Pháp luật về chào bán riêng lẻ trái phiếu doanh nghiệp: Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
PHÁP LUẬT VỀ CHÀO BÁN RIÊNG LẺ TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP:  
BấT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN  
Phan Phương Nam  
TS.-Phó-Trưởng-Khoa-Luật-Thương-Mại,-Đại-học-Luật-Thành-phố-Hồ-Chí-Minh.  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Từ khóa: Trái phiếu, trái phiếu  
doanh nghiệp, chào bán chứng  
khoán riêng lẻ.  
Việc huy động vốn thông qua việc chào bán trái phiếu doanh nghiệp là  
một kênh huy động vốn mà nhiều doanh nghiệp lựa chọn với những ưu  
điểm riêng của nó. Tuy nhiên, hoạt động huy động vốn thông qua hình  
thức chào bán trái phiếu cũng đã và đang đặt ra nhiều vấn đề liên quan  
đến người mua trái phiếu và sự phát triển của thị trường chứng khoán.  
Trong phạm vi bài viết này, tác giả trình bày, phân tích thực trạng pháp  
luật về chào bán riêng lẻ trái phiếu doanh nghiệp, nhất là những điểm bất  
cập trong các quy định của pháp luật về hoạt động chào bán riêng lẻ trái  
phiếu doanh nghiệp, và đưa ra các kiến nghị hoàn thiện, góp phần giúp  
cho việc phát hành chứng khoán thực sự là một kênh huy động vốn hiệu  
quả cho doanh nghiệp, tạo thêm nhiều hàng hóa cho thị trường chứng  
khoán và bảo vệ quyền lợi của những nhà đầu tư mua trái phiếu này.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 29/10/2020  
: 04/11/2020  
: 05/11/2020  
Article Infomation:  
Key words: Bonds, corporate  
bonds, private placement of  
bonds/shares.  
Abstract:  
Capital mobilization through the offering of the corporate bonds is a  
common option of capital mobilization applied by the corporates as its  
advantages. However, capital mobilization through corporate bond  
offering has also raised several matters related to bondholders and the  
development of the stock market. Under the scope of this article, the  
author provides discussions and analysis of the current legal regulations  
on the private placement of bonds, especially inadequacies in the law  
provisions on the private placement of bonds, and also provides  
recommendations for further improvements so that it can help the bond  
offering as an really effective method of capital mobilization for the  
corporates, creating more securities for the stock market and protecting  
the interests of bondholders.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 29 Oct. 2020  
: 04 Nov. 2020  
: 05 Nov. 2020  
Approved  
1. Thực trạng pháp luật về chào bán riêng  
lẻ trái phiếu doanh nghiệp  
Điều 17 Luật DNNN năm 2003 đều tái  
khẳng định quyền được phát hành trái phiếu  
của DNNN. Luật Công ty năm 1990, Luật  
Doanh nghiệp năm 1999 lần lượt xác định  
công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH), công  
ty cổ phần (CTCP) có quyền phát hành trái  
phiếu để huy động vốn. Tiếp đó, Nghị định  
số 52/2006/NĐ-CP của Chính phủ về phát  
hành trái phiếu doanh nghiệp ra đời thay thế  
các quy định trước đây về trái phiếu của  
doanh nghiệp. Văn bản này tiếp tục được  
thay thế bởi Nghị định số 90/2011/NĐ-CP  
về phát hành trái phiếu doanh nghiệp. Hiện  
Ngày 17/09/1994, Chính Phủ đã ban  
hành Nghị định số 120-CP kèm theo Quy  
chế tạm thời về việc phát hành trái phiếu, cổ  
phiếu doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Đây  
là văn bản cơ bản đầu tiên đề cập đến trái  
phiếu doanh nghiệp với những quy định ban  
đầu về điều kiện phát hành trái phiếu, loại  
trái phiếu và lãi suất chi trả của trái phiếu do  
DNNN phát hành. Sau đó, điểm b khoản 1  
Điều 8 Luật DNNN năm 1995 và khoản 1  
NLGHPIÊPNHCÁPU  
41  
Số 21 (421) - T11/2020  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
nay, Nghị định số 163/2018/NĐ-CP (Nghị  
định số 163) quy định về phát hành trái  
phiếu doanh nghiệp và Nghị định số  
81/2020/NĐ-CP (Nghị định số 81) sửa đổi,  
bổ sung một số điều của Nghị định số 163  
quy định về phát hành trái phiếu doanh  
nghiệp đang là những nghị định quy định  
trực tiếp về nội dung này.  
hành” để chỉ đến hoạt động huy động vốn  
thông qua công cụ chứng khoán như: phát  
hành chứng khoán, phát hành cổ phiếu, phát  
hành trái phiếu… Tuy nhiên, kể tkhi Luật  
Chứng khoán năm 2006 có hiệu lực, thuật  
ngữ phát hành đã được thay thế bằng “chào  
bán”. Do vậy, việc Nghị định số 163 và Nghị  
định số 80 dùng thuật ngữ “phát hành” là  
chưa tương thích với các văn bản khác trong  
lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng  
khoán (TTCK).  
Thứ hai, định nghĩa về “trái phiếu  
doanh nghiệp phát hành riêng lẻ” chưa  
hoàn thiện. Khoản 2 Điều 4 Nghị định số  
163 xác định: “Trái phiếu doanh nghiệp phát  
hành riêng lẻ là trái phiếu doanh nghiệp  
được phát hành cho dưới 100 nhà đầu tư,  
không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên  
nghiệp và không sử dụng phương tiện thông  
tin đại chúng hoặc Internet. Nếu xét vào  
thời điểm ra đời Nghị định số 163 thì định  
nghĩa trên là phù hợp với định nghĩa về  
“chào bán chứng khoán riêng lẻ” được xác  
định theo khoản 3 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ  
sung một số điều của Luật Chứng khoán  
năm 20102. Tuy nhiên, định nghĩa này lại  
chưa phù hợp với khái niệm “chào bán  
chứng khoán riêng lẻ” được xác định trong  
Luật Chứng khoán năm 20193. Vì vậy, với  
cách tiếp cận trong Luật Chứng khoán hiện  
hành khác biệt so với Nghị định số 163 thì  
việc để tồn tại điều khoản này sẽ là một hạn  
chế trong quy định cũng như thực hiện hoạt  
động chào bán trái phiếu của doanh nghiệp.  
