Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoạt động lập pháp góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Việt Nam

NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH  
TRONG HOẠT ĐỘNG LẬP PHÁP GÓP PHẦN XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN  
NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM  
Vương Đình Huệ*  
* GS. TS. Ủy viên Bộ Chính trị,  
Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Vận dụng, phát huy những thành tựu vô giá của tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoạt  
động lập pháp cùng với việc tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn nữa hoạt động của  
Quốc hội, nâng cao vai trò của Quốc hội, cơ quan đại diện cao nhất của Nhân dân,  
cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước ta là nền tảng, yêu cầu bắt buộc  
để hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm góp phần xây dựng thành công Nhà nước  
pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Hệ thống pháp luật hoàn thiện là tiền đề  
để hiện thực hóa mô hình phát triển mà toàn Đảng và toàn dân ta mong muốn  
như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: Phát triển về kinh tế đi đôi  
với tiến bộ và công bằng xã hội; xây dựng một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương  
trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn; phát triển bền vững, hài hòa  
với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và  
tương lai với một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về Nhân dân, do  
Nhân dân và phục vụ lợi ích của Nhân dân.  
Từ khóa: Tư tưởng Hồ Chí Minh,  
hoạt động lập pháp, Quốc hội.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 10/6/2021  
: 15/6/2021  
: 18/6/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
Taking, enhancing application of the advantages of the invaluable achievements  
of Ho Chi Minh's thoughts in legislative activities together with continuation of  
strong innovation of the National Assembly performance, enhancing the role of  
the NationalAssembly, the highest authorized representative agency of the People,  
the highest state power agency are the solid ground and mandatory requirement  
for improvement of the legal system so that it is to provide contribution to the  
successful development of a socialist rule of law state in our country. A proper  
legal system is precondition to realize the development modality that the whole  
Party and entire people desire as General Secretary Nguyen Phu Trong affirmed:  
Economic development must be in parallel with the social advance and fairness;  
development of a society of compassion, solidarity and mutual assistance,  
towards progressive and humane values; sustainable development, in harmony  
with nature to ensure a healthy living environment for the current and future  
generations with a political system where the power truly belongs to the People,  
by the People and is used for the benefits of the People.  
Keywords: Ho Chi Minh's  
thoughts; legislative activities;  
National Assembly.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 10 Jun 2021  
: 15 Jun 2021  
: 18 Jun 2021  
Approved  
I. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và  
pháp luật  
Tư tưởng Hồ Chí Minh bắt nguồn từ  
truyền thống yêu nước, kiên cường bất  
khuất; từ tinh thần tương thân tương ái, lòng  
nhân nghĩa, ý thức đoàn kết cộng đồng và  
ý chí vươn lên vượt qua mọi khó khăn thử  
thách của con người Việt Nam; là sự kết hợp  
các giá trị truyền thống của văn hóa phương  
Đông với các thành tựu hiện đại của văn  
Số 13(437) - T7/2021  
3
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
minh phương Tây. Nếu như Chủ nghĩa yêu  
nước là nguồn gốc ra đời thì Chủ nghĩa Mác -  
Lênin là nguồn gốc lý luận chủ yếu nhất  
cho sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ  
Chí Minh. Bằng thế giới quan và phương  
pháp luận Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã  
nhìn nhận, đánh giá phân tích tổng kết các  
học thuyết, tư tưởng, đường lối các cuộc  
cách mạng một cách khoa học và kết hợp  
chúng với kinh nghiệm hoạt động thực tiễn  
của mình để tìm ra con đường cách mạng  
đúng đắn, cứu nước và giải phóng dân tộc  
ta. Giữa thực tiễn phong phú và sinh động,  
giữa nhiều học thuyết, quan điểm khác  
nhau, giữa biết bao tình huống đa dạng và  
phức tạp, phẩm chất thông minh, tư duy độc  
lập, lòng ham hiểu biết và tính nhạy bén với  
cái mới đã tạo tiền đề cho Người tìm hiểu,  
phân tích tổng hợp, khái quát hình thành  
những luận điểm đúng đắn và sáng tạo, hình  
thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh.  
Đảng ta khẳng định: Tư tưꢀng Hꢁ Chꢂ  
Minh là mꢃt hꢄ thꢅng quan điꢆm toàn diꢄn  
và sâu sꢇc vꢈ nhꢉng vꢊn đꢈ cơ bꢋn cꢌa cꢍch  
mꢎng Viꢄt Nam, kết quꢋ cꢌa sꢏ vꢐn dꢑng và  
phꢍt triꢆn sꢍng tꢎo chꢌ nghꢒa Mꢍc - Lênin  
vào điꢈu kiꢄn cꢑ thꢆ cꢌa nưꢓc ta, kế thừa và  
phꢍt triꢆn cꢍc giꢍ trị truyꢈn thꢅng tꢅt đꢔp  
cꢌa dân tꢃc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân  
loꢎi; là tài sꢋn tinh thꢕn vô cꢖng to lꢓn và  
quꢗ giꢍ cꢌa Đꢋng và dân tꢃc ta, mꢘi mꢘi soi  
đưꢙng cho sꢏ nghiꢄp cꢍch mꢎng cꢌa Nhân  
dân ta giành thꢇng lꢚi1.  
tuổi thiếu niên đến trước ngày Người ra đi  
tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Từ  
khi hình thành đến năm 1969, tư tưởng Hồ  
Chí Minh về nhà nước và pháp luật liên tục  
được Người bổ sung và phát triển làm cơ  
sở lý luận, kim chỉ nam cho hoạt động xây  
dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật ở nước  
ta. Những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ  
Chí Minh về nhà nước và pháp luật được  
thể hiện qua quan điểm chính sau:  
Thứ nhất, tư tưởng Hồ Chí Minh về sự  
bất khả xâm phạm của chủ quyền quốc  
gia, tính thiêng liêng của độc lập dân tộc  
Hồ Chí Minh khẳng định bảo vệ sự toàn  
vẹn lãnh thổ quốc gia là tất yếu, là tuyệt đối  
và có ý nghĩa chiến lược, xuyên suốt quá  
trình cách mạng, chi phối đến các hoạt động  
của Nhà nước trong các lĩnh vực lập pháp,  
hành pháp và tư pháp, đến mọi lĩnh vực  
hoạt động từ kinh tế - xã hội đến chính trị,  
từ văn hóa đến khoa học, từ ngoại giao đến  
quân sự, quốc phòng, an ninh… của quốc  
gia, của dân tộc. Theo Hồ Chí Minh, bảo  
vệ sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia là nhiệm  
vụ bắt buộc, là hành động tất phải thế, chứ  
không thể khác, có chăng chỉ con đường,  
biện pháp, cách thức để bảo vệ được sự toàn  
vẹn lãnh thổ quốc gia ở mỗi một thời điểm  
khác nhau mà thôi. Tính nhất quán đó xuất  
phát từ chính sự thiêng liêng của chủ quyền,  
lãnh thổ quốc gia với một dân tộc, bởi bảo  
vệ chủ quyền quốc gia không chỉ là bảo vệ  
những giá trị hiện hữu như vùng đất, vùng  
trời, vùng biển - những thứ cha ông ta đã  
dày công xây dựng, gìn giữ và truyền lại -  
mà còn là bảo vệ những giá trị văn hóa, tinh  
thần phong phú, đa dạng, tốt đẹp có từ ngàn  
năm trên lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.  
