Từ “sưu tập dữ liệu” đến “quyền sui generis”: Cơ chế nào để bảo hộ cơ sở dữ liệu kỹ thuật số?

VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 20-26  
Review Article  
From “Compilations” to “Sui Generis Right”: Which  
Approach to Digital Database Protection?  
Nguyen Luong Sy*  
University of Law, Hue University, Vo Van Kiet, Hue, Vietnam  
Received 9 August 2021  
Revised 26 September 2021; Accepted 26 October 2021  
Abstract: Databases under the Berne Convention 1886, the TRIPS Agreement 1994 and the WIPO  
Copyright Treaty 1996 are copyrighted as “compilations”. The EU has initiated the establishment  
of sui generis database right of Intellectual Property protection. Meanwhile, the United States  
refuses to apply the same system. This article addresses the question: What lessons for Vietnam to  
build an appropriate mechanism for such valuable assets of the digital era as databases?  
Keywords: Database, sui generis right, copyright.*  
________  
* Corresponding author.  
E-mail address: [email protected]  
20  
N. L. Sy / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 20-26  
21  
Từ “sưu tập dữ liệu” đến “quyền sui generis”: Cơ chế nào để  
bảo hộ cơ sở dữ liệu kỹ thuật số?  
Nguyễn Lương Sỹ*  
Trường Đại học Luật, Đại học Huế, Võ Văn Kiệt, Huế, Việt Nam  
Nhận ngày 9 tháng 8 năm 2021  
Chỉnh sửa ngày 26 tháng 9 năm 2021; Chấp nhận đăng ngày 26 tháng 10 năm 2021  
Tóm tắt: Cơ sở dữ liệu (CSDL) theo quy định của Công ước Berne 1886, Hiệp định TRIPS 1994  
và Hiệp định WCT 1996 được bảo hộ dưới dạng “sưu tập dữ liệu” theo cơ chế quyền tác giả. EU đã  
tiên phong cho việc xây dựng hệ thống riêng (sui generis) về bảo hộ CSDL dưới hình thức một đối  
tượng sở hữu trí tuệ độc lập. Trong khi đó, Hoa Kỳ từ chối áp dụng cơ chế sui generis. Bài viết này  
trả lời câu hỏi: Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm gì để xây dựng cơ chế bảo hộ phù hợp cho một  
loại tài sản của kỷ nguyên số như CSDL?  
Từ khóa: Cơ sở dữ liệu, quyền sui generis, quyền tác giả.  
1. Thách thức pháp lý trước bước nhảy vọt  
Integrated Data Store (Lưu trữ dữ liệu tích hợp  
[1]. Mười năm sau, tiêu chuẩn cho CSDL hiện  
đại được định hình khi E.F.Codd công bố mô  
hình CSDL quan hệ, nơi người dùng có thể tìm  
kiếm được dữ liệu mà không cần kết nối với hệ  
thống lưu trữ thông tin dưới dạng vật lý [2]. Đến  
thập niên 1990, ngành công nghiệp dữ liệu đã  
chuyển mình phát triển mạnh mẽ dưới động lực  
chính là sự phổ biến của Internet và nền tảng  
không gian thông tin toàn cầu World Wide Web.  
Máy tính ngày nay có thể tự động truy quét và  
lưu trữ dữ liệu theo lập trình sẵn, hoặc hiện đại  
hơn với trí tuệ nhân tạo tích hợp, xây dựng nên  
những CSDL khổng lồ hay còn gọi là Big Data.  
So với CSDL thế hệ cũ, Big Data thể hiện sự mở  
rộng khủng khiếp về khối lượng thông tin, tốc độ  
truy cập, sự đa dạng và tính xác thực, từ đó gia  
tăng giá trị hữu ích của dữ liệu1.  
của công nghệ dữ liệu *  
Dữ liệu được xem là xương sống của cuộc  
cách mạng công nghiệp 4.0. Trong xã hội thông  
tin, dữ liệu vận hành và chi phối hầu hết mọi hoạt  
động, từ mua sắm cá nhân đến nghiên cứu khoa  
học. Tầm quan trọng của dữ liệu với xã hội loài  
người vốn đã được thừa nhận từ hàng nghìn năm,  
thể hiện qua việc ghi nhận dữ liệu bằng nhiều  
phương tiện dù thô sơ nhất như đá, gỗ, hay giấy  
và lưu trữ chúng bằng hàng triệu quyển sách, tủ  
tài liệu trong các hệ thống thư viện. Chính hoạt  
động ghi nhận, sắp xếp, quản lý và lưu trữ đó đã  
hình thành nên khái niệm CSDL. Mặc dù đã xuất  
hiện từ xa xưa, nhưng chỉ đến khi máy tính ra  
đời, CSDL mới thực sự bước chân vào một cuộc  
cách mạng, trở thành thành tố then chốt của kỷ  
nguyên Internet vạn vật.  
