Tài liệu Hỏi đáp về quyền con người (Phần 2)

NỘI DUNG KHÁI QUÁT CỦA MỘT SỐ QUYỀN…  
HỎI ĐÁP VỀ QUYỀN CON NGƯỜI  
Câu hỏi 71  
Quyền sống được quy định như thế nào trong pháp luật  
quốc tế và pháp luật Việt Nam?  
Trả lời  
Quyền sống (the right to life) được quy định trong Điều 3  
UDHR và Điều 6 ICCPR. Đây được coi là “quyền quan  
trọng nhất của con người mà trong bất cứ hoàn cảnh nào,  
kể cả trong tình trạng khẩn cấp của quốc gia, cũng không  
P h ầ n I I I  
37  
thể bị vi phạm...” .  
Theo Điều 6 ICCPR, các quốc gia thành viên có nghĩa vụ  
thực hiện những biện pháp thích hợp để bảo vệ mọi người  
khỏi nguy cơ bị tước đoạt tính mạng một cách tùy tiện bởi  
mọi chủ thể. Theo Ủy ban giám sát thực hiện ICCPR (Ủy  
ban nhân quyền ‐ Human Rights Committee), yêu cầu này  
bao gồm cả các biện pháp để làm giảm tỷ lệ tử vong của bà  
mẹ, trẻ em; xóa bỏ tình trạng suy dinh dưỡng và dịch bệnh  
cũng như nâng cao các tiêu chuẩn sống cho người dân... Có  
nghĩa là việc bảo đảm quyền sống không chỉ được hiểu  
theo nghĩa hẹp là bảo đảm sự toàn vẹn về tính mạng mà  
NỘI DUNG KHÁI QUÁT  
CỦA MỘT SỐ QUYỀN  
CON NGƯỜI CƠ BẢN  
THEO PHÁP LUẬT  
QUỐC TẾ VÀ VIỆT NAM  
38  
còn bao hàm việc bảo đảm sự tồn tại của con người .  
Quyền sống liên quan đến vấn đề hình phạt tử hình.  
Mặc dù ICCPR chỉ khuyến nghị chứ không bắt buộc các  
quốc gia phải xóa bỏ hình phạt tử hình, Điều 6 Công ước  
yêu cầu các quốc gia thành viên giới hạn việc áp dụng hình  
37  
Ủy ban nhân quyền, Bình luận chung số 3.  
Bình luận chung số 6.  
38  
– 155 –  
– 156 –  
NỘI DUNG KHÁI QUÁT CỦA MỘT SỐ QUYỀN CON NGƯỜI…  
HỎI ĐÁP VỀ QUYỀN CON NGƯỜI  
40  
phạt này với ʺnhững tội ác nghiêm trọng nhấtʺ, và không  
được áp dụng hình phạt này với những người dưới 18 tuổi,  
cũng như không được thi hành án tử hình những phụ nữ  
1999 và 25 điều hiện nay ). Theo Điều 35 BLHS: “Tử hình  
là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với những người  
phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. Không áp dụng hình phạt  
tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội, đối với  
phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng  
tuổi khi phạm tội hoặc khi xét xử. Không thi hành án tử  
hình đối với phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con  
dưới 36 tháng tuổi”. Pháp luật hình sự Việt Nam cũng bao  
gồm những quy định chặt chẽ về thủ tục để bảo đảm xét  
xử công khai, minh bạch và công bằng trong các vụ án có  
hình phạt tử hình.  
39  
đang mang thai .  
Trong pháp luật Việt Nam, liên quan đến quyền sống,  
Điều 71 Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi năm 2002, sau  
đây viết tắt là Hiến pháp) quy định: “Công dân có quyền  
bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về  
tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm”. Quy định  
này được tái khẳng định trong Điều 32 Bộ luật Dân sự năm  
2005 (sau đây viết tắt là BLDS). Bộ luật Hình sự năm 1999  
(được sửa đổi, bổ sung năm 2009, sau đây viết tắt là BLHS)  
dành hẳn một chương (Chương XII, từ Điều 93 đến 122)  
quy định về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh  
dự, nhân phẩm của con người, theo đó, mọi hành vi vô cớ  
đe dọa hay tước đoạt mạng sống của con người đều bị  
pháp luật trừng trị nghiêm khắc.  
