Tiếp tục cải cách chế độ sở hữu về đất đai nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng nguồn lực đất đai

BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
TIẾP TỤC CẢI CÁCH CHẾ ĐỘ SỞ HỮU VỀ ĐẤT ĐAI NHẰM NÂNG CAO  
HIỆU QUẢ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG NGUỒN LỰC ĐẤT ĐAI  
Nguyễn Quốc Sửu*  
*PGS. TS. Trườn  ại học Nội vu  à Nội  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Ở Việt Nam, quá trình cải cách kinh tế thị trường hơn 30 năm qua đã đạt  
được nhiều thành tựu trong việc xác lập và bảo vệ quyền tài sản, trước  
hết đối với các tài sản thuộc sở hữu tư nhân. Tuy nhiên, hiện vẫn còn  
nhiều loại tài sản chưa có quyền tài sản rõ ràng, đặc biệt là các nhóm  
tài sản liên quan đến đất đai, tài nguyên, các công trình công cộng ở địa  
phương do chính quyền địa phương khai thác, quản lý, sử dụng. Đây là  
những tài sản công có nguồn gốc “sở hữu toàn dân”, giá trị lớn và ảnh  
hưởng nhiều mặt đến đời sống kinh tế và xã hội. Trong phạm vi bài viết  
này, tác giả tập trung phân tích lịch sử xác lập quyền sở hữu, quyền sử  
dụng đất đai tại Việt Nam và đưa ra một số khuyến nghị cải cách.  
Từ khóa: Tài sản, sở hữu đất đai,  
quyền sử dụng đất đai, nguồn lực  
đất đai.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 23/6/2021  
: 19/8/2021  
: 20/8/2021  
Article Infomation:  
Keywords: Assets,  
Abstract:  
In Vietnam, the process of the market economy reform has been over for  
30 years, which has made several achievements in the establishment and  
protection of property rights, first of all for private- owned properties.  
However, there are still types of assets not clearly subject to the property  
rights, especially category of assets related to land, national resources,  
local public works managed by local authorities. These are public assests  
that originate from "the whole people's ownership", with great value  
and with affects to several aspects of economic and social life. Within  
the scope of this article, the author focuses on analyzing the history of  
establishing ownership and land use rights in Vietnam and provides a  
number of recommendations for further improvements.  
land  
ownership, land use rights, land  
resources.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 23 Jun 2021  
: 19 Aug. 2021  
: 20 Aug. 2021  
Approved  
1. Quyền sở hữu, quyền sử dụng đất đai ở  
Việt Nam  
nhận quyền sở hữu cho người được chia. Mọi  
khế ước cũ đều huỷ bỏ. Người được chia có  
quyền chia gia tài, cầm, bán, cho... ruộng đất  
được chia”1.  
Tuy nhiên, kể từ khi Hiến pháp năm 1980  
có hiệu lực thì “đất đai, rừng núi, sông hồ,  
hầm mỏ, tài nguyên thiên nhiên trong lòng  
đất, ở vùng biển và thềm lục địa... đều thuộc  
sở hữu toàn dân”2 và “những tập thể và cá  
Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm  
1959 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa  
thừa nhận sự tồn tại của nhiều hình thức sở  
hữu khác nhau về đất đai (sở hữu nhà nước,  
sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân). Theo đó,  
Luật Cải cách ruộng đất năm 1953 quy định:  
“Người được chia ruộng đất có quyền sở hữu  
ruộng đất đó... Chính quyền cấp giấy chứng  
1 Điều 31 Luật Cải cách ruộng đất năm 1953.  
2 Điều 19 Hiến pháp năm 1980.  
