Tài liệu Phương pháp luận sáng tạo và đổi mới: Những điều muốn nói thêm (Phần 1)

“Cuộc đời của mỗi người là chuỗi các vấn đề cần giải quyết, chuỗi  
các quyết định cần phải ra. Mỗi người cần giải quyết tốt các vấn đề  
và ra các quyết định đúng”.  
“Cuộc đời của mỗi người là quá trình liên tục biến đổi thông tin  
thành tri thức và tri thức đã biết thành tri thức mới”.  
“Cuộc đời của mỗi người phải là chuỗi những sáng tạo và đổi  
mới hoàn toàn”.  
Phương pháp luận sáng tạo và đổi mới xây dựng và trang bị loại  
tư duy: “Nhìn xa, trông rộng, xem xét toàn diện, thấy và  
hành động giải quyết các mâu thuẫn để đưa các hệ liên  
quan phát triển theo các quy luật phát triển hệ thống”.  
LỜI NÓ I ĐẦ U CỦA BỘ SÁCH  
“SÁNG TẠO VÀ ĐỔI MỚI” (CREATIVITY  
AND INNOVATION)  
Phương pháp luận sáng tạo và đổi mới (viết tắt là PPLSTVĐM,  
tiếng Anh là Creativity and Innovation Methodologies) là phần ứng  
dụng của Khoa học về sáng tạo (Sáng tạo học, tên cổ điển –  
Heuristics, tên hiện đại – Creatology), gồm hệ thống các phương  
pháp và các kỹ năng cụ thể giúp nâng cao năng suất và hiệu quả, về  
lâu dài tiến tới điều khiển tư duy sáng tạo (quá trình suy nghĩ giải  
quyết vấn đề và ra quyết định) của người sử dụng.  
Suốt cuộc đời, mỗi người chúng ta dùng suy nghĩ rất nhiều, nếu  
không nói là hàng ngày. Từ việc trả lời những câu hỏi bình thường  
như “Hôm nay ăn gì? mặc gì? làm gì? mua gì? xem gì? đi đâu?...”  
đến làm các bài tập thầy, cô cho khi đi học; chọn ngành nghề đào tạo;  
lo sức khỏe, việc làm, thu nhập, hôn nhân, nhà ở; giải quyết các vấn  
đề nảy sinh trong công việc, trong quan hệ xã hội, gia đình, nuôi dạy  
con cái..., tất tần tật đều đòi hỏi phải suy nghĩ và chắc rằng ai cũng  
muốn mình suy nghĩ tốt, ra những quyết định đúng để “đời là bể  
khổ” trở thành “bể sướng”.  
Chúng ta tuy được đào tạo và làm những nghề khác nhau nhưng  
có lẽ có một nghề chung, giữ nguyên suốt cuộc đời, cần cho tất cả  
mọi người. Đó là “nghề” suy nghĩ và hành động giải quyết các vấn đề  
gặp phải trong suốt cuộc đời nhằm thỏa mãn các nhu cầu chính đáng  
của cá nhân mình, đồng thời thỏa mãn các nhu cầu để xã hội tồn tại  
và phát triển. Nhìn dưới góc độ này, PPLSTVĐM giúp trang bị loại  
nghề chung nói trên, bổ sung cho giáo dục, đào tạo hiện nay, chủ  
yếu, chỉ đào tạo các nhà chuyên môn. Nhà chuyên môn có thể giải  
quyết tốt các vấn đề chuyên môn nhưng nhiều khi không giải quyết  
tốt các vấn đề ngoài chuyên môn, do vậy, không thực sự hạnh phúc  
như ý.  
Các nghiên cứu cho thấy, phần lớn mọi người thường suy nghĩ  
một cách tự nhiên như đi lại, ăn uống, hít thở mà ít khi suy nghĩ về  
chính suy nghĩ của mình, xem nó hoạt động ra sao để cải tiến, làm  
suy nghĩ của mình trở nên tốt hơn, như người ta thường chú ý cải  
tiến các dụng cụ, máy móc dùng trong sinh hoạt và công việc. Cách  
suy nghĩ tự nhiên nói trên có năng suất, hiệu quả rất thấp và nhiều  
khi trả giá đắt cho các quyết định sai. Nói một cách nôm na, cách suy  
nghĩ tự nhiên ứng với việc lao động bằng xẻng thì PPLSTVĐM là  
máy xúc với năng suất và hiệu quả cao hơn nhiều. Nếu xem bộ não  
của mỗi người là máy tính tinh xảo – đỉnh cao tiến hóa và phát triển  
của tự nhiên thì phần mềm (cách suy nghĩ) tự nhiên đi kèm với nó  
chỉ khai thác một phần rất nhỏ tiềm năng của bộ não. PPLSTVĐM là  
phần mềm tiên tiến giúp máy tính – bộ não hoạt động tốt hơn nhiều.  
Nếu như cần “học ăn, học nói, học gói, học mở” thì “học suy nghĩ”  
cũng cần thiết cho tất cả mọi người.  
PPLSTVĐM dạy và học được như các môn học truyền thống:  
Toán, lý, hóa, sinh, tin học, quản trị kinh doanh... Trên thế giới,  
nhiều trường và công ty đã bắt đầu từ lâu và đang làm điều đó một  
cách bình thường. Dưới đây là vài thông tin về PPLSTVĐM trên thế  
giới và ở nước ta.  