Trải qua quá trình phát triển, những quy  
định về chào bán trái phiếu nói chung và  
chào bán trái phiếu riêng lẻ nói riêng của  
doanh nghiệp đã và đang có nhiều sự thay đổi  
theo hướng hoàn thiện nhằm giúp cho hoạt  
động chào bán trái phiếu trở thành một nội  
dung quan trọng trong hoạt động huy động  
vốn của doanh nghiệp. Theo đó, kể từ khi  
Nghị định số 163 có hiệu lực thi hành đến hết  
năm 2019, đã có 848 đợt chào bán trái phiếu  
doanh nghiệp với khối lượng phát hành thực  
tế là 259.377 tỷ đồng1. Đây là một con số rất  
đáng khích lệ, cho thấy sự phát triển của thị  
trường trái phiếu là nhiều tiềm năng và mở  
ra cánh cổng huy động vốn khá hiệu quả cho  
nhu cầu tài chính của doanh nghiệp. Kết quả  
này cho thấy quy định của pháp luật về hoạt  
động này đã tạo cơ sở pháp lý khá tốt cho  
việc duy trì, phát triển thị trường trái phiếu  
của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, một số quy  
định của Nghị định số 163 và Nghị định số  
81sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị  
định số 163 vẫn còn những bất cập sau:  
Thứ nhất, thuật ngữ “phát hành trái  
phiếu” không còn phù hợp. Bởi lẽ, trước  
năm 2006, các văn bản thường dùng từ “phát  
1 Bộ Tài chính (2020), Báo cáo về việc tổng kết, đánh giá tình hình triển khai, thực hiện Nghị định số  
163/2018/NĐ-CP ngày 04/12/2018 của Chính phủ quy định về phát hành trái phiếu doanh nghiệp,  
nghiep/login, truy cập ngày 05/10/2020.  
2 Khoản 3 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán năm 2010 bổ sung điểm 12a như sau:  
“Chào bán chứng khoán riêng lẻ là việc tổ chức chào bán chứng khoán cho dưới một trăm nhà đầu tư, không kể  
nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và không sử dụng phương tiện thông tin đại chúng hoặc Internet”.  
3 Khoản 20 Điều 4 Luật Chứng khoán năm 2019 quy định: “Chào bán chứng khoán riêng lẻ là việc chào bán  
chứng khoán không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 19 Điều này và theo một trong các phương  
thức sau đây:  
a) Chào bán cho dưới 100 nhà đầu tư, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp;  
b) Chỉ chào bán cho nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp”.  
NLGHPIÊPNHCÁPU  
42  
Số 21 (421) - T11/2020  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
Thứ ba, quy định về trái phiếu có bảo  
đảm chưa chính xác. Trong nội dung này có  
những điểm bất cập sau:  
đảm khi đến hạn bằng phương thức bảo lãnh  
thanh toán của tổ chức tín dụng (TCTD) có  
chức năng cung cấp dịch vụ bảo lãnh thanh  
toán sẽ dược thực hiện theo quy định của  
pháp luật ngân hàng là đã rõ ràng và minh  
bạch. Tuy nhiên, quy trình để đảm bảo nghĩa  
vụ trả nợ gốc và lãi của trái phiếu có bảo  
đảm khi đến hạn bằng tài sản của doanh  
nghiệp phát hành hoặc tài sản của bên thứ  
ba sẽ được thực hiện như thế nào là điểm mà  
Nghị định chưa nêu rõ. Điều này vừa tạo sự  
lúng túng cho doanh nghiệp khi áp dụng và  
gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người mua  
trái phiếu của doanh nghiệp. Có thể có quan  
điểm cho rằng, nếu doanh nghiệp lúng túng  
thì doanh nghiệp sử dụng dịch vụ bảo lãnh  
ngân hàng từ các TCTD có chức năng này  
và sử dụng tài sản của mình hoặc tài sản của  
bên thứ ba làm tài sản đảm bảo cho TCTD  
đó. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp lựa chọn  
theo giải pháp này thì doanh nghiệp lại phải  
tốn thêm một khoản phí bảo lãnh trong khi  
pháp luật hoàn toàn cho phép họ có thể trực  
tiếp dùng tài sản này để đảm bảo nghĩa vụ  
tài chính phát sinh từ trái phiếu do họ phát  
hành? Do vậy, điểm hạn chế này đã và đang  
làm ảnh hưởng đến khả năng lựa chọn cách  
thức huy động vốn của doanh nghiệp.  
Thứ tư, quan niệm về chứng quyền trong  
Nghị định số 163 chưa chính xác và chưa  
đúng với tinh thần của Luật Chứng khoán.  