30  
Số 17(441) - T9/2021  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
nhân đang sử dụng đất đai được tiếp tục sử  
dụng và hưởng kết quả lao động của mình theo  
quy định của pháp luật”3. Chế độ sở hữu toàn  
dân đối với đất đai tiếp tục được khẳng định tại  
Hiến pháp năm 1992 (Điều 17) và Hiến pháp  
năm 2013 (Điều 53). Luật Đất đai năm 1987,  
Luật Đất đai năm 1993 đã được sửa đổi, bổ  
sung một số điều năm 1998 và năm 2001, Luật  
Đất đai năm 2003 và Luật Đất đai năm 2013 đã  
cụ thể hóa chế độ sở hữu toàn dân đối với đất  
đai, trong đó đặc biệt là quy định về quyền của  
Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu  
toàn dân về đất đai, như: “Nhà nước đại diện  
chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất  
quản lý về đất đai”4 hoặc “Đất đai thuộc sở  
hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu  
và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử  
dụng đất theo quy định của Luật này”5. Nhìn  
chung, pháp luật hiện hành đã tạo điều kiện để  
các chủ thể được tự do thực hiện các giao dịch  
liên quan đến đất đai, trừ một số trường hợp  
(theo quy định của pháp luật). Tuy nhiên, thực  
tế để thực hiện thành công các giao dịch liên  
quan đến đất đai thì các rào cản về thủ tục luôn  
là lý do khiến cho các chủ thể “nản lòng” vì:  
phí, lệ phí6, việc “bôi trơn” cho chủ thể có thẩm  
quyền7, bên cạnh các chính sách đất đai thiếu  
ổn định8.  
sử dụng đất cho thấy9: Quyền sở hữu đất đai  
là quyền ban đầu (có trước), còn quyền sử  
dụng đất là quyền phái sinh (có sau); quyền  
sở hữu đất đai là một loại quyền trọn vẹn, đầy  
đủ, còn quyền sử dụng đất là một loại quyền  
không trọn vẹn, không đầy đủ10. Nhìn ở góc  
độ quyền sử dụng đất của Nhà nước và quyền  
sử dụng đất của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân  
cũng thấy sự khác biệt rất rõ, cụ thể: Một là,  
quyền sử dụng đất đai của Nhà nước phát sinh  
dựa trên cơ sở Nhà nước là đại diện chủ sở  
hữu đất đai nên quyền sử dụng đất này là vĩnh  
viễn, trọn vẹn và không bị ai hạn chế, còn  
quyền sử dụng đất của người sử dụng xuất  
hiện khi được Nhà nước giao đất, cho thuê  
đất, cho phép nhận chuyển quyền sử dụng đất  
hoặc công nhận quyền sử dụng đất... và phụ  
thuộc vào ý chí của Nhà nước. Vì vậy, quyền  
sử dụng đất của họ bị Nhà nước hạn chế bởi  
diện tích, thời hạn và mục đích sử dụng... Hai  
là, nếu như quyền sử dụng đất của Nhà nước  
mang tính gián tiếp và trừu tượng thì ngược  
lại, quyền sử dụng đất của người sử dụng lại  
mang tính chất trực tiếp và cụ thể11.  
Tuy không đồng nhất nội hàm của khái  
niệm quyền sở hữu đất và quyền sử dụng  
đất, nhưng trong số năm (05) quyền của  
người sử dụng đất tại Luật Đất đai năm 1993,  
sau đó mở rộng đến chín (09) quyền tại Luật  
Đất đai năm 2003 và tám (08) quyền tại Luật  
Đất đai năm 2013, có nhiều quyền mang tính  
chất định đoạt tài sản (giống như chủ sở hữu),  
Đánh giá tổng quát sự khác biệt về quyền  
năng của Nhà nước với tư cách là đại diện chủ  
sở hữu toàn dân về đất đai và người sử dụng  
đất với tư cách là người trực tiếp khai thác,  
3 Điều 20 Hiến pháp năm 1980.  
4 Điều 1 Luật Đất đai năm 2003.  
5 Điều 4 Luật Đất đai năm 2013.  
6
lần cuối ngày 15/4/2020.  
7
nguoi-dan-233908.html, truy cập lần cuối ngày 15/4/2020.  
8
dat-nong-nghiep-450434/, truy cập lần cuối ngày 22/5/2020.  
9 Hồ Quang Huy, Suy nghĩ về khái niệm quyền sử dụng đất của Việt Nam, Link tham khảo: https://moj.gov.vn/  
qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2168, truy cập lần cuối ngày 10/6/2020.  
10 Trường Đại học luật Hà Nội (2011), Giáo trình Luật Đất đai, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr.92.  
11 Trường Đại học luật Hà Nội (2011), Giáo trình Luật Đất đai, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr.95-96.  