Ngày nay, thông tin là nguồn tài nguyên vô  
tận của nền kinh tế số, CSDL cũng vì thế là tài  
sản vô giá của doanh nghiệp. Mọi doanh nghiệp  
lớn trên thế giới, từ lĩnh vực truyền thống đến  
Cuộc cách mạng của CSDL khởi nguồn từ  
thập niên 1960 với CSDL lưu trữ bằng máy tính  
đầu tiên do Charles Bachman thiết lập có tên gọi  
________  
* Tác giả liên hệ.  
1
Đặc trưng 5V của Big Data bao gồm: Volume (khối  
Địa chỉ email: [email protected]  
lượng), Velocity (tốc độ), Veracity (xác thực), Variety (đa  
dạng) và Value (Giá trị).  
N. L. Sy / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 20-26  
22  
lĩnh vực công nghệ, đều vận hành bằng dữ liệu.  
Thậm chí, một số công ty hàng đầu như Alphabet  
(công ty mẹ của Google), Facebook, Amazon,…  
có thể “chết” nếu thiếu CSDL trong vài giây. Với  
tầm quan trọng không thể bàn cãi, dữ liệu và  
CSDL đương nhiên là những đối tượng được  
pháp luật bảo hộ. Trên cơ sở quy định khung của  
Công ước Berne 1886, Hiệp định TRIPS 1994,  
và Hiệp ước của WIPO về quyền tác giả 1996  
(WCT), cơ chế bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối  
với dữ liệu và CSDL được nhận diện như sau:  
dữ liệu bên trong nó. Một CSDL được tạo lập  
nên từ các dữ liệu có tính nguyên gốc phải được  
sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả, hoặc  
không làm phương hại đến quyền tác giả trong  
trường hợp áp dụng nguyên tắc sử dụng hợp lý  
(fair use). Ngược lại, nếu một CSDL chỉ tập hợp  
những dữ liệu không có tính nguyên gốc, ví dụ  
như danh bạ điện thoại thì có quyền tự do thiết  
lập; thậm chí, nhiều CSDL khác nhau có thể  
được bảo hộ riêng cho cùng một nhóm dữ liệu.  
Cũng cần lưu ý thêm rằng, đối với CSDL do  
chương trình máy tính tự động khởi tạo toàn bộ,  
chương trình máy tính đó có thể được bảo hộ  
quyền tác giả (hoặc sáng chế), và độc lập với sự  
bảo hộ dành cho CSDL hay dữ liệu bên trong.  
Chính những CSDL không có tính nguyên  
gốc này đã làm phát sinh các vướng mắc pháp lý  
trong thời đại công nghệ số, khi dữ liệu trở thành  
loại tài sản quan trọng của doanh nghiệp. Thách  
thức đặt ra là liệu quyền tác giả cho “sưu tập dữ  
liệu” có còn phù hợp để bảo hộ các CSDL khổng  
lồ hiện nay? Chẳng hạn trong lĩnh vực thương  
mại điện tử, các sàn giao dịch đều thu thập dữ  
liệu khách hàng2, gồm các thông tin không có  
tính nguyên gốc như thời gian và thói quen truy  
cập, xu hướng tìm kiếm, lịch sử hoạt động,… để  
đề xuất quảng cáo cá nhân hóa phù hợp với sở  
thích của từng đối tượng. Về mặt nguyên tắc, do  
các thông tin thực nói trên không được bảo hộ  
nên bất kỳ ai đều có quyền sử dụng nếu họ tiếp  
cận dữ liệu đó một cách hợp pháp. Từ đó, cơ chế  
bảo hộ thông thường làm dấy lên lo ngại rằng  
“tài sản” CSDL của doanh nghiệp sẽ bị đối thủ  
khai thác dễ dàng và hợp pháp, nhất là với sự hỗ  
trợ đắc lực của trí tuệ nhân tạo. Trên thực tế, vấn  
đề này vốn từ lâu đã gây ra sự chia rẽ giữa các  
hệ thống lập pháp tiến bộ nhất trên thế giới, tiêu  
biểu là giữa Hoa Kỳ và châu Âu. EU đã ban hành  
Sắc lệnh bảo hộ CSDL vào năm 1996, thiết lập  
một quyền sui generis3 cho CSDL. Trong khi  
đó, Hoa Kỳ vẫn trung thành với cơ chế truyền  
thống, bảo hộ bằng quyền tác giả cùng các nhánh  
luật khác liên quan.  