Khoản 6 Điều 4 Nghị định số 163 quy định:  
“Trái phiếu kèm theo chứng quyền là loại  
trái phiếu được phát hành cùng với việc phát  
hành chứng quyền, cho phép nhà đầu tư sở  
hữu trái phiếu được quyền mua một số cổ  
phiếu phổ thông nhất định theo điều kiện,  
điều khoản đã được xác định trước” và  
khoản 1 Điều 26 Nghị định số 163 quy định:  
Chậm nhất 05 ngày làm việc kể từ ... ngày  
thực hiện quyền mua cổ phiếu của người sở  
hữu trái phiếu kèm theo chứng quyền, doanh  
i) Định nghĩa về “trái phiếu có bảo  
đảm” chưa rõ ràng. Khoản 5 Điều 4 Nghị  
định số 163 định nghĩa: trái phiếu có bảo  
đảm là loại trái phiếu được bảo đảm thanh  
toán toàn bộ hoặc một phần gốc, lãi khi đến  
hạn bằng tài sản của doanh nghiệp phát hành  
hoặc tài sản của bên thứ ba; hoặc được bảo  
lãnh thanh toán của tổ chức tài chính, tín  
dụng có chức năng cung cấp dịch vụ bảo  
lãnh thanh toán”. Theo quy định này, chủ thể  
có quyền bảo lãnh phát thanh toán cho trái  
phiếu là “tổ chức tài chính, tín dụng có chức  
năng cung cấp dịch vụ bảo lãnh thanh toán”.  
Trong đó, theo quy định của Luật Các tổ  
chức tín dụng năm 2010, ngân hàng thương  
mại4, công ty tài chính5 được phép bảo lãnh  
thanh toán cho trái phiếu. Đối chiếu các quy  
định về doanh nghiệp bảo hiểm theo Luật  
Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, Luật sửa  
đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh  
doanh bảo hiểm năm 2010, Luật sửa đổi, bổ  
sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo  
hiểm, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2019 cũng  
không quy định chủ thể này được bảo lãnh  
thanh toán trái phiếu. Vậy “tổ chức tài  
chính... có chức năng cung cấp dịch vụ bảo  
lãnh thanh toán” là tổ chức nào?  
ii) Nghị định chưa đề cập đến quy trình  
như thế nào để đảm bảo cho khả năng thanh  
toán của doanh nghiệp đối với những người  
mua trái phiếu khi đến hạn bằng tài sản của  
doanh nghiệp phát hành hoặc tài sản của  
bên thứ ba. Mặc dù theo định nghĩa, Nghị  
định đã xác định nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi  
của trái phiếu có bảo đảm khi đến hạn có thể  
được đảm bảo bằng tài sản của doanh  
nghiệp phát hành hoặc tài sản của bên thứ  
ba;…. Theo đó, quy trình để đảm bảo nghĩa  
vụ trả nợ gốc và lãi của trái phiếu có bảo  
4
Điểm c khoản 3 Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.  
5 Điểm đ khoản 1 Điều 108 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.  
NLGHPIÊPNHCÁPU  
43  
Số 21 (421) - T11/2020  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
nghiệp phát hành có trách nhiệm gửi nội  
dung công bố thông tin cho Sở Giao dịch  
Chứng khoán (SGDCK)”. Như vậy, Nghị  
định đã vô tình quy định rằng chứng quyền  
không tách ra khỏi trái phiếu và quyền được  
mua cổ phiếu phổ thông là quyền mà nhà  
đầu tư sẽ có là xuất phát từ việc nhà đầu tư  
sở hữu trái phiếu được phát hành kèm theo  
chứng quyền. Tuy nhiên, điều này hoàn toàn  
khác với tinh thần của Luật Chứng khoán.  
Theo tinh thần của Luật Chứng khoán năm  
2019, chứng quyền là loại chứng khoán phát  
hành cùng với việc phát hành trái phiếu hoặc  
cổ phiếu ưu đãi và chứng quyền được coi là  
chứng khoán độc lập so với loại chứng  
khoán là trái phiếu. Chính chứng quyền sẽ  
đem lại cho người sở hữu chứng quyền  
quyền được mua cổ phần phổ thông theo  
những điều kiện xác định. Ngay trong chính  
điểm đ khoản 2 Điều 10 Nghị định số 1636  
cũng đã gián tiếp thừa nhận chứng quyền có  
thể tách khỏi trái phiếu. Cho nên, quy định  
tại khoản 6 Điều 4 và khoản 1 Điều 26 Nghị  
định số 163 thiếu chính xác, không hợp lý.  
Thứ năm, quy định về hạn chế giao dịch  
trái phiếu trên TTCK thứ cấp chưa chính  
xác, chưa hợp lý và tạo nên bất công bằng  
cho nhà đầu tư. Khoản 3 Điều 1 Nghị định  
số 81 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị  
định số 163 quy định về phát hành trái phiếu  
doanh nghiệp đã sửa đổi khoản 8 Điều 6  
Nghị định số 163 như sau: “Trái phiếu doanh  
nghiệp phát hành tại thị trường trong nước  
bị hạn chế giao dịch trong phạm vi dưới 100  
nhà đầu tư không kể nhà đầu tư chứng  
khoán chuyên nghiệp, trong vòng một năm  
kể từ ngày hoàn thành đợt phát hành trừ  
trường hợp theo quyết định của Tòa án hoặc  
thừa kế theo quy định của pháp luật”. Quy  
định trên nhằm mục đích hạn chế các trường  
hợp “lách” quy định chào bán chứng khoán  
ra công chúng7. Tuy nhiên, quy định trên  
chưa rõ ràng và chứa đựng nhiều bất cập.  
Giả sử, trên thị trường chứng khoán sơ cấp,  
doanh nghiệp chào bán trái phiếu cho 80 nhà  
đầu tư (không kể nhà đầu tư chứng khoán  
chuyên nghiệp). Sau đó, 80 nhà đầu tư này  
chỉ được chuyển nhượng trong phạm vi tối  
đa 99 nhà đầu tư (tức là chỉ được chuyển  
nhượng cho thêm 19 nhà đầu tư khác). Vậy  
có nghĩa là ai nhanh tay chuyển nhượng  
trước sẽ được còn những người chậm hơn thì  
không được phép chuyển nhượng cho người  
khác. Điều này cho thấy sự bất bình đẳng và  
không minh bạch cho nhà đầu tư mua trái  
phiếu trên; làm kém sức hấp dẫn của trái  
phiếu đối với nhà đầu tư và gây khó khăn  
cho doanh nghiệp khi chào bán trái phiếu  
theo quy định này.  