Độc lập dân tộc là tư tưởng chủ đạo, nhất  
quán và chi phối toàn bộ sự nghiệp cách  
mạng của Hồ Chí Minh, Người khẳng định:  
Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và  
pháp luật - một trong những nội dung cốt  
yếu trong kho tàng phong phú của hệ thống  
tư tưởng của Người - được hun đúc ngay từ  
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiꢄn Đꢎi hꢃi đꢎi biꢆu toàn quꢅc lꢕn thꢛ XI, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật tr. 88.  
4
Số 13(437) - T7/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
Tꢏ do cho đꢁng bào tôi, đꢃc lꢐp cho tổ quꢅc  
tôi, đó là tꢊt cꢋ nhꢉng gì tôi muꢅn, đó là tꢊt  
cꢋ nhꢉng gì tôi hiꢆu2. Theo Hồ Chí Minh, độc  
lập, tự do dân tộc phải là độc lập, tự do thực  
sự, hoàn toàn, chứ không phải là thứ độc lập,  
tự do giả hiệu giống như “cái bánh vẽ” mà  
chủ nghĩa đế quốc nêu ra. Độc lập dân tộc  
phải được biểu hiện trên tất cả các lĩnh vực  
của đời sống xã hội nơi các quyền dân tộc,  
quyền con người phải được thực hiện trên  
thực tế. Độc lập dân tộc phải gắn liền với tự  
do của Nhân dân. Người chỉ rõ: “Nưꢓc đꢃc  
lꢐp mà dân không hưꢀng hꢎnh phúc tꢏ do,  
thì đꢃc lꢐp chẳng có nghꢒa lꢗ gì”3.  
Tư tưởng của Người về chủ quyền quốc  
gia và độc lập dân tộc vẫn còn nguyên giá  
trị cho đến hôm nay. Đây là cơ sở ý thức hệ  
quan trọng cho mọi hoạt động của cơ quan  
nhà nước, cho ý chí, nguyện vọng của toàn  
thể Nhân dân, là căn cứ, mục tiêu, nguyên  
tắc và động lực của hoạt động lập pháp  
ngày nay. Có thể dễ dàng nhận thấy, trong  
tâm thức mỗi người Việt Nam yêu nước vẫn  
còn vang vọng lời Bác dạy trong bản Tuyên  
ngôn độc lập: “Nưꢓc Viꢄt Nam có quyꢈn  
hưꢀng tꢏ do và đꢃc lꢐp, và sꢏ thꢐt đꢘ thành  
mꢃt nưꢓc tꢏ do đꢃc lꢐp. Toàn thꢆ dân tꢃc  
Viꢄt Nam quyết đem tꢊt cꢋ tinh thꢕn và lꢏc  
lưꢚng, tꢂnh mꢎng và cꢌa cꢋi đꢆ giꢉ vꢉng  
quyꢈn tꢏ do, đꢃc lꢐp ꢊy”4.  
“Tꢊt cꢋ quyꢈn bꢂnh trong nưꢓc là cꢌa  
toàn thꢆ Nhân dân Viꢄt Nam”5- đó là tư  
tưởng nhất quán của Hồ Chí Minh. Quyền  
lực nhà nước là quyền lực của Nhân dân,  
do Nhân dân ủy quyền cho các cơ quan  
trong bộ máy nhà nước. Vì vậy, Hồ Chí  
Minh cho rằng, Nhân dân có quyền kiểm  
soát (giám sát) đại biểu mà mình đã bầu ra.  
Người viết: “Nhân dân có quyꢈn bꢘi miễn  
đꢎi biꢆu Quꢅc hꢃi và đꢎi biꢆu Hꢃi đꢁng  
nhân dân nếu nhꢉng đꢎi biꢆu ꢊy tỏ ra không  
xꢛng đꢍng vꢓi sꢏ tꢂn nhiꢄm cꢌa Nhân dân.  
Nguyên tꢇc ꢊy bꢋo đꢋm quyꢈn kiꢆm soꢍt  
cꢌa Nhân dân đꢅi vꢓi đꢎi biꢆu cꢌa mình”6.  
Người căn dặn:“Chúng ta phꢋi hiꢆu rằng,  
cꢍc cơ quan cꢌa Chꢂnh phꢌ từ toàn quꢅc  
cho đến cꢍc làng, đꢈu là công bꢃc cꢌa dân,  
nghꢒa là đꢆ gꢍnh viꢄc chung cho dân, chꢛ  
không phꢋi đꢆ đè đꢕu dân như trong thꢙi kỳ  
dưꢓi quyꢈn thꢅng trị cꢌa Phꢍp, Nhꢐt”.7  
Có thể khẳng định rằng, trong tư tưởng  
của Người chữ “DÂN”được đặt vào vị trí  
tối thượng. Người luôn căn dặn: “Trong bꢕu  
trꢙi không gì quꢗ bằng Nhân dân, trong thế  
giꢓi không gì mꢎnh bằng lꢏc lưꢚng đoàn  
kết cꢌa Nhân dân”8. Mọi việc lớn nhỏ đều  
nhằm làm điều lợi cho dân, tránh điều hại  
tới dân. Đem tài dân, sức dân để làm lợi  
cho dân, để mưu cầu hạnh phúc cho dân,  
bởi dân là chꢌ thꢆ, dân là thưꢓc đo chân  
lý. Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc,  
cho Nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của  
Tổ quốc, của Nhân dân tức là không phải  
chân lý. Đối với Người, ra sức phụng sự  
Thứ hai, tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ  
quyền Nhân dân, tất cả quyền lực đều  
thuộc về Nhân dân, Nhà nước của Nhân  
dân, do Nhân dân và vì Nhân dân  
2 Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng: Hꢁ Chꢂ Minh: - Biên  
niên tiꢆu sử, Nxb. Chính trị quốc gia, 2006, t.1, tr.112.  
3 “Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng”, ký tên Hồ Chí Minh, đăng trên Báo Cứu quốc, số  
69, ngày 17-10-1945.  
4 Lịch sử biên niên Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, 2008, t. 2, tr.1042-1045.  
5 Điều 1 Hiến pháp năm 1946.  
6 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, 1994, t. 12, tr.375.  
7 Hồ Chí Minh: Toàn tꢐp, Sđd, t. 4, tr.64-65.  
8 Hồ Chí Minh: Toàn tꢐp, Sđd, t.10, tr.453.  
Số 13(437) - T7/2021  
5
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
Tổ quốc, phục vụ Nhân dân - tức là phục  
tùng chân lý.  
Thứ ba, tư tưởng Hồ Chí Minh về đề  
cao tính tối thượng của pháp luật - Trăm  
điều phải có thần linh pháp quyền  
linh. Đây được coi như một bản Cương lĩnh  
lập hiến dẫn dắt con đường đấu tranh giành  
độc lập cho dân tộc, thành lập Nhà nước dân  
chủ nhân dân, tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ  
tự do và quyền làm chủ của Nhân dân; là  
sợi chỉ đỏ cho hoạt động lập pháp, xây dựng  
và hoàn thiện hệ thống pháp luật trong quá  
trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội  
chủ nghĩa ở nước ta.  
