu cầu thi  
hành án nữa.  
Như vậy, Luật Tố tụng dân sự điều chỉnh các quan hệ phát sinh  
trong quá trình tố tụng bằng hai phương pháp quyền uy mệnh lệnh và  
"mềm dẻo, linh hoạt", trong đó phương pháp điều chỉnh chủ yếu là  
phương pháp quyền uy mệnh lệnh.  
1.3. Khái niệm vụ việc dân sự  
Vụ việc dân sự là vụ việc phát sinh tại TAND do cá nhân, cơ quan,  
tổ chức khởi kiện, yêu cầu Toà án bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp  
của mình hoặc của người khác. Vụ việc dân sự có các đặc điểm sau đây:  
Thứ nhất, vụ việc dân sự trước hết phải là những vụ việc phát sinh  
tại TAND, tức là những vụ việc đó phải thuộc thẩm quyền giải quyết của  
TAND. Hay nói cách khác, chỉ những vụ việc nào thuộc thẩm quyền giải  
quyết của TAND và phát sinh tại TAND mới được gọi là vụ việc dân sự.  
18  
Thứ hai, vụ việc dân sự phát sinh trên cơ sở có việc khởi kiện hay  
yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức theo qui định của pháp luật. Điều  
đó có nghĩa dù có tranh chấp phát sinh trong đời sống xã hội nhưng  
không có yêu cầu Toà án giải quyết thì cũng không có vụ việc dân sự nào  
phát sinh tại Toà án. Mà chủ thể có quyền yêu cầu Toà án sẽ không ai  
khác ngoài chính chủ thể của tranh chấp đó gồm cá nhân, cơ quan, tổ  
chức nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của chính mình. Bên cạnh đó, ngoài  
những chủ thể tự mình yêu cầu Toà án bảo vệ quyền lợi cho chính mình  
thì mọi thành viên khác trong xã hội cũng có trách nhiệm quan tâm đến  
lợi ích chung của xã hội như lợi ích của Nhà nước, của cá nhân, công  
dân, của tập thể theo qui định của pháp luật. Trách nhiệm này được qui  
định cụ thể bằng việc mỗi khi các quyền lợi đó bị xâm hại thì xã hội,  
thông qua yêu cầu của các tổ chức xã hội đối với Toà án để yêu cầu Toà  
án bảo vệ các quyền lợi đó theo qui định của pháp luật. Từ các quyền  
khởi kiện, yêu cầu của các chủ thể này, vụ việc dân sự đã phát sinh tại  
Toà án, trên cơ sở đó Toà án mới thực hiện trách nhiệm giải quyết vụ  
việc dân sự theo qui định của pháp luật.  
Thứ ba, vụ việc dân sự có thể có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ  
giữa các chủ thể (quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh  
doanh, thương mại và lao động) như tranh chấp về quyền sở hữu tài  
sản, về thừa kế, tranh chấp hợp đồng, tranh chấp về ly hôn, về xử lý kỷ  
luật lao động theo hình thức sa thải,… Vì vậy, một trong các bên đã  
khởi kiện ra Toà án để yêu cầu được bảo vệ các quyền và lợi ích hợp  
pháp khi tham gia vào các quan hệ pháp luật đó. Ngoài ra, vụ việc dân  
sự có thể không phải là những tranh chấp về quyền và nghĩa vụ mà chỉ  
là việc yêu cầu Toà án xác nhận một sự kiện nhất định như yêu cầu  
tuyên bố một người mất tích, là đã chết, huỷ bỏ quyết định tuyên  
bố một người mất tích, là đã chết hay các yêu cầu khác, chẳng hạn như  
yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài  
sản của người đó, yêu cầu công nhận sự thoả thuận về thay đổi người  
trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, yêu cầu liên quan đến việc Trọng tài  
thương mại Việt Nam giải quyết các vụ tranh chấp theo quy định của  
pháp luật về Trọng tài thương mại, yêu cầu công nhận và cho thi hành  
tại Việt Nam bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh  
doanh, thương mại, lao động của Toà án nước ngoài tại Việt Nam.  