Thứ sáu, các quy định về chuyển  
nhượng trái phiếu trong các trường hợp  
chưa được pháp luật dự liệu đầy đủ. Khoản  
2 Điều 1 Nghị định số 81 đã sửa đổi khoản  
8 Điều 6 Nghị định số 163, điểm d khoản 2  
Điều 10 Nghị định số 163 đặt ra các trường  
hợp mà việc chuyển nhượng trái phiếu  
không bị hạn chế như: “trường hợp chuyển  
nhượng cho hoặc chuyển nhượng giữa các  
nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp hoặc  
theo quyết định của Tòa án hoặc thừa kế  
theo quy định của pháp luật”. Theo đó, các  
điều khoản này mới chỉ nhắc đến việc  
chuyển nhượng theo quyết định của Tòa án  
mà chưa đề cập đến các trường hợp phải  
6 Điểm đ khoản 2 điều 10 Nghị định số 163/2018/NĐ-CP quy định: “… chứng quyền phát hành kèm theo trái  
phiếu không được chuyển nhượng trong tối thiểu 01 năm kể từ ngày hoàn thành đợt phát hành, trừ trường  
hợp chuyển nhượng cho hoặc chuyển nhượng giữa các nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp hoặc theo  
quyết định của Tòa án hoặc thừa kế theo quy định của pháp luật”.  
7 Vì thụ tục chào bán trái phiếu ra công chúng khá rắc rối, phức tạp, phải thực hiện nghĩa vụ công bố thông  
tin… Vì vậy, nhiều doanh nghiệp sẽ “lách” chào bán trái phiếu ra công chúng thông qua việc ban đầu phát  
hành trái phiếu riêng lẻ và sau đó cho phép trái phiếu này giao dịch trên thị trường thứ cấp giữa nhiều nhà  
đầu tư.  
NLGHPIÊPNHCÁPU  
44  
Số 21 (421) - T11/2020  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
chuyển nhượng chứng khoán theo quyết  
định của Trọng tài. Rõ ràng điều này là một  
sự bất cập. Bởi lẽ, pháp luật đã thừa nhận  
phán quyết của Trọng tài là chung thẩm và  
có hiệu lực kể từ ngày ban hành8. Theo đó,  
giải quyết bằng phương thức trọng tài cũng  
là một phương thức mà pháp luật khuyến  
khích nhằm tạo điều kiện giải quyết nhanh  
chóng các tranh chấp trong hoạt động  
thương mại. Do vậy, việc không thừa nhận  
phán quyết của Trọng tài liên quan đến hoạt  
động chuyển nhượng trái phiếu của các Nghị  
định này đã vô hình trung làm hạn chế  
phương thức lựa chọn cách thức giải quyết  
tranh chấp giữa các bên về trái phiếu, làm  
ảnh hưởng đến hoạt động của các trung tâm  
trọng tài và đi ngược lại với các chủ trương  
của Nhà nước.  
Thứ bảy, pháp luật quy định chưa hợp  
lý về hồ sơ chào bán trái phiếu riêng lẻ của  
doanh nghiệp. Hiện nay, hồ sơ chào bán trái  
phiếu riêng lẻ của doanh nghiệp được quy  
định tại khoản 1 Điều 13 Nghị định số 163  
đã được sửa đổi bởi khoản 5 Điều 1 Nghị  
định số 81. Ở nội dung này, có hai vấn đề  
còn chưa chính xác và bất cập sau:  
hoạt động liên quan đến chào bán trái phiếu  
riêng lẻ thì doanh nghiệp có thể sử dụng các  
dịch vụ: tư vấn hồ sơ chào bán trái phiếu theo  
quy định của pháp luật10; dịch vụ kiểm toán  
báo cáo tài chính11 và các dịch vụ khác như:  
bảo lãnh phát hành chứng khoán, bảo lãnh  
thanh toán, dịch vụ đại lý phát hành chứng  
khoán… Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là có cần  
phải có hợp đồng kiểm toán giữa doanh  
nghiệp và tổ chức tiến hành kiểm toán hay  
không? Bởi lẽ, trong hồ sơ đã có báo cáo tài  
chính đã được tổ chức kiểm toán xác nhận và  
Luật Kiểm toán độc lập cũng đã xác định rõ  
trách nhiệm của tổ chức kiểm toán. Do vậy,  
việc yêu cầu phải có hợp đồng dịch vụ kiểm  
toán trong hồ sơ này có thật sự cần thiết?  
ii) Chưa yêu cầu về những giấy tờ liên  
quan đến việc chứng minh khả năng thực  
hiện nghĩa vụ chi trả của doanh nghiệp phát  
hành trái phiếu trong trường hợp đó là trái  
phiếu có bảo đảm. Rõ ràng, Nghị định có ghi  
nhận nghĩa vụ chi trả các khoản tài chính  
liên quan đến trái phiếu của doanh nghiệp có  
thể được đảm bảo bằng tài sản của doanh  
nghiệp phát hành hoặc tài sản của bên thứ  
ba; hoặc được bảo lãnh thanh toán của  
TCTD có chức năng cung cấp dịch vụ bảo  
lãnh thanh toán. Trong đó, nếu doanh nghiệp  
sử dụng dịch vụ bảo lãnh thanh toán của  
TCTD thì đã có hợp đồng và đưa vào hồ sơ  
theo quy định. Nhưng nếu doanh nghiệp bảo  
đảm nghĩa vụ tài chính này bằng chính tài  
sản của doanh nghiệp hoặc bên thứ ba với  
thủ tục thực hiện như thế nào thì pháp luật  
còn bỏ ngỏ. Vậy cơ sở nào để nhà đầu tư có  
i) Quy định về hợp đồng ký kết giữa  
doanh nghiệp phát hành với các tổ chức  
cung cấp dịch vụ liên quan đến đợt chào bán  
trái phiếu chưa hợp lý. Theo đó, một trong  
những tài liệu của bộ hồ sơ để nộp cho cơ  
quan có thẩm quyền là: “Hợp đồng ký kết  
giữa doanh nghiệp phát hành với các tổ chức  
cung cấp dịch vụ liên quan đến đợt chào bán  
trái phiếu (nếu có)”9. Thông thường trong  
8 Khoản 5 Điều 61 Luật Trọng tài thương mại năm 2010.  
9 Xem điểm c khoản 1 Điều 13 Nghị định số 163/2018/NĐ-CP đã được sửa đổi bởi khoản 5 Điều 11 Nghị  
định số 81/2020/NĐ-CP.  