Năm 1919, khi Hội nghị Hòa Bình  
Pa-ri họp tại Véc-xây, nhân danh nhóm  
người Việt Nam yêu nước, Hồ Chí Minh -  
lúc đó lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, đã gửi  
đến Hội nghị “Bꢋn yêu sꢍch cꢌa Nhân dân  
An Nam” gồm 8 điểm9 với các nội dung đòi  
cải cách nền pháp lý ở Đông Dương, dành  
cho người bản xứ cũng được hưởng những  
đảm bảo về mặt pháp luật như mọi người  
châu Âu, và đặc biệt, đòi “thay chế đꢃ ra  
cꢍc sꢇc lꢄnh bằng chế đꢃ ra cꢍc đꢎo luꢐt”10.  
Ba năm sau, năm 1922, Yêu sách về  
quyền của người dân và chế độ pháp lý của  
Nhà nước với Hiến pháp ở vị trí tối thượng  
được Người khái quát, nâng lên thành tâm  
niệm linh thiêng, khắc khoải lòng người  
trong “Việt Nam yêu cầu ca”:  
Thứ tư, tư tưởng Hồ Chí Minh về yêu  
cầu mục đích của pháp luật là phải nhân  
đạo, nhân văn, vì con người  
Với lòng yêu nước thương dân vô hạn,  
Hồ Chí Minh luôn mong muốn xây dựng hệ  
thống pháp luật nhân đạo, nhân văn vì Nhân  
dân lao động, vì con người sau khi đã giành  
được chính quyền. Với Người, pháp luật  
là do con người và vì con người. Pháp luật  
phải có tính hài hòa, giải quyết mối quan hệ  
giữa người với người, giữa người với công  
việc trên nền tảng có lý, có tình.  
Hệ thống pháp luật mà Hồ Chí Minh  
mong muốn xây dựng là sản phẩm của chế  
độ có một “mꢑc đꢂch duy nhꢊt là mưu tꢏ  
do hꢎnh phúc cho mꢜi ngưꢙi… đꢝt quyꢈn  
lꢚi dân lên trên hết thꢋy”12. Ngay trong  
phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời  
ngày 03/9/1945, Người yêu cầu: “Chúng ta  
phꢋi có mꢃt Hiến phꢍp dân chꢌ”13 và chính  
Người đã chỉ đạo soạn thảo Hiến pháp năm  
1946 và Hiến pháp năm 1959 với những nội  
dung thể hiện đậm nét tính dân chủ, vì con  
người. Trong bài phát biểu chỉ đạo tại Hội  
nghị Tư pháp toàn quốc năm 1950, Người  
chỉ rõ: “Phꢍp luꢐt cꢌa ta hiꢄn nay bꢋo vꢄ  
quyꢈn lꢚi cho hàng triꢄu ngưꢙi lao đꢃng…  
“Bꢋy xin Hiến phꢍp ban hành  
Trăm điꢈu phꢋi có thꢕn linh phꢍp quyꢈn”11.  
Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy được  
mối quan hệ hữu cơ, máu thịt giữa quyền  
làm chủ xã hội, quyền dân chủ, quyền tự  
do của Nhân dân với Hiến pháp và các đạo  
luật, thấy được vai trò của Hiến pháp, của  
các đạo luật trong việc xác lập một Nhà  
nước kiểu mới. Với Hồ Chí Minh, thần linh  
pháp quyền không mơ hồ, xa xôi. Người  
đã nhận thức rằng, để xây dựng được Nhà  
nước pháp quyền, nơi mà mỗi người đều  
phải phục tùng và tôn trọng luật pháp, thì  
pháp luật phải có vị trí tối thượng như thần  
9
tuong-cua-dang/100-nam-ban-yeu-sach-cua-nhan-dan-an-nam-122240.  
10 Hồ Chí Minh: Toàn tꢐp, Sđd, t.1, tr.469.  
11 Hồ Chí Minh: Toàn tꢐp, Sđd, t.1, tr.47.  
12 Hồ Chí Minh: Toàn tꢐp, Sđd, t.4, tr.21.  
13 Hồ Chí Minh: Toàn tꢐp, Sđd, t.4, tr.7.  
6
Số 13(437) - T7/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
Phꢍp luꢐt cꢌa ta là phꢍp luꢐt thꢐt sꢏ dân  
chꢌ, vì nó bꢋo vꢄ quyꢈn tꢏ do, dân chꢌ rꢃng  
rꢘi cho Nhân dân lao đꢃng”14. Như vậy,  
trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, pháp luật  
sinh ra không vì một cái gì khác hơn là vì  
dân. Đây là nguyên tắc cơ bản cho việc xây  
dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật của  
nước ta từ khi giành độc lập cho đến tận  
hôm nay và mai sau.  
xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về  
đối ngoại và hội nhập của Việt Nam.  
Thứ sáu, tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo  
đảm dân chủ trong quá trình xây dựng  
pháp luật  
Trong xây dựng hệ thống pháp luật, Hồ  
Chí Minh rất chú trọng tính dân chủ. Theo  
Người, muốn có được hệ thống pháp luật  
như vậy, sự tham gia của Nhân dân trong  
quá trình xây dựng pháp luật là điều kiện  
tiên quyết. Trong tác phẩm Thường thức  
chính trị, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Cꢍch  
mꢎng thꢍng Tꢍm thành công ta lꢐp ra Chꢂnh  
phꢌ mꢓi vꢓi “phꢍp luꢐt mꢓi cꢌa Nhân dân  
đꢆ chꢅng kẻ địch trong và ngoài, và đꢆ giꢉ  
gìn quyꢈn lꢚi cꢌa Nhân dân16. Trong quá  
trình xây dựng Hiến pháp năm 1959, việc  
bảo đảm sự tham gia của đông đảo các tầng  
lớp nhân dân vào xây dựng pháp luật được  
Người đặc biệt quan tâm. Để đảm bảo pháp  
luật thực sự của Nhân dân, trong quá trình  
xây dựng Hiến pháp, Hồ Chí Minh yêu cầu:  
“Bꢋn Hiến phꢍp chúng ta sẽ thꢋo ra…  
phꢋi tiêu biꢆu đưꢚc cꢍc nguyꢄn vꢜng cꢌa  
nhân dân… Sau khi thꢋo xong, chúng ta  
cꢕn phꢋi trưng cꢕu ꢗ kiến cꢌa nhân dân cꢋ  
nưꢓc mꢃt cꢍch thꢐt rꢃng rꢘi. Có như thế  
bꢋn Hiến phꢍp cꢌa chúng ta mꢓi thꢐt sꢏ là  
mꢃt bꢋn Hiến phꢍp cꢌa Nhân dân, cꢌa chế  
đꢃ dân chꢌ”17.  