19  
Theo quy định tại Điều 1 BLTTDS 2004, đối với những vụ việc có tranh  
chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các bên thì được gọi là vụ án dân sự;  
ngược lại, nếu không có tranh chấp thì được gọi là việc dân sự. Tuy vậy,  
vụ việc dân sự dù có tranh chấp hoặc không có tranh chấp giữa các chủ  
thể thì khi phát sinh tại Toà án đều có mục đích giải quyết chung là nhằm  
bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ  
quan, tổ chức. Đồng thời, khái niệm vụ việc dân sự được hiểu theo nghĩa  
rộng, đó không chỉ là những vụ việc phát sinh từ quan hệ pháp luật dân  
sự mà còn bao gồm hầu hết các vụ việc phát sinh từ các quan hệ pháp  
luật có tính chất dân sự khác là quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình,  
kinh doanh, thương mại và lao động.  
2. VAI TRÒ VÀ NGUỒN GỐC CỦA LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ  
2.1. Vai trò của luật tố tụng dân sự  
Luật Tố tụng dân sự đóng vai trò quan trọng đối với các ngành luật  
nội dung. Đó là hành lang pháp lý đảm bảo sự ổn định của các quan hệ  
pháp luật về nội dung. Về bản chất, Luật Tố tụng dân sự cũng như các  
ngành luật khác, là hệ thống các quy tắc xử sự chung thể hiện ý chí của  
giai cấp thống trị. Hệ thống các quy tắc xử sự này đã hướng mọi hành vi  
trong xã hội vào một trật tự chung, một mục đích chung phù hợp với lợi  
ích của giai cấp thống trị và của toàn xã hội. Như vậy, Luật Tố tụng dân  
sự bằng việc qui định thủ tục giải quyết các tranh chấp, các yêu cầu phát  
sinh từ xã hội đã góp phần tạo ra trật tự chung đó. Cụ thể, Luật Tố tụng  
dân sự đã đảm bảo cho các Toà án giải quyết nhanh chóng, đúng pháp  
luật và công minh các vụ việc dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp  
của cá nhân, tổ chức cũng như của Nhà nước.  
Luật Tố tụng dân sự đã góp phần duy trì sự ổn định và kỷ cương  
của xã hội; đồng thời giáo dục mọi thành viên trong xã hội ý thức tự giác  
tuân theo pháp luật và tôn trọng các quy tắc sinh hoạt công cộng.  
2.2. Nguồn gốc của Luật Tố tụng dân sự  
Trong tiếng Việt, thuật ngữ "nguồn" được hiểu là nơi bắt đầu, nơi  
4
phát sinh ra hoặc nơi có thể cung cấp hay rút ra cái gì, điều gì . Nguồn  
luật được hiểu là nơi rút ra các quy tắc xử sự của các chủ thể trong xã hội  
4 Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, năm 2003, tr. 692.  
20  
do Nhà nước quy định. Các văn bản pháp luật là một trong những hình  
thức thể hiện ý chí của Nhà nước trong quản lý xã hội nên được gọi là  
nguồn luật cơ bản. Nguồn của Luật Tố tụng dân sự Việt Nam bao gồm  
các văn bản pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành có  
chứa đựng các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội thuộc  
đối tượng điều chỉnh của Luật Tố tụng dân sự. Nguồn của Luật Tố tụng  
dân sự bao gồm:  
- Hiến pháp: Hiến pháp là đạo luật cơ bản của Nhà nước, là một  
nguồn quan trọng của Luật Tố tụng dân sự. Trong Hiến pháp có nhiều  
qui định về nguyên tắc của hoạt động tố tụng dân sự như qui định về hoạt  
động xét xử của Toà án có Hội thẩm nhân dân tham gia (Điều 129); Thẩm  
phán và Hội thẩm nhân dân khi xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật  
(Điều 130); Toà án xét xử công khai, độc lập và theo đa số (Điều 131)  
v.v... Trên cơ sở những qui định này của Hiến pháp, các văn bản pháp luật  
tố tụng dân sự qui định cụ thể trình tự, thủ tục tố tụng dân sự.  
- BLTTDS 2004 số 24/2004/QH11 ngày 16/06/2004 (có hiệu lực  
từ ngày 01/01/2005), Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật Tố  
tụng dân sự năm 2011 ngày số 65/2011/QH12 ngày 29/03/2011 (có hiệu  
lực từ ngày 01/01/2012): là nguồn chủ yếu nhất và quan trọng nhất của  
Luật Tố tụng dân sự.  
- Luật Tổ chức TAND, Luật Tổ chức VKSND: các văn bản pháp  
luật này chủ yếu qui định về tổ chức của Toà án, Viện Kiểm sát. Tuy vậy,  
trong LTCTAND, LTCVKSND cũng có nhiều qui định về nguyên tắc  
hoạt động của Toà án, Viện Kiểm sát trong tố tụng dân sự nên các văn  
bản pháp luật này cũng là một trong các nguồn của Luật Tố tụng dân sự  
Việt Nam.  