Từ những năm 1950, ở Mỹ và Liên Xô đã có những lớp học dạy  
thử nghiệm PPLSTVĐM. Dưới ảnh hưởng của A.F. Osborn, phó chủ  
tịch công ty quảng cáo BBD & O và là tác giả của phương pháp não  
công (Brainstorming) nổi tiếng, Trung tâm nghiên cứu sáng tạo  
(Center for Studies in Creativity) được thành lập năm 1967 tại Đại  
học Buffalo, bang New York. Năm 1974, Trung tâm nói trên bắt đầu  
đào tạo cử nhân khoa học và năm 1975 – thạc sỹ khoa học về sáng  
tạo và đổi mới (BS, MS in Creativity and Innovation).  
Ở Liên Xô, G.S. Altshuller, nhà sáng chế, nhà văn viết truyện khoa  
học viễn tưởng và là tác giả của Lý thuyết giải các bài toán sáng chế  
(viết tắt theo tiếng Nga và chuyển sang ký tự Latinh – TRIZ) cộng tác  
với “Hiệp hội toàn liên bang các nhà sáng chế và hợp lý hóa” (VOIR)  
thành lập Phòng thí nghiệm các phương pháp sáng chế năm 1968 và  
Học viện công cộng về sáng tạo sáng chế (Public Institute of  
Inventive Creativity) năm 1971. Người viết, lúc đó đang học ngành  
vật lý bán dẫn thực nghiệm tại Liên Xô, có may mắn học thêm được  
khóa đầu tiên của Học viện sáng tạo nói trên, dưới sự hướng dẫn  
trực tiếp của thầy G.S. Altshuller.  
Chịu ấn tượng rất sâu sắc do những ích lợi PPLSTVĐM đem lại  
cho cá nhân mình, bản thân lại mong muốn chia sẻ những gì học  
được với mọi người, cùng với sự khuyến khích của thầy G.S.  
Altshuller, năm 1977 người viết đã tổ chức dạy dưới dạng ngoại khóa  
cho sinh viên các khoa tự nhiên thuộc Đại học tổng hợp TpHCM  
(nay là Trường đại học khoa học tự nhiên, Đại học quốc gia  
TpHCM). Những khóa PPLSTVĐM tiếp theo là kết quả của sự cộng  
tác giữa người viết và Câu lạc bộ thanh niên (nay là Nhà văn hóa  
thanh niên TpHCM), Ủy ban khoa học và kỹ thuật TpHCM (nay là Sở  
khoa học và công nghệ TpHCM)... Năm 1991, được sự chấp thuận  
của lãnh đạo Đại học tổng hợp TpHCM, Trung tâm Sáng tạo Khoa  
học – kỹ thuật (TSK) hoạt động theo nguyên tắc tự trang trải ra đời  
và trở thành cơ sở chính thức đầu tiên ở nước ta giảng dạy, đào tạo  
và nghiên cứu PPLSTVĐM.  
Đến nay đã có vài chục ngàn người với nghề nghiệp khác nhau  
thuộc mọi thành phần kinh tế, xã hội, từ Hà Nội đến Cà Mau tham  
dự các khóa học từng phần hoặc đầy đủ chương trình 120 tiết của  
TSK dành đào tạo những người sử dụng PPLSTVĐM.  
TSK cũng tích cực tham gia các hoạt động quốc tế như công bố  
các công trình nghiên cứu khoa học dưới dạng các báo cáo, báo cáo  
chính (keynotes) tại các hội nghị, các bài báo đăng trong các tạp chí  
chuyên ngành và giảng dạy PPLSTVĐM cho các cán bộ quản lý, giảng  
dạy, nghiên cứu ở nước ngoài theo lời mời.  
Năm 2000, tại Mỹ, nhà xuất bản Kendall/Hunt Publishing  
Company xuất bản quyển sách “F acilitative Leadership: Making a  
Difference with Creative Problem Solving” (Tạm dịch là “Lãnh đạo  
hỗ trợ: Tạo sự khác biệt nhờ giải quyết vấn đề một cách sáng tạo”)  
do tiến sỹ Scott G. Isaksen làm chủ biên. Ở các trang 219, 220, dưới  
tiêu đề Các tổ chức sáng tạo (Creativity Organiz ations) có đăng  
danh sách đại biểu các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực sáng tạo và  
đổi mới trên thế giới. Trong 17 tổ chức được nêu tên, TSK là tổ chức  
duy nhất ở châu Á.  
Bộ sách “Sáng tạo và đổi mới” gồm những quyển sách trình bày  
tương đối chi tiết và hệ thống dựa theo giáo trình môn học dành đào  
tạo những người sử dụng PPLSTVĐM, được các giảng viên của  
Trung tâm Sáng tạo Khoa học – kỹ thuật (TSK) dạy ở nước ta trong  
các lớp do TSK mở và theo lời mời của các cơ quan, trường học, tổ  
chức, công ty. Những quyển sách này được biên soạn nhằm phục vụ  
đông đảo bạn đọc muốn tìm hiểu môn học PPLSTVĐM trong khi  
chưa có điều kiện đến lớp học và các cựu học viên muốn có thêm các  
tài liệu giúp nhớ lại để áp dụng các kiến thức đã học tốt hơn.  
