Thu - Chi ngân sách nhà nước ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả

TẠPCHÍKHOAHỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG  
JOURNAL OF SCIENCE AND TECHNOLOGY  
HUNG VUONG UNIVERSITY  
Vol. 22, No. 1 (2021): 3-9  
Tập 22, Số 1 (2021): 3-9  
Email: tapchikhoahoc@hvu.edu.vn Website: www.hvu.edu.vn  
THU - CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM:  
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ  
Ngô Doãn Vịnh1*, Nguyễn Ngô Việt Hoàng2  
1Trường Đại học Hùng Vương, Phú Thọ  
2Học viện Chính sách và Phát triển, Hà Nội  
Ngày nhận bài: 01/01/2021; Ngày chỉnh sửa: 19/01/2021; Ngày duyệt đăng: 22/01/2021  
Tóm tắt  
ân đối thu - chi ngân sách nhà nước (NSNN) bao giờ cũng là vấn đề cực kỳ quan trọng đối với mỗi Chính  
C
phủ. Năm 2019, Việt Nam có nền kinh tế với quy mô còn tương đối nhỏ, GDP/người mới đạt khoảng 2.750  
USD. Quy mô thu ngân sách đang hạn hẹp nhưng nhu cầu chi thường xuyên và chi cho đầu tư phát triển hiện nay  
và trong nhiều năm nữa vẫn rất lớn. Trong thời gian vừa qua, thu - chi ngân sách đều ở trong tình trạng chưa có  
được sự cân đối cần thiết, bội chi NSNN vẫn ở mức khoảng 4,5% GDP và thực sự thu - chi ngân sách nhà nước  
đang bộc lộ nhiều bất cập. Trước tình hình như vậy, nhóm tác giả muốn trình bày một số vấn đề quan trọng về  
thực trạng thu - chi ngân sách nhà nước và đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm gia tăng hiệu quả thu - chi ngân  
sách nhà nước ở Việt Nam.  
Từ khóa: Thu - chi ngân sách nhà nước, phát triển kinh tế, hiệu quả.  
thu - chi ngân sách nhà nước ở Việt Nam,  
và kiến nghị những giải pháp chủ yếu để gia  
tăng hiệu quả thu - chi ngân sách nhà nước  
trong những năm tới.  
1. Đặt vấn đề  
Thu - chi ngân sách nhà nước luôn luôn  
có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc  
phát triển đất nước nói chung và quản lý phát  
triển nói riêng. Song ở Việt Nam trong lĩnh  
vực thu - chi ngân sách nhà nước đang bộc  
lộ nhiều bất cập, hiệu quả thu - chi ngân sách  
nhà nước còn có nhiều hạn chế. Trong những  
năm vừa qua, vấn đề thu - chi ngân sách nhà  
nước và hiệu quả thu - chi ngân sách nhà  
nước chưa được nghiên cứu thỏa đáng. Bài  
2. Một số vấn đề lý thuyết về thu -  
chi ngân sách nhà nước  
2.1. Thu ngân sách nhà nước và quan hệ  
của nó với phát triển kinh tế  
Theo lý thuyết và thực tiễn, nền tài chính  
viết này mong muốn trình bày rõ hơn một số quốc gia được cấu thành bởi 5 bộ phận cơ  
bản: (1) Tài chính nhà nước; (2) Tài chính  
doanh nghiệp; (3) Tài chính hộ gia đình và  
các tổ chức xã hội; (4) Tài chính của các tổ  
vấn đề lý thuyết chủ yếu về thu - chi và hiệu  
quả thu - chi ngân sách nhà nước, thực trạng  
3
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
Ngô Doãn Vịnh và Nguyễn Ngô Việt Hoàng  
chức tài chính trung gian (Tổ chức chứng chủ trương cải cách mở cửa gắn với thực  
hiện 4 hiện đại hóa và để làm việc này Trung  
Quốc đã thực thi chủ trương “thắt lưng buộc  
bụng”. Suốt những năm 1980-1990-2000  
quốc gia này đạt tỷ lệ đầu tư xã hội trên GDP  
khoảng 40-42%. Đến nay, Trung Quốc đã có  
nền kinh tế lớn thứ 2 trên thế giới, vượt Nhật  
Bản và chỉ đứng sau Mỹ. Quan sát quan hệ  
tiêu dùng và tích lũy ở lát cắt khác cũng thấy  
mối quan hệ chặt chẽ giữa tích lũy và tiêu  
dùng. Mức huy động GDP vào ngân sách tỷ  
lệ nghịch với mức gia tăng sản lượng của nền  
kinh tế. Nếu thu thuế, phí, lệ phí hay huy  
động GDP quá nhiều vào ngân sách nhà nước  
thì làm cho sản xuất không phát triển tức là  
làm cho quy mô GDP của quốc gia giảm đi.  