Số 17(441) - T9/2021  
31  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
nghĩa là việc thực hiện quyền dẫn đến thay đổi  
người sử dụng đất với tư cách là chủ thể trực  
tiếp quản lý, khai thác thửa đất. Đó là quyền  
trao đổi, tặng cho, chuyển nhượng, góp vốn,  
thừa kế quyền sử dụng đất. Mặc dù thủ tục  
thực hiện các quyền nêu trên của người sử  
dụng đất phức tạp hơn so với việc định đoạt  
các loại tài sản thông thường khác, nhưng  
nếu nhìn từ góc độ khoa học pháp lý thì sẽ  
nhận thấy quyền của người sử dụng đất thực  
chất là một tập hợp nhiều quyền năng về tài  
sản, trong đó bao gồm cả quyền định đoạt12.  
Chính vì vậy, “sáng tạo ra khái niệm quyền  
sử dụng đất, người Việt Nam dường như đã  
tạo ra một khái niệm sở hữu kép, một khái  
niệm sở hữu đa tầng: Đất đai thuộc sở hữu  
toàn dân, song quyền sử dụng đất lại thuộc  
về cá nhân hoặc tổ chức”13. Đây chính là một  
trong những nguyên nhân dẫn đến quá trình  
thực hiện quyền dân sự của người sử dụng  
đất, sự vận hành của thị trường quyền sử dụng  
đất ở nước ta thời gian qua đã không phản ánh  
đúng bản chất khách quan và bị bóp méo bởi  
các quyết định mang tính hành chính của các  
chủ thể có thẩm quyền tại nhiều thời điểm,  
trong khi “yêu cầu số một đối với dự án cải  
cách pháp luật dân sự, về phần liên quan đến  
quyền sở hữu là phải minh định vị trí trung  
tâm của quyền sử dụng đất trong chế độ pháp  
lý về sở hữu tư nhân, đặc biệt là trong chế độ  
pháp lý về sở hữu tư nhân đối với bất động  
sản”14. Mặt khác, cơ chế thực hiện quyền sở  
hữu toàn dân về đất đai còn lỏng lẻo. Hiến  
pháp và các phiên bản Luật Đất đai đều nhất  
quán khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn  
dân, do Nhà nước thống nhất quản lý. Tuy  
nhiên, trong thực tế quyền sở hữu toàn dân về  
đất đai còn nhiều hạn chế, thiếu nội dung cụ  
thể. Quy định Nhà nước thống nhất quản lý  
đất đai, với tư cách là người chủ sở hữu hay  
đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai chưa  
thực sự rõ ràng; trong khi quyền của người  
sử dụng đất dường như là quyền của người  
chủ sở hữu. Quy định người sử dụng đất có  
nhiều quyền, trong đó có những quyền có tính  
chất định đoạt như quyền chuyển nhượng,  
cho thuê, thừa kế, thế chấp; còn chủ sở hữu  
toàn dân lại không được quy định rõ ràng các  
quyền này.  
Thể chế thực hiện quyền sở hữu về đất  
đai còn nhiều khoảng trống, nhất là đất giao  
cho doanh nghiệp nhà nước (DNNN) quản  
lý, sử dụng. Về nguyên tắc, đất đai giao cho  
DNNN là tài sản công do Nhà nước đầu tư  
vào DNNN, phải được vốn hóa, hạch toán chi  
phí và nằm trong cơ cấu định giá của doanh  
nghiệp. Tuy nhiên, cơ chế này chưa được  
thực hiện trên thực tế. Việc chuyển đổi mục  
đích sử dụng đất, chuyển đổi quyền sử dụng  
đất từ các hộ nông dân sang các nhà đầu tư  
kinh doanh được thực hiện theo cơ chế xin-  
cho thông qua các công cụ quản lý nhà nước,  
nguyên tắc và cơ chế thị trường hầu như  
không xuất hiện trong các giao dịch nêu trên.  
Can thiệp đất đai trong trường hợp này hoàn  
toàn mang tính hành chính chủ quan của các  
cơ quan, công chức nhà nước có thẩm quyền.  