Tương tự như nhiều quốc gia khác, Việt Nam hiện vẫn  
còn duy trì hình phạt tử hình, xuất phát từ yêu cầu khách  
quan về phòng chống tội phạm. Tuy nhiên, trong thời gian  
gần đây, số điều luật có khung hình phạt tử hình trong  
BLHS của Việt Nam đã được giảm đi đáng kể (từ 44 điều  
trong BLHS năm 1985 xuống còn 29 điều trong BLHS năm  
Ảnh: Hai biểu ngữ trong Ngày thế giới chống lại hình phạt tử hình  
(ngày 10/10). Sự kiện hàng năm này được khởi xướng từ năm 2003 bởi  
Liên minh thế giới chống hình phạt tử hình (World Coalition Against the  
Death Penalty)41.  
40  
Ngày 19/6/2009, Quốc Hội Khóa XII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ  
sung Bộ luật Hình sự năm 1999, trong đó bỏ hình phạt tử hình trong  
bốn tội danh khác bao gồm: Tội hiếp dâm (Điều 111); Tội làm, tàng  
trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả  
(Điều 180); Tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy (Điều 221); Tội hủy  
hoại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (Điều 334).  
39  
Về vấn đề hình phạt tử hình trong pháp luật và thực tiễn quốc tế,  
xem cuốn Những điều cần biết về hình phạt tử hình của Khoa Luật ‐  
Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009.  
41  
– 157 –  
– 158 –  
NỘI DUNG KHÁI QUÁT CỦA MỘT SỐ QUYỀN CON NGƯỜI…  
HỎI ĐÁP VỀ QUYỀN CON NGƯỜI  
Liên quan đến khía cạnh thứ hai của quyền sống (việc  
bảo đảm các điều kiện tồn tại của con người, đặc biệt là  
những đối tượng đặc biệt khó khăn), pháp luật Việt Nam  
đã bao gồm các chế định cụ thể về bảo trợ xã hội. Khuôn  
khổ pháp luật về vấn đề này hiện đã khá toàn diện và ngày  
càng được hoàn thiện.  
không quốc tịch hay người nước ngoài, sự bảo hộ bình  
đẳng và có hiệu quả chống lại những phân biệt đối xử về  
chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan  
điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc  
hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hoặc bất cứ địa  
vị nào khác. Theo Ủy ban giám sát ICCPR, quyền này phải  
được áp dụng trong mọi tình huống, kể cả trong tình trạng  
42  
khẩn cấp của quốc gia .  
Câu hỏi 72  
Mặc dù ICCPR không đưa ra định nghĩa về sự phân biệt  
đối xử, tuy nhiên theo Ủy ban giám sát công ước, thuật  
ngữ này được hiểu là bất kỳ sự phân biệt, loại bỏ, hạn chế  
hay thiên vị nào được thực hiện dựa trên bất kỳ yếu tố nào  
như chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan  
điểm chính trị hay quan điểm khác, quốc tịch hay thành  
phần xã hội, tài sản, nguồn gốc hay các vị thế khác, mà có  
mục đích hoặc có tác động làm vô hiệu hóa hay làm suy  
giảm sự thừa nhận, thụ hưởng hay thực hiện các quyền và  
Quyền không bị phân biệt đối xử, được thừa nhận và  
bình đẳng trước pháp luật được quy định như thế nào trong  
pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam?  
Trả lời  
Quyền này đồng thời được coi như một trong các nguyên  
tắc cơ bản của Luật nhân quyền quốc tế, do đó được đề cập  
trực tiếp hoặc gián tiếp trong tất cả các văn kiện quốc tế về  
nhân quyền, tuy nhiên, quy định về quyền này đầu tiên được  
đề cập trong các Điều 1, 2, 6, 7, 8 UDHR, sau đó được tái  
khẳng định trong các Điều 2, 3, 16 và 26 ICCPR.  
