Tiếp tục cải cách chế độ sở hữu về đất đai nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng nguồn lực đất đai
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
TIẾP TỤC CẢI CÁCH CHẾ ĐỘ SỞ HỮU VỀ ĐẤT ĐAI NHẰM NÂNG CAO
HIỆU QUẢ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG NGUỒN LỰC ĐẤT ĐAI
Nguyễn Quốc Sửu*
*PGS. TS. Trườn ại học Nội vu à Nội
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Ở Việt Nam, quá trình cải cách kinh tế thị trường hơn 30 năm qua đã đạt
được nhiều thành tựu trong việc xác lập và bảo vệ quyền tài sản, trước
hết đối với các tài sản thuộc sở hữu tư nhân. Tuy nhiên, hiện vẫn còn
nhiều loại tài sản chưa có quyền tài sản rõ ràng, đặc biệt là các nhóm
tài sản liên quan đến đất đai, tài nguyên, các công trình công cộng ở địa
phương do chính quyền địa phương khai thác, quản lý, sử dụng. Đây là
những tài sản công có nguồn gốc “sở hữu toàn dân”, giá trị lớn và ảnh
hưởng nhiều mặt đến đời sống kinh tế và xã hội. Trong phạm vi bài viết
này, tác giả tập trung phân tích lịch sử xác lập quyền sở hữu, quyền sử
dụng đất đai tại Việt Nam và đưa ra một số khuyến nghị cải cách.
Từ khóa: Tài sản, sở hữu đất đai,
quyền sử dụng đất đai, nguồn lực
đất đai.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 23/6/2021
: 19/8/2021
: 20/8/2021
Article Infomation:
Keywords: Assets,
Abstract:
In Vietnam, the process of the market economy reform has been over for
30 years, which has made several achievements in the establishment and
protection of property rights, first of all for private- owned properties.
However, there are still types of assets not clearly subject to the property
rights, especially category of assets related to land, national resources,
local public works managed by local authorities. These are public assests
that originate from "the whole people's ownership", with great value
and with affects to several aspects of economic and social life. Within
the scope of this article, the author focuses on analyzing the history of
establishing ownership and land use rights in Vietnam and provides a
number of recommendations for further improvements.
land
ownership, land use rights, land
resources.
Article History:
Received
Edited
: 23 Jun 2021
: 19 Aug. 2021
: 20 Aug. 2021
Approved
1. Quyền sở hữu, quyền sử dụng đất đai ở
Việt Nam
nhận quyền sở hữu cho người được chia. Mọi
khế ước cũ đều huỷ bỏ. Người được chia có
quyền chia gia tài, cầm, bán, cho... ruộng đất
được chia”1.
Tuy nhiên, kể từ khi Hiến pháp năm 1980
có hiệu lực thì “đất đai, rừng núi, sông hồ,
hầm mỏ, tài nguyên thiên nhiên trong lòng
đất, ở vùng biển và thềm lục địa... đều thuộc
sở hữu toàn dân”2 và “những tập thể và cá
Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm
1959 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
thừa nhận sự tồn tại của nhiều hình thức sở
hữu khác nhau về đất đai (sở hữu nhà nước,
sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân). Theo đó,
Luật Cải cách ruộng đất năm 1953 quy định:
“Người được chia ruộng đất có quyền sở hữu
ruộng đất đó... Chính quyền cấp giấy chứng
1 Điều 31 Luật Cải cách ruộng đất năm 1953.
2 Điều 19 Hiến pháp năm 1980.