PPLSTVĐM, tương tự như các môn học đòi hỏi thực hành và  
luyện tập nhiều như thể thao chẳng hạn, rất cần sự tương tác trực  
tiếp giữa các huấn luyện viên và học viên mà đọc sách không thôi  
chắc chắn còn chưa đủ. Tuy đây không phải là những quyển sách tự  
học để sử dụng PPLSTVĐM, lại càng không phải để trở thành cán bộ  
giảng dạy, nghiên cứu, người viết không loại trừ, có những bạn đọc  
với các nỗ lực của riêng mình có thể rút ra và áp dụng thành công  
nhiều điều từ sách vào cuộc sống và công việc. Người viết cũng rất hy  
vọng có nhiều bạn đọc như vậy.  
Các quyển sách của bộ sách “Sáng tạo và đổi mới” không chỉ  
trình bày hệ thống các phương pháp và các kỹ năng cụ thể dùng để  
sáng tạo và đổi mới mà còn có những phần được biên soạn nhằm tác  
động tốt lên nhận thức, quan niệm, thái độ và xúc cảm của bạn đọc,  
là những yếu tố rất cần thiết thúc đẩy những hành động áp dụng  
PPLSTVĐM vào cuộc sống, công việc. Nói cách khác, PPLSTVĐM  
còn góp phần hình thành, xây dựng, củng cố và phát triển những  
phẩm chất của nhân cách sáng tạo ở người học.  
Dự kiến, bộ sách “Sáng tạo và đổi mới” sẽ gồm những quyển  
sách trình bày từ đơn giản đến phức tạp, từ những kiến thức cơ sở  
đến những kiến thức ứng dụng của PPLSTVĐM với các tên sách sau:  
1. Giới thiệu: Phương pháp luận sáng tạo và đổi mới.  
2. Thế giới bên trong con người sáng tạo.  
3. Tư duy lôgích, biện chứng và hệ thống.  
4. Các thủ thuật (nguyên tắc) sáng tạo cơ bản (1).  
5. Các thủ thuật (nguyên tắc) sáng tạo cơ bản (2).  
6. Các phương pháp sáng tạo.  
7. Các quy luật phát triển hệ thống.  
8. Hệ thống các chuẩn dùng để giải các bài toán sáng chế.  
9. Algôrit (Algorithm) giải các bài toán sáng chế (ARIZ).  
10. Phương pháp luận sáng tạo và đổi mới: Những điều muốn nói  
thêm.  
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, xã hội loài người trong quá trình  
phát triển trải qua bốn thời đại hay nền văn minh (làn sóng phát  
triển): Nông nghiệp, công nghiệp, thông tin và tri thức. Nền văn  
minh nông nghiệp chấm dứt thời kỳ săn bắn, hái lượm, du cư bằng  
việc định cư, trồng trọt và chăn nuôi, sử dụng các công cụ lao động  
còn thủ công. Nền văn minh công nghiệp cho thấy, mọi người lao  
động bằng các máy móc hoạt động bằng năng lượng ngoài cơ bắp,  
giúp tăng sức mạnh và nối dài đôi tay của con người. Ở thời đại  
thông tin, máy tính, các mạng lưới thông tin giúp tăng sức mạnh, nối  
dài các bộ phận thu, phát thông tin trên cơ thể người như các giác  
quan, tiếng nói, chữ viết... và một số hoạt động lôgích của bộ não.  
Nhờ công nghệ thông tin, thông tin trở nên truyền, biến đổi nhanh,  
nhiều, lưu trữ gọn, truy cập dễ dàng. Tuy nhiên, trừ loại thông tin có  
ích lợi thấy ngay đối với người nhận tin, các loại thông tin khác vẫn  
phải cần bộ não của người nhận tin xử lý, biến đổi để trở thành  
thông tin có ý nghĩa và ích lợi (tri thức) cho người có thông tin. Nếu  
người có thông tin không làm được điều này trong thời đại bùng nổ  
thông tin thì có thể trở thành bội thực thông tin nhưng đói tri thức,  
thậm chí ngộ độc vì nhiễu thông tin và chết đuối trong đại dương  
thông tin mà không khai thác được gì từ đại dương giàu có đó. Thời  
đại tri thức mà thực chất là thời đại sáng tạo và đổi mới, ở đó đông  
đảo quần chúng sử dụng PPLSTVĐM được dạy và học đại trà để biến  
thông tin thành tri thức với các ích lợi toàn diện, không chỉ riêng về  
mặt kinh tế. Nói cách khác, PPLSTVĐM là hệ thống các công cụ dùng  
để biến đổi thông tin thành tri thức, tri thức đã biết thành tri thức  
mới.  
Rất tiếc, ở nước ta hiện nay chưa chính thức đào tạo các cán bộ  
giảng dạy, nghiên cứu Sáng tạo học và PPLSTVĐM với các bằng cấp  
tương ứng: Cử nhân, thạc sỹ và tiến sỹ như một số nước tiên tiến  
trên thế giới. Người viết tin rằng sớm hay muộn, những người có  
trách nhiệm quyết định sẽ phải để tâm đến vấn đề này và “sớm” chắc  
chắn tốt hơn “muộn”. Hy vọng rằng, PPLSTVĐM nói riêng, Sáng tạo  
học nói chung sẽ có chỗ đứng xứng đáng, trước hết, trong chương  
trình giáo dục và đào tạo của nước ta trong tương lai không xa.  