Thứ năm, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn  
trọng pháp luật quốc tế  
Tôn trọng pháp luật quốc tế là tầm nhìn  
rất xa và rộng của Hồ Chí Minh. Trong sự  
nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo  
vệ Tổ quốc của Nhân dân ta, Hồ Chí Minh  
và Đảng ta luôn chủ trương đẩy mạnh mối  
quan hệ đoàn kết hữu nghị với nhân dân thế  
giới. Hồ Chí Minh nói: Đꢅi vꢓi tꢊt cꢋ cꢍc  
nưꢓc trên thế giꢓi, nưꢓc Viꢄt Nam Dân chꢌ  
Cꢃng hòa thiết tha mong muꢅn duy trì tình  
hꢉu nghị và thành thꢐt hꢚp tꢍc trên cơ sꢀ  
bình đẳng và tương trꢚ đꢆ xây dꢏng hòa  
bình thế giꢓi lâu dài15. Lời Người nói đã  
diễn đạt đầy đủ nguyện vọng, quan điểm và  
đường lối đối ngoại của Việt Nam lúc bấy  
giờ là duy trì tình hữu nghị, sự hợp tác chân  
thành với tất cả các nước trên thế giới dù có  
chế độ chính trị khác nhau, trên nguyên tắc  
bình đẳng và tương trợ lẫn nhau nhằm xây  
dựng hòa bình trên thế giới. Quan điểm của  
Người là nền tảng tư tưởng cho đường lối  
đối ngoại của Đảng, Nhà nước và Nhân dân  
ta và là cơ sở để các nước có chế độ chính  
trị khác nhau trên thế giới công nhận và đặt  
quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Đây chính  
là nguyên tắc, là kim chỉ nam cho công tác  
Hồ Chí Minh nhận định: “phꢋi nhꢐn  
thꢛc cho tꢅt và chꢊp hành nghiêm chỉnh  
phꢍp luꢐt”; “sꢏ bình đẳng trong xꢘ hꢃi ꢀ  
nơi phꢍp luꢐt” và “dân chꢌ đúng đꢇn cũng  
ꢀ nơi phꢍp luꢐt”18. Như vậy, trong tư tưởng  
Hồ Chí Minh, xây dựng pháp luật phải  
14  
nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=634.  
15 Lời nói trên được Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày trong Hội nghị những người Ấn nghiên cứu vấn đề quốc  
tế, ngày 7/2/1958.  
16 Hồ Chí Minh: Toàn tꢐp, Sđd, t.8, tr.262.  
17 Hồ Chí Minh: Toàn tꢐp, Sđd, t.10, tr.510-511.  
18 Hồ Chí Minh: Toàn tꢐp, Sđd, tập 5, tr.299, 293, 418.  
Số 13(437) - T7/2021  
7
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
hướng tới mục tiêu dân chủ, tiến bộ để từng  
bước hoàn thiện hệ thống pháp luật.  
bảo đảm quyền tự do kinh doanh, các quyền  
về an sinh xã hội của công dân, cải thiện môi  
trường kinh doanh, đầu tư và phát triển các  
lĩnh vực kinh tế - xã hội của đất nước, bảo  
đảm quyền, lợi ích của người dân và doanh  
nghiệp; ngày càng nâng cao đời sống vật  
chất và tinh thần của Nhân dân, bảo đảm an  
sinh xã hội... Những kết quả đó là thành quả  
của khát vọng, ý chí vượt khó vươn lên, sự  
vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về  
hoạt động lập pháp để xây dựng, hoàn thiện  
hệ thống pháp luật phục vụ sự nghiệp bảo vệ,  
phát triển đất nước và hội nhập quốc tế.  
Từ những luận điểm nêu trên, có thể  
khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà  
nước, pháp luật nói chung, về hoạt động lập  
pháp nói riêng là tài sản tinh thần quý báu  
phải được gìn giữ, bảo vệ và phát huy trong  
sự nghiệp đổi mới và hội nhập, trong quá  
trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa, phát  
triển nhanh và bền vững để xây dựng thành  
công Nhà nước pháp quyền XHCN, góp  
phần củng cố, tạo nền tảng quan trọng cả về  
lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường  
đi lên CNXH của Việt Nam. Học tập, làm  
theo tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, trong  
đó có tư tưởng của Người về hoạt động lập  
pháp là trách nhiệm, nhiệm vụ trọng tâm  
và quyết tâm của toàn hệ thống chính trị,  
là mong mỏi và tâm huyết của Tổ quốc và  
toàn thể Nhân dân.  
Qua gần 76 năm xây dựng và phát triển  
của Nhà nước và sau 35 năm Đổi Mꢓi, thế  
và lực của đất nước ta đã ở một tầm khác.  
Đời sống của đại đa số người dân - chủ nhân  
của đất nước có những thay đổi căn bản. Từ  
thôn quê tới đô thị đều mang một diện mạo  
mới mà chúng ta khó có thể hình dung vào  
những năm đầu của thời kỳ đổi mới.  
Về hoạt động lập pháp, cho tới nay, đại  
đa số các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã  
hội đều có văn bản tầm luật điều chỉnh với  
hơn 230 bộ luật và luật đang có hiệu lực áp  
dụng. Chúng ta đã xây dựng được hệ thống  
pháp luật khá ổn định, đồng bộ, thống nhất,  
có sự gắn kết chặt chẽ với việc thực hiện các  
chỉ đạo, chủ trương của Đảng về chiến lược  
xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật;  
về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định  
hướng xã hội chủ nghĩa, tạo nền tảng pháp lý  
II. Tiếp tục học tập, vận dụng tư tưởng  
Hồ Chí Minh trong hoạt động lập pháp  
trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp  
quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta  
Trong giai đoạn hiện nay, học tập, vận  
dụng tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí  
Minh trong hoạt động lập pháp có vai trò  
rất quan trọng nhất là trong bối cảnh toàn  
Đảng, toàn dân đang tích cực chủ động thực  
hiện thắng lợi các định hướng, nhiệm vụ  
trọng tâm và đột phá chiến lược đã xác định  
tại Đại hội 13 của Đảng về hoàn thiện hệ  
thống pháp luật, xây dựng Nhà nước pháp  
quyền xã hội chủ nghĩa. Đó là: Xây dựng  
và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội  
chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, tinh gọn,  
hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì Nhân dân  
phục vụ và vì sự phát triển của đất nước19.  
Hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ  
chế, chính sách nhằm phát huy mạnh mẽ  
dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ  
của Nhân dân20. Đột phá chiến lược về thể  
chế để phát huy mạnh mẽ dân chủ XHCN,  
quyền làm chủ của Nhân dân; đồng thời,  
xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ  
nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh21.  
19  
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiꢄn Đꢎi hꢃi đꢎi biꢆu toàn quꢅc lꢕn thꢛ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự  
thật, 2021, t. II, tr.332.  
20 Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiꢄn Đꢎi hꢃi đꢎi biꢆu toàn quꢅc lꢕn thꢛ XIII, Sđd, t.II, tr.334-337.  
21 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiꢄn Đꢎi hꢃi đꢎi biꢆu toàn quꢅc lꢕn thꢛ XIII, Sđd, t.II, tr.337-338.  
8
Số 13(437) - T7/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
Bên cạnh đó, cả dân tộc Việt Nam đang  
chủ động hội nhập sâu và rộng với thế giới.  