30
Số 17(441) - T9/2021
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
nhân đang sử dụng đất đai được tiếp tục sử
dụng và hưởng kết quả lao động của mình theo
quy định của pháp luật”3. Chế độ sở hữu toàn
dân đối với đất đai tiếp tục được khẳng định tại
Hiến pháp năm 1992 (Điều 17) và Hiến pháp
năm 2013 (Điều 53). Luật Đất đai năm 1987,
Luật Đất đai năm 1993 đã được sửa đổi, bổ
sung một số điều năm 1998 và năm 2001, Luật
Đất đai năm 2003 và Luật Đất đai năm 2013 đã
cụ thể hóa chế độ sở hữu toàn dân đối với đất
đai, trong đó đặc biệt là quy định về quyền của
Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu
toàn dân về đất đai, như: “Nhà nước đại diện
chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất
quản lý về đất đai”4 hoặc “Đất đai thuộc sở
hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu
và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử
dụng đất theo quy định của Luật này”5. Nhìn
chung, pháp luật hiện hành đã tạo điều kiện để
các chủ thể được tự do thực hiện các giao dịch
liên quan đến đất đai, trừ một số trường hợp
(theo quy định của pháp luật). Tuy nhiên, thực
tế để thực hiện thành công các giao dịch liên
quan đến đất đai thì các rào cản về thủ tục luôn
là lý do khiến cho các chủ thể “nản lòng” vì:
phí, lệ phí6, việc “bôi trơn” cho chủ thể có thẩm
quyền7, bên cạnh các chính sách đất đai thiếu
ổn định8.
sử dụng đất cho thấy9: Quyền sở hữu đất đai
là quyền ban đầu (có trước), còn quyền sử
dụng đất là quyền phái sinh (có sau); quyền
sở hữu đất đai là một loại quyền trọn vẹn, đầy
đủ, còn quyền sử dụng đất là một loại quyền
không trọn vẹn, không đầy đủ10. Nhìn ở góc
độ quyền sử dụng đất của Nhà nước và quyền
sử dụng đất của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân
cũng thấy sự khác biệt rất rõ, cụ thể: Một là,
quyền sử dụng đất đai của Nhà nước phát sinh
dựa trên cơ sở Nhà nước là đại diện chủ sở
hữu đất đai nên quyền sử dụng đất này là vĩnh
viễn, trọn vẹn và không bị ai hạn chế, còn
quyền sử dụng đất của người sử dụng xuất
hiện khi được Nhà nước giao đất, cho thuê
đất, cho phép nhận chuyển quyền sử dụng đất
hoặc công nhận quyền sử dụng đất... và phụ
thuộc vào ý chí của Nhà nước. Vì vậy, quyền
sử dụng đất của họ bị Nhà nước hạn chế bởi
diện tích, thời hạn và mục đích sử dụng... Hai
là, nếu như quyền sử dụng đất của Nhà nước
mang tính gián tiếp và trừu tượng thì ngược
lại, quyền sử dụng đất của người sử dụng lại
mang tính chất trực tiếp và cụ thể11.
Tuy không đồng nhất nội hàm của khái
niệm quyền sở hữu đất và quyền sử dụng
đất, nhưng trong số năm (05) quyền của
người sử dụng đất tại Luật Đất đai năm 1993,
sau đó mở rộng đến chín (09) quyền tại Luật
Đất đai năm 2003 và tám (08) quyền tại Luật
Đất đai năm 2013, có nhiều quyền mang tính
chất định đoạt tài sản (giống như chủ sở hữu),
Đánh giá tổng quát sự khác biệt về quyền
năng của Nhà nước với tư cách là đại diện chủ
sở hữu toàn dân về đất đai và người sử dụng
đất với tư cách là người trực tiếp khai thác,
3 Điều 20 Hiến pháp năm 1980.
4 Điều 1 Luật Đất đai năm 2003.
5 Điều 4 Luật Đất đai năm 2013.
6
Xem thêm: https://cafeland.vn/tin-tuc/nguoi-mua-nha-gong-minh-ganh-cac-loai-phi-78897.html, truy cập
lần cuối ngày 15/4/2020.
7
Xem thêm: https://baotainguyenmoitruong.vn/vu-phi-boi-tron-khi-lam-so-do-o-ha-noi-them-phan-anh-cua-
nguoi-dan-233908.html, truy cập lần cuối ngày 15/4/2020.
8
dat-nong-nghiep-450434/, truy cập lần cuối ngày 22/5/2020.
9 Hồ Quang Huy, Suy nghĩ về khái niệm quyền sử dụng đất của Việt Nam, Link tham khảo: https://moj.gov.vn/
qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2168, truy cập lần cuối ngày 10/6/2020.