- Luật Thi hành án dân sự 2009 qui định về nguyên tắc, thẩm  
quyền, trình tự, thủ tục thi hành bản án, quyết định dân sự của Toà án.  
- Các văn bản pháp luật khác như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao  
động, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Thương mại, Luật Trọng tài  
thương mại v.v. tuy không qui định trực tiếp các vấn đề về tố tụng dân sự  
những vẫn có những qui định về tố tụng dân sự. Ngoài ra, Nghị quyết số  
32/2004/QH11 ngày 15/6/2004 của Quốc hội về việc thi hành BLTTDS  
2004; Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005, Nghị quyết số  
21  
02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006, Nghị quyết số 05/2006/NQ-HĐTP  
ngày 04/8/2006 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn một số  
vấn đề về việc thi hành BLTTDS 2004, ... cũng là một trong các nguồn  
của Luật Tố tụng dân sự Việt Nam.  
3. CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ  
VIỆT NAM  
3.1. Khái niệm và ý nghĩa của các nguyên tắc của luật tố tụng dân sự  
Việt Nam  
a) Khái niệm  
Nguyên tắc được hiểu là "điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân  
theo trong một loạt việc làm"5. Do vậy, bất kỳ hoạt động có mục đích nào  
muốn đạt được kết quả đòi hỏi những người tham gia hoạt động phải xác  
định được các nguyên tắc hoạt động và tuân thủ triệt để nó. Hoạt động tố  
tụng dân sự là một dạng của hoạt động thực tiễn, có tính khoa học, do  
vậy cũng phải tuân trong các văn bản pháp luật tố tụng dân sự.  
Các nguyên tắc theo những nguyên tắc nhất định.  
Các nguyên tắc của Luật Tố tụng dân sự là những tư tưởng pháp lý  
chỉ đạo, định hướng cho việc xây dựng và thực hiện pháp luật tố tụng  
dân sự và được ghi nhận của Luật Tố tụng dân sự được xây dựng trên cơ  
sở các nguyên tắc cơ bản của pháp luật xã hội chủ nghĩa. Đồng thời các  
nguyên tắc này cũng thể hiện nhiệm vụ và hoạt động của hệ thống Toà án  
ở nước ta trong việc giải quyết các tranh chấp nhằm bảo vệ quyền lợi hợp  
pháp của các thành viên trong xã hội. Như vậy, các nguyên tắc của Luật  
Tố tụng dân sự là nền tảng để xây dựng các quy phạm và các chế định  
của ngành luật này.  
b) Ý nghĩa  
Các nguyên tắc của Luật Tố tụng dân sự là những tư tưởng pháp lý  
chỉ đạo nên chúng đã tập trung những yêu cầu và đòi hỏi của Nhà nước.  
Vì vậy, việc tuân thủ triệt để nội dung các nguyên tắc này trong quá trình  
xây dựng và thực hiện pháp luật tố tụng dân sự có ý nghĩa rất quan trọng.  
5 Xem Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, năm 2003, tr.694  
22  
Trong xây dựng pháp luật tố tụng dân sự, phải dựa vào các nguyên  
tắc của Luật Tố tụng dân sự để xây dựng các quy phạm pháp luật cụ thể,  
phù hợp, tránh được sự mâu thuẫn, chồng chéo giữa các quy phạm pháp  
luật hoặc thiếu sự nhất quán giữa các văn bản pháp luật. Ngoài ra, dựa  
vào các nguyên tắc của Luật Tố tụng dân sự cũng có thể tìm ra những  
mâu thuẫn, khiếm khuyết của các quy phạm pháp luật đã ban hành để sửa  
chữa, bổ sung và hoàn thiện các quy phạm đó.  
Mặt khác, chúng tạo điều kiện cho việc giải quyết vụ việc dân sự  
và thi hành án dân sự được thuận lợi, nhanh chóng, ngăn chặn được  
những tiêu cực nảy sinh trong quá trình tố tụng, bảo đảm cho các đương  
sự có thể bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của họ trước Toà án.  
Trong trường hợp pháp luật tố tụng dân sự không có quy định cụ thể thì  
các chủ thể tố tụng có thể căn cứ vào các nguyên tắc của luật tố tụng mà  
xác định phương hướng và thực hiện các hành vi tố tụng của mình.  
