Thị trường bán lẻ ở Việt Nam trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018
THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ Ở VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG
CÔNG NGHIỆP 4.0
RETAIL MARKET IN VIETNAM IN THE CONTEXT OF THE NETWORK
INDUSTRY 4.0
PGS. TS. Đào Duy Huân
Trường Đại học Tài chính- Marketing (UFM)
ThS. Đào Duy Tùng
Học viện Hoàng Gia Phát triển Thái Lan (NIDA)
Email: [email protected]
Tóm tắt
Theo thống kê của Bộ Công Thương, dự kiến, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
năm 2018 sẽ đạt khoảng 4.269 - 4.288 nghìn tỷ đồng, tăng 10 - 10,5% so với năm 2017. Những năm qua, các
doanh nghiệp bán lẻ bước đầu đã áp dụng công nghệ mới vào: ứng dụng mua sắm trực tuyến; phần mềm bán
hàng; ap dụng việc xây dựng các KPIs; tiếp thị điện tử (e-marketing); và thanh toán thông minh. Việc áp dụng
công nghệ mới đã giúp các doanh nghiệp bán lẻ gia tăng đáng kể năng lực cạnh tranh trong kinh doanh, góp
phần nâng tầm trải nghiệm mua sắm của khách hàng.
Tuy nhiên, thị trường bán lẻ bộc lộ hạn chế: cạnh tranh chưa cân bằng, chi phí mặt bằng cao, nguồn
nhân lực chưa đủ kiến thức, kỹ năng quản trị chưa cao. Tất cả điều này cho thấy, thị trường bán lẻ Việt Nam
chưa thể tiếp cận được với cuộc cách mạng 4.0. Có 5 nhân tố sẽ làm thay đổi môi trường bán lẻ trong tương lai
như: hệ thống phân phối, mua bán và sát nhập, sự phát triển cửa hàng tiện lợi, các đối thủ trong nước và nhân
tố quan trọng nhất là môi trường trực tuyến và thương mại điện tử.
Từ khóa: Thị trường bán lẻ, thương mại, doanh nghiệp bán lẻ, siêu thị
Abstract
According to statistics of the Ministry of Industry and Trade, total retail market value of goods and
services pocedured in 2018 will expecting reach around VND 4,269 to 4,288 trillion, an increase 10% to 10,5%
over 2017. Over the past years, retail companies were applying technologies into including online shopping
apps, sales tools, development KPIs, e-marketing and smart payment. As a result, it leads retail companies
dramatically increase competitive advantage in business contributing to improve customers’ experiences in
retail stores. However, the retail market revealteed limitations namely unbalance competition, cost to rent
propoerty for a business, poor employee performance, management skills. All in all, Vietnam’s retail market has
not reached 4th industrial revolution. There are five factors, that will change retail environment in the future
namely distribution, M&A, development of convenience stores, domestic competitiors. Generally speaking, the
most important factor is online environment, e-commerce.
Keywords: commercial, retail market, retail companies, supermarket
1. Giới thiệu
Hoạt động bán lẻ có vai trò điều tiết hàng hóa từ nơi sản xuất tới người tiêu dùng. Nó điều tiết
hàng hóa ở tất cả các vùng miền từ thành phố, nông thôn, vùng sâu vùng xa bất kể nơi đâu có nhu cầu.
Hoạt động bán lẻ, đảm bảo cung cấp hàng hóa công bằng cho mọi người tiêu dùng trên khắp các vùng
của cả nước. Do vậy, hoạt động bán lẻ cũng có vai trò góp phần vào việc giảm khoảng cách giàu nghèo
giữa các khu vực. Khi hoạt động bán lẻ phát triển tức là hàng hóa phong phú và với nhiều nhà phân
phối cộng với sự cạnh tranh khốc liệt thì chắc chắn rằng người tiêu dùng sẽ nhận được hàng hóa, dịch
vụ tốt nhất với giá cả hợp lý nhất.
Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã mở ra nhiều cơ hội trong việc sử dụng công nghệ số để
phát triển bán lẻ ở Việt Nam trong tương lai. Bởi vì việc sử dụng công nghệ số để phát triển bán lẻ, sẽ
chứng minh được điểm mạnh hơn hẳn so với bán lẻ truyền thống. Vấn đề đặt ra hiện nay và tương lai,
219
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018
là ngành bán lẻ Việt Nam phải phát triển như thế nào để phù hợp với cách mạng 4.0; làm thế nào để
giành lấy thị phần tại Việt Nam, không để tiếp tục mất đi thị phần khi mà các nhà bán lẻ thế giới đang
ồ ạt vào Việt Nam. Với lý do trên, nghiên cứu được xác định: “lĩnh vực bán lẻ ở Việt Nam trong bối
cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0”. Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu là khái quát những điểm
mạnh – yếu trong thương mại bán lẻ hiện nay, trong mối quan hệ so sánh với yêu cầu, tác động của
cuộc cách mạng 4.0. Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp để phát triển thương mại bán lẻ ở Việt Nam
trong bối cảnh cuộc cách mạng 4.0 đang và sẽ tác động mạnh vào Việt Nam.
2. Tổng quan các nghiên cứu trước và các khoảng trống
2.1. Tổng quan các nghiên cứu trước
Phạm Hữu Thìn (2008), đã đưa ra nhiều cách tiếp cận về thương mại bán lẻ như: tiếp cận góc
độ kinh tế: bán lẻ là bán hàng hóa dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng làm thay đổi giá trị
hàng hóa từ hàng sang tiền nhằm mục đích thoả mãn tối đa nhu cầu khách hàng và thực hiện hiệu quả
trong quá trình bán hàng. Tiếp cận góc độ Khoa học kỹ thuật – Công nghệ: bán lẻ hàng hóa là một tổ
hợp các hoạt động công nghệ, dịch vụ phức tạp được tính từ khi hàng hóa được nhập vào doanh nghiệp
bán lẻ, hàng hóa được chuyển giao danh nghĩa cho người tiêu dùng cuối cùng, biến giá trị cá biệt của
hàng hóa thành giá trị xã hội, biến giá trị sử dụng tiềm năng thành giá trị thực hiện của hàng hóa. Tiếp
cận ở góc độ Marketing: hành vi bán lẻ là bộ phận kết thúc về cơ bản của quá trình Marketing, trong
đó các chức năng của người bán thường là một cửa hàng, một cơ sở dịch vụ và người mua, người tiêu
dùng chủ yếu được trao đổi hàng hóa và dịch vụ kinh tế nhằm mục đích cho người tiêu dùng trực tiếp
của cá nhân, gia đình hoặc nhóm tổ chức xã hội.