10 Trường Đại học luật Hà Nội (2011), Giáo trình Luật Đất đai, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr.92.
11 Trường Đại học luật Hà Nội (2011), Giáo trình Luật Đất đai, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr.95-96.
Số 17(441) - T9/2021
31
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
nghĩa là việc thực hiện quyền dẫn đến thay đổi
người sử dụng đất với tư cách là chủ thể trực
tiếp quản lý, khai thác thửa đất. Đó là quyền
trao đổi, tặng cho, chuyển nhượng, góp vốn,
thừa kế quyền sử dụng đất. Mặc dù thủ tục
thực hiện các quyền nêu trên của người sử
dụng đất phức tạp hơn so với việc định đoạt
các loại tài sản thông thường khác, nhưng
nếu nhìn từ góc độ khoa học pháp lý thì sẽ
nhận thấy quyền của người sử dụng đất thực
chất là một tập hợp nhiều quyền năng về tài
sản, trong đó bao gồm cả quyền định đoạt12.
Chính vì vậy, “sáng tạo ra khái niệm quyền
sử dụng đất, người Việt Nam dường như đã
tạo ra một khái niệm sở hữu kép, một khái
niệm sở hữu đa tầng: Đất đai thuộc sở hữu
toàn dân, song quyền sử dụng đất lại thuộc
về cá nhân hoặc tổ chức”13. Đây chính là một
trong những nguyên nhân dẫn đến quá trình
thực hiện quyền dân sự của người sử dụng
đất, sự vận hành của thị trường quyền sử dụng
đất ở nước ta thời gian qua đã không phản ánh
đúng bản chất khách quan và bị bóp méo bởi
các quyết định mang tính hành chính của các
chủ thể có thẩm quyền tại nhiều thời điểm,
trong khi “yêu cầu số một đối với dự án cải
cách pháp luật dân sự, về phần liên quan đến
quyền sở hữu là phải minh định vị trí trung
tâm của quyền sử dụng đất trong chế độ pháp
lý về sở hữu tư nhân, đặc biệt là trong chế độ
pháp lý về sở hữu tư nhân đối với bất động
sản”14. Mặt khác, cơ chế thực hiện quyền sở
hữu toàn dân về đất đai còn lỏng lẻo. Hiến
pháp và các phiên bản Luật Đất đai đều nhất
quán khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn
dân, do Nhà nước thống nhất quản lý. Tuy
nhiên, trong thực tế quyền sở hữu toàn dân về
đất đai còn nhiều hạn chế, thiếu nội dung cụ
thể. Quy định Nhà nước thống nhất quản lý
đất đai, với tư cách là người chủ sở hữu hay
đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai chưa
thực sự rõ ràng; trong khi quyền của người
sử dụng đất dường như là quyền của người
chủ sở hữu. Quy định người sử dụng đất có
nhiều quyền, trong đó có những quyền có tính
chất định đoạt như quyền chuyển nhượng,
cho thuê, thừa kế, thế chấp; còn chủ sở hữu
toàn dân lại không được quy định rõ ràng các
quyền này.
Thể chế thực hiện quyền sở hữu về đất
đai còn nhiều khoảng trống, nhất là đất giao
cho doanh nghiệp nhà nước (DNNN) quản
lý, sử dụng. Về nguyên tắc, đất đai giao cho
DNNN là tài sản công do Nhà nước đầu tư
vào DNNN, phải được vốn hóa, hạch toán chi
phí và nằm trong cơ cấu định giá của doanh
nghiệp. Tuy nhiên, cơ chế này chưa được
thực hiện trên thực tế. Việc chuyển đổi mục
đích sử dụng đất, chuyển đổi quyền sử dụng
đất từ các hộ nông dân sang các nhà đầu tư
kinh doanh được thực hiện theo cơ chế xin-
cho thông qua các công cụ quản lý nhà nước,
nguyên tắc và cơ chế thị trường hầu như
không xuất hiện trong các giao dịch nêu trên.