43  
tự do của tất cả mọi người trên cơ sở bình đẳng . Cũng  
theo Ủy ban, trong những bối cảnh có liên quan, các định  
nghĩa về sự phân biệt đối xử về chủng tộc (nêu ở Điều 1  
Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử  
về chủng tộc), và về phân biệt đối xử chống lại phụ nữ  
(nêu ở Điều 1 Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân  
Quyền này bao gồm ba khía cạnh liên kết với nhau đó  
là: (i) không bị phân biệt đối xử, (ii) được thừa nhận tư  
cách con người trước pháp luật, và (iii) có vị thế bình đẳng  
trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình  
đẳng. Điều này đặt ra một nghĩa vụ với các quốc gia thành  
viên phải nghiêm cấm và trừng phạt mọi sự phân biệt đối  
xử, đảm bảo cho mọi người có mặt trên lãnh thổ nước  
mình, bất kể người đó là công dân nước mình, người  
44  
biệt đối xử chống lại phụ nữ) sẽ được áp dụng .  
42  
Ủy ban nhân quyền, Bình luận chung số 18, đoạn 3.  
43  
Tài liệu trên , đoạn 7.  
44  
Tài liệu trên, đoạn 6.  
– 159 –  
– 160 –  
NỘI DUNG KHÁI QUÁT CỦA MỘT SỐ QUYỀN CON NGƯỜI…  
HỎI ĐÁP VỀ QUYỀN CON NGƯỜI  
Cần chú ý là theo Luật nhân quyền quốc tế, bình đẳng  
không có nghĩa là áp dụng một kiểu đối xử cho mọi đối  
tượng trong cùng một tình huống (tức cào bằng), và không  
phải mọi sự khác biệt về đối xử đều bị coi là sự phân biệt  
đối xử theo nghĩa tiêu cực. Nếu sự đối xử khác biệt được  
xác định dựa trên các điều kiện hợp lý, khách quan và  
nhằm mục đích để đạt được sự bình đẳng thì không bị coi  
2004), các Chương III và V Luật Hôn nhân và Gia đình năm  
2000 (sau đây viết tắt là Luật HN&GĐ)...  
Câu hỏi 73  
Quyền được bảo vệ không bị tra tấn, đối xử hoặc trừng  
phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục được quy định như  
thế nào trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam?  
45  
là trái với ICCPR .  
Trong pháp luật Việt Nam, quyền này trước hết được  
ghi nhận tại Điều 51 Hiến pháp, trong đó quy định: “Mọi  
công dân đều bình đẳng trước pháp luật”. Quy định này  
được cụ thể hóa trong nhiều văn bản pháp luật trên nhiều  
lĩnh vực như trong Điều 5 BLDS, Điều 1 Luật Quốc tịch  
năm 2008, Điều 1 Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội năm 1997  
(đã được sửa đổi, bổ sung một số điều vào năm 2002, sau  
đây viết tắt là Luật BCĐBQH), Điều 1 Luật Bầu cử Đại biểu  
Hội đồng nhân dân năm 2003 (sau đây viết tắt là Luật  
BCĐBHĐND), Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2005, Điều  
10 Luật Thương mại năm 2005, Điều 8 Luật Tổ chức Tòa án  
nhân dân năm 2002 (sau đây viết tắt là Luật TCTAND),  
Điều 4 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 (sau đây viết tắt  
là BLTTHS), Điều 8 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 (sau  
đây viết tắt là BLTTDS), Điều 21 Pháp lệnh Thủ tục giải  
quyết các vụ án kinh tế năm 1994, Điều 20 Pháp lệnh Thủ  
tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996; Điều 20  
Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm  
1996 (sửa đổi, bổ sung một số điều vào các năm 1998 và  
Trả lời  
Trong Luật nhân quyền quốc tế, quyền này đầu tiên  
được đề cập tại Điều 5 UDHR, trong đó nêu rằng: không ai  
bị tra tấn hay bị đối xử, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ  
thấp nhân phẩm. Điều 7 ICCPR cụ thể hóa Điều 5 UDHR,  
trong đó nêu rõ, không ai có thể bị tra tấn, đối xử hoặc trừng  
phạt tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm; không ai có thể  
bị sử dụng để làm thí nghiệm y học hoặc khoa học mà không có  
sự đồng ý tự nguyện của người đó.  