Về dữ liệu, dữ liệu được phân loại thành hai  
dạng là dữ liệu có tính nguyên gốc và dữ liệu  
không có tính nguyên gốc [3]. Theo đó, nếu dữ  
liệu đảm bảo yêu cầu về tính nguyên gốc thì có  
thể được bảo hộ quyền tác giả dưới hình thức  
một tác phẩm viết. Đối với dữ liệu không có tính  
nguyên gốc, loại dữ liệu này tồn tại phổ biến hơn  
trong đời sống xã hội dưới dạng các thông tin  
công khai như tên tổ chức/cá nhân, địa chỉ, số  
điện thoại, giá hàng hóa, chức năng/thành phần  
sản phẩm,… Các thông tin thực tế như vậy  
không được xem là tác phẩm và không được bảo  
hộ quyền tác giả.  
Về CSDL, quyền sở hữu trí tuệ đối với  
CSDL lần đầu tiên được ghi nhận trong Công  
ước Berne sửa đổi năm 1971 dưới hình thức  
“tuyển chọn hoặc sắp xếp nội dung” [4] Trên cơ  
sở đó, Hiệp định TRIPS 1994 đã có quy định chi  
tiết hơn liên quan đến bảo hộ CSDL: “Các sưu  
tập dữ liệu hoặc tư liệu khác, dù dưới dạng đọc  
được bằng máy hay dưới dạng khác, mà việc  
tuyển chọn hoặc sắp xếp nội dung là thành quả  
của hoạt động trí tuệ đều phải được bảo hộ như  
nó vốn có. Việc bảo hộ nói trên, với phạm vi  
không bao hàm chính các dữ liệu hoặc tư liệu đó,  
không được làm ảnh hưởng tới bản quyền đang  
tồn tại đối với chính dữ liệu hoặc tư liệu đó”[5].  
Như vậy, CSDL là một đối tượng riêng của  
quyền tác giả dưới tên gọi “sưu tập dữ liệu”.  
CSDL chỉ được bảo hộ khi hoạt động sắp xếp,  
tuyển chọn đó thể hiện được tính nguyên gốc, và  
việc bảo hộ quyền tác giả với CSDL độc lập với  
________  
2 Công nghệ thu thập dữ liệu có tên là Cookies, một tập tin  
nhỏ được gửi đến thiết bị của người dùng để theo dõi và ghi  
nhớ lịch sử truy cập trên website/ứng dụng đó.  
3 Sui generis là từ Latin, sử dụng trong thuật ngữ pháp lý để  
chỉ một hình thức bảo hộ độc lập, riêng biệt, tồn tại song  
song với hệ thống bảo hộ thông thường.  
N. L. Sy / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 20-26  
23  
nội dung không mang tính nguyên gốc của  
CSDL. Điều này cũng đồng thời loại bỏ khả năng  
chồng chéo chức năng giữa quyền tác giả với  
quyền dành cho CSDL.  
2. EU và quyền sui generis đối với cơ sở dữ liệu  
Tháng 3 năm 1996, EU ban hành Sắc lệnh về  
Bảo hộ CSDL với hai mục tiêu chính: thứ nhất,  
hài hòa hệ thống bảo hộ CSDL vốn không đồng  
nhất giữa các quốc gia thành viên, qua đó phát  
triển thị trường nội khối; và thứ hai, là sáng kiến  
để khắc phục cơ chế bảo hộ thiếu hiệu quả của  
quyền tác giả nhằm thúc đẩy đầu tư vào ngành  
công nghiệp dữ liệu [6]. Một số vụ kiện tiêu biểu  
làm tiền đề thuyết phục Nghị viện châu Âu về sự  
bất cập của quyền tác giả trong bảo hộ CSDL có  
thể kể đến vụ Van Dale v. Romme ở Hà Lan.  
Trong vụ kiện này, Van Dale đòi quyền tác giả  
riêng cho hệ thống 230,000 từ đề mục sắp xếp  
theo thứ tự alphabet trong bộ từ điển mà ông là  
tác giả. Mặc dù Tòa sơ thẩm và phúc thẩm đều  
cho rằng sự sắp xếp hệ thống của Van Dale được  
bảo hộ quyền tác giả, Tòa Tối cao Hà Lan lại đưa  
ra phán quyết ngược lại. Theo đó, Tòa tối cao  
cho rằng việc sắp xếp mục từ nói trên chưa đáp  
ứng yêu cầu để được công nhận là tác phẩm do  
“không thể hiện được quan điểm cá nhân của tác  
giả”4 [7].  