Can thiệp đất đai trong trường hợp này hoàn
toàn mang tính hành chính chủ quan của các
cơ quan, công chức nhà nước có thẩm quyền.
Hệ quả là tạo ra sự bất công trong phân bổ,
chiếm hữu và sử dụng đất đai, trong hưởng
lợi từ đất đai, làm cho sử dụng đất trở nên lãng
phí, kém hiệu quả và gây ra hàng loạt các vấn
đề xã hội khác. Trên thực tế, những DNNN,
doanh nghiệp quy mô lớn, doanh nghiệp đầu
tư nước ngoài, doanh nghiệp có mối quan hệ
tốt với chính quyền thường tiếp cận được với
đất đai, trở thành chủ sở hữu “quyền sử dụng
đất” một cách dễ dàng hơn so với các chủ thể
khác. Trong quá trình thu hồi đất cho hoạt
12 Hồ Quang Huy, Suy nghĩ về khái niệm quyền sử dụng đất của Việt Nam, Link tham khảo: https://moj.gov.vn/
qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2168, truy cập lần cuối ngày 10/6/2020.
13 Phạm Duy Nghĩa, Chuyên khảo Luật Kinh tế, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2004, tr.169.
14 Nguyễn Ngọc Điện (2010), “Hoàn thiện chế độ pháp lý về sở hữu bất động sản trong khung cảnh hội nhập”,
Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 08(169)/Kỳ 02, tháng 04, tr.29-39.
32
Số 17(441) - T9/2021
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
2. Một số khuyến nghị cải cách
động sản xuất, kinh doanh, người nông dân
thường là những người chịu thiệt trực tiếp khi
không được đền bù một cách tương xứng theo
nguyên tắc thị trường.
2.1. Tăng bảo hộ quyền sử dụng đất
Sau nhiều lần sửa đổi luật đất đai, có thể
nhận thấy Nhà nước tuy vẫn giữ nhiều quyền
định đoạt, song các quyền tài sản về đất đai
đã được phi tập trung hóa tới các nông hộ,
cá nhân và tổ chức. Ẩn sau sở hữu toàn dân,
một trật tự quyền tài sản đa tầng đã xuất hiện.
Bắt đầu với một quyết định hành chính phân
phối đất đai, ngay lập tức hình thành quyền
tài sản mang tính loại trừ của một cá nhân hay
tổ chức. Quyền tài sản đang hình thành ấy -
sau khi ra đời sẽ được giao dịch trong những
thị trường trung gian, rất sớm trước khi giấy
tờ được cấp cho người có quyền sử dụng đất
ở thị trường công khai. Từ Luật Đất đai năm
1987, trong hơn ba thập kỷ qua, hệ thống này
hoàn chỉnh các văn bản luật và dưới luật về
đất đai đã góp phần làm cho 70 triệu mảnh
ruộng của 14 triệu nông hộ, hàng trăm triệu
ô thửa đất ở, đất kinh doanh và căn hộ của cá
nhân, doanh nghiệp đã dần dần rõ chủ15. Xét
về quyền năng khai thác, hưởng dụng và định
đoạt, trên thực tế hàng triệu mảnh đất ở Việt
Nam đã được sở hữu không khác các tài sản
tư, dấu hiệu đa sở hữu về quyền tài sản liên
quan đến đất đai là một thực tế khách quan. Vì
vậy, bằng các kỹ thuật pháp lý, cần cụ thể hóa
khái niệm sở hữu toàn dân bằng các công cụ
thực tế, mạch lạc hơn, cụ thể như sau:
- Tiếp theo việc xác định quyền sử dụng
đất là quyền tài sản của chủ đất như đã được
quy định tại Điều 115 Bộ luật Dân sự (BLDS)
năm 2015, về định hướng, cần sửa đổi Luật
Đất đai theo hướng bảo hộ tốt hơn các quyền
tài sản có tính loại trừ của chủ sử dụng đất;
- Nhất quán với nguyên tắc chung đã được