Hệ quả là tạo ra sự bất công trong phân bổ,  
chiếm hữu và sử dụng đất đai, trong hưởng  
lợi từ đất đai, làm cho sử dụng đất trở nên lãng  
phí, kém hiệu quả và gây ra hàng loạt các vấn  
đề xã hội khác. Trên thực tế, những DNNN,  
doanh nghiệp quy mô lớn, doanh nghiệp đầu  
tư nước ngoài, doanh nghiệp có mối quan hệ  
tốt với chính quyền thường tiếp cận được với  
đất đai, trở thành chủ sở hữu “quyền sử dụng  
đất” một cách dễ dàng hơn so với các chủ thể  
khác. Trong quá trình thu hồi đất cho hoạt  
12 Hồ Quang Huy, Suy nghĩ về khái niệm quyền sử dụng đất của Việt Nam, Link tham khảo: https://moj.gov.vn/  
qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2168, truy cập lần cuối ngày 10/6/2020.  
13 Phạm Duy Nghĩa, Chuyên khảo Luật Kinh tế, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2004, tr.169.  
14 Nguyễn Ngọc Điện (2010), “Hoàn thiện chế độ pháp lý về sở hữu bất động sản trong khung cảnh hội nhập”,  
Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 08(169)/Kỳ 02, tháng 04, tr.29-39.  
32  
Số 17(441) - T9/2021  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
2. Một số khuyến nghị cải cách  
động sản xuất, kinh doanh, người nông dân  
thường là những người chịu thiệt trực tiếp khi  
không được đền bù một cách tương xứng theo  
nguyên tắc thị trường.  
2.1. Tăng bảo hộ quyền sử dụng đất  
Sau nhiều lần sửa đổi luật đất đai, có thể  
nhận thấy Nhà nước tuy vẫn giữ nhiều quyền  
định đoạt, song các quyền tài sản về đất đai  
đã được phi tập trung hóa tới các nông hộ,  
cá nhân và tổ chức. Ẩn sau sở hữu toàn dân,  
một trật tự quyền tài sản đa tầng đã xuất hiện.  
Bắt đầu với một quyết định hành chính phân  
phối đất đai, ngay lập tức hình thành quyền  
tài sản mang tính loại trừ của một cá nhân hay  
tổ chức. Quyền tài sản đang hình thành ấy -  
sau khi ra đời sẽ được giao dịch trong những  
thị trường trung gian, rất sớm trước khi giấy  
tờ được cấp cho người có quyền sử dụng đất  
ở thị trường công khai. Từ Luật Đất đai năm  
1987, trong hơn ba thập kỷ qua, hệ thống này  
hoàn chỉnh các văn bản luật và dưới luật về  
đất đai đã góp phần làm cho 70 triệu mảnh  
ruộng của 14 triệu nông hộ, hàng trăm triệu  
ô thửa đất ở, đất kinh doanh và căn hộ của cá  
nhân, doanh nghiệp đã dần dần rõ chủ15. Xét  
về quyền năng khai thác, hưởng dụng và định  
đoạt, trên thực tế hàng triệu mảnh đất ở Việt  
Nam đã được sở hữu không khác các tài sản  
tư, dấu hiệu đa sở hữu về quyền tài sản liên  
quan đến đất đai là một thực tế khách quan. Vì  
vậy, bằng các kỹ thuật pháp lý, cần cụ thể hóa  
khái niệm sở hữu toàn dân bằng các công cụ  
thực tế, mạch lạc hơn, cụ thể như sau:  
- Tiếp theo việc xác định quyền sử dụng  
đất là quyền tài sản của chủ đất như đã được  
quy định tại Điều 115 Bộ luật Dân sự (BLDS)  
năm 2015, về định hướng, cần sửa đổi Luật  
Đất đai theo hướng bảo hộ tốt hơn các quyền  
tài sản có tính loại trừ của chủ sử dụng đất;  
- Nhất quán với nguyên tắc chung đã được  
xác định tại Điều 115 của BLDS năm 2015,  
Luật Đất đai nên phân tách quyền sử dụng  