Người viết gởi lời cảm ơn chung đến các đồng nghiệp trong nước  
và quốc tế, các cựu học viên đã động viên, khuyến khích để bộ sách  
“Sáng tạo và đổi mới” ra đời. Người viết cũng chân thành cảm ơn sự  
cộng tác nhiệt tình của các cán bộ Trung tâm Sáng tạo Khoa học – kỹ  
thuật (TSK) thuộc Trường đại học khoa học tự nhiên, Đại học quốc  
gia TpHCM: Th.S. Trần Thế Hưởng, Th.S. Vương Huỳnh Minh Triết,  
Th.S. Lê Minh Sơn, anh Nguyễn Hoàng Tuấn, đặc biệt là Th.S. Lê  
Minh Sơn đã dành rất nhiều thời gian và công sức cho việc trình bày  
bộ sách này trên máy tính.  
Trung tâm Sáng tạo Khoa học – kỹ thuật (TSK)  
Trường đại học khoa học tự nhiên – Đại học quốc gia TpHCM  
227 Nguyễn Văn Cừ, Q.5, Tp.HCM  
ĐT: (848) 38301743 FAX: (848) 38350096  
E-mail: pdung@ hcmus.edu.vn  
Phan Dũng  
VỀ NỘI DUNG CỦA  
“PHƯƠNG PHÁP LUẬN SÁNG TẠO VÀ ĐỔI  
MỚI: NH NG ĐIỀU MUỐN N I THÊM”  
Q UYỂ N MƯỜI:  
Ữ
Ó
Chín quyển sách trước của bộ sách “Sáng tạo và đổi mới” đã tập  
trung trình bày khá chi tiết các nội dung chính của lĩnh vực phương  
pháp luận sáng tạo và đổi mới (PPLSTVĐM), bao gồm trình độ cơ  
bản – sơ cấp (xem từ quyển một đến quyển bảy) và nâng cao – trung  
cấp (xem quyển tám và quyển chín).  
Như tên gọi, quyển mười là những điều người viết muốn nói  
thêm liên quan đến PPLSTVĐM. Những điều muốn nói thêm có rất  
nhiều, người viết không thể nói hết, do vậy, trên thực tế, quyển mười  
chỉ dành nói về cuộc đời và số phận của môn học, môn khoa học  
PPLSTVĐM ở Việt Nam.  
Toàn bộ quyển mười là chương thứ mười bảy của bộ sách “Sáng  
tạo và đổi mới” và được chia thành ba mục lớn. Mục thứ nhất (17.1)  
trình bày quá trình du nhập, phổ biến và phát triển PPLSTVĐM ở  
Việt Nam với những kịch bản có thể có, trong đó, đặc biệt nhấn  
mạnh quá trình du nhập, phổ biến và phát triển PPLSTVĐM đã xảy  
ra trên thực tế hơn 30 năm qua ở Việt Nam.  
Mục 17.2 phản ánh trên báo chí Việt Nam những gì trình bày  
trong mục 17.1. Mục 17.2 bao gồm một số bài báo, bài trả lời phỏng  
vấn về khoa học sáng tạo, PPLSTVĐM, hoạt động của Trung tâm  
Sáng tạo Khoa học-kỹ thuật (TSK) đăng trên các báo chí. Những bài  
này đã được đăng trên các báo chí Trung ương như báo Nhân Dân,  
tạp chí Công Tác Khoa Giáo của Ban khoa giáo Trung ương Đảng,  
cũng như trên báo chí các loại của TP. Hồ Chí Minh, phản ánh khá cụ  
thể những gì đã làm được để du nhập, phổ biến và phát triển  
PPLSTVĐM ở Việt Nam.  
Mục 17.3 tập hợp một số bài báo, báo cáo hội nghị của người viết  
công bố ở nước ngoài, chủ yếu, theo lời mời của các ban biên tập tạp  
chí và ban tổ chức hội nghị. Tất cả các bài đều được viết bằng tiếng  
Anh. Điều đó, một mặt có thể gây trở ngại cho bạn đọc này nhưng lại  
giúp bạn đọc khác biết thêm các thuật ngữ PPLSTVĐM bằng tiếng  
Anh. Người viết hy vọng rằng, ngay cả bạn đọc hiện nay còn chưa  
giỏi tiếng Anh sẽ vượt qua trở ngại. Các bài trong mục 17.3 giới thiệu  
các hoạt động của PPSTVĐM ở Việt Nam ra thế giới, chia sẻ các kinh  
nghiệm với các đồng nghiệp quốc tế, phát triển tiếp về mặt chuyên  
môn một số ý của PPLSTVĐM.  
Quyển mười là quyển cuối cùng của bộ sách “Sáng tạo và đổi  
mới”. Nhân đây cho phép người viết chúc bạn đọc:  
- Chúc bạn đọc sức khỏe dồi dào vì làm gì cũng cần sức khỏe.  