khoán, tổ chức cho vay tài chính...) và  
(5) Tài chính quốc tế (tài chính của người  
nước ngoài và của các Tổ chức quốc tế đóng  
tại Việt Nam). Cả lý thuyết và thực tiễn đều  
chỉ ra rằng, khi tài chính doanh nghiệp và tài  
chính hộ gia đình “khỏe” thì khả năng thu  
thuế của doanh nghiệp, thu thuế giá trị gia  
tăng (thông qua người dân đi mua sắm hàng  
hóa), thu thuế thu nhập cá nhân tăng lên. Sức  
mua của dân cư càng lớn người dân càng có  
điều kiện để chi cho việc mua sắm hàng hóa,  
đi lại, chữa bệnh, hưởng thụ văn hóa nghệ  
thuật... và do đó càng có khả năng đóng góp  
vào nguồn thu ngân sách nhà nước. Thực tế  
cho thấy thuế, phí, lệ phí chiếm tới khoảng  
84-85% thu ngân sách nhà nước. Do đó, thu  
nhập dân cư và tài chính hộ gia đình có vai  
trò cực kỳ quan trọng, có ý nghĩa to lớn đối  
với thu ngân sách nhà nước. Vì thế, làm thế  
nào để tăng cường hay “phình to” tài chính  
hộ gia đình và tài chính doanh nghiệp là vấn  
đề có ý nghĩa lớn đối với Chính phủ [1].  
Theo Luật Ngân sách nhà nước 2015 [2]  
và Nghị định số 163/2016/NQ-CP ngày  
21/12/2016 [3] về quy định chi tiết thi hành  
một số điều của Luật Ngân sách nhà nước đã  
ghi rõ nội dung thu ngân sách nhà nước (gồm  
14 khoản thu). Sự phát triển kinh tế và chính  
sách tiêu dùng cũng như chính sách tích lũy  
của Nhà nước có tác động lớn đến thu - chi  
ngân sách nhà nước (thu - chi NSNN). Nhà  
nước và doanh nghiệp cùng người dân phối  
hợp với nhau tìm ra những việc làm có thu  
nhập cao là vấn đề cực kỳ quan trọng nhằm  
gia tăng quy mô kinh tế quốc gia; từ đó có  
thể gia tăng huy động GDP vào ngân sách  
nhà nước. Đây là quan điểm có ý nghĩa quan  
trọng. Vì thế, vấn đề phát triển mạnh kinh tế  
hộ gia đình và gia tăng khả năng tài chính hộ  
gia đình có ý nghĩa lớn đối với việc gia tăng  
nguồn thu nhân sách nhà nước. Huy động  
GDP vào ngân sách càng lớn thì khả năng  
tích lũy để đầu tư phát triển càng nhiều và  
ngược lại. Năm 1978, Trung Quốc thực hiện  
Hình 1. Quan hệ giữa thu ngân sách và sản lượng  
kinh tế quốc gia  
Nguồn: [4]  
Ghi chú: NS: ngân sách; SX: sản xuất (hay GDP). Đường  
cong ở đồ thị trên là đường biểu diễn thu ngân sách nhà nước  
trong mối quan hệ với gia tăng quy mô kinh tế quốc gia.  
Nếu huy động GDP vào ngân sách đạt  
Max thì sản lượng của nền kinh tế đạt Min và  
ngược lại (Hình 1). Tức là không thể đạt Max  
cho cả thu ngân sách và cho sản lượng của  
nền kinh tế. Do đó, phải xác định mức huy  
động GDP vào ngân sách như thế nào cho  
hợp lý để sản lượng kinh tế đạt được mức  
cao cần thiết, tạo tiền đề hình thành nguồn  
4
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
Tập 22, Số 1 (2021): 3-9  
2.3. Cân đối thu - chi ngân sách nhà nước  
(cân đối ngân sách)  
thu cho giai đoạn sau đó. Vấn đề quan trọng  
là xác định được điểm “o” và duy trì điểm  
đạt được này trong bao lâu là phù hợp. Về  
nguyên tắc, hiệu quả thu NSNN được xem  
xét thông qua phân tích mức độ thu đúng, thu  
đủ, tỷ lệ thất thu và nợ đọng thuế, nhất là nợ  
không có khả năng thu hồi.  