Để hội nhập có hiệu quả, Việt Nam phải  
có các giải pháp về pháp luật vừa bảo đảm  
phù hợp và phát huy lợi thế, thế mạnh trong  
nước vừa bảo đảm hài hòa, tương thích với  
các tiêu chuẩn chung của pháp luật quốc  
tế. Việt Nam cũng đang hòa nhịp vào dòng  
chảy của cuộc Cách mạng công nghiệp lần  
thứ tư với khát vọng phát triển đất nước  
hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc. Hội  
nhập quốc tế trong bối cảnh Cách mạng  
công nghiệp lần thứ tư22 sẽ có tác động về  
nhiều mặt đến việc học tập, vận dụng tư  
tưởng Hồ Chí Minh về lập pháp trong quá  
trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội  
chủ nghĩa ở nước ta. Nhiều vấn đề mới sẽ  
nảy sinh, chưa từng có trong tiền lệ đòi hỏi  
phải có sự điều chỉnh của pháp luật để Nhân  
dân và Tổ quốc Việt Nam được hưởng thụ  
những lợi ích tốt nhất của hội nhập quốc tế  
và cuộc Cách mạng này đem lại.  
Nhà nưꢓc là thꢅng nhꢊt; có sꢏ phân công,  
phꢅi hꢚp và kiꢆm soꢍt giꢉa cꢍc cơ quan  
trong viꢄc thꢏc hiꢄn cꢍc quyꢈn lꢐp phꢍp,  
hành phꢍp, tư phꢍp. Nhà nưꢓc ban hành  
phꢍp luꢐt; tổ chꢛc, quꢋn lꢗ xꢘ hꢃi bằng  
phꢍp luꢐt và không ngừng tăng cưꢙng phꢍp  
chế xꢘ hꢃi chꢌ nghꢒa”23.  
Kế thừa nhận thức về Nhà nước pháp  
quyền xã hội chủ nghĩa đã được đề cập trong  
Văn kiện các kỳ Đại hội trước, nội dung xây  
dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền  
xã hội chủ nghĩa thực sự đã được coi là  
nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ Đại hội  
lần thứ XIII, được nhắc đến nhiều lần và là  
một trong ba đột phát chiến lược của Đại  
hội với những điểm mới hơn trong nhận  
thức về phạm trù này. Đại hội lần thứ XIII  
cũng nêu rõ mục tiêu này chỉ đạt được khi  
chúng ta biết gắn tăng cường công khai,  
minh bạch và trách nhiệm giải trình, đồng  
thời kiểm soát hiệu quả và thực chất quyền  
lực dựa trên việc siết chặt kỷ cương, kỷ  
luật; xây dựng Nhà nước pháp quyền gắn  
với mục tiêu đấu tranh phòng, chống tham  
nhũng, tuân theo các quy luật thị trường và  
bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa  
Nhà nước, thị trường và xã hội…  
1. Yêu cầu về hoạt động lập pháp trong  
quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền  
xã hội chủ nghĩa ở nước ta  
Cương lĩnh (bổ sung và phát triển 2011)  
khẳng định, Nhà nước pháp quyền xã hội  
chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân là một  
trong 8 đặc trưng của xã hội chủ nghĩa. Theo  
đó, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa  
được cụ thể hóa đầy đủ như sau: “Nhà nưꢓc  
ta là Nhà nưꢓc phꢍp quyꢈn xꢘ hꢃi chꢌ nghꢒa  
cꢌa Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.  
Tꢊt cꢋ quyꢈn lꢏc Nhà nưꢓc thuꢃc vꢈ Nhân  
dân mà nꢈn tꢋng là liên minh... Quyꢈn lꢏc  
Để thực hiện thành công các mục tiêu  
nêu trên, xây dựng thành công Nhà nước  
pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta  
trong thời gian tới, hoạt động lập pháp phải  
đáp ứng các yêu cầu sau:  
Thứ nhất, hoạt động lập pháp phải bảo  
đảm tạo hành lang pháp lý để Nhà nước  
được tổ chức và hoạt động trong khuôn  
22 Khác với các cuộc Cách mạng công nghiệp trước đây, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư có sự khác biệt  
rất lớn về tốc độ, phạm vi và hệ thống. Về tốc độ, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư có tốc độ phát triển chưa  
từng có tiền lệ trong lịch sử. Về phạm vi, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, diễn ra không chỉ trên quy mô  
tất cả các lĩnh vực trong một quốc gia, khu vực mà cuộc Cách mạng này còn diễn ra trên phạm vi toàn cầu. Về  
tính hệ thống, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư làm thay đổi toàn bộ không chỉ hệ thống sản xuất của một  
doanh nghiệp, một lĩnh vực mà còn tác động mạnh đến hệ thống quản lý của một quốc gia cũng như hệ thống  
quản trị toàn cầu.  
23 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiꢄn Đꢎi hꢃi đꢎi biꢆu toàn quꢅc lꢕn thꢛ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, 2011, tr.85.  
Số 13(437) - T7/2021  
9
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
khổ Hiến pháp và pháp luật. Để làm được  
như vậy, hoạt động lập pháp phải tạo được  
những bước đột phá thực sự về thể chế để  
giải quyết những vấn đề thực tiễn đang đặt  
ra, rất thiết thực và cụ thể, bảo đảm sự bao  
phủ của pháp luật đến mọi lĩnh vực của đời  
sống kinh tế - xã hội - đưa thực tiễn, “hơi  
thở” và nhu cầu của cuộc sống vào pháp  
luật trước khi triển khai thi hành pháp luật  
trong thực tiễn. Hệ thống pháp luật phải bảo  
đảm ngày càng tốt hơn dân chủ, công bằng  
mới có thể làm cơ sở để xây dựng thành  
công Nhà nước pháp quyền XHCN.  
Thứ hai, hoạt động lập pháp phải bảo  
đảm việc tôn trọng và bảo vệ quyền con  
người, các quyền và tự do của công dân, giữ  
vững mối liên hệ giữa Nhà nước và công  
dân, giữa Nhà nước và xã hội; đảm bảo  
quyền con người trong mọi lĩnh vực hoạt  
động của Nhà nước và xã hội. Quyền con  
người là tiêu chí đánh giá tính pháp quyền  
của chế độ nhà nước. Lấy việc tôn trọng,  
bảo vệ và bảo đảm quyền con người là tiêu  
chí đánh giá tính pháp quyền của nhà nước,  
là tiêu chí đánh giá tính hiệu lực, hiệu quả  
trong hoạt động của các cơ quan trong bộ  
máy nhà nước, trong thi hành công vụ của  
cán bộ, công chức, viên chức nhà nước.  
Mọi hoạt động của Nhà nước đều phải xuất  
phát từ sự tôn trọng và đảm bảo quyền con  
người, tạo mọi điều kiện cho công dân thực  
hiện quyền của mình theo đúng các quy  
định của luật pháp. Mối quan hệ giữa người  
dân và Nhà nước được xác định chặt chẽ về  
phương diện luật pháp và mang tính bình  
đẳng. Để bảo vệ quyền con người, quyền  
công dân, mô hình quan hệ giữa Nhà nước  
và người dân được xác định: Về nguyên tắc,  
cơ quan nhà nước chỉ được làm những gì  
pháp luật cho phép; người dân được làm tất  
cả trừ những điều pháp luật cấm.  
thực hiện theo các nguyên tắc: phân công,  
phối hợp quyền lực và kiểm soát quyền lực  
hiệu quả trong việc thực hiện quyền lập  
pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp.  