- Chúc bạn đọc tiếp nhận môn học PPLSTVĐM một cách đầy đủ,  
ổn định và bền vững để trở nên siêu thoát môn học.  
- Chúc bạn đọc giải quyết thắng lợi mọi vấn đề gặp trong đời của  
mình để “đời là bể khổ” dần trở thành “đời là bể hạnh phúc”.  
- Có PPLSTVĐM là tốt, có may mắn lại còn tốt hơn. Chúc bạn đọc  
gặp nhiều may mắn.  
CHƯƠNG 17:  
PHƯƠNG PHÁP LUẬN SÁNG TẠO VÀ ĐỔI  
MỚI:  
NHỮ NG ĐIỀU MUỐN NÓ I THÊM  
17.1. DU NHẬP, PHỔ BIẾN VÀ PHÁT TRI  
PHƯƠNG PHÁP LUẬN SÁNG TẠO VÀ ĐỔI MỚI  
(PPLSTVĐM) Ở VI T NAM  
Ể N  
Ệ
17 .1.1. Mở đầu  
Báo “Tuổi Trẻ Cuối Tuần” số ra ngày 8/5/2011, trang 9, có trích  
đăng lời của thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo:  
“Đất nước chúng ta sẽ trở nên vô địch nếu 1,  
thể tư duy độc lập và sáng tạo”  
3 tỷ dân có  
Tuy không biết ngữ cảnh thực sự của câu nói, người chỉ đọc câu  
nói trên có thể hiểu nó như sau:  
- “Vô địch” nói đến ở đây chắc là vô địch nhiều mặt (nếu không nói  
là vô địch về mọi mặt) chứ không phải chỉ vô địch về GDP hoặc vô  
địch về thám hiểm vũ trụ…  
- “Vô địch” có lẽ là vô địch cỡ thế giới, chứ không phải vô địch cấp  
khu vực hoặc vô địch so với các nước đang phát triển…  
- “Đất nước chúng ta”, “1,3 tỷ dân” có nghĩa là toàn bộ đất nước,  
người dân Trung Quốc chứ không phải chỉ có Bắc Kinh, Thượng Hải,  
chỉ có các cán bộ quản lý, lãnh đạo cấp cao hoặc tầng lớp tri thức,  
hoặc tầng lớp doanh nhân hoặc giai cấp công nhân…  
- “Có thể tư duy độc lập và sáng tạo” là mong muốn, mục đích đề  
ra cần đạt.  
Tuy nhiên, chúng ta chưa biết Trung Quốc sẽ làm những gì và làm  
như thế nào để đạt mục đích. Chẳng hạn, chỉ dừng ở mức hô hào:  
“Mỗi người Trung Quốc hãy đổi mới tư duy để trở thành một người  
tư duy độc lập và sáng tạo”; áp dụng các biện pháp khuyến khích, kích  
thích, tạo các điều kiện thuận lợi về môi trường để làm xuất hiện  
thêm những người tư duy độc lập và sáng tạo; dạy và học PPLSTVĐM  
đại trà để có được tất cả công dân tư duy độc lập và sáng tạo… Rõ  
ràng, cách làm dạy và học PPLSTVĐM một cách đại trà là cách làm  
bài bản, căn cơ và ích lợi lâu dài nhất.  
- Câu nói trên không phải của người bình thường mà của người  
đứng đầu Chính phủ Trung Quốc cho thấy, những người lãnh đạo cấp  
cao nhất Trung Quốc đánh giá tuyệt đối cao vai trò của tư duy độc lập  
và sáng tạo của toàn bộ dân số quốc gia để phát triển đất nước trong  
thời đại kinh tế tri thức, xã hội tri thức có tính cạnh tranh và hợp tác  
cao.  
- Câu nói trên chắc là không chỉ đúng với Trung Quốc, mà còn có  
thể suy rộng ra một cách tương tự, đúng với các nước khác.  
Tuy nhiên, ở đây có chuyện thấy là như thế, biết là như thế nhưng  
không phải nước nào cũng có được những hành động, biện pháp,  
bước đi thích hợp để chắc chắn đạt mục đích. Nếu như cùng với câu  
nói của mình, thủ tướng Ôn Gia Bảo đã có sẵn kế hoạch quốc gia chi  
tiết và triển khai trên thực tế sao cho trong tương lai gần tất cả người  
Trung Quốc tư duy độc lập và sáng tạo thì chúng ta rất khâm phục và  
chân thành chúc Trung Quốc thành công.  
- Riêng đối với người viết, qua các thông tin, tài liệu, các hội nghị  
khoa học quốc tế về PPLSTVĐM và những vấn đề liên quan, người  
viết cho rằng, Trung Quốc hiện nay, chủ yếu, mới đang ở giai đoạn du  
nhập PPLSTVĐM từ Mỹ, Tây Âu, Nga, Nhật vào Trung Quốc. Trong  
các danh sách thống kê các trung tâm, tổ chức hoạt động chuyên về  
sáng tạo, PPLSTVĐM trên thế giới cho đến nay, người viết không  
thấy có trung tâm, tổ chức nào của Trung Quốc. Điều này có nghĩa, để  
đạt được mục đích đề ra trong câu nói của thủ tướng Ôn Gia Bảo,  
Trung Quốc còn nhiều việc phải làm lắm, đặc biệt là công việc đào tạo  
thế hệ thứ nhất những nhà chuyên môn có thể giảng dạy, nghiên cứu  
PPLSTVĐM và có khả năng đào tạo các nhà chuyên môn kế thừa.  
- Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo không phải là người đầu tiên  
nhận ra tầm quan trọng của việc tất cả mọi người trong một đất nước  
cần tư duy độc lập và sáng tạo.  
Người viết nhớ lại, tại “Hội nghị quốc tế lần thứ bảy về tư duy”  
(The International Conference on Thinking) diễn ra trong tháng  
6/1997 tại Singapore, Thủ tướng Singapore lúc đó Goh Chok Tong có  
đọc bài diễn văn dài 30 phút mở đầu Hội nghị. Trong bài diễn văn  
này, ông nhấn mạnh: “Chúng ta sẽ thực hiện sự thay đổi tư duy của  
người Singapore. Chúng ta cần từ bỏ ý tưởng cho rằng chỉ có những  
người lãnh đạo cấp cao nhất mới phải suy nghĩ, và công việc của tất  
cả những người khác là làm như được bảo. Thay vì thế, chúng ta  
muốn thực hiện tinh thần của đổi mới việc học bằng hành động, của  
tất cả mọi người ở mọi cấp bậc, luôn đặt câu hỏi làm thế nào anh  
hay chị có thể thực hiện công việc của mình tốt hơn” (We will bring  
about a mindset change among Singaporeans. We must get away from  
the idea that it is only the people at the top who should be thinking,  
and the job of everyone else is to do as told. Instead we want to bring  
about a spirit of innovation of learning by action, of everyone at all  
levels always asking how she or he can do her or his job better).  
17 .1.2. Du nhập phương pháp luận sáng tạo và đổi mới (PPLSTVĐM)  
vào Việt Nam  
Có sáu người Việt Nam tốt nghiệp Học viện công cộng sáng tạo  
sáng chế Azerbaigian, thành phố Baku, Liên Xô.  
Đấy là các anh Nguyễn Văn Chân, Nguyễn Văn Thông và tôi (khóa  
1971 - 1973), Dương Xuân Bảo, Thái Bá Cần và Nguyễn Văn Thọ  
(khóa 1973 - 1975).  
Nếu xét về nhiệm vụ chính trị được Đảng và Nhà nước giao cho:  
Anh Dương Xuân Bảo và tôi được phân công học vật lý, các anh  
Nguyễn Văn Chân, Nguyễn Văn Thông và Thái Bá Cần – học toán,  
anh Nguyễn Văn Thọ học địa chất tại Đại học tổng hợp quốc gia  
Azerbaigian chứ không phải học PPLSTVĐM. Việc học thêm Học viện  
công cộng sáng tạo sáng chế xuất phát từ ý thích, sự say mê cá nhân  
chứ không phải là nhiệm vụ bắt buộc. Do vậy, chúng tôi đã được nhắc  
nhở không xao nhãng nhiệm vụ chính trị. Rất may, chúng tôi đã hoàn  
thành tốt cả hai nhiệm vụ: Nhiệm vụ chính trị và nhiệm vụ tự đề ra.  
Ở Học viện công cộng sáng tạo sáng chế, chúng tôi được học lý  
thuyết giải các bài toán sáng chế (TRIZ), algôrit giải các bài toán sáng  
chế (ARIZ), hầu hết các phương pháp sáng tạo của phương Tây và  
nhiều môn học liên quan khác như patent học, lý thuyết thông tin, lý  
thuyết hệ thống, điều khiển học, lý thuyết ra quyết định, tâm lý học  
sáng tạo, môn học phát triển trí tưởng tượng sáng tạo.  
Học viện công cộng sáng tạo sáng chế không chỉ đào tạo các nhà  
sáng chế chuyên nghiệp sáng tạo có phương pháp, mà còn đào tạo các  
cán bộ giảng dạy, nghiên cứu PPLSTVĐM, các cán bộ tổ chức các  
hoạt động sáng tạo, sáng chế.  
Học viện nhận vào học những người đã tốt nghiệp đại học (phần  
lớn là các kỹ sư), đã có những thành tích sáng tạo. Cùng học với  
chúng tôi có những người có trong tay cả chục patent. Chúng tôi lúc  
đó chỉ là những sinh viên, được nhận vào học như những trường hợp  
thử nghiệm, ngoại lệ. Còn khi vào học thì không có sự phân biệt đối  
xử nào.  
Chúng tôi đã vô cùng may mắn được học trực tiếp thầy G.S.  
Altshuller. Sự may mắn thể hiện ở chỗ thầy G.S. Altshuller là tác giả  
TRIZ, có nghĩa, chúng tôi được học với người sáng lập ra một lý  
thuyết rất mạnh trong PPLSTVĐM. Nói cách khác, chúng tôi được  
học với sư tổ, học tận gốc. Dễ dầu gì có ai được học cơ học cổ điển  
với Newton, thuyết tương đối với Einstein, tin học với những người  
sáng lập ra ngành tin học… Một số trong chúng tôi sau khi học còn  
giữ liên lạc, được thầy Altshuller cung cấp các sách, tài liệu TRIZ mới  
nhất cho đến khi thầy Altshuller bị bệnh nặng, rồi qua đời năm 1998.  