Từ đó, Sắc lệnh CSDL ra đời để thiết lập hai  
lớp bảo vệ, gồm: (1) Bảo hộ quyền tác giả cho  
cấu trúc sắp xếp của CSDL, độc lập với nội dung  
[8], (2) Bảo hộ cho nội dung của CSDL bằng  
quyền sui generis [8]. CSDL theo định nghĩa của  
Sắc lệnh có thể dưới dạng điện tử, hoặc lưu trữ  
vật lý, nhưng không bao gồm việc sưu tập, sắp  
xếp các vật thể như tem, sách,… [7] Trong vụ  
kiện giữa Fixtures Marketing Ltd v. OPAP về  
việc khai thác trái phép CSDL kết quả thi đấu các  
giải bóng đá ở Anh và Scotland, Tòa án Công lý  
châu Âu (ECJ) đã giới hạn thêm định nghĩa  
CSDL chỉ bao gồm các tư liệu độc lập, riêng lẻ  
với tư liệu khác mà không mang giá trị thông tin,  
văn học, nghệ thuật, hay âm nhạc. Nói cách khác,  
các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học hay  
tác phẩm nghe nhìn khác không thuộc phạm vi  
bảo hộ của Sắc lệnh Cơ sở đữ liệu [9]. Như vậy,  
có thể khẳng định, lớp bảo vệ thứ hai được Sắc  
lệnh tạo ra nhằm bảo hộ một phần, hoặc toàn bộ  
Việc bảo vệ hoạt động “sưu tập dữ liệu” bằng  
quyền tác giả không có gì mới mẻ so với quy  
định khung của các điều ước quốc tế. Do đó,  
trọng tâm của Sắc lệnh CSDL chính là hành lang  
pháp lý về quyền sui generis. Quyền này sẽ được  
trao cho chủ thể “đầu tư đáng kể” (substantial  
investment) cho việc thu thập, xác thực hoặc  
trình bày nội dung của CSDL. Sự đầu tư đáng kể  
đó phải xác định được bằng các phương thức  
định lượng hoặc định tính [8]. Trong vụ kiện  
British Horseracing v. William Hill5, Tòa ECJ  
đã chỉ ra rằng quyền sui generis chỉ áp dụng cho  
sự đầu tư đáng kể vào hoạt động thiết lập, lưu trữ  
và vận hành hệ thống CSDL, không áp dụng cho  
sự đầu tư để tạo ra nội dung dữ liệu bên trong.  
Ngoài ra, quyền sui generis không đương nhiên  
áp dụng cho mọi loại CSDL chứa nội dung  
không có tính nguyên gốc. Nếu một CSDL là sản  
phẩm phụ/phái sinh (spin-offs) được tạo ra trong  
quá trình thực hiện một chức năng hoặc nhiệm  
vụ khác, và chỉ bao gồm một nguồn thông tin  
“thô” đơn nhất, CSDL đó chỉ được bảo hộ quyền  
tác giả cho công sức tuyển chọn, sắp xếp mà  
không được hưởng quyền sui generis. Chẳng  
hạn: Danh mục chương trình truyền hình được  
khởi tạo như một thao tác bắt buộc trong quá  
trình nhà đài thiết lập hệ thống phát sóng [10].  
Khác với quyền tác giả, quyền sui generis  
đối với CSDL không có nhóm quyền nhân thân.  
Cơ chế này trao cho chủ sở hữu độc quyền sử  
dụng hai loại quyền tài sản, đó là:  
Thứ nhất, quyền “trích xuất” CSDL: được  
hiểu là quyền chuyển đổi, tạm thời hoặc vĩnh  
viễn, một phần đáng kể hay toàn bộ nội dung  
CSDL đến một phương tiện khác dưới bất kỳ  
hình thức nào [8].  
Thứ hai, quyền “khai thác lại” CSDL: đưa  
một phần đáng kể hoặc toàn bộ nội dung CSDL  
đến với công chúng bằng cách phân phối bản  
sao, cho thuê, trực tuyến hoặc hình thức truyền  
________  
4 Nguyên văn: “Copyright will only protect a collection of  
headwords ‘if it results from a selection process expressing  
the author’s personal views’”.  
5
Xem thêm: Katharine Stephens (2005), British  
Horseracing Board v. William Hill: the race is never lost,  
till won.  