Đồng thời, việc tổ chức và thực thi quyền  
lực phải được kiểm soát chặt chẽ với các  
cơ chế kiểm soát quyền lực cụ thể cả từ bên  
trong bộ máy nhà nước và bên ngoài bộ  
máy nhà nước; tăng cường cơ chế giám sát  
của Nhân dân và xã hội đối với việc thực  
hiện quyền lực nhà nước.  
Thứ tư, hoạt động lập pháp phải hướng  
tới thiết lập một cơ chế bảo vệ Hiến pháp  
và pháp luật phù hợp. Nền tảng của Nhà  
nước pháp quyền là Hiến pháp và một hệ  
thống pháp luật dân chủ và công bằng; do  
vậy, một cơ chế bảo vệ Hiến pháp và pháp  
luật luôn là một yêu cầu, một điều kiện cần  
thiết nhằm đảm bảo cho Hiến pháp, pháp  
luật luôn được tôn trọng, đề cao và tuân thủ  
nghiêm minh. Hình thức và phương thức bảo  
vệ Hiến pháp và pháp luật ở các quốc gia có  
thể đa dạng và khác nhau, nhưng đều hướng  
tới mục tiêu là bảo đảm địa vị tối cao, bất khả  
xâm phạm của Hiến pháp, loại bỏ hành vi  
trái với tinh thần và quy định của Hiến pháp,  
không phụ thuộc vào chủ thể của các hành vi  
này. Đồng thời với bảo vệ Hiến pháp, đòi hỏi  
phải xây dựng và thực thi một chế độ tư pháp  
thật sự dân chủ, minh bạch và trong sạch để  
duy trì và bảo vệ pháp chế trong mọi lĩnh vực  
hoạt động của Nhà nước và xã hội.  
Thứ năm, hoạt động lập pháp phải bảo  
đảm thích ứng với những tác động của cuộc  
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Theo đó,  
hoạt động lập pháp phải tạo cơ sở pháp lý để  
tận dụng tối đa những thành tựu, những tác  
động tích cực của Cách mạng công nghiệp  
lần thứ tư nhằm đem lại lợi ích cho người  
dân, doanh nghiệp và xã hội; hạn chế tối đa  
những tác động tiêu cực của Cách mạng công  
nghiệp lần thứ tư, bảo vệ người dân, doanh  
Thứ ba, hoạt động lập pháp phải bảo  
đảm quyền lực nhà nước được tổ chức và  
10  
Số 13(437) - T7/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
nghiệp và Nhà nước trước những hệ lụy có  
thể xảy ra. Hoạt động lập pháp cũng phải  
đảm bảo được vai trò của Nhà nước trong  
việc xây dựng hoàn thiện pháp luật để thúc  
đẩy đổi mới sáng tạo với những tư duy mới,  
phù hợp với xu thế tiến bộ của thế giới trong  
bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.  
Thứ sáu, hoạt động lập pháp phải bảo  
đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa  
đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đây là nội  
dung hết sức quan trọng, thể hiện rõ nét nhất  
đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội  
chủ nghĩa ở nước ta. Tăng cường vai trò  
lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là phải  
gắn liền và dựa trên cơ sở đổi mới và chỉnh  
đốn Đảng. Đảng lãnh đạo Nhà nước là đề ra  
đường lối, chủ trương, chính sách lớn; chăm  
lo công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, bố  
trí cán bộ trong các cơ quan Đảng và Nhà  
nước, kiến nghị và giới thiệu cán bộ với các  
cơ quan dân cử một cách dân chủ; thường  
xuyên tiến hành công tác kiểm tra. Đảng  
lãnh đạo Nhà nước xây dựng cơ cấu tổ chức  
và cơ chế hoạt động của Nhà nước, lãnh đạo  
việc đổi mới bộ máy nhà nước, thể chế hóa  
cương lĩnh, đường lối, chính sách của Đảng  
thành pháp luật của Nhà nước, cụ thể hóa  
chiến lược thành chương trình, kế hoạch, cơ  
chế, chính sách quản lý của Nhà nước…  
2. Học tập, vận dụng tư tưởng Hồ Chí  
Minh trong hoạt động lập pháp trong quá  
trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã  
hội chủ nghĩa ở nước ta  
phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị số 05-  
CT/TW. Trong nhiệm kỳ này, để kịp thời thể  
chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng và  
tiếp tục cụ thể hóa, đưa Hiến pháp năm 2013  
vào đời sống, Quốc hội đã ban hành nhiều  
văn bản quy phạm pháp luật, tạo cơ sở pháp  
lý cho xây dựng Nhà nước pháp quyền xã  
hội chủ nghĩa. Cụ thể, Quốc hội khóa XIV đã  
thông qua 73 luật, 02 pháp lệnh và 31 nghị  
quyết có chứa quy phạm pháp luật24.  
Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập tư tưởng  
Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật là  
nền tảng, yêu cầu bắt buộc để xây dựng  
thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ  
nghĩa ở nước ta, góp phần thực hiện thành  
công mục tiêu đưa nước ta phát triển nhanh,  
bền vững. Trong bối cảnh hiện nay, vận  
dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoạt động  
lập pháp không chỉ nhằm xây dựng pháp  
luật đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn mà pháp  
luật cần phải có tầm nhìn, có chiến lược để  
dẫn dắt, định hướng thực tiễn. Trong thời  
gian tới, Quốc hội sẽ tiếp tục đẩy mạnh việc  
thực hiện học tập tư tưởng Hồ Chí Minh  
theo Chỉ thị số 05 và Kết luận số 01-KL/  
TW25 vào hoạt động lập pháp. Kết quả này  
sẽ góp phần chứng minh tính đúng đắn và  
hiện thực hóa các tư tưởng, quan điểm chỉ  
đạo về một số vấn đề lý luận và thực tiễn về  
chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ  
nghĩa xã hội ở Việt Nam trong Bài phát biểu  
quan trọng ngày 17/5/2021 của Tổng bí thư  
Nguyễn Phú Trọng26.  
Nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV (2016-  
2021) diễn ra cùng thời điểm với việc đẩy  
mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức,  
Theo đó, cùng với việc tham gia nghiên  
cứu, xây dựng và triển khai thực hiện Chiến  
lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước  
24 Báo cáo số 771/BC-UBTVQH14 ngày 22/3/2021 của UBTVQH.  
25 Ban hành ngày 7/5/2021 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016  
của Bộ Chính trị khóa XII “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”.  
26  
Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam,  
“Mꢃt sꢅ vꢊn đꢈ lꢗ luꢐn và thꢏc tiễn vꢈ chꢌ nghꢒa xꢘ hꢃi và con đưꢙng đi lên chꢌ nghꢒa xꢘ hꢃi ꢀ Viꢄt Nam” tại  
duong-di-len-chu-nghia-xa-hoi-o-viet-nam-646305/.  