Một may mắn nữa cần nhấn mạnh là, khi chúng tôi đi học thêm ở  
Học viện công cộng sáng tạo sáng chế, Liên Xô là nước xã hội chủ  
nghĩa và học không phải đóng học phí. Nếu bây giờ tôi mới đi học  
PPLSTVĐM thì cũng phải bó tay vì giá trung bình trên thế giới là vài  
trăm USD cho một người, một ngày học.  
Nếu xem du nhập một khoa học, một môn học vào một đất nước  
không đơn giản chỉ là nhập khẩu sách, tài liệu vào đất nước đó mà  
phải là du nhập kiến thức, kỹ năng của khoa học, môn học đó vào đầu  
và trở thành hành động của người bản xứ, thì thời điểm du nhập  
PPLSTVĐM vào Việt Nam được tính là năm 1973, khi nhóm ba người  
đầu tiên tốt nghiệp khóa một Học viện công cộng sáng tạo sáng chế.  
17 .1.3 . Phổ biến và phát triển phương pháp luận sáng tạo và đổi mới  
(PPLSTVĐM) ở Việt Nam: Các kịch bản  
Thông thường, sau giai đoạn du nhập một cái gì đó từ nước ngoài  
về, người ta thực hiện các giai đoạn tiếp theo là phổ biến và phát triển  
nó ở trong nước. Ví dụ, sau khi du nhập giống lúa mới, người ta tiến  
hành nhân giống, để khi có đủ số lượng thì phổ biến trồng đại trà,  
đồng thời, người ta cải tiến, hoàn thiện việc gieo trồng, chăm sóc, cao  
hơn nữa, cải tiến chính giống lúa nhập về. Không ai nhập thóc giống  
về để ăn.  
Có thể có một số “kịch bản” liên quan đến việc phổ biến và phát  
triển PPLSTVĐM ở Việt Nam.  
Kịch bản 1  
PPLSTVĐM được du nhập thông qua sáu người Việt Nam đi học ở  
Liên Xô về. Cả sáu người đều không có ý định phổ biến PPLSTVĐM ở  
Việt Nam mà chỉ dùng riêng cho mình. Điều này có thể hiểu được vì  
động cơ ban đầu đến với PPLSTVĐM là do sự ham thích, say mê của  
từng cá nhân.  
Thêm nữa, lúc này, không ai, kể cả các cán bộ quản lý, lãnh đạo  
khoa học, giáo dục Việt Nam đặt vấn đề và tạo điều kiện để sáu người  
phổ biến kiến thức, kỹ năng môn học PPLSTVĐM cho nhiều người  
biết.  
Nếu kịch bản này xảy ra thì có chuyện du nhập PPLSTVĐM nhưng  
không có chuyện phổ biến, lại càng không có chuyện phát triển  
PPLSTVĐM ở Việt Nam.  
Thực tế cho thấy, có anh Dương Xuân Bảo ở Hà Nội và tôi ở TP.  
Hồ Chí Minh có ý định phổ biến PPLSTVĐM và triển khai nó trong xã  
hội.  
Kịch bản 2  
Năm 1975, ba người tốt nghiệp khóa hai Học viện công cộng sáng  
tạo sáng chế về nước. Lúc này, tất cả sáu người đã học PPLSTVĐM  
đều có mặt ở Việt Nam.  
Một hôm, những người quản lý chúng tôi mời chúng tôi lên và  
nói:  
“Trong lý lịch các anh có viết, các anh học thêm Học viện công  
cộng sáng tạo sáng chế, ở đó dạy môn khoa học PPLSTVĐM. Vậy các  
anh có thể làm một hoặc vài seminar để chúng tôi biết nó  
(PPLSTVĐM) là cái gì không?”  
Được lời như cởi tấm lòng vì cả sáu người chúng tôi đều có ý định  
phổ biến, phát triển PPLSTVĐM ở Việt Nam. Chúng tôi tích cực  
chuẩn bị và các buổi seminar đã diễn ra một cách tốt đẹp.  
Sau các seminar một thời gian ngắn, chúng tôi được thông báo,  
các cơ quan có trách nhiệm thấy đây là khoa học cho tương lai nên  
quyết định đầu tư ở cấp nhà nước cho việc phổ biến và phát triển  
PPLSTVĐM ở nước ta.  
Công việc được triển khai, trước hết là nhân giống: Từ chúng tôi,  
đào tạo ra những người có khả năng giảng dạy và nghiên cứu  
PPLSTVĐM. Những người này sẽ là các thầy, cô giáo dạy môn  
PPLSTVĐM khi PPLSTVĐM được đưa vào trường học các cấp.  
Môn PPLSTVĐM đầu tiên sẽ đưa vào các trường đại học. Khi  
chuẩn bị đầy đủ người dạy, giáo trình phù hợp với kiến thức, độ tuổi,  
môn học PPLSTVĐM sẽ đưa xuống trung học phổ thông (cấp 3),  
trung học cơ sở (cấp 2), tiểu học (cấp 1), thậm chí đến mẫu giáo.  