đất thành hai loại: thứ nhất, quyền sử dụng  
đất thuộc khối công sản theo Điều 197 BLDS  
năm 2015, gọi là đất công; thứ hai, quyền sử  
dụng đất thuộc quyền tài sản của các cá nhân,  
tổ chức, gọi là đất tư (khái niệm đất công đã  
Đất đai thuộc sở hữu toàn dân nhưng trên  
thực tế đã thành “công cụ” chính sách của Nhà  
nước. Chẳng hạn, Nhà nước sử dụng “đất”  
làm công cụ ưu đãi đầu tư, nhất là đầu tư nước  
ngoài; Nhà nước chuyển đổi mục đích sử  
dụng, bán quyền sử dụng đất để tăng thu ngân  
sách. “Giá đất” có sự phân biệt rất lớn đối với  
người sử dụng khác nhau. Giá đất đối với nhà  
đầu tư nước ngoài, đầu tư nhà nước và các  
nhà đầu tư thuộc loại ưu tiên của Chính phủ  
có thể quá thấp (được trợ cấp hay bao cấp lớn,  
có khi bao cấp toàn phần); còn giá đất cho đa  
số người còn lại quá cao. Thực tế cho thấy, chi  
phí sử dụng đất quá cao là một trong những  
cản trở đối với sự phát triển doanh nghiệp tư  
nhân trong nước. Ngược lại, giá đất quá thấp  
cho một số đối tượng đang làm cho việc sử  
dụng đất trở nên lãng phí, kém hiệu quả. Thực  
tế nêu trên cũng góp phần tạo ra môi trường  
kinh doanh chưa công bằng, kém bình đẳng,  
làm méo mó các giao dịch thị trường.  
Tóm lại, can thiệp hành chính của các cấp  
chính quyền từ trung ương đến địa phương  
đang chi phối phân bổ và sử dụng đất đai,  
khoáng sản và các tài nguyên khác của quốc  
gia. Các giao dịch “sơ cấp” hoàn toàn theo  
mệnh lệnh và can thiệp hành chính; các giao  
dịch “thứ cấp” thì bị giới hạn; các nguyên tắc  
thị trường như cạnh tranh để có được quyền  
sử dụng đất (và các tài nguyên khác), giá cả  
xác định theo quan hệ cung cầu và sự khan  
hiếm của nguồn lực,... hầu như chưa được  
thực hiện thỏa đáng trong phân bổ đất đai,  
tài nguyên; quyền sở hữu đất đai trên thực  
tế là chưa rõ ràng và chưa được bảo vệ một  
cách chắc chắn. Như vậy, thể chế kinh tế thị  
trường về cơ bản chưa tồn tại và phát huy tác  
dụng trong phân bổ, sử dụng đất đai và các tài  
nguyên khác của quốc gia.  
15 Phạm Duy Nghĩa, Xác lập quyền tài sản của nông dân với đất nông nghiệp, Tạp chí Tia sáng.  
Số 17(441) - T9/2021  
33  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
được sử dụng ở một số văn bản pháp luật,  
song chưa hề sử dụng khái niệm đất tư);  
- Sau khi phân tách quyền sử dụng đất công  
và đất tư, Luật Đất đai nên tiếp tục phát triển  
các quyền tài sản cụ thể phái sinh từ hai loại  
đất này dựa trên các quyền tài sản đã được  
quy định tại BLDS năm 2015;  
chẽ việc chuyển nhượng chúng16. Bờ biển, các  
nguồn nước của Việt Nam hiện đã bị chia cắt  
bởi vô số các tổ chức và doanh nghiệp, được  
khai thác vì lợi ích các tổ chức đó, có nghĩa là  
vì lợi ích tư. Hiến pháp năm 2013 và sau đó là  
BLDS năm 2015 chỉ quy định về sở hữu toàn  
dân, mà không phân tách sở hữu quốc gia và sở  
hữu của chính quyền địa phương. Đồng thời,  
với xu thế ghi nhận tự chủ ngân sách, tự quản  
địa phương, đã đến lúc cần thảo luận và ghi  
nhận quyền sở hữu công sản một cách tách biệt  
của chính quyền các địa phương.  