10 Đây là dịch vụ bắt buộc doanh nghiệp phát hành trái phiếu riêng lẻ phải sử dụng “trừ trường hợp doanh  
nghiệp phát hành là tổ chức được phép cung cấp dịch vụ tư vấn hồ sơ phát hành trái phiếu theo quy định  
của pháp luật” (xem thêm khoản 1 Điều 10 Nghị định số 163/2018/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi khoản  
3 Điều 1 Nghị định 81/2020/NĐ-CP).  
11 Dịch vụ này phải được thực hiện bởi tổ chức kiểm toán đủ điều kiện theo quy định tại khoản 7 Điều 4 Nghị  
định số 163/2018/NĐ-CP (xem thêm khoản 1 Điều 10 Nghị định số 163/2018/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung  
bởi khoản 3 Điều 1 Nghị định số 81/2020/NĐ-CP).  
NLGHPIÊPNHCÁPU  
45  
Số 21 (421) - T11/2020  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
thể tin tưởng mà đầu tư vào chứng khoán nợ  
này khi hồ sơ không yêu cầu phải có những  
giấy tờ chứng minh về tài sản được sử dụng  
để đảm bảo nghĩa vụ tài chính của doanh  
nghiệp phát hành trái phiếu?  
theo quy định của pháp luật thì dựa trên cơ  
sở nào công ty đại chúng khởi kiện hành vi  
ngăn trở hoạt động huy động vốn của mình?  
Ngoài ra, điểm b khoản 2 Điều 14 và  
khoản 2 Điều 33 Nghị định số 163 cũng  
không xác định rõ thời gian bao lâu kể từ khi  
công ty đại chúng gửi hồ sơ hoàn chỉnh thì  
UBCKNN phải thể hiện quan điểm thông  
qua việc cho ý kiến bằng văn bản về vấn đề  
này. Vì rõ ràng, khi pháp luật không xác định  
thời gian mà UBCKNN phải cho ý kiến thì  
sẽ tạo nên những “khuất tất” trong việc xin  
ý kiến này, càng gây nhiều trở ngại cho hoạt  
động chào bán trái phiếu riêng lẻ của công  
ty đại chúng.  
Thứ chín, quy định về việc cho phép  
doanh nghiệp mua lại trái phiếu trước hạn  
còn bất cập. Theo Điều 7, 14 và 26 Nghị  
định số 163, việc mua lại trái phiếu trước hạn  
chỉ cần có trong thông tin chào bán trái  
phiếu, sau đó được người có thẩm quyền  
chấp nhận và thực hiện hoạt động công bố  
thông tin là có thể được thực hiện. Tuy  
nhiên, một vấn đề đặt ra là pháp luật không  
có quy định ràng buộc thời gian mua lại  
trước hạn là bao lâu? Điều này có thể dẫn  
đến tình trạng doanh nghiệp muốn huy động  
vốn ngắn hạn nhưng do khó khăn trong hoạt  
động vay vốn từ các TCTD, từ các chủ thể  
khác nên doanh nghiệp sẽ sử dụng cách  
“lách” quy định của pháp luật để thực hiện  
hoạt động này thông qua việc chào bán trái  
phiếu và thực hiện hoạt động mua trước hạn.  
Nếu điều này xảy ra, vô hình chung đã làm  
cho hoạt động chào bán trái phiếu là hoạt  
động huy động vốn ngắn hạn trong khi bản  
chất của hoạt động này là huy động vốn  
trung và dài hạn.  
Thứ tám, quy định trao quyền cho Ủy  
ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) có  
ý kiến bằng văn bản về việc công ty đại  
chúng phát hành trái phiếu chuyển đổi hoặc  
trái phiếu kèm theo chứng quyền là bất cập.  
Về nguyên tắc, pháp luật đã quy định về điều  
kiện chào bán trái phiếu riêng lẻ của công ty  
đại chúng tại Điều 11 và Điều 12 Nghị định  
số 163. Do vậy, theo nguyên tắc, khi công ty  
đại chúng thỏa mãn các điều kiện đó và được  
các cơ quan trong cơ cấu tổ chức của công  
ty đại chúng thông qua theo quy định thì  
công ty đại chúng đã đủ các điều kiện để  
chào bán trái phiếu ra công chúng. Việc công  
ty đại chúng đăng ký với UBCKNN nhằm  
báo cáo với cơ quan quản lý nhà nước về  
lĩnh vực này. Vì vậy, với vai trò và trách  
nhiệm của mình, UBCKNN sẽ xem xét và  
xác nhận công ty đại chúng đủ điều kiện.  