N. L. Sy / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 20-26  
24  
đạt khác. Sắc lệnh cũng nêu rõ cơ chế hết quyền sẽ  
được áp dụng sau khi bản sao CSDL đã được bán  
ra lần đầu tiên [8]. Quyền khai thác lại này có thể  
được hiểu tương đương với quyền truyền đạt tác  
phẩm đến công chúng trong quyền tác giả [11].  
Một điểm cần lưu ý đối với cả hai quyền trên  
đó là chủ sở hữu chỉ có quyền ngăn cản khi người  
khác trích xuất/khai thác lại trái phép một phần  
“đáng kể” nội dung CSDL. Như vậy, công chúng  
có quyền tự do sử dụng một phần nhỏ (không  
đáng kể) nội dung CSDL, miễn là việc sử dụng  
đó không lặp đi lặp lại một cách có hệ thống hoặc  
gây ảnh hưởng bất hợp lý đến quyền lợi chính  
đáng của chủ sở hữu [8]. Sắc lệnh không giải  
thích thêm về cách thức xác định như thế nào là  
“đáng kể”, mà để ngỏ cho Tòa án quyết định  
trong từng vụ việc cụ thể. Sắc lệnh cũng chỉ ra một  
số trường hợp ngoại lệ được quyền sử dụng một  
phần đáng kể CSDL đã bộc lộ công khai mà không  
cần xin phép cho mục đích cá nhân (không áp dụng  
với CSDL điện tử), nghiên cứu, giảng dạy, hoặc vì  
mục đích an ninh công cộng hay theo thủ tục hành  
chính/tư pháp [8].  
Quyền sui generis dành cho CSDL có thời  
hạn 15 năm tính từ ngày đầu tiên của tháng 1 của  
năm tiếp theo năm CSDL được tạo ra. Trong  
trường hợp CSDL được bộc lộ tới công chúng  
bằng bất kỳ hình thức nào trước khi kết thúc thời  
hạn 15 năm kể trên, quyền sui generis sẽ kéo dài  
thêm 15 năm kể từ thời điểm bị bộc lộ. Tuy  
nhiên, thời hạn bảo hộ CSDL hoàn toàn có thể  
“gia hạn” bằng cách tiếp tục tái đầu tư đáng kể để  
tạo ra phiên bản mới trên nền tảng CSDL cũ [8].  
2003. Tuy nhiên, kết cục chung của tất cả các dự  
thảo kể trên là đều không được Quốc hội thông  
qua [12]. Điều này đã chứng minh cho lập trường  
của phần lớn các nhà lập pháp Hoa Kỳ trong việc  
chỉ bảo hộ CSDL bằng cơ chế truyền thống là  
quyền tác giả cùng các ngành luật khác liên quan.  
Trước hết, CSDL ở Hoa Kỳ được bảo hộ  
dưới dạng “bộ sưu tập” tức là hoạt động thu thập  
và sắp xếp các tư liệu có sẵn hoặc dữ liệu đã được  
chọn lọc để tạo ra một tổng thể cấu thành tác  
phẩm gốc [13]. Phù hợp với quy định khung của  
các điều ước quốc tế về quyền tác giả, sưu tập dữ  
liệu ở Hoa Kỳ chỉ được bảo hộ đối với tổng thể  
CSDL, không bảo hộ riêng cho từng phần và độc  
lập với nội dung CSDL. Tuy nhiên, việc áp dụng  
quy định kể trên trong thực tiễn xét xử không hề  
dễ dàng. Trong giai đoạn trước năm 1991, ở Hoa  
Kỳ tồn tại hai luồng quan điểm trái ngược nhau.  
Một là, từ chối bảo hộ quyền tác giả cho CSDL  
bởi cho rằng, chỉ đơn thuần lựa chọn và sắp xếp  
thông tin thực tế (facts) không tạo nên tính  
nguyên gốc. Hai là, chấp thuận bảo hộ cho CSDL  
nếu chủ sở hữu chứng minh được “công sức”6  
mà mình đã đầu tư vào đó [14]. Mãi đến năm  
1991 khi Tối cao pháp viện đưa ra phán quyết  
cho vụ Feist Publication v. Rural Telephone  
Service Co., các tiêu chuẩn về bảo hộ CSDL mới  
được thống nhất. Trong vụ kiện trên, Tòa đã  
quyết định không bảo hộ quyền tác giả cho  
“trang trắng” danh bạ điện thoại sắp xếp theo thứ  
tự alphabet [15]. Mặc dù danh bạ thể hiện được  
sự tuyển chọn, nhưng cách thức sắp xếp như vậy  
là đặc trưng tất yếu, sức sáng tạo quá nhỏ để cấu  
thành tính nguyên gốc. Tuy nhiên, Tòa cũng  
khẳng định lại rằng tiêu chuẩn sáng tạo cho một  
tác phẩm là cực kỳ thấp, và CSDL chỉ cần thể  
hiện được “một mức sáng tạo tối thiểu” là đủ để  
bảo hộ [16] Mức tối thiểu đó cũng sớm được làm  
rõ trong vụ Key Publication, Inc v. Chinatown  
Today Publishing Enterprises, Inc. khi “trang  
vàng” danh bạ điện thoại doanh nghiệp được tòa  
án trao quyền tác giả [12].  