Theo tính chất, trình độ phát triển (hay chất lượng dịch vụ) của cơ sở bán lẻ, loại hình bán lẻ
được chia ra: loại hình cơ sở bán lẻ truyền thống, bao gồm các loại hình: chợ bán lẻ; cửa hàng tạp hóa,
thực phẩm truyền thống; cửa hàng chuyên doanh truyền thống. Loại hình cơ sở bán lẻ hiện đại, bao
gồm: cửa hàng tiện lợi; siêu thị các loại (chia ra siêu thị tổng hợp, trong đó có đại siêu thị); siêu thị
chuyên doanh (trong đó có siêu thị thực phẩm); cửa hàng chuyên doanh (hiện đại); cửa hàng bách hóa;
cửa hàng bán giá rẻ…
Các loại hình bán lẻ đều được phân loại thành 02 loại: bán lẻ qua cơ sở bán hàng, bán lẻ không
qua cơ sở bán hàng. Loại hình bán lẻ qua cơ sở bán hàng là loại hình bán hàng có không gian và địa
điểm cố định cần thiết để trưng bày và bán hàng, đồng thời khách hàng hoàn thành việc mua hàng chủ
yếu ở địa điểm này.
Đinh Văn Thành (2011), đã đánh giá tình hình xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển
thương mại của Việt Nam thời kỳ 2001-2010 và đề xuất một số nội dung chủ yếu cho xây dựng và
thực hiện chiến lược phát triển thương mại của Việt Nam thời kỳ 2011- 2020.
Đặng Đình Đào và Hoàng Đức Thân (2012) đã đưa ra những vấn đề cơ bản về thương mại
gồm: khái niệm, hệ thống thương mại trong nền kinh tế quốc dân; đặc tính, vai trò của thương mại
quốc gia; quy trình xây dựng chiến lược thương mại nói chung và bán lẻ nói riêng.
Đặng Đình Đào và Hoàng Đức Thân (2012) đã đưa ra những vấn đề cơ bản về thương mại
gồm: khái niệm, hệ thống thương mại trong nền kinh tế quốc dân; đặc tính, vai trò của thương mại
quốc gia; quy trình xây dựng chiến lược thương mại nói chung và bán lẻ nói riêng.
Nguyễn Xuân Thủy (2016) đã hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về thương mại điện tử cũng như
phát triển thương mại điện tử trong các doanh nghiệp bán lẻ. Làm nổi bật đặc điểm, vai trò, lợi ích và
thế mạnh của thương mại điện tử đối với quá trình phát triển kinh doanh của các doanh nghiệp bán lẻ
miền Trung. Chỉ rõ tiềm năng, thế mạnh của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, việc phát triển
thương mại điện tử được coi là giải pháp đột phá trong khai thác hiệu quả những tiềm năng, thế mạnh
đó; phân tích, đánh giá toàn diện thực trạng phát triển thương mại điện tử trong các doanh nghiệp
thương mại. Từ đó, nêu lên những kết quả đạt được, những mặt còn hạn chế, những nguyên nhân và
các vấn đề đặt ra cần được giải quyết trong phát triển thương mại điện tử. Vận dụng mô hình lý thuyết
220
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018
TOE (Technology - Organization - Environment) vào việc đi sâu nghiên cứu phát triển thương mại
điện tử trong các doanh nghiệp miền Trung.
Võ Thy Trang (2016), đã góp phần hệ thống hóa và làm rõ thêm những vấn đề lý luận và thực
tiễn về nghiên cứu đo lường thương mại nội ngành và xác định các yếu tố tác động đến thương mại nội
ngành hàng nông sản. Luận án đã phân tách thành thương mại nội ngành đối với hàng nông sản theo
chiều ngang và chiều dọc giữa Việt Nam và APEC và các yếu tố tác động đến thương mại nội ngành
theo cả chiều ngang và chiều dọc đến năm 2020.