Trong khi đó, theo điểm b khoản 2 Điều 14  
và khoản 2 Điều 33 Nghị định số 163 quy  
định UBCKNN phải có ý kiến bằng văn bản  
là chưa hợp lý. Vì nếu có ý kiến bằng văn  
bản vậy ý kiến ở đây là gì? Đồng ý hay  
không đồng ý hay như thế nào? Vì nếu đúng  
câu chữ trong quy định thì UBCKNN chỉ  
cần có ý kiến bằng văn bản dù là chấp nhận  
hay không chấp nhận thì công ty đại chúng  
vẫn được quyền chào bán trái phiếu riêng lẻ  
(vì không có điều khoản nào nói là văn bản  
của UBCKNN phải ghi là chấp nhận). Có  
thể có quan điểm cho rằng, UBCKNN chỉ  
cho ý kiến bằng văn bản khi chấp nhận còn  
khi không chấp nhận thì không cho ý kiến  
bằng văn bản để loại trừ trường hợp vừa nêu  
trên. Tuy nhiên, nếu pháp luật cho phép  
UBCKNN hành xử như trên thì tính minh  
bạch, rõ ràng của pháp luật sẽ không đảm  
bảo. Theo đó, nếu UBCKNN không cho ý  
kiến bằng văn bản vì không chấp nhận trong  
khi công ty đại chúng vẫn có đủ điều kiện  
Cuối cùng, quy định về xử phạt đối với  
hành vi vi phạm trong hoạt động chào bán  
chứng khoán riêng lẻ còn nhiều bất cập và  
chưa bao quát toàn bộ các hành vi vi phạm  
trong lĩnh vực này. Điều này thể hiện thông  
qua các nội dung sau:  
i) Quy định hiện hành chưa đặt ra chế  
tài đối với hành vi vi phạm của tổ chức tư  
NLGHPIÊPNHCÁPU  
46  
Số 21 (421) - T11/2020  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
vấn về hồ sơ chào bán trái phiếu. Theo quy  
định của điểm d khoản 1 Điều 10 Nghị định  
số 163 được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 3  
Điều 1 Nghị định số 81 thì doanh nghiệp  
phát hành trái phiếu riêng lẻ phải “ký hợp  
đồng tư vấn với tổ chức tư vấn về hồ sơ phát  
hành trái phiếu”. Tuy nhiên, nếu tổ chức tư  
vấn về hồ sơ phát hành trái phiếu có hành vi  
vi phạm thì pháp luật chưa quy định chế tài  
đối với chủ thể này. Có thể có quan điểm cho  
rằng, việc pháp luật quy định chế tài là không  
cần thiết vì tổ chức này sẽ phải chịu các trách  
nhiệm tài chính theo hợp đồng đã ký với  
doanh nghiệp phát hành trái phiếu và đồng  
thời chịu chế tài quy định tại điểm a khoản 1  
Điều 4 Nghị định số 108/2013/NĐ-CP quy  
định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh  
vực chứng khoán và TTCK12. Tuy nhiên,  
theo chúng tôi, quan điểm trên chưa hợp lý  
vì điểm a khoản 1 Điều 4 Nghị định số  
108/2013/NĐ-CP là quy định xử lý đối với  
doanh nghiệp lập hồ sơ chào bán trái phiếu  
riêng lẻ chứ không áp dụng cho tổ chức tư  
vấn. Bên cạnh đó, trách nhiệm tài chính của  
tổ chức tư vấn với doanh nghiệp phát hành  
trái phiếu là sự thỏa thuận giữa các bên.  
Nhưng xét về bản chất nếu tổ chức tư vấn hồ  
sơ vi phạm sẽ làm ảnh hưởng không chỉ đến  
hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp  
phát hành trái phiếu mà còn ảnh hưởng  
chung đến sự phát triển của TTCK sơ cấp nói  
chung nên cần có chế tài của pháp luật như  
cảnh cáo, phạt tiền và nếu tái phạm nghiêm  
trọng thì cần có biện pháp mạnh mẽ hơn.  
ii) Pháp luật quy định về trách nhiệm  
phát hành còn bất cập. Theo đó, khoản 1  
Điều 16 Nghị định số 163 quy định: “Trong  
vòng 10 ngày làm việc sau khi kết thúc đợt  
phát hành, trái phiếu doanh nghiệp phải  
được đăng ký, lưu ký tại tổ chức lưu ký được  
phép để quản lý số lượng nhà đầu tư theo  
quy định ...”. Điều này được hiểu việc đăng  
ký, lưu ký trái phiếu là trách nhiệm của  
doanh nghiệp phát hành trái phiếu. Tuy  
nhiên, việc vi phạm nghĩa vụ này lại không  
có chế tài áp dụng. Tham khảo các quy định  
trong Nghị định số 108/2013/NĐ-CP; Nghị  
định số 145/2016/NĐ-CP của Chính phủ sửa  
đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số  
108/2013/NĐ-CP,  
Thông  
tư  
số  
217/2013/TT- BTC của Bộ trưởng Bộ Tài  
chính hướng dẫn thực hiện xử phạt vi phạm  
hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và  
TTCK và Thông tư số 36/2017/TT-BTC sửa  
đổi, bổ sung Thông tư số 217/2013/TT-  
BTC, tác giả nhận thấy chưa có chế tài nào  
được quy định để áp dụng đối với hành vi vi  
phạm này. Điều này dẫn đến hệ quả là nếu  
doanh nghiệp phát hành trái phiếu không  
thực hiện nghĩa vụ đăng ký, lưu ký trái phiếu  
đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến quyền và  
lợi ích của nhà đầu tư nhưng không có chế  
tài nào áp dụng thì liệu pháp luật đã hoàn  
thành tốt nhiệm vụ bảo vệ nhà đầu tư chưa?  