xác định tại Điều 115 của BLDS năm 2015,
Luật Đất đai nên phân tách quyền sử dụng
đất thành hai loại: thứ nhất, quyền sử dụng
đất thuộc khối công sản theo Điều 197 BLDS
năm 2015, gọi là đất công; thứ hai, quyền sử
dụng đất thuộc quyền tài sản của các cá nhân,
tổ chức, gọi là đất tư (khái niệm đất công đã
Đất đai thuộc sở hữu toàn dân nhưng trên
thực tế đã thành “công cụ” chính sách của Nhà
nước. Chẳng hạn, Nhà nước sử dụng “đất”
làm công cụ ưu đãi đầu tư, nhất là đầu tư nước
ngoài; Nhà nước chuyển đổi mục đích sử
dụng, bán quyền sử dụng đất để tăng thu ngân
sách. “Giá đất” có sự phân biệt rất lớn đối với
người sử dụng khác nhau. Giá đất đối với nhà
đầu tư nước ngoài, đầu tư nhà nước và các
nhà đầu tư thuộc loại ưu tiên của Chính phủ
có thể quá thấp (được trợ cấp hay bao cấp lớn,
có khi bao cấp toàn phần); còn giá đất cho đa
số người còn lại quá cao. Thực tế cho thấy, chi
phí sử dụng đất quá cao là một trong những
cản trở đối với sự phát triển doanh nghiệp tư
nhân trong nước. Ngược lại, giá đất quá thấp
cho một số đối tượng đang làm cho việc sử
dụng đất trở nên lãng phí, kém hiệu quả. Thực
tế nêu trên cũng góp phần tạo ra môi trường
kinh doanh chưa công bằng, kém bình đẳng,
làm méo mó các giao dịch thị trường.
Tóm lại, can thiệp hành chính của các cấp
chính quyền từ trung ương đến địa phương
đang chi phối phân bổ và sử dụng đất đai,
khoáng sản và các tài nguyên khác của quốc
gia. Các giao dịch “sơ cấp” hoàn toàn theo
mệnh lệnh và can thiệp hành chính; các giao
dịch “thứ cấp” thì bị giới hạn; các nguyên tắc
thị trường như cạnh tranh để có được quyền
sử dụng đất (và các tài nguyên khác), giá cả
xác định theo quan hệ cung cầu và sự khan
hiếm của nguồn lực,... hầu như chưa được
thực hiện thỏa đáng trong phân bổ đất đai,
tài nguyên; quyền sở hữu đất đai trên thực
tế là chưa rõ ràng và chưa được bảo vệ một
cách chắc chắn. Như vậy, thể chế kinh tế thị
trường về cơ bản chưa tồn tại và phát huy tác
dụng trong phân bổ, sử dụng đất đai và các tài
nguyên khác của quốc gia.
15 Phạm Duy Nghĩa, Xác lập quyền tài sản của nông dân với đất nông nghiệp, Tạp chí Tia sáng.
Số 17(441) - T9/2021
33
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
được sử dụng ở một số văn bản pháp luật,
song chưa hề sử dụng khái niệm đất tư);
- Sau khi phân tách quyền sử dụng đất công
và đất tư, Luật Đất đai nên tiếp tục phát triển
các quyền tài sản cụ thể phái sinh từ hai loại
đất này dựa trên các quyền tài sản đã được
quy định tại BLDS năm 2015;
chẽ việc chuyển nhượng chúng16. Bờ biển, các
nguồn nước của Việt Nam hiện đã bị chia cắt
bởi vô số các tổ chức và doanh nghiệp, được
khai thác vì lợi ích các tổ chức đó, có nghĩa là
vì lợi ích tư. Hiến pháp năm 2013 và sau đó là
BLDS năm 2015 chỉ quy định về sở hữu toàn
dân, mà không phân tách sở hữu quốc gia và sở
hữu của chính quyền địa phương. Đồng thời,
với xu thế ghi nhận tự chủ ngân sách, tự quản
địa phương, đã đến lúc cần thảo luận và ghi
nhận quyền sở hữu công sản một cách tách biệt
của chính quyền các địa phương.