Bên cạnh các quy định trên, vấn đề chống tra tấn còn  
được đề cập trong một số điều ước quốc tế khác về nhân  
quyền, đặc biệt là Công ước về chống tra tấn và các hình  
thức đối xử, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ thấp  
nhân phẩm (CAT, 1984). Tuy nhiên cần chú ý là chống tra  
tấn, đối xử hay trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ  
nhục được coi là một quy phạm tập quán quốc tế (international  
customary law) về nhân quyền, bởi vậy, tất cả các quốc gia  
trên thế giới đều có nghĩa vụ phải tuân thủ, bất kể quốc gia  
đó có là thành viên của ICCPR, CAT hay bất cứ điều ước  
quốc tế nào khác có liên quan hay không.  
45  
Tài liệu trên, đoạn 10, 13.  
– 161 –  
– 162 –  
NỘI DUNG KHÁI QUÁT CỦA MỘT SỐ QUYỀN CON NGƯỜI…  
HỎI ĐÁP VỀ QUYỀN CON NGƯỜI  
46  
Mặc dù UDHR và ICCPR không đưa ra định nghĩa về  
tra tấn, song định nghĩa này được nêu ở Điều 1 của CAT,  
theo đó, tra tấn được hiểu là: bất kỳ hành vi nào cố ý gây đau  
đớn hoặc đau khổ nghiêm trọng về thể xác hay tinh thần cho  
một người, vì những mục đích như lấy thông tin hoặc lời thú  
tội từ người đó hay một người thứ ba, hoặc để trừng phạt  
người đó vì một hành vi mà người đó hay người thứ ba thực  
hiện hay bị nghi ngờ đã thực hiện, hoặc để đe doạ hay ép buộc  
người đó hay người thứ ba, hoặc vì bất kỳ một lý do nào khác  
dựa trên sự phân biệt đối xử dưới mọi hình thức, khi nỗi đau  
đớn và đau khổ đó do một công chức hay người nào khác hành  
động với tư cách chính thức gây ra, hay với sự xúi giục, đồng  
tình hay ưng thuận của một công chức. Tuy nhiên, Điều này  
cũng nêu rõ, khái niệm tra tấn không bao gồm những đau đớn  
hoặc đau khổ xuất phát từ, gắn liền với hoặc có liên quan đến  
các biện pháp trừng phạt hợp pháp.  
hoàn cảnh khẩn cấp của quốc gia . Ủy ban cũng cho rằng,  
mọi hành động gây đau đớn về thể chất, tinh thần, kể cả  
nhằm mục đích để giáo dục, rèn luyện một đối tượng nào  
đó (ví dụ trong môi trường giáo dục và y tế) cũng bị coi là  
47  
tra tấn, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo . Theo Ủy ban, không  
cần thiết phải đưa ra các tiêu chí để phân biệt hành động  
tra tấn và hành động đối xử, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo  
48  
hay hạ nhục vì chúng chỉ khác nhau về mức độ. Ủy ban  
cho rằng, việc kéo dài thời gian biệt giam hoặc tù giam một  
người, kể cả những người đã bị kết án tử hình mà không có  
lý do chính đáng cũng bị coi là hành động tra tấn, đối xử  
hay trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo49.  
Liên quan đến quyền này, trong pháp luật Việt Nam, các  
Điều 71, 72 Hiến pháp, Điều 32, 37 BLDS, Điều 6, 7, 9  
BLTTHS và các Chương XII, XXII, BLHS đã xác lập một  
khuôn khổ pháp lý để ngăn chặn và trừng trị những hành vi  
tra tấn, đối xử hay trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hay bị hạ  
nhục. Cụ thể, Điều 6 BLTTHS quy định: “Nghiêm cấm mọi  
hình thức truy bức, nhục hình”. BLHS bao gồm các Tội  
dùng nhục hình (Điều 298) và Tội bức cung (Điều 299) có ý  
nghĩa trực tiếp trong việc bảo đảm quyền không bị tra tấn  
Định nghĩa trên hiện được sử dụng như một quy định  
tham chiếu chung trong Luật nhân quyền quốc tế và Luật  
hình sự quốc tế khi đề cập đến vấn đề tra tấn, tuy nó bị phê  
phán là đã loại trừ những đối tượng và hoàn cảnh mà hành  
động tra tấn được thực hiện bởi những thủ phạm phi công  
chức (ví dụ, việc một nhóm phiến quân bắt cóc con tin và  
tra tấn họ hay việc một người chồng đánh đập vợ mình sẽ  
không thuộc nội hàm của hành động tra tấn theo định  
nghĩa này).  