Vũ Thị Lộc (2018), hệ thống hóa, làm rõ và bổ sung một số vấn đề lý luận về chiến lược phát
triển thương mại vùng kinh tế trọng điểm với những nội dung như: khái niệm, đặc điểm và vai trò của
chiến lược phát triển thương mại vùng kinh tế trọng điểm; nội dung của chiến lược phát triển thương
mại vùng kinh tế trọng điểm; nhân tố ảnh hưởng đến chiến lược phát triển thương mại vùng kinh tế
trọng điểm. Về thực tiễn, xác định cơ sở thực tiễn cho xây dựng chiến lược phát triển thương mại vùng
kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, bao gồm: đánh giá đúng thực trạng phát triển thương mại vùng kinh tế
trọng điểm Bắc Bộ giai đoạn 10 năm gần đây (2006 - 2015), đặc biệt là xác định những vấn đề thực
tiễn đặt ra đối với xây dựng xây dựng chiến lược phát triển thương mại vùng. Đề xuất nội dung chủ
yếu của chiến lược phát triển thương mại vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đến năm 2030, bao gồm:
quan điểm, mục tiêu, định hướng và giải pháp chiến lược phát triển thương mại của vùng đến năm
2030 nhằm thúc đẩy sự phát triển thương mại của vùng trên cơ sở định hướng phát triển và khai thác
có hiệu quả những tiềm năng, lợi thế so sánh trong phát triển thương mại của vùng, từ đó tiếp tục phát
huy vai trò đầu tàu phát triển, đóng góp vào sự phát triển của thương mại cả nước và các vùng kinh tế
lân cận
2.2. Khoảng trống khoa học cần tiếp tục được nghiên cứu
Như vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến thương mại nói chung và thương
mại bán lẻ nói riêng. Nhưng hầu hết các công trình này chỉ tập trung nghiên cứu về chiến lược phát
triển thương mại của cả nước, của vùng. Chưa có công trình nào nghiên cứu một các hệ thống về lĩnh
vực bán lẻ trong bối cảnh cuộc các mạng 4.0. Tuy vậy, các nghiên cứu trên sẽ là nguồn tài liệu quan
trọng để học hỏi và ứng dụng; thực hiện nghiên cứu này. Bên cạnh việc tiếp tục kế thừa những thành
tựu của các công trình nghiên cứu khoa học trước, khoảng trống lý luận cần tiếp tục nghiên cứu trong
chủ đề này như sau: lý luận về phát triển thương mại bán lẻ trong bối cảnh cách mạng 4.0 ở Việt Nam,
bao gồm: khái niệm, đặc điểm và vai trò của thương mại bán lẻ; nội dung của thương mại bán lẻ trong
cuộc cách mạng 4.0; nhân tố ảnh hưởng đến phát triển thương mại bán lẻ trong cách mạng 4.0. Khoảng
trống thực tiễn: xác định cơ sở thực tiễn cho xây dựng phát triển thương mại bán lẻ trong cách mạng
4.0. Đánh giá đúng thực trạng phát triển thương mại bán lẻ những năm qua; xác định được những vấn
đề thực tiễn đặt ra đối với phát triển thương mại bán lẻ cả nước. Đề xuất nội dung chủ yếu của phát
triển thương mại bán lẻ trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0.
3. Phương pháp sử dụng để thực hiện chủ đề nghiên cứu
Bài viết thực hiện thông qua phương pháp phân tích định tính, để phân tích, đánh giá thực trạng
phát triển thương mại bán lẻ từ năm 2016 đến năm 2017. Đồng thời, phương pháp này cũng được sử
dụng trong nghiên cứu, dự báo bối cảnh cách mạng 4.0 ảnh hưởng đến xây dựng mục tiêu và chiến
lược phát triển thương mại bán lẽ trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0.
Phương pháp so sánh được sử dụng để nghiên cứu tổng quan cơ sở lý luận về phát triển
thương mại bán lẻ; nghiên cứu và dự báo bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 tác động đến sự phát
triển thương mại bán lẻ ở Việt Nam.
Phương pháp tổng hợp, thống kê và phân tích kinh tế được sử dụng để: tổng hợp và thống kê
các số liệu về thương mại bán lẻ Việt Nam, tổng hợp và phân tích bối cảnh cách mạng 4.0 có ảnh
hưởng đến xây dựng và thực thi chiến lược phát triển thương mại bán lẻ.
221
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018
Phươ
ng pháp thảo luận nhóm chuyên sâu gồm 05 giảng viên của trường đại học Tài chính –
Marketing gồm 03 giảng viên khoa thương mại, 02 giảng viên khoa quản trị kinh doanh. Nội dung
thảo luận gồm 02 vấn đề lớn: thứ nhất đánh giá những điểm mạnh và điểm yếu, nguyên nhân yếu của
thương mại bán lẻ ở Việt Nam những năm qua; thứ 2, giải pháp để phát triển thương mại bán lẻ ở Việt
Nam trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.
4. Kết quả nghiên cứu đạt được
4.1. Đánh giá được những điểm mạnh của lĩnh vực bán lẻ ở Việt Nam những năm qua
Theo thống kê của Bộ Công Thương, giai đoạn 2011- 2017, mức tăng bình quân của tổng mức
bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng là 10%/năm, đạt 3.568,1 nghìn tỷ đồng vào năm 2016
và đạt 3.234,2 nghìn tỷ đồng vào năm 2017. Dự kiến, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ
tiêu dùng năm 2018 sẽ đạt khoảng 4.269 - 4.288 nghìn tỷ đồng, tăng 10 - 10,5% so với năm 2017.
Tính đến hết năm 2017, cả nước có 8.539 chợ, trong đó gần 75% là chợ nông thôn. Hiện cả
nước có 957 siêu thị tại 62 tỉnh, thành phố (Hà Giang là tỉnh chưa có siêu thị) và 189 trung tâm thương
mại tại 51 tỉnh, thành phố.
Tổng hợp của Forbes Việt Nam cho thấy doanh thu bán lẻ Việt Nam chưa có năm nào sụt giảm,
từ 1990 đến nay mặc dù tốc độ tăng trưởng có xu hướng ổn định hơn từ 2010 trở lại đây.
Ngành bán lẻ ở khu vực thành thị trong năm vừa qua vẫn đang là động lực cho sự thay đổi
này. Mức sống tăng cùng với sự mở rộng của tầng lớp trung lưu và lối sống thành thị được cho là
nguyên nhân chính khiến bán lẻ trở thành một lĩnh vực tiềm năng.
Biểu đồ 1: Doanh thu bán lẻ Việt Nam 1991 - 2017 (Forbes Việt Nam tổng hợp từ Tổng cục thống kê)
Hàng loạt các thương hiệu thời trang quốc tế đã đổ bộ vào Việt Nam, đón đầu xu hướng tiêu
dùng của tầng lớp trung lưu tại đây. H&M, Zara, Seven Eleven, Uniqlo… đang dần kéo về Việt Nam
và tọa lạc ở các trung tâm thương mại lớn.
Vingroup cũng đã kịp mở trên 1.000 cửa hàng tiện lợi Vinmart+, len lỏi vào từng khu phố, con
ngõ ở các thành phố lớn, đang thay đổi thói quen mua hàng thiết yếu của người dân.
Thế giới di động, doanh nghiệp dẫn đầu trong lĩnh vực bán lẻ vừa thâu tóm đối thủ bán lẻ điện
máy Trần Anh trong một thương vụ trị giá trên 800 tỉ đồng, và lấn sân sang dược phẩm với vụ mua lại
nhà thuốc Phúc An Khang đổi tên thành AnKhang.com.