3. Hoa Kỳ từ chối áp dụng quyền “sui generis”  
Sau khi quyền sui generis được ban hành ở  
châu Âu, một số dự thảo luật đã được trình lên  
Quốc hội Hoa Kỳ. Chẳng hạn Dự thảo Đạo luật  
chống vi phạm sở hữu trí tuệ và đầu tư CSDL  
1996, Đạo luật chống vi phạm bản quyền sưu tập  
thông tin 1997 (đệ trình tiếp lần hai vào năm  
1999), Đạo luật về quyền tiếp cận thông tin của  
người tiêu dùng và nhà đầu tư 1999, Đạo luật  
chống chiếm đoạt CSDL và sưu tập thông tin  
Nhưng chủ sở hữu CSDL đương nhiên cần  
những cơ chế vững chắc hơn để bảo vệ nội dung  
CSDL, đặc biệt là những nội dung không nguyên  
________  
6 Nguyên văn: “Sweat of the brow”.  
N. L. Sy / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 20-26  
25  
gốc - đối tượng vốn không được bảo hộ quyền  
tác giả. Hoa Kỳ đã có nhiều lớp bảo vệ khác để  
củng cố cho khả năng bảo vệ CSDL điện tử.  
Trong Đạo luật Bản quyền thiên niên kỷ kỹ thuật  
số, Hoa Kỳ quy định cấm gian lận sử dụng các  
phương thức công nghệ để kiểm soát truy cập tác  
phẩm được bảo hộ; đồng thời, trách nhiệm pháp  
lý cũng được đặt ra cho người sản xuất hoặc cung  
ứng các loại thiết bị, công nghệ phục vụ mục  
đích đó [17]. Ngoài ra, hành vi truy cập trái phép  
CSDL kỹ thuật số còn có thể bị điều chỉnh bởi Đạo  
luật Lạm dụng và Gian lận Máy tính 1984 [18]  
Một số chế định khác cũng có thể áp dụng để  
củng cố cho hành lang pháp lý bảo hộ CSDL mà  
không cần đến quyền sui generis, trong đó bao  
gồm bí mật thương mại và cạnh tranh không lành  
mạnh [18]. Tối cao pháp viện Hoa Kỳ trong quá  
trình xét xử đã thiết lập một học thuyết khá giống  
với cơ chế quyền sui generis nhưng có phạm vi  
áp dụng rộng hơn, đó là học thuyết chiếm đoạt.  
Theo đó, nếu một người đầu tư công sức, kỹ năng  
và tài chính để tạo ra một tài sản vô hình, nhưng  
tài sản đó không phải đối tượng sở hữu trí tuệ,  
thì học thuyết này trao cho người đầu tư một  
quyền “gần giống” quyền tài sản. Quyền này cho  
phép người đầu tư ngăn chặn các hành vi sử dụng  
trái phép tài sản mình tạo ra [19]. Với cơ chế kích  
hoạt hầu như tương đương quyền sui generis,  
chủ sở hữu CSDL ở Hoa Kỳ hoàn toàn có thể vận  
dụng để bảo vệ quyền lợi. Điểm hạn chế lớn nhất  
của học thuyết chiếm đoạt chính là nó chỉ điều  
chỉnh hành vi của những chủ thể được xem là đối  
thủ cạnh tranh.  