Cân đối ngân sách nhà nước luôn luôn là  
vấn đề lớn, đó là một trong những chỉ số quan  
trọng phản ánh phát triển bền vững nền kinh  
tế quốc gia. Đối với Việt Nam, nền kinh tế  
có quy mô nhỏ nên nguồn vốn tích lũy từ nội  
bộ còn hạn chế. Chính phủ phải vay để cân  
đối ngân sách là vấn đề phải làm. Nợ công và  
trả nợ công là vấn đề không thể không tính  
tới khi bàn về cân đối ngân sách ở nước ta.  
Đối với một quốc gia có nền kinh tế còn nhỏ,  
GDP/người thấp thì đây cũng là vấn đề cần  
chú ý để có giải pháp giảm thiếu hụt ngân  
sách nhà nước.  
Trong kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XIV,  
Chính phủ cho biết nợ công vào cuối năm  
2019 của Việt Nam đã tới 56,1% GDP (giảm  
so mức 58,4% của năm 2018). Năm 2020  
nếu theo chủ trương nâng tỷ lệ nợ công thêm  
khoảng 2-3% GDP (theo kế hoạch vay, trả nợ  
công có thể vay nợ trong nước khoảng 394  
nghìn tỷ VNĐ và vay nước ngoài khoảng  
107 nghìn tỷ VNĐ) để có thêm nguồn lực  
hỗ trợ doanh nghiệp, người lao động trong  
bối cảnh thiệt hại lớn từ đại dịch COVID  
-19. Với mức nợ công như thế vẫn nằm trong  
ngưỡng an toàn.  
2.2. Chi ngân sách nhà nước  
Theo Luật Ngân sách và Nghị định 163 của  
Chính phủ về quy định chi tiết thi hành một số  
điều của Luật Ngân sách đã chỉ rõ 9 nội dung  
chi NSNN [2]. Trong đó, chi thường xuyên  
và chi đầu tư phát triển là những khoản chi  
quan trọng và ảnh hưởng có tính quyết định  
đến hiệu quả chi NSNN. Chi thường xuyên  
phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó số lượng  
công chức, viên chức và chế độ tiền lương cho  
khu vực công là yếu tố quan trọng. Hệ thống  
cơ quan, tổ chức thuộc khu vực Nhà nước từ  
trung ương đến địa phương cùng số lượng  
công chức, viên chức vừa đủ, có chất lượng  
cao sẽ góp phần làm chi NSNN có hiệu quả.  
Chi đầu tư phát triển hay còn gọi là đầu tư bằng  
nguồn vốn ngân sách nhà nước (ĐTNSNN) là  
khoản chi ngân sách có ý nghĩa quan trọng,  
thường chiếm khoảng 30% tổng chi ngân sách  
nhà nước. Hiệu quả của nó ảnh hướng lớn đến  
hiệu quả chi NSNN. Đầu tư bằng ngân sách  
nhà nước gồm 4 bộ phận chính: (1) Đầu tư  
xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật và mua sắm  
tài sản công (tài sản cho cơ quan nhà nước);  
(2) Đầu tư phát triển khoa học công nghệ;  
(3) Đầu tư đào tạo nhân lực cho khu vực công;  
(4) Đầu tư xây dựng và ban hành luật pháp,  
chính sách.  
3. Thực trạng thu - chi ngân sách  
nhà nước ở Việt Nam  
3.1. Khái quát tình hình phát triển kinh tế  
Việt Nam  
Thực tế cho thấy, trong giai đoạn 2011-  
2019 dân số tăng khoảng 1,15%/năm và  
GDP tăng khoảng 6,3% nên đời sống người  
dân được cải thiện tương đối rõ, năng suất  
lao động tăng khoảng 5,1%/năm. Năm 2019,  
GDP/người của Việt Nam mới bằng khoảng  
35% của Thái Lan, 22,5% của Malaysia, 4%  
của Singapore [5]. Điều đó cho thấy, khả năng  
tích lũy từ nội bộ nền kinh tế nước ta có hạn.  