222
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018
Chính sách phát triển thị trường nội địa cân đối với đầu tư nước ngoài. Khuyến khích phát triển
thị trường nội địa là mảng phân phối nội địa. Hiện nay, các mạng phân phối đang thay các chợ truyền
thống, mặc dù mới chiếm 25% thị phần thương mại nội địa, nhưng xu hướng này nó sẽ phát triển rất
nhanh và nó sẽ tác động mạnh tới sản xuất, bởi vì các hệ thống phân phối, mạng phân phối sẽ là nơi
đặt hàng cho sản xuất.
Theo khảo sát hàng năm về chỉ số GRDI này của A.T. Kearney, năm 2017, Việt Nam chỉ đứng
sau các thị trường lớn là Ấn Độ, Trung Quốc, Malaysia, Thổ Nhĩ Kỳ và Các tiểu vương quốc Ảrập
thống nhất (UAE). Việt Nam đã vượt các thị trường đông dân như Indonesia (vị trí trứ 8), hay các
nước có thị trường bán lẻ tốt trong những năm qua như Thái Lan (thứ 30), Philippines (vị trí 18),
Kazakhstan (thứ 16), Saudi Arabia (thứ 11).
Thị trường bán lẻ ở Việt Nam cũng đang hấp dẫn trở lại đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Bởi
vì năm 2008,Việt Nam đã từng đứng đầu danh sách sự hấp dẫn thị trường bán lẽ đối với nhà đầu tư;
năm 2009 xếp vị trí thứ 6; năm 2010 xếp thứ 14 và năm 2011, xếp thứ 23; năm 2012, tuột khỏi danh
sách 30 thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất thế giới.
Năm 2017 và 6 tháng năm 2018, do môi trường kinh doanh hấp dẫn hơn, nên Việt Nam lọt vào
bảng xếp hạng và tăng bậc về chỉ số hấp dẫn của thị trường bán lẽ đối với các nhà bán lẻ nước ngoài.
Cụ thể, theo A.T. Kearney, Chính phủ đã cho phép 100% quyền sở hữu của các nhà bán lẻ nước ngoài
từ năm 2015 (thực tế là từ ngày 1-1-2009 Việt Nam đã cho phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn
nước ngoài trong lĩnh vực bán lẻ) và chính sách ưu đãi tiếp tục thu hút họ.
Thương mại điện tử trong nước cũng đóng góp đáng kể, với doanh số bán hàng dự kiến sẽ tăng
22%, chiếm 1,2% tổng số bán lẻ vào cuối năm 2017. Giảm giá trực tuyến và các chương trình khuyến
mãi đang thúc đẩy doanh số bán hàng.
Theo AT Kearney, mô hình cửa hàng tiện lợi và siêu thị nhỏ (mini-marts) là phân khúc phát
triển nhanh nhất. Circle K và FamilyMart đã bước vào thị trường trong năm 2009 và đang mở rộng
mạnh mẽ. FamilyMart dự kiến sẽ có hơn 800 cửa hàng vào năm 2020. 7-Eleven dự định mở cửa hàng
đầu tiên của Việt Nam vào năm 2018 theo hợp đồng nhượng quyền với Seven System Vietnam, với
mục tiêu mở 1.000 cửa hàng trong 10 năm tới.
Theo dữ liệu của Bộ Công thương, năm 2017, Lotte Mart có 13 cửa hàng bán lẽ tại Việt Nam,
dự kiến sẽ mở 60 cửa hàng bán lẽ vào năm 2020. Emart, nhà bán lẻ hàng đầu của xứ kim chi cũng đã
đưa vào hoạt động một trung tâm mua sắm trị giá 60 triệu đô la Mỹ tại TPHCM hay Takashimaya
(Nhật) đã mở một trung tâm mua sắm đầu tiên ở Việt Nam, rộng 15.000 mét vuông tại khu trung tâm
TPHCM... Bên cạnh đó, những nhà bán lẻ hiện hữu đang mở rộng chuỗi kinh doanh như Aeon,
Auchan, Central Group,...
Thị trường bán lẻ Việt Nam vẫn được nhà đầu tư nước ngoài, đánh giá còn rất nhiều tiềm năng
vì kênh phân phối bán lẻ hiện đại mới chiếm khoảng 25% tổng mức bán lẻ và phần lớn các siêu thị và
trung tâm thương mại chỉ tập trung tại các thành phố lớn. Chính vì thế, có thể nói thị phần bán lẻ hiện
đại Việt Nam còn nhiều cơ hội cho các nhà đầu tư bán lẽ.
4.2. Những hạn chế, điểm yếu của lĩnh vực bán lẻ
Các doanh nghiệp bán lẻ nội đang phải cạnh tranh khốc liệt với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài như Metro, Big C, Lotte, Parkson... Nhiều doanh nghiệp đã đưa ra các chiêu thức cạnh tranh không
lành mạnh như bán phá giá, lôi kéo nhân sự cao cấp, quảng cáo sai sự thật... để triệt hạ đối thủ
223
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018
Biểu đồ 2: Các tỷ lệ về hình thức cạnh tranh không lành tại trường bán lẽ Việt Nam năm 2017
Nguồn: Quang Minh research and consultant
Chi phí mở cửa hàng mới tại Việt Nam luôn được đánh giá là rất cao so với khả năng của
doanh nghiệp và cũng như các khu vực khác. Chi phí thuê địa điểm, nội thất trang trí cũng được xếp ở
mức cao.
Biểu đồ 3: Các tỷ lệ về chi phí mở cửa hàng mới tại Việt Nam, năm 2017
1: rất thấp; 5: rất cao – Theo báo cáo Bán lẻ hiện đại tại Việt Nam của Maruyama và Lê Việt Trung
Nguồn: Maruyama và Lê Việt Trung, Báo cáo Bán lẻ hiện đại tại Việt Nam
Theo thống kê, các doanh nghiệp bán lẻ chủ yếu đào tạo kỹ năng chung, chưa đào tạo chuyên
sâu phù hợp với đặc thù của từng loại hình bán lẻ.