46  
Ủy ban nhân quyền, Bình luận chung số 20, đoạn 3.  
47  
Tài liệu trên , đoạn 5.  
48  
Tài liệu trên , đoạn 5. Mặc dù vậy, trong một số nghiên cứu, và cả  
trong một số kết luận đưa ra bởi Tòa án châu Âu về quyền con  
người, người ta đã cố gắng phân biệt giữa hành động tra tấn và các  
hành động đối xử, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hay hạ nhục.  
Theo Ủy ban giám sát ICCPR, việc cấm tra tấn và các  
hình thức đối xử, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo và hạ  
nhục phải được duy trì trong mọi tình huống, kể cả trong  
49  
Tài liệu trên, đoạn 6.  
– 163 –  
– 164 –  
NỘI DUNG KHÁI QUÁT CỦA MỘT SỐ QUYỀN CON NGƯỜI…  
HỎI ĐÁP VỀ QUYỀN CON NGƯỜI  
và nhục hình trong hoạt động tố tụng. Ngoài ra, các văn bản  
pháp luật hiện hành về quản lý các cơ sở giam giữ cũng đều  
quy định nghiêm cấm mọi hành vi tra tấn, nhục hình.  
tự do có điều kiện phải làm; (iii) Những sự phục vụ mang tính  
chất quân sự và bất kỳ sự phục vụ quốc gia nào do luật pháp của  
một nước quy định đối với những người từ chối làm nghĩa vụ  
quân sự vì lý do lương tâm, trong trường hợp quốc gia đó cho  
phép từ chối thực hiện nghĩa vụ quân sự vì lý do lương tâm; (iv)  
Những sự phục vụ được yêu cầu trong trường hợp khẩn cấp hoặc  
thiên tai đe doạ đến tính mạng hoặc đời sống của cả cộng đồng; (v)  
Những công việc hoặc sự phục vụ là một phần của các nghĩa vụ  
dân sự thông thường. Cần chú ý là những quy định về loại trừ  
phải được áp dụng một cách bình đẳng, không phân biệt đối  
xử với bất kỳ chủ thể nào và phải phù hợp với các quy định  
khác có liên quan của ICCPR51.  
Câu hỏi 74  
Quyền không bị bắt làm nô lệ hay nô dịch được quy định  
như thế nào trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam?  
Trả lời  
Trong Luật nhân quyền quốc tế, quyền này đầu tiên  
được đề cập trong Điều 4 UDHR, trong đó nêu rằng: Không  
ai bị bắt làm nô lệ hoặc bị cưỡng bức làm việc như nô lệ; mọi  
hình thức nô lệ và buôn bán nô lệ đều bị cấm. Sau đó, quyền  
này được tái khẳng định và cụ thể hóa trong Điều 8 ICCPR.  