Việc xem xét hiệu quả ĐTNSNN là cần  
thiết. Theo lý thuyết thì hiệu quả ĐTNSNN  
được phân tích thông qua một số chỉ tiêu chủ  
yếu sau đây: 1) Tỷ lệ đóng góp vào gia tăng  
GDP; 2) Tỷ lệ giải quyết việc làm cho người  
lao động; 3) Chỉ số lôi kéo vốn tư nhân;  
4) Tỷ lệ thất thoát và lãng phí vốn ngân sách  
nhà nước; 5) Tỷ lệ nợ đọng vốn và 6) Thời  
gian thi công kéo dài.  
5
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
Ngô Doãn Vịnh và Nguyễn Ngô Việt Hoàng  
Bảng 1. Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu của Việt Nam  
Tốc độ tăng b/q năm  
Chỉ tiêu  
Đơn vị  
2010  
2015  
2019  
2011-2019  
1. Dân số  
1.000 ng  
1.000 ng  
1.000 ng  
1.000 Tỷ đ  
1.000 Tỷ đ  
Tr.đ  
Tr.đ  
Tỷ USD  
%
86.947  
26.515  
50.393  
2.157,8  
2.157,8  
24,8  
24,8  
72,2  
20,4*  
91.709  
31.067  
53.984  
4.192,3  
2.875,8  
45,7  
31,4  
162,02  
9,8  
96.484  
33.816  
55.767  
6.037,3  
3.738,5  
62,6  
38,7  
264,2  
5,7  
1,15  
2,7  
1,13  
-
6,3  
-
Nhân khẩu thành thị  
2. Lao động từ 15 tuổi  
3. GDP, giá hiện hành  
GDP, giá 2010  
4. GDP/người, giá hiện hành  
5. Năng suất lao động, giá 2010  
6. Kim ngạch xuất khẩu  
7. Tỷ lệ hộ nghèo  
5,1  
Nguồn: [5]  
2010: Tỷ lệ hộ nghèo tiếp cận theo chuẩn của Chính phủ; 2015 và 2019 chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều  
Nền kinh tế có bước phát triển khá, độ mở 2015 và lên 13,6% năm 2019). Tỷ lệ thu từ cân  
kinh tế ngày càng lớn, các doanh nghiệp Việt đối hoạt động xuất nhập khẩu giảm liên tục (từ  
Nam tham gia vào các cuộc chơi kinh tế trên 21,7% năm 2010 xuống 16,6% năm 2015 và  
phạm vi thế giới càng nhiều hơn. Tỷ lệ hộ 13,8% năm 2019).  
nghèo giảm tương đối nhanh (Bảng 1).  
Ở góc độ khác, phân tích quan hệ giữa thu  
NSNN với cơ cấu doanh nghiệp và phân bố  
doanh nghiệp theo các tỉnh, thành phố trực thuộc  
Trung ương cho thấy nhiều vấn đề lý thú. Năm  
2019 [6], ở Việt Nam có 1.000 doanh nghiệp  
tiêu biểu nộp NSNN nhiều nhất và đóng góp  
tới 60,3% tổng thu ngân sách nhà nước. Riêng  
doanh nghiệp ở Tp. Hồ Chí Minh đóng góp  
34,1%; ở Tp. Hà Nội đóng góp 34,7%; ở Bình  
Dương đóng góp 3,9%; ở Đồng Nai đóng góp  
4,9%. Các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực công  
nghiệp chế biến, chế tạo đóng góp 33,3%. Nhìn  
vào những con số này có thể rút ra nhận định  
quan trọng rằng, trong những năm tới cần chú ý  
đúng mức đến việc phát triển doanh nghiệp ở hai  
thành phố lớn và ở các lĩnh vực vừa nói đến. Có  
như thế mới có thêm nguồn thu NSNN.  
Thực tế chỉ ra rằng, tỷ lệ thu NSNN so GDP  
sao cho hợp lý (vừa tăng thu NSNN vừa để nền  
kinh tế phát triển nhanh) là vấn đề phải tính  
đến. Theo nhóm nghiên cứu thì đối với Việt  
Nam, trong khi quy mô nền kinh tế còn nhỏ,  
thu nhập dân cư còn thấp nhưng Nhà nước cần  
có nhiều ngân sách để giải quyết những vấn đề  
kinh tế, xã hội cơ bản nhằm đảm bảo phát triển  
kinh tế - xã hội tốt nên tỷ lệ thu NSNN so với  
tổng GDP quốc gia nên giữ mức khoảng 24-  
26% là chấp nhận được.  