224
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018
Biểu đồ 4: Các kỹ năng về lĩnh vực bán lẽ năm 2017
Nguồn: Maruyama và Lê Việt Trung, Báo cáo Bán lẻ hiện đại tại Việt Nam
Nhân viên chưa làm quen với hệ thống trao đổi dữ liệu cao cấp mà chủ yếu là điện thoại và hệ
thống máy tính phổ thông.
Biểu đồ 5: Các hệ thống trao đổi dữ liệu về thị trường bán lẽ năm 2017
Nguồn: Quang Minh research and consultant
1: Rất ít; 5: Rất nhiều – Theo báo cáo Bán lẻ hiện đại tại Việt Nam của Maruyama và Lê Việt Trung
Nhân sự phục vụ cho ngành bán lẻ chủ yếu vẫn là nhân viên tiếp thị, bán hàng. Những cán bộ
cao cấp xây dựng kế hoạch và chiến lược phát triển cho công ty vẫn còn rất thiếu.
225
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018
Biểu đồ 6: Hiện trạng Nhân sự phục vụ cho ngành bán lẻ năm 2017
Mức độ đáng giá: 1: Dồi dào; 5: Rất thiếu – Theo báo cáo Bán lẻ hiện đại tại Việt Nam của Maruyama và Lê
Việt Trung
Ngoài những hạn chế kể trên, doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam còn vướng phải nhiều khó khăn
về chính sách, khung pháp lý và tầm nhìn còn hạn chế, chưa kịp thích ứng với thị trường cạnh trạnh
hiện đại. Do đó các doanh nghiệp bán lẻ đang co cụm lại, bán bớt cổ phần hoặc rút bớt những điểm
không hiệu quả, xây dựng lại thương hiệu.
Ngoài ra, các doanh nghiệp bán lẽ nước ngoài đang gia tăng liên doanh liên kết để thâm nhập
và thâu tóm thị trường Việt Nam. Điển hình là hàng loạt doanh nghiệp bán lẻ của Hàn Quốc và Nhật
Bản thông qua hình thức liên doanh, liên kết đã mua từ 20-40% cổ phần của một số doanh nghiệp bán
lẻ hàng đầu của Việt Nam như Nguyễn Kim và Trần Anh, Fivimart hay Citimart. Các doanh nghiệp
bán lẽ Việt Nam, phải cạnh tranh khốc liệt với các đối thủ nước ngoài đang và sẽ vào kinh doanh tại
Việt Nam.
Viện kinh tế và phát triển Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành khảo sát 1000 DN bán lẽ trên
địa bàn, thì có hơn 70% doanh nghiệp bán lẻ còn thờ ơ với các Hiệp định thương mại tự do thế hệ
mới, ít quan tâm tìm hiểu đến các chính sách pháp luật để phản biện, góp ý cho chính phủ và cơ quan
soạn thảo.... Điều này dẫn đến các doanh nghiệp thiếu thông tin hội nhập, thị trường và khó định hình
chiến lược hướng đi mới cho mình
Thị trường bán lẽ Việt Nam, gặp khó không chỉ xuất phát từ các nhà kinh doanh bán lẻ còn
nhiều yếu kém, việc phân phối các sản phẩm nội địa - sản xuất trong nước gặp khó còn do chính các
nhà sản xuất trong nước chưa ý thức được tầm quan trọng của hệ thống phân phối, chưa quan tâm tới
vấn đề marketing, xây dựng thương hiệu để tạo ra lợi thế cạnh tranh
5. Các nhân tố tố ảnh hưởng đến sự phát triển thị trường bán lẻ Việt Nam trong bối cảnh cuộc
cách mạng công nghiệp 4.0
Thứ nhất, Việt Nam là quốc gia đông dân số với gần 100 triệu người, trong đó gần 70% ở độ tuổi
lao động, 34% sinh sống ở đô thị và GDP khoảng 2.385 USD/người năm 2018 (tăng 10% mỗi năm).
Chính nhờ tỉ lệ người trẻ cao đã tác động mạnh mẽ đến xu hướng phát triển của ngành bán lẻ, giúp thị
trường bán lẻ Việt Nam được đánh giá là một trong những thị trường có sức hấp dần vô cùng lớn.
226
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018
Thứ hai, Sự phát triển mạnh mẽ của mạng Internet, điện thoại di động, tivi thông minh và
truyền hình cáp ở Việt Nam đã góp phần thay đổi diện mạo của ngành bán lẻ và doanh nghiệp bán lẻ.
Theo ông Philippe Courbois – Giám đốc dịch vụ Khách hàng và Đổi Savills (2018) cho rằng, bên cạnh
sự chuyển mình của mô hình bán lẻ truyền thống, những đầu tư về công nghệ như ứng dụng (app),
điện thoại thông minh, thương mại điện tử, việc mua bán hàng hóa trở nên dễ dàng hơn rất nhiều. Sự
kết hợp gần đây của nhiều nhà bán lẻ truyền thống và các sàn thương mại điện tử cũng là một câu trả
lời cho việc thích ứng, thay đổi nhằm hướng đến một mô hình bán lẻ phù hợp với thời đại và người
tiêu dùng. Mạng Internet là chất keo nổi bật kết nối doanh nghiệp, thị trường với người tiêu dùng. Có
rất nhiều doanh nghiệp bán hàng thông qua cửa hàng đã vận hành song song hai mô hình bán hàng trực
tuyến (online) và trực tiếp (offline) một cách linh hoạt. Bên cạnh đó, công nghệ cũng đang tác động
ngày càng mạnh mẽ đến lĩnh vực bán lẻ. Kết quả nghiên cứu của công ty Nielsen vừa công bố cho
thấy, môi trường kinh doanh trực tuyến và thương mại điện tử là những nhân tố quan trọng nhất ảnh
hưởng đến sự thay đổi của môi trường bán lẻ. Và 50% lãnh đạo doanh nghiệp cũng tin rằng thương
mại điện tử sẽ đóng góp 30% hoặc có thể cao hơn nữa vào sự tăng trưởng của doanh nghiệp Việt Nam;
hơn 32% lãnh đạo nghĩ rằng thương mại điện tử sẽ mang lại cho họ hơn 20% trong tổng doanh thu của
hoạt động kinh doanh trong 5 năm tới.