2. Hoàn thiện quy định về phát hành trái  
phiếu doanh nghiệp  
Với những bất cập, hạn chế đã được  
phân tích ở phần trên, tác giả kiến nghị hoàn  
thiện quy định của pháp luật về chào bán trái  
phiếu riêng lẻ của doanh nghiệp như sau:  
đăng ký, lưu ký trái phiếu của doanh nghiệp  
12 Điểm a khoản 1 Điều 4 Nghị định số 108/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực  
chứng khoán và TTCK quy định: “Điều 4. Vi phạm quy định về chào bán cổ phiếu riêng lẻ tại Việt Nam của  
công ty đại chúng, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, vi phạm quy định về phát hành trái phiếu  
riêng lẻ tại Việt Nam  
2. Phạt tiền từ 70.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau:  
a) Không sửa đổi, bổ sung hồ sơ đăng ký chào bán cổ phiếu riêng lẻ, hồ sơ phát hành trái phiếu riêng lẻ khi  
phát hiện thông tin không chính xác hoặc bỏ sót nội dung quan trọng theo quy định phải có trong hồ sơ  
hoặc khi phát sinh thông tin quan trọng liên quan đến hồ sơ đã nộp;…”  
NLGHPIÊPNHCÁPU  
47  
Số 21 (421) - T11/2020  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
Thứ nhất, cần phải rà soát và thay đổi  
từ “phát hành” thành “chào bán” cho các  
cụm từ thích hợp để đảm bảo sự tương thích,  
phù hợp giữa các văn bản pháp luật điều  
chỉnh về chứng khoán và TTCK.  
nào đối với tài sản này? Vì vậy, pháp luật cần  
có những quy định cụ thể điều chỉnh đối với  
nội dung này mới tăng tính hấp dẫn của  
phương thức huy động vốn của doanh  
nghiệp so với các phương thức huy động vốn  
khác.  
Thứ năm, cần thay đổi lại định nghĩa về  
chứng quyền trong Nghị định số 163 cho  
đúng, phù hợp với tinh thần của Luật Chứng  
khoán. Theo đó, chứng quyền thực sự là một  
loại chứng khoán phái sinh và có thể độc lập  
so với trái phiếu. Chính sự độc lập đó của  
chứng quyền mới làm cho chứng quyền  
được các nhà đầu tư mua, bán với nhau để  
tìm kiếm lợi ích.  
Thứ sáu, cần sửa đổi những quy định về  
hạn chế giao dịch trái phiếu trên TTCK thứ  
cấp, cụ thể:  
i) Cần bổ sung quy định cấm các nhà  
đầu tư chuyển nhượng trái phiếu này trong  
vòng một năm. Quy định này nhằm đảm bảo  
rõ đây là trái phiếu được chào bàn riêng lẻ  
nên số lượng nhà đầu tư sở hữu nó luôn tối  
đa là 99 nhà đầu tư.  
ii) Cần bổ sung thêm trường hợp chủ thể  
có thẩm quyền quyết định về việc chuyển  
nhượng trái phiếu phát hành riêng lẻ. Theo  
đó, khi quy định các trường hợp mà việc  
chuyển nhượng trái phiếu không bị hạn chế  
cần bổ sung thêm cụm từ “quyết định của  
Trọng tài” bên cạnh cụm từ “quyết định của  
Tòa án”. Việc làm này nhằm đảm bảo tính  
pháp lý cho các phán quyết của trọng tài và  
cũng nhằm tạo nên nhiều sự lựa chọn nơi  
giải quyết tranh chấp cho các chủ thể có  
những tranh chấp liên quan đến giao dịch  
trái phiếu được chào bán riêng lẻ và nhằm  
giảm tải cho hoạt động của hệ thống Tòa án.  
Thứ bảy, cần điều chỉnh lại quy định về  
hồ sơ chào bán trái phiếu riêng lẻ của doanh  
nghiệp cho hợp lý. Theo đó, cần bổ sung quy  
định về việc chứng minh khả năng thực hiện  
nghĩa vụ chi trả của doanh nghiệp phát hành  
trái phiếu trong trường hợp đây là trái phiếu  
có bảo đảm. Quy định này tạo cơ sở pháp lý  
để UBCKNN chấp thuận hoạt động chào  
bán trái phiếu riêng lẻ của doanh nghiệp  
Thứ hai, cần sửa lại khái niệm chào bán  
trái phiếu riêng lẻ. Hiện nay, Luật Chứng  
khoán năm 2019 đã được Quốc hội thông qua  
và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2021.  
Vì vậy, khái niệm chào bán trái phiếu riêng  
lẻ cũng cần phải sửa đổi cho phù hợp với  
Luật Chứng khoán năm 2019. Theo đó, nên  
sửa lại khái niệm này như sau: “Chào bán  
trái phiếu riêng lẻ là việc chào bán chứng  
khoán không thuộc trường hợp quy định tại  
điểm a khoản 19 Điều 4 Luật Chứng khoán  
năm 2019 và theo một trong các phương thức  
sau đây: a) Chào bán cho dưới 100 nhà đầu  
tư, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên  
nghiệp; b) Chỉ chào bán cho nhà đầu tư  
chứng khoán chuyên nghiệp.  
Thứ ba, cần sửa đổi định nghĩa về “trái  
phiếu có bảo đảm”. Theo đó, khái niệm này  
nên được sửa đổi như sau: trái phiếu có bảo  
đảm là loại trái phiếu được bảo đảm thanh toán  
toàn bộ hoặc một phần gốc, lãi khi đến hạn  
bằng tài sản của doanh nghiệp phát hành hoặc  
tài sản của bên thứ ba; hoặc được bảo lãnh  
thanh toán của tổ chức tài chính có chức năng  
cung cấp dịch vụ bảo lãnh thanh toán hoặc bởi  
cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định  
của pháp luật”. Việc sửa đổi này vừa loại bỏ  
được câu hỏi là “tổ chức tài chính... có chức  
năng cung cấp dịch vụ bảo lãnh thanh toán” là  
tổ chức nào? Đồng thời, khái niệm sửa đổi này  
cũng đã xác định rõ trái phiếu doanh nghiệp  
được Chính phủ bảo lãnh cũng là một loại trái  
phiếu có bảo đảm; còn việc trái phiếu doanh  
nghiệp được Chính phủ bảo lãnh như thế nào  
sẽ được điều chỉnh bởi văn bản riêng và dẫn  
chiếu sang quy định riêng.  