3.2. Thực trạng thu ngân sách nhà nước  
Số tuyệt đối thu ngân sách nhà nước tăng  
đều qua các năm nhưng tỷ lệ thu ngân sách nhà  
nước so GDP thì có xu hướng giảm (giảm từ  
khoảng 27,8% năm 2010 xuống 24,3% năm  
2015 và 25,7% năm 2019) [5]. Trong giai đoạn  
2011-2019, tỷ lệ thu ngân sách nhà nước ở mức  
trung bình khoảng 24,85% so GDP và nền kinh  
tế vẫn có mức tăng khoảng 6,3%/năm. Năm  
2020 do thiệt hại bởi đại dịch COVID-19 nên  
nền kinh tế Việt Nam rơi vào giảm sâu và chỉ  
đạt tốc độ tăng trưởng khoảng 2,9% (mặc dù  
các nước trong khu vực đều tăng trưởng âm).  
Theo đó, thu ngân sách cũng giảm mạnh song  
chi ngân sách nhà nước tăng lên do phải chi  
hỗ trợ doanh nghiệp duy trì sản xuất và hỗ trợ  
những người lao động và người dân gặp khó  
khăn vì đại dịch COVID-19.  
Cơ cấu thu ngân sách nhà nước thay đổi  
nhiều (Bảng 2). Trong tổng thu ngân sách nhà  
nước, thì thu trong nước chiếm từ 64,7% lên  
82,1%. Thu từ doanh nghiệp nhà nước giảm từ  
18,7% năm 2010 xuống 15,7% năm 2015 và  
xuống tiếp 10,6% năm 2019. Trong khi đó, tỷ  
lệ thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng  
liên tục (từ 10,8% năm 2010 lên 13,9% năm  
6
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
Tập 22, Số 1 (2021): 3-9  
Bảng 2. Một số chỉ tiêu về thu ngân sách nhà nước của Việt Nam  
Chỉ tiêu  
Tổng thu ngân sách nhà nước  
Tỷ lệ so GDP  
a. Thu trong nước  
% so tổng thu  
Thu từ doanh nghiệp nhà nước  
% so tổng thu  
Thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài  
% so tổng thu  
Phí, lệ phí  
b. Thu từ dầu mỏ  
Đơn vị  
103Tỷ đ  
%
2010  
599,9  
27,8  
388,6  
64,7  
112,1  
18,7  
64,9  
10,8  
22,6  
69,2  
130,4  
21,7  
2015  
1020,5  
24,3  
771,9  
75,6  
159,9  
15,7  
141  
13,9  
47,8  
67,5  
169,3  
16,6  
2019  
1.551,1  
25,7  
1.273,9  
82,1  
164,9  
10,6  
210,2  
13,6  
81,2  
56,2  
214,3  
13,8  
103Tỷ đ  
%
103Tỷ đ  
%
103Tỷ đ  
%
103Tỷ đ  
103Tỷ đ  
103Tỷ đ  
%
c. Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu  
% so tổng thu  
Nguồn: [5]  
3.3. Thực trạng chi ngân sách nhà nước  
tăng trưởng tiềm năng (vì đầu tư phát triển nhân  
lực và phát triển khoa học công nghệ mới tạo ra  
những yếu tố cho tăng trưởng lâu dài).  
Từ năm 2010 đến 2019, chi ngân sách luôn  
luôn cao hơn thu ngân sách nhà nước (Bảng 3).  