Thứ ba, là sự tác động lớn của mạng xã hội facebook đến thị trường bán lẻ Việt Nam.
Facebook mới đây đã đưa ra một số thống kê về thói quen và hành vi sử dụng Facebook của người
Việt. Thống kê cho thấy tại Việt Nam, mỗi tháng có tới 30 triệu người dùng Facebook, trong đó có 27
triệu người sử dụng các thiết bị di động để truy cập. 5 giờ là thời gian trung bình một người dùng
Facebook Việt Nam dành ra mỗi ngày để lang thang trên mạng xã hội, gấp đôi thời gian được dành ra
mỗi ngày để xem tivi. Facebook cho biết những con số này cao hơn 13% so với mức độ sử dụng
Facebook trung bình của thế giới.
Ngành bán lẻ Việt Nam không thể tách rời các ứng dụng khoa học kỹ thuật đang nổi lên như
internet vạn vật, thực tế ảo, trí tuệ nhân tạo, robot, máy bay và xe không người lái… Những công nghệ
mới được giới thiệu tại APRCE 18 chắc chắn cũng sẽ được triển khai trong tương lai ở nhiều nước,
trong đó có Việt Nam như: công nghệ gương ảo, công nghệ facial recognition – công nghệ nhận dạng
khuôn mặt khách hàng, sau đó phân tích thói quen của khách hàng khi họ bước vào một siêu thị…
Giao hàng cực nhanh là một nhu cầu của người mua. Kết quả khảo sát trực tuyến 500 sinh viên
đang học từ năm thứ 2 đến năm thư 4 của khoa thương mại trường đại học Tài chính – Marketing về
thời gian giao hàng. Kết quả cho thấy có tới hơn 90% muốn được giao hàng trong vòng một ngày.
Điều này phù hợp với khảo sát Amazon và họ có chiến lược đơn hàng được giao cho người mua chỉ
vẻn vẹn 2 giờ và cho biết về việc giao hàng bằng vật thể bay không người lái chỉ trong vòng 30 phút.
Robot cũng sẽ được sử dụng cho ngành bán lẽ trong tương lai của ngành bán lẻ. Các robot sẽ
có nhiệm vụ phân loại đơn hàng và thực tế ở Mỹ cho thấy, chúng làm việc hiệu quả hơn sức người tới
70%. Bên cạnh đó, các robot hoặc thiết bị bay không người lái còn vận chuyển sản phẩm tới tay người
tiêu dùng theo đúng lộ trình và thời gian đã định.
Do sự tác động của cuộc cách mạng 4.0, vì vậy tương lai gồn ngành bán lẽ trên thế giới và ở
Việt Nam sẽ có loại Robot có thể nói được nhiều thứ tiếng và có thể hướng dẫn người tiêu dùng lựa
chọn hàng hóa, sử dụng Robot để vận chuyển sản phẩm hàng hóa, sử dụng Robot làm bảo vệ
Nghiên cứu của công ty Nielsen cũng chỉ ra rằng trong 5 nhân tố sẽ làm thay đổi môi trường
bán lẻ trong tương lai thì nhân tố quan trọng nhất là môi trường trực tuyến và thương mại điện tử.
227
Vi
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018
L
ỜÁT
2
N
Ế
N
T
H
ỢP
ỨA
Á
N
A
Biểu đồ 7: Năm nhân tố sẽ làm thay đổi môi trường bán lẻ trong tương lai
Nguồn: Nghiên cứu của công ty Nielsen
Thứ tư, là Thị trường bán lẻ trong nước đón nhận nhiều luồng đầu tư mới từ nước ngoài khi
ệt Nam cho phép thành lập các công ty bán lẻ 100% vốn đầu tư nước ngoài. Những cam kết về mở
cửa thị trường dịch vụ, đầu tư, phân phối được quy định trong các quy định của AEC. Bên cạnh đó,
việc Việt Nam đã và đang tham gia một loại các FTA song phương và đa phương cũng là một cú hích
lớn thu hút các nhà đầu tư nước ngoài rót vốn vào thị trường bán lẻ Việt Nam.
Thứ năm, là mua bán và sáp nhập các doanh nghiệp bán lẻ. Thị trường bán lẻ Việt Nam hiện
đang sôi động bởi các thương vụ mua bán, sáp nhập (M&A) lớn thu hút các nhà đầu tư trong nước và
nước ngoài. Hiện các kênh bán lẻ hiện đại của Việt Nam chỉ chiếm 25% thị phần, thấp hơn các nước
trong khu vực như Philipines với 33%, Thái Lan với 34%, Trung Quốc với 51%, Malaysia với 60% và
Singapore lên đến 90%. Dự kiến đến năm 2020, Việt Nam sẽ nâng tỉ lệ kênh bán lẻ hiện đại lên mức
45%. Vì vậy, thị trường bán lẻ Việt Nam chính là “mảnh đất màu mỡ” để đầu tư.
6. Giải pháp phát triển thị trường bán lẻ Việt Nam trong bối cảnh cuộc cách mạng 4.0
Một. Dịch vụ bán lẻ trong cách mạng công nghiệp 4.0 cũng cần được phát triển một cách
thông minh với hỗ trợ của công nghệ số. Ví dụ, điển hình như trước đây, dù trời mưa hay nắng, thì
phải đi mua sắm. Còn hiện nay và tương lai việc mua sắm được thực hiện một cách dễ dàng và nhanh
chóng thông qua các website, facebook, zalo. Tuy chưa có thống kê đầy đủ về tác động của mạng xã
hội đối với ngành bán lẻ nhưng không thể phủ nhận được mức lan tỏa, độ ảnh hưởng của chúng, nhất
là trong tương lai.