Một cách lý tưởng, môn học PPLSTVĐM sẽ được dạy liên tục từ  
mẫu giáo đến hai năm đầu của đại học, mỗi năm học vài chục tiết, với  
các trò chơi (đối với mẫu giáo), các giáo trình phù hợp với từng bậc  
học (đối với tiểu học trở lên). Các trường đại học và cao đẳng thành  
lập các trung tâm PPLSTVĐM để những người đang đi làm hoặc quan  
tâm có thể đến học.  
Đến một lúc nào đó (tất nhiên phải rất lâu dài và cần hết sức kiên  
trì), PPLSTVĐM “phủ sóng” lên hết các người dân Việt Nam từ độ  
tuổi mẫu giáo trở lên. Đấy là những người biết tư duy sáng tạo có  
phương pháp khoa học, tư duy sáng tạo một cách có kỹ năng chứ  
không phải tư duy sáng tạo theo phương pháp tự nhiên thử và sai.  
Bạn đọc thử tưởng tượng, nếu mọi cái đi theo kịch bản này,  
PPLSTVĐM được đầu tư ngay từ năm 1975 đến nay (2011) thì 36 năm  
vừa qua PPLSTVĐM đã được phổ biến và phát triển đến đâu?  
Nhân đây, người viết nói về đầu tư cho PPLSTVĐM: Chi phí đầu  
tư cho PPLSTVĐM chỉ tương đương với đầu tư cho môn Ngữ văn –  
tiếng Việt trong trường học các cấp. Nói cách khác, chi phí đầu tư rất  
ít. Bởi vì, PPLSTVĐM không cần trang thiết bị, máy móc, hóa chất,  
nguyên vật liệu, năng lượng, thậm chí, không cần mỗi người học phải  
có một máy tính. Chưa kể, PPLSTVĐM không có chất thải gây ô  
nhiễm môi trường. Người đi học mang máy tính (bộ óc) của mình  
đến lớp học. Dạy và học PPLSTVĐM là nạp phần mềm tiên tiến nhất  
về tư duy sáng tạo vào máy tính (bộ óc) có sẵn, được cha mẹ cho  
không mất tiền mua.  
Còn ích lợi thì sao? Í ch lợi vô cùng lớn. Người học, về nguyên tắc,  
chỉ học đầy đủ chương trình PPLSTVĐM một lần và dùng nó suốt  
cuộc đời để giải quyết tốt các vấn đề của mình và góp phần giải quyết  
tốt các vấn đề của cộng đồng, xã hội.  
Rất tiếc, kịch bản lý tưởng này đã không xảy ra.  
Kịch bản  
3
Một số trong chúng tôi có ý định phổ biến và phát triển  
PPLSTVĐM ở Việt Nam không chờ đợi hơn được nữa, quyết định  
tìm gặp các vị quản lý, lãnh đạo liên quan để chủ động trình bày  
PPLSTVĐM là gì và đề nghị được giúp đỡ.  
Sau nhiều lần gặp, sau khi gặp được nhiều vị, cuối cùng, các vị  
quản lý, lãnh đạo có trách nhiệm bị thuyết phục và ra quyết định đầu  
tư phổ biến và phát triển PPLSTVĐM ở cấp độ nhà nước. Phần tiếp  
theo sẽ đi theo kịch bản 2, chỉ có khác, thời điểm ra quyết định ủng hộ  
không phải là năm 1975 mà có thể một số năm sau đó.  
Rất tiếc kịch bản này đã không xảy ra, mặc dù tôi và anh Dương  
Xuân Bảo đã gặp nhiều vị quản lý, lãnh đạo chính quyền, khoa học-  
công nghệ, giáo dục-đào tạo ở địa phương cũng như ở trung ương.  
Kịch bản  
4
Nếu như chi phí đầu tư cho phổ biến, phát triển PPLSTVĐM ít thì  
tại sao chúng tôi không tự lực cánh sinh: Tự đầu tư, tự trang trải mà  
không được nhận kinh phí của nhà nước. Trong khi, là các viên chức  
nhà nước, lương chúng tôi chỉ thuộc loại ba cọc ba đồng. Nếu làm  
được như vậy thì bằng việc làm chứng minh được những điều sau:  
- Quả thật chi phí đầu tư cho phổ biến, phát triển PPLSTVĐM rất  
ít.  
- Nhiều người thuộc mọi thành phần kinh tế, xã hội đi học chứng  
tỏ môn học này cần cho xã hội, suy rộng ra, cho đất nước, cho dân  
tộc.  
- PPLSTVĐM mang lại nhiều ích lợi cho người học thể hiện qua  
các thu hoạch mà các học viên phản ánh lại.  
Tất cả những kết quả nói trên được chúng tôi gởi tới các vị quản  
lý, lãnh đạo liên quan, làm các vị “động lòng” và ra quyết định đầu tư  
ở cấp nhà nước cho PPLSTVĐM.  
Kịch bản này đã và đang tiếp tục xảy ra phần đầu nhưng chưa đến  
được phần sau: Đến nay vẫn không có quan chức nào động lòng.  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 173 trang Thùy Anh 19241 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu Phương pháp luận sáng tạo và đổi mới: Những điều muốn nói thêm (Phần 1)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftai_lieu_phuong_phap_luan_sang_tao_va_doi_moi_nhung_dieu_muo.pdf