chiều ngược lại, người ta cũng lo ngại rằng  
quyền sui generis sẽ tiếp tay cho sự độc quyền  
thông tin, hạn chế khả năng tiếp cận của công  
chúng. Ngoài hành lang pháp lý, nhà đầu tư hoàn  
toàn có thể thiết lập thêm rào cản kỹ thuật để  
ngăn chặn truy cập trái phép. Có thể thấy, cả hai  
hệ thống đều đã bộc lộ những điểm bất cập trước  
sự phát triển của công nghệ. Chẳng hạn, châu Âu  
chưa ban hành bất kỳ tiêu chuẩn nào để đo lường  
sự đầu tư “đáng kể” cho việc tạo ra CSDL. Vậy  
việc đầu tư để tạo ra thiết bị hay công nghệ tự  
động khởi tạo CSDL có được xem xét? Trong  
trường hợp được tính, nếu thiết bị/công nghệ đó  
có khả năng khởi tạo nhiều bộ CSDL, sự đầu tư  
sẽ được tính một lần hay nhiều lần? [12]. Hoặc,  
tòa án Hoa Kỳ sẽ đánh giá mức độ sáng tạo của  
tác giả (chọn lựa và sắp xếp) như thế nào đối với  
CSDL được khởi tạo tự động toàn bộ bởi chương  
trình máy tính?  
Về pháp luật Việt Nam, hệ thống sở hữu trí  
tuệ hiện hành hầu như chưa có hướng dẫn chi tiết  
nào ngoài quy định về bảo hộ quyền tác giả đối  
với sưu tập dữ liệu theo đúng tinh thần của Hiệp  
định TRIPS7. CSDL nếu được lưu trữ trên môi  
trường mạng được Luật Công nghệ thông tin bảo  
vệ khỏi các hành vi xâm nhập, sửa đổi, xóa bỏ  
nội dung hoặc bẻ khóa, trộm cắp, sử dụng mật  
khẩu trái phép8. Dưới góc độ luật cạnh tranh,  
chủ sở hữu CSDL bị xâm phạm có thể vận dụng  
quy định về cấm “tiếp cận, thu thập thông tin bí  
mật trong kinh doanh bằng cách chống lại các  
biện pháp bảo mật của người sở hữu thông tin  
đó”9. Tuy nhiên, quy định trên chỉ có thể viện  
dẫn khi CSDL được chủ sở hữu áp dụng các biện  
pháp bảo vệ dưới dạng bí mật kinh doanh. Còn  
đối với CSDL chứa thông tin công khai và không  
có tính nguyên gốc, vốn chiếm tỷ lệ rất lớn, thì  
chưa có quy định phù hợp để bảo vệ quyền lợi  
chính đáng. Trong khi đó, Việt Nam ghi nhận  
ngày càng nhiều sự đầu tư xây dựng các CSDL  
cùng chứa nội dung tương tự nhau, đơn cử như  
CSDL văn bản pháp luật có thể truy cập tại nhiều  
hệ thống website gồm thuvienphapluat.vn,  
thukyluat.vn, luatvietnam.vn, thegioiluat.vn,...  
4. Cơ chế nào cho Việt Nam?  
Sự cần thiết của quyền sui generis vẫn là một  
vấn đề tranh cãi chưa có hồi kết. Nếu như quan  
điểm ủng hộ cho rằng CSDL cần một quyền  
riêng để bảo vệ thành quả đầu tư, đặc biệt trong  
môi trường kỹ thuật số nơi toàn bộ nội dung có  
thể bị chiếm đoạt chỉ bằng vài cú click chuột.  
Ngoài ra, quyền sui generis cũng tạo nên lợi thế  
pháp lý cho các doanh nghiệp sở hữu CSDL. Ở  
________  
7 Điều 22.2. Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009  
8 Điều 72.2(a),(d), Luật Công nghệ thông tin 2006.  
9 Điều 45.1(a), Luật Cạnh tranh 2018.  
và 2019).  
N. L. Sy / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 20-26  
26  
[6] S. Constantine (Ed.), Rethinking database rights and  
data ownership in an AI world, Singapore Academy  
of Law, Law Reform Committee, Singapore, 2020.  
[7] B. Hugenholtz, Something Completely Different:  
Europe’s Sui Generis Databases Right¸Chapter 9 in  
S.Frankel & D.Gervais (Eds.), The Internet and  
Emerging Importance of New Forms of Intellectual  
Property, Wolters Kluwer, the Netherlands, 2016.  
[8] Directive 96/9/EC on the legal protection of databases,  
với các tính năng tương tự nhau. Điều này tiềm  
ẩn nhiều nguy cơ xảy ra tranh chấp liên quan đến  
việc khai thác và sử dụng nội dung CSDL.  