Hai. Đối với các doanh nghiệp bán lẻ, đây cũng là một cơ hội để có thể truyền thông, quảng bá
những thông tin lên mạng, lên website. Đưa những sản phẩm, dịch vụ chuẩn từ chất lượng đến giá cả
đến khách hàng. Mặt khác thông qua đó để tiếp nhận những thông tin về sự chưa hài lòng của khách
hàng ở mỗi khâu, mỗi dịch vụ khác nhau.
Ba. Ngoài sự hỗ trợ của Nhà nước đảm bảo công bằng, minh bạch trong kinh doanh, bản thân
mỗi doanh nghiệp bán lẻ cũng phải cố gắng vươn lên, khắc phục hiệu quả các điểm yếu về chiến lược
kinh doanh, về vốn, công nghệ, quản trị doanh nghiệp, nguồn nhân lực, thiếu tính liên kết trong mua,
bán hàng hóa. Sự phát triển nhanh chóng về công nghệ số, thương mại điện tử, xu thế tiêu dùng mới và
hình thức mua sắm trực tuyến… sẽ tác động trực tiếp đến ngành bán lẻ Việt Nam trong thời gian tới
228
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018
như: giải pháp bán lẻ online trong thời gian thực; thách thức từ Me age ; đầu tư, tư vấn tiêu dùng cho
cộng đồng và hỗ trợ khách hàng; mô hình mua hàng không cần thanh toán tại chỗ…
Bốn. Các doanh nghiệp bán lẻ, Phát triển nhanh hơn thương mại điện tử, để tiến tới đạt mục
tiêu chi phối phần lớn thị trường bán lẻ Việt Nam. Theo Hiệp hội Thương mại điện tử, tốc độ của loại
hình bán lẻ này có thể đạt 30-50%/năm và dự báo đến năm 2020 doanh thu của thương mại điện tử sẽ
đạt mốc 10 tỷ USD. Việc phổ cập internet, kỹ thuật số và công nghệ di động đã tạo điều kiện để
thương mại điện tử cất cánh, tạo cơ hội tốt hơn cho sự phát triển ngành dịch vụ bán lẻ trong tương lai.
Các doanh nghiệp bán lẻ, cần có chiến lược trong việc ứng dụng khoa học kỹ thuật đang nổi lên như
internet vạn vật, thực tế ảo, trí tuệ nhân tạo, robot, máy bay và xe không người lái, công nghệ gương
ảo, công nghệ facial recognition – công nghệ nhận dạng khuôn mặt khách hàng, sau đó phân tích thói
quen của khách hàng khi họ bước vào một siêu thị nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh…
Năm. Các doanh nghiệp bán lẻ tiếp tục nâng cao giá trị chất lượng dịch vụ tổng thể cho khác
hàng, thay vì giảm giá như trước. Sự thay đổi mang tính chiến lược này hoàn toàn hợp với xu thế hiện
nay, khi mà nhu cầu về việc được phục vụ của khách hàng càng ngày càng phát triển. Các trung tâm
chăm sóc khách hàng, tổng đài điện thoại chăm sóc khách hàng phải được đầu tư một cách chuyên
nghiệp, chế độ hậu mãi và bảo hành dài hạn/tại nhà cũng được áp dụng triệt để. Bằng những cuộc trao
đổi qua điện thoại ngắn gọn, chuyên nghiệp cũng như giải đáp được đúng thắc mắc, hỗ trợ bảo hành kĩ
thuật chính xác hoặc đơn giản hơn như gọi điện mời dự tiệc tri ân, chúc mừng sinh nhật những khách
mua hàng.
Sáu. Các chương trình chăm sóc khách hàng và thẻ quà tặng cũng được áp dụng đa dạng, như
một hình thức thu hút khách hàng. Thay vì tung ra loại thẻ chỉ sử dụng hạn chế, các doanh nghiệp bán
lẻ sẽ giới thiệu các loại thẻ, cho phép khách hàng tiêu điểm thưởng tại nhiều cửa hàng khác trong cùng
hệ thống sử dụng chung loại thẻ. Điều này đồng nghĩa với việc, chủ thẻ có thể dùng điểm tích lũy để
mua xăng ở Direct Energy hay trả hóa đơn điện thoại của AT&T… Có nhiều cách để nhà bán lẻ có thể
thay đổi và vươn xa hơn, nhưng điều quan trọng là nhà bán lẻ phải chuẩn bị cho sự thay đổi. Điều này
vượt ra khỏi phạm vi của một dự án. Vấn đề là cần thay đổi chiến lược cho các hoạt động bán lẻ. Vì
vậy, các nhà bán lẻ nên làm rõ chiến lược kinh doanh của mình và thành lập đội ngũ chuyên tạo ra
những cải tiến. Thay đổi nên tiến hành từ bên trong ra bên ngoài, từ trên xuống dưới, nhưng quan trọng
là phải học hỏi từ bên ngoài và thúc đẩy nhân viên đóng vai trò lớn hơn.
Bảy. Các doanh nghiệp bán lẽ tiếp tục phát triển máy bán hàng tự động để đưa sản phẩm tiếp
cận người tiêu dùng. Nền công nghiệp 4.0 được áp dụng vào hệ thống máy bán hàng tự động Toro sẽ
đem lại giải pháp tối ưu cho các nhà sản xuất.Thông qua những chiếc máy hoạt động 24/7, tiết kiệm
chi chí về lạo động, không tốn quá nhiều thời gian để thanh toán, sức chứa từ 300-600 mặt hàng, thích
hợp ở những nơi có dân số đông, giá bất động sản đắt đỏ. Mọi giao dịch mua bán đều được ghi nhận và
phân tích thông qua hệ thống thông minh của Toro rất rõ ràng và dễ kiếm soát. Không cần phải là một
chuyên gia có nhiều kinh nghiệm, bất cứ nhà đầu tư nghiêm túc nào cũng có thể kiếm được lợi nhuận
từ nó.