Số 13(437) - T7/2021  
11  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
Thứ hai, xây dựng và hoàn thiện pháp  
luật về tổ chức bộ máy nhà nước của Nhân  
dân, do Nhân dân và vì Nhân dân: Tập  
trung xây dựng cơ sở pháp lý để xác định rõ  
hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và  
quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong  
việc thực hiện các quyền lập pháp, hành  
pháp, tư pháp trên cơ sở các nguyên tắc  
pháp quyền; bảo đảm quyền lực nhà nước  
là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và  
kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong  
việc thực hiện quyền lực nhà nước. Thực  
hiện tốt chức năng của Nhà nước, giải quyết  
đúng đắn mối quan hệ giữa Nhà nước, thị  
trường và xã hội. Nhà nước tập trung quản  
lý vĩ mô, nâng cao chất lượng xây dựng thể  
chế, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch. Hoàn  
thiện hệ thống pháp luật để đẩy mạnh phân  
cấp, phân quyền, xây dựng nền hành chính  
nhà nước phục vụ Nhân dân, dân chủ, pháp  
quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch,  
vững mạnh, bảo đảm công khai, minh bạch,  
quản lý thống nhất, thông suốt, hiệu lực,  
hiệu quả. Thể chế hóa bằng luật để xây dựng  
và thực hiện phong cách làm việc khoa học,  
tập thể, dân chủ, trꢜng dân, gꢕn dân, hiꢆu  
dân, vì dân, bám sát thực tiễn, chịu khó học  
hỏi, nói đi đôi với làm.  
Trong đó, cần tiếp tục đổi mới tổ chức  
và hoạt động của Quốc hội, bảo đảm Quốc  
hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của  
Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao  
nhất. Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt  
động, tăng tính dân chủ, pháp quyền, chuyên  
nghiệp trong tổ chức và hoạt động của Quốc  
hội, trong thực hiện chức năng lập pháp,  
quyết định những vấn đề quan trọng của đất  
nước và giám sát tối cao. Hoàn thiện cơ chế  
giám sát, đánh giá đối với người giữ chức vụ  
do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc  
pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến  
năm 2030, định hướng đến năm 204527, cần  
nghiên cứu xây dựng hệ thống pháp luật  
đồng bộ, thống nhất, hiện đại, khả thi, công  
khai, minh bạch, ổn định, dễ tiếp cận, có sức  
cạnh tranh quốc tế, lấy quyền và lợi ích hợp  
pháp của người dân làm trung tâm, thúc đẩy  
đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát triển  
nhanh và bền vững; tập trung xây dựng, hoàn  
thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng  
xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp  
quyền xã hội chủ nghĩa; tôn trọng, bảo đảm,  
bảo vệ quyền con người, quyền công dân và  
hội nhập quốc tế. Hoạt động lập pháp của  
Quốc hội trong thời gian tới cần tập trung  
vào một số lĩnh vực quan trọng như sau:  
Thứ nhất, xây dựng và hoàn thiện pháp  
luật về chủ quyền, biên giới quốc gia: Tiếp  
tục hoàn thiện hệ thống pháp luật để kiên  
quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập,  
chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ,  
biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường  
hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.  
Tiếp tục luật hóa để làm cơ sở pháp lý thực  
hiện thành công các chiến lược như: Chiến  
lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc  
phòng, Chiến lược quân sự, Chiến lược bảo  
vệ an ninh quốc gia, Chiến lược bảo vệ biên  
giới quốc gia và Chiến lược bảo vệ Tổ quốc  
trên không gian mạng... Trong đó, chú ý  
đến việc xây dựng cơ sở pháp lý để bảo vệ  
chủ quyền quốc gia về vùng trời như khẳng  
định trang trọng ngay tại Điều 1 của Hiến  
pháp 201328. Nghiên cứu để hoàn thiện cơ  
sở pháp lý khẳng định và bảo vệ chủ quyền  
quốc gia trên không gian mạng. Tiếp tục  
khẳng định vai trò chủ thể, vị trí trung tâm  
của Nhân dân trong chiến lược phát triển  
đất nước, trong toàn bộ quá trình xây dựng,  
bảo vệ Tổ quốc.  
27 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiꢄn Đꢎi hꢃi đꢎi biꢆu toàn quꢅc lꢕn thꢛ XIII, Sđd, tập I, tr.177.  
28 Điều 1 Hiến pháp năm 2013 quy định “Nưꢓc Cꢃng hòa xꢘ hꢃi chꢌ nghꢒa Viꢄt Nam là mꢃt nưꢓc đꢃc lꢐp, có  
chꢌ quyꢈn, thꢅng nhꢊt và toàn vꢔn lꢘnh thổ, bao gꢁm đꢊt liꢈn, hꢋi đꢋo, vꢖng biꢆn và vꢖng trꢙi”.  
12  
Số 13(437) - T7/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
phê chuẩn. Thiết lập đồng bộ, gắn kết cơ chế  
giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân  
với kiểm tra, giám sát của Đảng, với giám  
sát, phản biện xã hôi của Mặt trận Tổ quốc,  
các tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân.  
Thứ ba, xây dựng và hoàn thiện pháp  
luật về quyền con người, quyền công dân:  
Hoàn thiện cơ sở pháp lý để thực hiện đúng  
đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại  
diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở. Xây dựng  
cơ chế pháp lý để hiện thực hóa nội dung  
mới được bổ sung tại Đại hội lần thứ XIII  
của Đảng là “dân giꢍm sꢍt, dân thꢑ hưꢀng”  
để thực hiện tốt, có hiệu quả phương châm  
“Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiꢆm tra,  
dân giꢍm sꢍt, dân thꢑ hưꢀng”. Xây dựng và  
hoàn thiện cơ chế giám sát của Nhân dân.  
Tạo cơ sở pháp lý để người dân trao quyền  
mà không mất quyền, các cơ quan nhà nước  
và cá nhân được trao quyền mà không tiếm  
quyền của dân; đây là vấn đề quyết định nhất  
bảo đảm quyền lực nhà nước thực sự thuộc  
về Nhân dân. Phát huy mạnh mẽ và đặt yêu  
cầu lắng nghe Nhân dân, phục vụ Nhân dân  
là yêu cầu tối cao trong hoạt động của Quốc  
hội, các cơ quan của Quốc hội và từng đại  
biểu Quốc hội nhằm hoàn thành trọng trách  
mà Nhân dân giao. Hoạt động lập pháp phải  
hướng đến mục tiêu con người, tức là giải  
phóng mọi tiềm năng của dân, chăm lo bồi  
dưỡng sức dân, phát triển sức dân lại phải  
tiết kiệm sức dân. Tiếp tục nghiên cứu, xây  
dựng các luật cụ thể hóa quyền con người,  
quyền công dân trong Hiến pháp năm 2013.  