Đất công có thể thuộc sở hữu của chính
quyền trung ương hoặc địa phương. Nên xem
một cấp chính quyền là một pháp nhân công
tách biệt, các cơ quan có tính giúp việc của
một cấp chính quyền không phải là pháp nhân
công. Ví dụ, một bộ là cơ quan của Chính
phủ, toàn bộ chính quyền trung ương là một
pháp nhân công, song từng bộ không phải là
pháp nhân công độc lập. Vì thế, cần dừng việc
cấp sổ đỏ cho từng cơ quan nhà nước, ví dụ
cho một bộ, một cơ quan. Đất công thuộc sở
hữu của chính quyền từng cấp phải được quản
lý tập trung, thuộc sở hữu của quốc gia (chính
quyền trung ương) hoặc địa phương (của một
tỉnh, một đô thị, một xã cụ thể). Về nguyên
tắc, toàn bộ quỹ đất công của chính quyền
trung ương hoặc quỹ đất của các chính quyền
địa phương phải được giao cho những cơ quan
quản lý công sản quản lý tập trung của từng
cấp chính quyền. Cơ quan ấy được ủy nhiệm
thực thi các quyền của chủ sở hữu công. Làm
được như vậy sẽ hạn chế được nguy cơ khai
thác phân tán, ví dụ, các cơ quan nhà nước đổi
đất lấy công trình một cách tương đối tràn lan
trong thời gian vừa qua (tư nhân tiếp nhận và
khai thác thương mại các lô đất ở trung tâm để
đổi lấy việc phát triển, xây dựng, bàn giao các
- Quyền sử dụng đất công lại có thể tiếp tục
được phân tách mạch lạc thành đất công thuộc
công sản của chính quyền trung ương và đất
công thuộc công sản của chính quyền các địa
phương. Ví dụ, công sản của các tỉnh, của các
chính quyền đô thị, các xã; các pháp nhân
công đó được tự do định đoạt khối công sản
thuộc sở hữu của mình tuân theo các nguyên
tắc của tự chủ ngân sách, tự quản địa phương;
- Công nhận và bảo hộ một cách chắc chắn
hơn quyền tài sản của chủ sử dụng đất tư, xem
đó là vật quyền vĩnh viễn, được Nhà nước cam
kết bảo hộ lâu dài. Nhà nước chỉ có thể trưng
mua, trưng dụng quyền sử dụng đất tư tuân
thủ theo các quy trình pháp lý chặt chẽ. Như
vậy, quy định Nhà nước có quyền thu hồi đất
phải được thu hẹp rất đáng kể, Nhà nước chỉ có
quyền thu hồi đất công đã cấp, cho thuê hoặc
xung công quyền sử dụng đất tư trong những
tình huống rất hạn chế. Về đại thể, nếu đã công
nhận quyền sử dụng đất tư là quyền tài sản vĩnh
viễn của các chủ sử dụng đất, thì Nhà nước
không có quyền thu hồi các quyền tài sản này.
Như vậy, phải sửa Luật Đất đai theo hướng,
Nhà nước không còn quyền thu hồi đất đối với
đất tư, nếu muốn sử dụng đất tư của các tổ chức
và cá nhân thì Nhà nước phải tuân thủ các quy
định về trưng mua, trưng dụng…
2.2. Minh định tư cách chủ thể của
đất công của chính quyền trung ương,
địa phương
Tùy theo pháp luật các nước, bờ biển, thềm
lục địa, vùng trời, rừng tự nhiên, sông suối,
nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, các
dải đất ven sông… có thể được tuyên bố là tài
sản quốc gia, bị cấm hoặc giám sát cực kỳ chặt
trụ sở mới cho cơ quan nhà nước)
16 J. Gordley, A.T. von Mehren, An Introduction to the Comparative Study of Private Law, Cambrigde
University Press, 2009, pp.157-167.
34
Số 17(441) - T9/2021
Bạn đang xem tài liệu "Tiếp tục cải cách chế độ sở hữu về đất đai nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng nguồn lực đất đai", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tiep_tuc_cai_cach_che_do_so_huu_ve_dat_dai_nham_nang_cao_hie.pdf