Tám. Các doanh nghiệp bán lẻ đang hoạt động trong một thế giới công nghệ. Hầu hết các nhân
viên trẻ tuổi có thể học hỏi và làm việc nhanh hơn các đồng nghiệp lớn tuổi, nhưng đó không phải là lý
do khiến các nhà bán lẻ nên tập trung. Thay vì kiểm soát hoặc đưa ra nhiều hướng đi hoặc giữ một số
tư duy cũ về tuổi tác, giới tính, cấp bậc... các nhà quản lý cần tạo cơ hội cho tất cả nhân viên, trao
quyền cho họ làm những việc mới và sẵn sàng để họ phải đối mặt với những sai lầm mà không lo sợ bị
trừng phạt.Nhà quản lý nên thiết kế nơi làm việc thành một không gian hiện đại, thân thiện, phù hợp xu
hướng để có thể mang đến sự hài lòng và tăng tính sáng tạo của nhân viên. Nên cung cấp cho nhân
viên cơ hội để học hỏi, thực hành và làm việc hiệu quả. Nhà quản lý cũng cần ghi nhận, tưởng thưởng
và tạo cơ hội cho các nhân viên làm việc nhóm. Vấn đề ở đây không phải là cách thức kiểm soát hoặc
quản lý từ nhà bán lẻ mà là về sự trao quyền và tin tưởng vào nhân viên. Nên để nhân viên được đảm
229
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018
nhận vai trò nhiều hơn cùng với những hướng dẫn hữu ích từ cấp trên và cơ hội được tỏa sáng. Hãy để
họ làm, giống như họ sẽ "dẫn dắt lãnh đạo".
7. Kết luận:
Bán lẻ trong cách mạng 4.0 là mô hình kinh doanh mới hướng sự tập trung vào hành vi khách
hàng, đặc biệt là trải nghiệm mua sắm của họ. Các nhà bán lẻ đang phải đối mặt với thách thức, nhưng
cũng có thể tận dụng các cơ hội qua sự phát triển nhanh chóng của công nghệ mới và trí tuệ nhân tạo
(AI). Công nghệ và khách hàng đang trở thành hai yếu tố chính, thúc đẩy các nhà bán lẻ hiện tại phải
thay đổi (và cả sự cạnh tranh với các nhà bán lẻ trực tuyến). Vì vậy, các doanh nghiệp bán lẻ sẽ tổ chức
vận hành tốt 2 yếu tố trên. Trong bài này, muốn chia sẻ một số thay đổi và sự khác biệt trong hoạt
động bán lẻ trong bổi cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.
Các hoạt động của người bán hàng truyền thống sẽ tiến hóa đến quản lý điều khiển công nghệ
trí tuệ nhân tạo bán hàng. Vấn đề là robot chỉ có thể thay thế con người trong các hoạt động mà con
người giao được cho nó. Còn những yếu tố quan trọng như tâm lý, tình cảm, các biểu hiện cảm xúc để
lấy lòng khách hàng hay cảm nhận mong muốn của khách hàng v.v... sẽ vẫn còn là vấn đề thách thức
đối với công nghệ robot tương lai. Do vậy, tất cả những điều này đòi hỏi mỗi ai dấn thân vào nghề bán
hàng, cần học cách quan sát và nhận biết mình để sáng tạo ra các phương thức mới ứng dụng công
nghệ thông minh một cách hiệu quả trong hoạt động bán hàng. Khó khăn của người vào nghề bán hàng
trong điều kiện của nên công nghiệp 4.0, có lẽ là làm sao thay đổi được chính mình để khám phá và
khai thác được những năng lực sáng tạo còn tiềm ẩn trong mình.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2017) “Rủi ro đối với ngành Bán lẻ Việt Nam trong bối cảnh
hội nhập TPP và các FTA – hiện trạng và các đề xuất chính sách”;
2. Hiệp hội AVR (2018), Cách mạng 4.0 tác động đến ngành bán lẻ, Kỷ yếu 10 năm đổi mới, sáng tạo và hội
nhập (2007-2017);
3. Phạm Đình Đoàn (2017), Ngành phân phối – bán lẻ Việt Nam: Thách thức và giải pháp phát triển, Tập đoàn
Phú Thái;
4. Đặng Thúy Hà (2017), Xu hướng tiêu dùng tương lai: Liệu chúng ta đã sẵn sàng để đón đầu, Nielsen Việt
Nam;
5. Hoàng Thọ Xuân, Lê Trịnh Minh Châu (2016), Báo cáo đề xuất dự thảo tiêu chuẩn phân loại các loại hình
bán buôn, bán lẻ ở Việt Nam, Bộ Công thương – Vụ thị trường trong nước.
6. Phạm Hữu Thìn (2008), “Tiêu chí xây dựng và đánh giá các loại hình tổ chức bán lẻ văn minh, hiện đại ở
Việt Nam”, Tạp chí Thương mại (số 34/2008 và số 35/2008).
7. Đào Xuân Khương (2016), Mô hình phân phối & bán lẻ - Giải pháp nào cho doanh nghiệp Việt, NXB Lao
động.
8. Đào Anh Tuân (2012), Quản lý nhà nước về Thương mại điện tử, Luận án tiến sĩ, Đại học kinh tế quốc dân
9. Nguyễn Xuân Thủy (2016), Nghiên cứu phát triển thương mại điện tử trong các doanh nghiệp dịch vụ vùng
kinh tế trọng điểm miền Trung, luận án Tiến sĩ, ĐH kinh tế quốc dân
10. Vũ Thanh Hương (2017), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU: tác động đối với thương mại hàng
hóa giữa hai bên và hàm ý cho Việt Nam,
11. Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (2017), Chỉ số Thương mại điện tử 2017
230
Bạn đang xem tài liệu "Thị trường bán lẻ ở Việt Nam trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
thi_truong_ban_le_o_viet_nam_trong_boi_canh_cuoc_cach_mang_c.pdf