Từ mức 109,6% năm 2010 tăng lên 113,1% năm  
2019. Riêng năm 2015 chi ngân sách nhà nước  
bằng 125% thu ngân sách nhà nước. Nói cách  
khác, ở nước ta chi nhiều hơn thu. Chi thường  
xuyên bằng khoảng 62,8% đến 67,6% tổng thu  
ngân sách nhà nước. Ngân sách dành cho chi  
sự nghiệp giáo dục luôn tăng, từ khoảng 11,9%  
năm 2010 lên 14% năm 2019. Song chi cho sự  
nghiệp phát triển khoa học công nghệ còn thấp  
(chỉ khoảng 0,63% năm 2010 tăng lên 0,74%  
năm 2019). Nếu cứ chi ngân sách nhà nước như  
thời gian vừa qua thì không thể tạo ra nhân tố  
Việt Nam với hơn 2 triệu cán bộ công chức  
và 8 triệu người ăn lương, đứng đầu các nước  
ASEAN (ở Việt Nam cán bộ công chức viên  
chức chiếm khoảng 4,8% dân số; tương đương  
cứ 20 người dân có 1 công chức, viên chức  
hưởng lương). Vì thế, chi thường xuyên cho  
khoản lương là rất lớn (ở Thái Lan cán bộ công  
chức chiếm khoảng 4,6%, Singapore 2,4%,  
Indonesia 1,8%, Philippine 1,2% so tổng dân  
số) [7]. Năm 2018, lao động khu vực công của  
Việt Nam có khoảng 5,2 triệu người.  
Bảng 3. Một số chỉ tiêu về chi ngân sách nhà nước của Việt Nam  
Chỉ tiêu chi  
Tổng chi ngân sách nhà nước  
a. Chi đầu tư  
Đơn vị  
103Tỷ đ  
103Tỷ đ  
%
2010  
657,6  
252,7  
38,4  
376,6  
57,3  
2015  
1276,4  
401,7  
31,5  
788,5  
61,8  
177,4  
13,9  
9,392  
0,74  
2019  
1754,5  
438,4  
24,99  
1049,0  
59,8  
245,2  
14,0  
12,955  
0,74  
% so tổng chi ngân sách  
b. Chi phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội  
% so tổng chi  
- Chi sự nghiệp giáo dục và đào tạo  
% so tổng chi ngân sách  
- Chi sự nghiệp khoa học công nghệ  
% so tổng chi ngân sách  
Chỉ số chi so thu ngân sách nhà nước  
Nguồn: [5]  
103Tỷ đ  
%
103Tỷ đ  
%
103Tỷ đ  
%
78,2  
11,89  
4,144  
0,63  
%
109,6  
125,0  
113,1  
Chi NSNN cho đầu tư phát triển cũng bộc tương đối nhưng vẫn chiếm khoảng 1/3 tổng  
lộ nhiều bất cập (Bảng 4). Trong tổng vốn vốn thực hiện của khu vực kinh tế nhà nước.  
thực hiện của khu vực nhà nước, vốn vay Đó là mức khá cao. Nó đặt ra nhiều vấn đề  
chiếm tỷ trọng khoảng 29,5% (năm 2019). phải suy ngẫm.  
Tuy vốn vay có giảm cả số tuyệt đối và số  
7
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
Ngô Doãn Vịnh và Nguyễn Ngô Việt Hoàng  
Bảng 4. Vốn đầu tư thực hiện của khu vực kinh tế nhà nước ở Việt Nam, giá 2010  
Vốn NSNN  
Vốn vay  
Tỷ đ  
115.864  
153.622  
135.776  
Vốn DNNN và nguồn khác  
Tổng số  
Năm  
2010  
2015  
(Tỷ đ)  
316.285  
397.324  
460.942  
Tỷ đ  
%
%
Tỷ đ  
%
141.709  
178.350  
248.267  
44,8  
44,9  
53,9  
36,6  
38,7  
29,5  
58.712  
65.352  
76.899  
18,6  
16,4  
16,6  
2019  
Nguồn: [5]  
Đầu tư bằng nguồn vốn NSNN có hiệu nhưng với cố gắng nhóm tác giả đã tính toán  
quả chưa được như mong muốn và thậm chí mức đóng góp của ĐTNSNN vào phát triển  
có thể nói còn tương đối thấp. Tuy khó bóc kinh tế quốc gia và cho thấy mức độ đóng  
tách phần đóng góp thực tế của ĐTNSNN góp không lớn.  