Thứ tư, cần xác định rõ về việc đảm bảo  
khả năng trả nợ của trái phiếu doanh nghiệp  
có bảo đảm. Quy trình này cần như thế nào?  
Nếu doanh nghiệp dùng tài sản của nó để  
đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của doanh  
nghiệp thì cơ chế kiểm soát, quản lý như thế  
NLGHPIÊPNHCÁPU  
48  
Số 21 (421) - T11/2020  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
cũng như tạo sự tin tưởng hơn từ các nhà đầu  
tư để tạo điều kiện cho TTCK được phát  
triển với lượng hàng hóa phong phú.  
Cuối cùng, cần bổ sung các quy định về  
xử phạt đối với hành vi vi phạm trong hoạt  
động chào bán chứng khoán riêng lẻ như:  
hành vi vi phạm của tổ chức tư vấn về hồ sơ  
phát hành trái phiếu, vi phạm trách nhiệm  
đăng ký, lưu ký trái phiếu của doanh nghiệp  
phát hành. Việc ban hành các quy định bổ  
sung về các nội dung nêu trên trong xử phạt  
nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật trong  
lĩnh vực này, các hành vi vi phạm pháp luật  
về TTCK đều chịu các chế tài tương ứng và  
phù hợp với hàn vi vi phạm, qua đó giúp cho  
Nhà nước quản lý được tốt hơn hoạt động  
của TTCK.  
Tóm lại, những bất cập và hạn chế trên  
đã và đang tạo những khó khăn cho sự phát  
triển của thị trường trái phiếu nói riêng và  
TTCK nói chung. Vì vậy, cần nhanh chóng  
có những thay đổi nhất định nhằm hạn chế  
những bất cập trên để tạo điều kiện bảo vệ  
tốt hơn nhà đầu tư cũng như tạo điều kiện  
cho doanh nghiệp sử dụng công cụ phát hành  
Thứ tám, cần quy định rõ công ty đại  
chúng chỉ được phát hành trái phiếu chuyển  
đổi hoặc trái phiếu kèm theo chứng quyền  
khi được UBCKNN chấp thuận bằng văn  
bản cũng như cần xác định thời hạn là bao  
lâu kể từ khi nhận bộ hồ sơ hợp lệ thì  
UBCKNN phải trả lời bằng văn bản. Quy  
định này hạn chế được bất cập tại điểm b  
khoản 2 Điều 14 và khoản 2 Điều 33 Nghị  
định số 163, đồng thời đảm bảo sự công  
khai, minh bạch và tránh được những “khuất  
tất” trong hoạt động này, gây nhiều trở ngại  
cho hoạt động phát hành trái phiếu riêng lẻ  
của công ty đại chúng.  
Thứ chín, cần bổ sung quy định về việc  
cho phép doanh nghiệp mua lại trái phiếu  
trước hạn là bao nhiêu? Quy định trên sẽ  
làm giảm thiểu tình trạng doanh nghiệp  
“lách luật” khi muốn huy động vốn ngắn hạn  
nhưng do khó khăn trong hoạt động vay vốn  
từ các TCTD, từ các chủ thể khác.  
trái phiếu riêng lẻ để huy động vốn  
n
HOÀN THIỆN DỰ THẢO... (Tiếp theo trang 40)  
bán tài sản…) thì mới xử lý được tài sản.  
Còn “tính hợp lý về thương mại” có nghĩa là  
bên nhận bảo đảm phải định đoạt (bán) tài  
sản bảo đảm một cách hợp lý về thời gian,  
địa điểm tổ chức bán, về phương thức quảng  
cáo, thông báo để tìm người mua, về các  
hành vi bên nhận bảo đảm cần thực hiện sau  
khi thu giữ tài sản và trước khi bán tài sản  
(bảo quản, sửa chữa, làm sạch tài sản…), để  
bán được tài sản với giá cao nhất có thể. Chỉ  
khi bên nhận bảo đảm đã tuân thủ đúng pháp  
luật và nguyên tắc thiện chí, công bằng trong  
xử lý tài sản bảo đảm thì mới có quyền đòi  
tiếp số nợ còn thiếu sau khi xử lý tài sản bảo  
đảm; ngược lại, nếu bên nhận bảo đảm vi  
phạm các quy định trên trong quá trình xử  
lý, thì có thể việc xử lý tài sản bảo đảm phải  
được thực hiện lại, hoặc bên nhận bảo đảm  
sẽ không có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ  
phải thanh toán số nợ còn thiếu và còn phải  
bồi thường thiệt hại nếu có23. Tác giả cho  
rằng, để đảm bảo công bằng và hiệu quả  
trong cơ chế tự bán tài sản bảo đảm, Dự thảo  
Nghị định cần bổ sung các quy định cụ thể  
hơn trên cơ sở tham khảo thông lệ trên  
n
23 Xem thêm Nguyễn Bích Thảo, Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng theo pháp luật Việt Nam, Nxb. Tư  
pháp 2018, tr. 230-231; Lê Thị Thu Thuỷ, Bảo đảm sự thuận lợi, công bằng và hợp lý trong việc tự xử lý  
tài sản bảo đảm khi vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo các hợp đồng tín dụng, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN:  
Luật học, Tập 32, số 2(2016), tr.53-55.  
NLGHPIÊPNHCÁPU  
49  
Số 21 (421) - T11/2020  
pdf 9 trang Thùy Anh 11360 Free
Bạn đang xem tài liệu "Pháp luật về chào bán riêng lẻ trái phiếu doanh nghiệp: Bất cập và kiến nghị hoàn thiện", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphap_luat_ve_chao_ban_rieng_le_trai_phieu_doanh_nghiep_bat_c.pdf