Thứ tư, xây dựng và hoàn thiện pháp luật  
về phát triển bền vững kinh tế - xã hội - môi  
trường: Tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý  
để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa  
dựa trên nền tảng của khoa học, công nghệ và  
những thành tựu của Cách mạng công nghiệp  
lần thứ tư. Xây dựng pháp luật để phát huy đổi  
mới sáng tạo, tận dụng tối đa lợi ích và giảm  
thiểu tối đa rủi ro, hướng đến việc giải quyết  
hiệu quả hàng loạt các vấn đề đặt ra trong  
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư29. Xây  
dựng các “sandbox” về mô hình đầu tư kinh  
doanh mới; trong đó, có mô hình như kinh  
tế chia sẻ, kinh tế tuần hoàn, du lịch thông  
minh, fintech... Tiếp tục hoàn thiện thể chế về  
quy hoạch, kế hoạch phát triển vùng và bố trí  
nguồn lực nhằm phát huy lợi thế vùng, đơn vị  
hành chính - kinh tế đặc biệt. Hoàn thiện pháp  
luật để huy động, phân bổ và sử dụng hiệu  
quả đất đai, tài nguyên, bảo đảm công khai,  
minh bạch và khắc phục tình trạng tranh chấp,  
khiếu kiện, tham nhũng, lãng phí. Đẩy nhanh  
hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính  
sách bảo đảm đồng bộ, minh bạch các yếu tố  
thị trường để có khả năng vốn hóa các nguồn  
lực tài nguyên, phân bổ hợp lý và sử dụng có  
hiệu quả. Giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa  
phát triển kinh tế, bảo đảm công bằng xã hội  
với bảo vệ môi trường.  
Thứ năm, xây dựng và hoàn thiện  
pháp luật về hội nhập quốc tế: Hoàn thiện  
hệ thống pháp luật, làm cơ sở pháp lý cho  
việc chủ động hội nhập quốc tế với các lộ  
trình linh hoạt, phù hợp với điều kiện, mục  
tiêu của đất nước trong từng giai đoạn. Nội  
luật hóa đầy đủ và phù hợp những điều ước  
quốc tế và cam kết quốc tế mà Việt Nam  
là thành viên. Tích cực và có trách nhiệm  
trong việc tham gia các hoạt động xây  
dựng các điều ước quốc tế. Theo đó, cần  
chủ động chuyển từ việc tham gia các luật  
chơi định sẵn thành chủ thể thiết kế luật  
chơi trên trường quốc tế, từng bước đề xuất  
29 Như: Các vấn đề pháp lý đặt ra liên quan đến sự phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong các lĩnh vực  
của đời sống xã hội (như địa vị pháp lý của Robot, hoạt động của Robot, xe tự lái hoạt động trên đường…);  
vấn đề tài sản ảo, tiền kỹ thuật số; việc cân bằng giữa quyền khai thác tài nguyên dữ liệu và quyền bảo vệ bí  
mật đời tư của cá nhân...  
Số 13(437) - T7/2021  
13  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
các điều ước quốc tế từ thực tiễn Việt Nam.  
Để làm được điều này phải tăng cường đào  
tạo, bồi dưỡng cán bộ vừa am hiểu sâu về  
điều kiện trong nước vừa có kiến thức sâu  
về luật pháp quốc tế, nhất là về thương mại,  
đầu tư, lao động quốc tế; có khả năng làm  
việc trong môi trường quốc tế, tham gia giải  
quyết tranh chấp quốc tế.  
Tăng cường và đa dạng hóa hình thức tuyên  
truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và tư vấn,  
trợ giúp pháp lý để pháp luật được triển khai  
thực hiện trong cuộc sống. Thường xuyên  
tiến hành giám sát, đánh giá, tổng kết thi hành  
pháp luật, rà soát, hệ thống hóa văn bản pháp  
luật, kịp thời phát hiện và khắc phục những  
điểm bất cập, thiếu sót, mâu thuẫn, chồng  
chéo trong hệ thống pháp luật.  
Thứ sáu, quy trình lập pháp: Tiếp tục  
đổi mới quy trình lập pháp, mở rộng dân  
chủ trong xây dựng pháp luật để các quy  
định của luật có tính khả thi, phù hợp với  
thực tiễn, có căn cứ khoa học. Hoàn thiện  
cơ chế để bảo đảm tính phản biện, khách  
quan, bảo đảm đánh giá thực tiễn đầy đủ,  
lắng nghe ý kiến của Nhân dân, của đối  
tượng trực tiếp chịu sự tác động của dự án  
luật. Bảo đảm công khai, dân chủ trong việc  
tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của cá  
nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình xây  
dựng và thẩm tra luật. Đổi mới mạnh mẽ về  
cách thức, phương thức thẩm tra, lấy ý kiến  
của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của  
Quốc hội, tăng cường tham vấn, tham gia  
của các chuyên gia, nhà khoa học. Nghiên  
cứu xây dựng cơ chế pháp luật điều chỉnh  
hoạt động vận động chính sách, bảo đảm  
khách quan, minh bạch, có kiểm soát, giám  
sát chặt chẽ để góp phần hữu hiệu mở rộng  
dân chủ, đồng thời, chống lợi ích nhóm  
trong hoạt động lập pháp.  
Thứ bảy, tổ chức thi thành pháp luật:  
Gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng pháp luật với  
tổ chức thi hành pháp luật. Tiếp tục hoàn thiện  
cơ chế phối hợp giữa cơ quan ban hành pháp  
luật, cơ quan tổ chức thi hành pháp luật và cơ  
quan bảo vệ pháp luật. Tập trung nguồn lực  
và các điều kiện để thực hiện tốt các nhiệm  
vụ nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thi  
hành pháp luật, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi  
phạm pháp luật; cải cách thủ tục hành chính;  
kiện toàn tổ chức, tinh giảm hợp lý đầu mối,  
bỏ cấp trung gian trong thi hành pháp luật.  
Thứ tám, tuyên truyền, phổ biến, lan  
tỏa, phát huy tư tưởng, đạo đức, phong  
cách Hồ Chí Minh trong hoạt động lập  
pháp nói riêng, quá trình xây dựng Nhà  
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước  
ta nói chung: Tiếp tục nâng cao nhận thức  
cho các đại biểu Quốc hội, cán bộ, công  
chức làm công tác xây dựng pháp luật về  
nội dung, giá trị và ý nghĩa to lớn của tư  
tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh  
về hoạt động lập pháp; xác định tư tưởng  
Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác -  
Lênin là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam  
cho hoạt động lập pháp. Đổi mới mạnh mẽ  
nội dung, phương pháp, hình thức học tập,  
tuyên truyền về tư tưởng, đạo đức, phong  
cách Hồ Chí Minh về hoạt động lập pháp  
trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân.  
Đẩy mạnh việc phát hiện, bồi dưỡng, biểu  
dương, tuyên truyền, nhân rộng các tấm  
gương, điển hình tiên tiến trong học tập  
và làm theo Bác trong xây dựng pháp luật.  
Nâng cao chất lượng, hiệu quả việc nghiên  
cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác -  
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoạt  
động lập pháp đáp ứng yêu cầu của sự  
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong  
tình hình mới; góp phần nâng cao bản lĩnh  
chính trị, năng lực tư duy lý luận, năng lực  
tổng kết thực tiễn và xây dựng pháp luật để  
giải quyết hiệu quả những vấn đề đang đặt  
ra trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp  
quyền xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hội  
nhập quốc tế  
14  
Số 13(437) - T7/2021  
pdf 12 trang Thùy Anh 12520 Free
Bạn đang xem tài liệu "Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoạt động lập pháp góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfvan_dung_tu_tuong_ho_chi_minh_trong_hoat_dong_lap_phap_gop_p.pdf