Bảng 5. Một số chỉ tiêu hiệu quả đầu tư bằng vốn ngân sách nhà nước  
ở Việt Nam giai đoạn 2011-2019  
Chỉ tiêu  
Tỷ lệ đóng góp vào gia tăng GDP (%)  
Chỉ số lôi kéo vốn đầu tư tư nhân (lần hoặc đ)  
Tỷ lệ đóng góp vào đầu tư xã hội (%)  
Nguồn: [5]  
2011  
13,1  
3,62  
17,1  
2015  
12.6  
3,63  
2019  
13,6  
4,14  
16,7  
17,08  
Trong thời kỳ 2011-2019, chỉ số lôi kéo vốn sở hiện đại hóa, gia tăng nhanh chóng tỷ lệ các  
tư nhân còn hạn chế (tức là 1 đồng vốn đầu ngành phi nông nghiệp cùng với gia tăng các  
tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước mới lĩnh vực sử dụng công nghệ cao trong tất cả  
lôi kéo được 3,62 đồng vốn tư nhân năm 2011, các ngành và lĩnh vực gắn với tăng việc làm có  
3,63 đồng năm 2015 và 4,14 đồng năm 2019) thu nhập cao trên phạm vi cả nước. Nói cách  
(Bảng 5). Tỷ lệ đóng góp của ĐTNSNN vào khác, chuyển đổi số và kinh tế số phải được  
gia tăng GDP chỉ đạt khoảng 13 -13,6%; trong phát triển mạnh mẽ. Phấn đấu tốc độ tăng GDP  
khi đó tỷ lệ đóng góp vào tổng vốn đầu tư xã đạt trên mức khoảng 6,5-7%/năm và đi đôi với  
hội chiếm khoảng 17%. Điều này cho thấy hiệu tăng khả năng huy động GDP vào ngân sách  
quả ĐTNSNN còn hạn chế.  
nhà nước, để tỷ lệ thu ngân sách nhà nước bằng  
khoảng 23-24% GDP trong vài năm tới gắn với  
giảm chi cho đầu tư công (chỉ đầu tư những  
công trình mà tư nhân làm không hiệu quả  
bằng, gia tăng hình thức đầu tư PPP, sắp xếp  
lại đội ngũ công chức, viên chức để tinh gọn bộ  
máy...). Đồng thời, trong những năm tới Việt  
Nam vẫn nên thực hiện “chính sách thắt lưng  
buộc bụng” để gia tăng nguồn ngân sách chi  
thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã  
hội. Phát triển mạnh mẽ đội ngũ doanh nghiệp,  
trong đó phải có những doanh nghiệp lớn, tầm  
toàn cầu (phấn đấu có khoảng 10% doanh  
nghiệp thuộc loại lớn vào năm 2025). Phấn đấu  
cứ khoảng 60 người có 1 doanh nghiệp. Bên  
cạnh đó, các cấp, các ngành tháo gỡ khó khăn  
để doanh nghiệp làm ăn có lãi nhiều hơn.  
4. Kết luận và kiến nghị một số giải  
pháp gia tăng hiệu quả thu - chi  
ngân sách nhà nước trong những  
năm tới  
4.1. Kết luận  
Đổi mới thu - chi NSNN là việc làm cần  
thiết và cấp bách. Quản lý và điều hành thu -  
chi NSNN phải theo hướng quyết định mức  
thu nên và cần có lợi cho tăng trưởng kinh tế,  
khuyến khích doanh nghiệp phát triển và làm  
ăn có lãi. Chi NSNN nên và cần thực hiện  
chi đúng, tạo ra bước nhảy vọt về hiệu quả.  
Các tỉnh cũng nên theo hướng để tiến hành  
thu - chi NSNN trên địa bàn một cách hợp lý.  
4.2. Kiến nghị một số giải pháp  
- Tiếp tục gia tăng tốc độ tăng trưởng kinh  
tế, tăng mạnh quy mô kinh tế quốc gia trên cơ  
- Đổi mới chi ngân sách nhà nước. Phấn  
đấu dành ngân sách nhà nước chi cho đầu tư  
8
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
Tập 22, Số 1 (2021): 3-9  
phát triển ở mức chấp nhận được, tức khoảng Các địa phương cần có kế hoạch cân đối ngân  
dưới 30% tổng chi ngân sách nhà nước. Chi  
phát triển giáo dục đào tạo ở mức 17-20% và  
chi cho sự nghiệp phát triển khoa học khoảng  
1,8-2% tổng chi ngân sách nhà nước. Do thể  
chế kinh tế quyết định sự thành bại của nền  
kinh tế nên phải dành ngân sách thỏa đáng  
cho việc nghiên cứu xây dựng luật pháp,  
chính sách. Gia tăng hiệu quả chi ngân sách  
nhà nước có ý nghĩa quan trọng đặc biệt.  
sách trong thời gian sớm nhất có thể.  