Đất công có thể thuộc sở hữu của chính  
quyền trung ương hoặc địa phương. Nên xem  
một cấp chính quyền là một pháp nhân công  
tách biệt, các cơ quan có tính giúp việc của  
một cấp chính quyền không phải là pháp nhân  
công. Ví dụ, một bộ là cơ quan của Chính  
phủ, toàn bộ chính quyền trung ương là một  
pháp nhân công, song từng bộ không phải là  
pháp nhân công độc lập. Vì thế, cần dừng việc  
cấp sổ đỏ cho từng cơ quan nhà nước, ví dụ  
cho một bộ, một cơ quan. Đất công thuộc sở  
hữu của chính quyền từng cấp phải được quản  
lý tập trung, thuộc sở hữu của quốc gia (chính  
quyền trung ương) hoặc địa phương (của một  
tỉnh, một đô thị, một xã cụ thể). Về nguyên  
tắc, toàn bộ quỹ đất công của chính quyền  
trung ương hoặc quỹ đất của các chính quyền  
địa phương phải được giao cho những cơ quan  
quản lý công sản quản lý tập trung của từng  
cấp chính quyền. Cơ quan ấy được ủy nhiệm  
thực thi các quyền của chủ sở hữu công. Làm  
được như vậy sẽ hạn chế được nguy cơ khai  
thác phân tán, ví dụ, các cơ quan nhà nước đổi  
đất lấy công trình một cách tương đối tràn lan  
trong thời gian vừa qua (tư nhân tiếp nhận và  
khai thác thương mại các lô đất ở trung tâm để  
đổi lấy việc phát triển, xây dựng, bàn giao các  
- Quyền sử dụng đất công lại có thể tiếp tục  
được phân tách mạch lạc thành đất công thuộc  
công sản của chính quyền trung ương và đất  
công thuộc công sản của chính quyền các địa  
phương. Ví dụ, công sản của các tỉnh, của các  
chính quyền đô thị, các xã; các pháp nhân  
công đó được tự do định đoạt khối công sản  
thuộc sở hữu của mình tuân theo các nguyên  
tắc của tự chủ ngân sách, tự quản địa phương;  
- Công nhận và bảo hộ một cách chắc chắn  
hơn quyền tài sản của chủ sử dụng đất tư, xem  
đó là vật quyền vĩnh viễn, được Nhà nước cam  
kết bảo hộ lâu dài. Nhà nước chỉ có thể trưng  
mua, trưng dụng quyền sử dụng đất tư tuân  
thủ theo các quy trình pháp lý chặt chẽ. Như  
vậy, quy định Nhà nước có quyền thu hồi đất  
phải được thu hẹp rất đáng kể, Nhà nước chỉ có  
quyền thu hồi đất công đã cấp, cho thuê hoặc  
xung công quyền sử dụng đất tư trong những  
tình huống rất hạn chế. Về đại thể, nếu đã công  
nhận quyền sử dụng đất tư là quyền tài sản vĩnh  
viễn của các chủ sử dụng đất, thì Nhà nước  
không có quyền thu hồi các quyền tài sản này.  
Như vậy, phải sửa Luật Đất đai theo hướng,  
Nhà nước không còn quyền thu hồi đất đối với  
đất tư, nếu muốn sử dụng đất tư của các tổ chức  
và cá nhân thì Nhà nước phải tuân thủ các quy  
định về trưng mua, trưng dụng…  
2.2. Minh định tư cách chủ thể của  
đất công của chính quyền trung ương,  
địa phương  
Tùy theo pháp luật các nước, bờ biển, thềm  
lục địa, vùng trời, rừng tự nhiên, sông suối,  
nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, các  
dải đất ven sông… có thể được tuyên bố là tài  
sản quốc gia, bị cấm hoặc giám sát cực kỳ chặt  
trụ sở mới cho cơ quan nhà nước)  
16 J. Gordley, A.T. von Mehren, An Introduction to the Comparative Study of Private Law, Cambrigde  
University Press, 2009, pp.157-167.  
34  
Số 17(441) - T9/2021  
pdf 5 trang Thùy Anh 12040 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tiếp tục cải cách chế độ sở hữu về đất đai nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng nguồn lực đất đai", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftiep_tuc_cai_cach_che_do_so_huu_ve_dat_dai_nham_nang_cao_hie.pdf