Các nguyên tắc của Luật Tố tụng dân sự là những tư tưởng pháp lý  
cơ bản, vì vậy việc vi phạm các nguyên tắc này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến  
quá trình tố tụng. Pháp luật tố tụng dân sự không quy định cụ thể nhưng  
căn cứ vào nội dung các quy định của BLTTDS 2004 thì việc vi phạm  
các nguyên tắc của Luật Tố tụng dân sự là vi phạm nghiêm trọng thủ tục  
tố tụng và dẫn đến hậu quả vụ việc dân sự phải được xét lại, kể cả khi  
bản án, quyết định giải quyết vụ việc dân sự của Toà án đã có hiệu lực  
pháp luật.  
3.2. Nội dung các nguyên tắc của Luật Tố tụng dân sự  
Khi nghiên cứu nội dung các nguyên tắc của Luật Tố tụng dân sự,  
các nhà nghiên cứu thường tiến hành phân loại các nguyên tắc. Mục đích  
của việc phân loại này là phục vụ cho việc nghiên cứu vị trí của từng  
nguyên tắc cụ thể đối với từng giai đoạn tố tụng. Tuy nhiên, mỗi nhà  
nghiên cứu lại có cách đặt vấn đề riêng, trên cơ sở đó đưa ra nhiều cách  
phân loại khác nhau. Việc phân loại các nguyên tắc thành từng nhóm  
cũng chỉ là việc làm có tính chất tương đối, bởi vì các nguyên tắc trong  
Luật Tố tụng dân sự đều có mối liên quan chặt chẽ và thống nhất với  
nhau, đều có vai trò chỉ đạo trong hệ thống các quy phạm tố tụng dân sự.  
Thông thường, các nguyên tắc này được phân thành hai nhóm sau:  
23  
Nhóm thứ nhất: bao gồm các nguyên tắc chung có tính chất chỉ đạo  
cả hệ thống pháp luật cũng như của luật hình thức nói chung, trong đó  
các nguyên tắc thể hiện hai tính chất cơ bản:  
- Những nguyên tắc thể hiện tính pháp chế xã hội chủ nghĩa như:  
nguyên tắc xét xử công khai; nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân  
dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật khi xét xử, ...  
- Những nguyên tắc thể hiện tính dân chủ xã hội chủ nghĩa như  
nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, nguyên tắc dùng  
tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình tại Toà án, ...  
Nhóm thứ hai: bao gồm các nguyên tắc điều chỉnh các hoạt động  
đặc trưng của tố tụng dân sự như nguyên tắc bảo đảm quyền tự định đoạt  
của đương sự, nguyên tắc chứng minh của đương sự, ...  
Như đã trình bày, việc phân loại các nguyên tắc chỉ mang tính chất  
tương đối và có nhiều cách. Do đó điều chủ yếu là nắm được nội dung  
của từng nguyên tắc, qua đó nắm được phương hướng chỉ đạo, đường lối  
hoạt động của Luật Tố tụng dân sự.  
3.2.1. Nhóm các nguyên tắc chung (những nguyên tắc Hiến định)  
a) Những nguyên tắc thể hiện tính pháp chế xã hội chủ nghĩa  
Nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm nhân dân tham  
gia. Khi xét xử, Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán.  
Hội thẩm nhân dân là người được cơ quan có thẩm quyền của Nhà  
nước bầu ra để đại diện cho nhân dân tham gia vào hoạt động xét xử ở  
Toà án, nhằm đảm bảo việc xét xử không chỉ đúng pháp luật mà còn phù  
hợp với nguyện vọng của nhân dân, tức là để việc xét xử vừa thấu tình  
vừa đạt lý. Chính vì vậy Điều 129 Hiến pháp 19926, Điều 4 LTCTAND  
20027, Điều 11 BLTTDS 2004 đã qui định: Việc xét xử của TAND có  
Hội thẩm nhân dân tham gia. Khi xét xử Hội thẩm nhân dân ngang quyền  
với Thẩm phán. Điều đó có nghĩa là nếu việc xét xử của TAND mà  
không có Hội thẩm nhân dân tham gia thì sẽ không chỉ là vi phạm tố tụng  
mà còn là vi phạm Hiến pháp. Tuy nhiên, cần lưu ý là việc tham gia xét  
6 Được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001  
7 Được Quốc hội thông qua ngày 02/04/2002.  
24  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 210 trang Thùy Anh 13101 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam (Phần 1)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_luat_to_tung_dan_su_viet_nam_phan_1.pdf