Tài liệu tham khảo  
[1] DanronAcemoglu & JamesA. Robinson (2012).  
Tại sao các quốc gia thất bại - Nguồn gốc của  
quyền lực, thịnh vượng, và nghèo đói. Nhà xuất  
bản Trẻ, TP. Hồ Chí Minh.  
[2] Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2015).  
Luật Ngân sách nhà nước (số 83/2015/QH13  
ngày 25/6/2015).  
- Nâng cao năng lực quản lý, điều hành  
phát triển kinh tế, thu - chi ngân sách nhà  
nước để Nhà nước giữ vai trò quyết định  
thịnh vượng, bứt tốc kinh tế quốc gia và gia  
tăng hiệu quả thu - chi ngân sách nhà nước.  
Đồng thời với hoàn thiện bộ máy, tinh gọn  
biên chế cần ban hành và tổ chức thực hiện  
thật tốt chính sách có lợi cho phát triển kinh  
tế cũng như có lợi cho doanh nghiệp làm  
ăn chân chính. Nâng cao chất lượng các kế  
hoạch thu - chi ngân sách nhà nước và tăng  
cường hiệu quả hoạt động thu - chi ngân sách  
nhà nước. Chống tham nhũng, lợi ích nhóm  
để giảm thiểu thất thoát, lãng phí vốn nhà  
nước. Đồng thời với hoàn thiện bộ máy phải  
nâng cao chất lượng cán bộ công chức, viên  
chức và tinh giản bộ máy, cùng tăng cường  
xây dựng chính phủ điện tử.  
[3] Chính phủ (2016). Nghị định số 163/2016/NĐ-  
CP, ngày 21/12/2016 quy định chi tiết một số  
điều của Luật Ngân sách nhà nước.  
[4] Ngô Doãn Vịnh (2008). Những vấn đề chủ yếu  
của kinh tế phát triển. Nhà xuất bản Chính trị  
Quốc gia, Hà Nội.  
[5] Tổng cục Thống kê (2019). Niêm giám Thống  
kê Việt Nam năm 2019. Nhà xuất bản Thống kê,  
Hà Nội.  
[6] Báo Hải quan online (2019). Lộ diện 1.000  
doanh nghiệp nộp thuế thu nhập doanh nghiệp  
lớn nhất năm 2018. Truy cập từ <https://  
haiquanonline.com.vn/lo-dien-1.000-doanh-  
nghiep-nop-thue-thu-nhap-doanh-nghiep-lon-  
nhat-nam-2018-113013.html>.  
[7] Báo điện tử VnExpress (2017). Việt Nam  
đông công chức, viên chức nhất Đông Nam  
nam-dong-cong-chuc-vien-chuc-nhat-dong-  
nam-a-3669338.html>.  
- Tăng cường phân cấp trong lĩnh vực thu  
- chi ngân sách nhà nước cho các địa phương.  
STATE BUDGET COLLECTION AND EXPENSES IN VIETNAM:  
THE CURRENT SITUATION AND SOLUTIONS TO IMPROVE EFFICIENCY  
Ngo Doan Vinh1, Nguyen Ngo Viet Hoang2  
1Hung Vuong University, Phu Tho  
2Academy of Policy and Development, Hanoi  
Abstract  
alance of state budget revenues and expenditures is always an extremely important issue for each  
government. In 2019, Vietnam had a relatively small economy, per capita was about 2,750 USD. The scale  
B
of budget revenue is limited but the need for recurrent and development investment at present and for many  
years to come is still very large. In recent years, state budget revenues and expenditures have been in a state of  
not having the necessary balance, state budget deficit remains at about 4.5% of GDP and actually state budget  
revenues and expenditures still reveal inadequacies. Facing such situation, the authors want to present some  
important issues about the state of state budget revenue and expenditure and propose the main solutions to  
increase the efficiency of state budget revenues and expenditures in Vietnam.  
Keywords: State budget revenue and expenditure, economic development, efficiency.  
9
pdf 7 trang Thùy Anh 18680 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thu - Chi ngân sách nhà nước ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthu_chi_ngan_sach_nha_nuoc_o_viet_nam_thuc_trang_va_giai_pha.pdf