So sánh với EU, Việt Nam không có mục  
tiêu phải hài hòa hệ thống bảo hộ CSDL như EU  
cần làm giữa các nước thành viên. Liệu quyền  
sui generis có trở thành là lực cản cho kỷ nguyên  
dữ liệu lớn (big data) vốn phải khai thác nội dung  
của vô số CSDL khác nhau. Ở chiều ngược lại  
khi so với Hoa Kỳ, Việt Nam không theo truyền  
thống thông luật với cơ chế xét xử linh hoạt và  
quyền lực để tự thiết lập các chuẩn mực bảo hộ  
CSDL. Ngoài quyền tác giả, các lĩnh vực khác  
như luật cạnh tranh cũng chưa có các quy định  
đầy đủ để điều chỉnh nếu có tranh chấp xảy ra,  
đặc biệt trên nền tảng số. Kinh nghiệm cũng cho  
thấy Việt Nam thường chỉ có thể điều chỉnh tốt  
một đối tượng khi có hành lang pháp lý chi tiết  
và rõ ràng. Do vậy, quyền sui generis dành cho  
CSDL là hướng tiếp cận phù hợp với bối cảnh  
Việt Nam hiện tại. Quyền này nên được tích hợp  
trong nhóm quyền liên quan đến quyền tác giả để  
không phá vỡ cấu trúc ngành luật sở hữu trí tuệ.  
Việc thắt chặt điều kiện hưởng quyền sui generis  
là cần thiết để tránh hiện tượng lạm dụng độc  
quyền thông tin, đồng thời tạo điều kiện cho sự  
phát triển của công nghệ dữ liệu lớn. Bằng cách  
này, chỉ một số CSDL phức tạp mới đáp ứng  
được yêu cầu của cơ chế mới, khi chứng minh  
được sự đầu tư đáng kể và mức độ sáng tạo nhất  
định; từ đó, giảm thiểu sự xáo trộn đến hệ thống  
bảo hộ hiện hành.  
[9] Case C-444/02 Fixtures Marketing Ltd v.  
Organismos prognostikon agonon podosfairou  
AE (OPAP) [2004] ECR I-10549, para.29,  
444/02, last accessed 06/08/2021.  
[10] P. Burdese, AI-Generated Databases: Do the  
Creation/obtaining Dichotomy and the Substantial  
Investment Requirement Exclude the Sui Generis  
Right Provided for under the EU Database  
Directive? Reflections and Proposals, WIPO  
Academy, University of Turin and ITC-ILO.  
Research Papers Collection. (2020).  
[11] M. Schellekens, A database right in search results?  
- An intellectual property right reconsidered in  
respect of computer generated databases,  
Computer Law & Security Review 27. (2011).  
[12] S. E. Trosow, Sui Generis database legislation: A  
critical analysis, Yale Journal of Law  
Technology. Vol.7. (2005).  
&
[13] The Copyright Act (17 U.S. Code),  
er-1, last accessed 08/08/2021.  
[14] Q. H. Chang, A Comparative Study of Electronic  
Database and Copyright Protection, NTUT Journal  
of Intellectual Property Law & Management.  
Vol.6, Issue2. (2017).  
[15] W. B. Payne & D. O’Sullivan, Exploding the  
Phone Book: Spatial Data Arbitrage in the 1990s  
Internet Boom, Annals of the American  
Association of Geographers. Vol.110(2). (2020).  
[16] P. J. Cardinale, Sui Generis Database Protection:  
Second Thoughts in the European Union and What it  
means for the United States, Chicago-Kent Journal of  
Intellectual Property. Vol.6, Issue 2. (2007).  
Tài liệu tham khảo  
[1] The  
History  
of  
Databases,  
history-of-databases/ , last accessed 06/08/2021.  
[2] Timeline  
of  
Database  
History,  
database-history, last accessed ngày 06/08/2021.  
[3] N. T. T. Hà, Dữ liệu được bảo hộ như thế nào? 2017,  
bao-ho-nhu-the-nao/20170222044033733p1c785.htm,  
last accessed 06/08/2021.  
[4] Công ước Berne 1886 (sửa đổi 1971) về bảo hộ các  
tác phẩm văn học, nghệ thuật.  
[5] Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương  
mại trong quyền sở hữu trí tuệ của WTO.  
[17] The Digital Millennium Copyright Act 1998,  
105publ304/pdf/PLAW-105publ304.pdf,  
accessed 08/08/2021.  
last  
[18] M. Leaffer, Database protection in the United States  
is alive and well: Comments on Davison, Case  
Western Reserve Law Review. Volume 7, Issue 4.  
(2007). Misappropriation,  
pdf 7 trang Thùy Anh 12860 Free
Bạn đang xem tài liệu "Từ “sưu tập dữ liệu” đến “quyền sui generis”: Cơ chế nào để bảo hộ cơ sở dữ liệu kỹ thuật số?", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftu_suu_tap_du_lieu_den_quyen_sui_generis_co_che_nao_de_bao_h.pdf