Ngoài ICCPR, trước và sau công ước này còn có nhiều  
điều ước quốc tế do Hội Quốc liên, Liên Hợp Quốc và ILO  
thông qua có liên quan đến việc cấm và xóa bỏ chế độ nô lệ  
hay nô dịch, trong đó tiêu biểu là: Công ước về nô lệ, 1926  
(Hội Quốc liên); Nghị định thư năm 1953 sửa đổi Công ước  
về nô lệ 1926 (Liên Hợp Quốc); Công ước bổ sung về xóa  
bỏ chế độ nô lệ, việc buôn bán nô lệ và các thể chế, tập tục  
khác tương tự chế độ nô lệ, 1956 (Liên Hợp Quốc); Công  
ước về lao động cưỡng bức (Công ước số 29 của ILO), 1930;  
Công ước về xóa bỏ lao động cưỡng bức (Công ước số 105  
của ILO), 1957; Công ước về trấn áp việc buôn bán người  
và bóc lột mại dâm người khác, 1949 (Công ước số 29 của  
ILO); Công ước về trấn áp việc buôn bán người và bóc lột  
mại dâm người khác, 1949 (Liên Hợp Quốc); Nghị định thư  
Về mặt phạm vi, Điều 8 ICCPR điều chỉnh tất cả các tình  
huống mà một người có thể bị buộc phải phụ thuộc vào  
người khác, kể cả trong những bối cảnh như mại dâm, buôn  
50  
bán ma túy hoặc trong một số dạng lạm dụng tâm lý . Tuy  
nhiên, liên quan đến vấn đề lao động cưỡng bức, khoản 3  
Điều 8 liệt kê những trường hợp loại trừ, bao gồm: (i) Lao  
động cưỡng bức theo bản án của một tòa án có thẩm quyền ở  
những nước còn áp dụng hình phạt tù kèm lao động cưỡng bức  
như một hình phạt đối với tội phạm; (ii) Những công việc hoặc sự  
phục vụ mà thông thường đòi hỏi một người đang bị giam giữ  
theo quyết định hợp pháp của toà án hoặc một người khi được trả  
50  
Xem United Nations, Manual on Human Rights Reporting  
(the  
51  
International Covenant on Civil and Political Rights), New York, 1991.  
Manual on Human Rights Reporting, tài liệu đã dẫn.  
– 165 –  
– 166 –  
NỘI DUNG KHÁI QUÁT CỦA MỘT SỐ QUYỀN CON NGƯỜI…  
HỎI ĐÁP VỀ QUYỀN CON NGƯỜI  
về việc ngăn ngừa, phòng chống và trừng trị việc buôn bán  
người, đặc biệt là buôn bán phụ nữ và trẻ em, bổ sung  
Công ước của Liên Hợp Quốc về chống tội phạm có tổ  
chức xuyên quốc gia, 2000... Những điều ước này đã quy  
định một hệ thống biện pháp khá toàn diện để ngăn chặn  
và xóa bỏ chế độ nô lệ, những thể thức tương tự như chế  
độ nô lệ và việc cưỡng bức lao động.  
Câu hỏi 75  
Quyền không bị bắt, giam giữ tùy tiện được quy định như  
thế nào trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam?  
Trả lời  
Trong Luật nhân quyền quốc tế, quyền này đầu tiên được  
quy định tại Điều 9 UDHR, trong đó nêu rằng: không ai bị bắt,  
giam giữ hay lưu đày một cách tuỳ tiện. Quy định này sau đó  
được cụ thể hóa trong Điều 9 ICCPR, trong đó nêu rõ rằng:  
Tuy nhiên, cần chú ý là tương tự như vấn đề chống tra tấn,  
việc chống nô lệ và các hình thức nô lệ, nô dịch được coi là  
một quy phạm tập quán quốc tế về nhân quyền, do đó,  
những tiêu chuẩn quốc tế về vấn đề này có hiệu lực ràng  
buộc với mọi quốc gia trên thế giới, bất kể việc quốc gia đó có  
là thành viên của các điều ước quốc tế kể trên hay không.  
1) Mọi người đều có quyền hưởng tự do và an toàn cá  
nhân. Không ai bị bắt hoặc bị giam giữ vô cớ.  
Không ai bị tước quyền tự do trừ trường hợp việc  
tước quyền đó là có lý do và theo đúng những thủ  
tục mà luật pháp đã quy định.  
Trong pháp luật Việt Nam, Điều 71 Hiến pháp khẳng  
định nguyên tắc bất khả xâm phạm về thân thể, danh dự và  
nhân phẩm và an ninh cá nhân. Quy định này được cụ thể  
hóa trong Điều 5 Bộ luật Lao động năm 1994 (đã được sửa  
đổi, bổ sung các năm 2002, 2006, sau đây viết tắt là BLLĐ).  
Việt Nam đã gia nhập Công ước về xóa bỏ lao động cưỡng  
bức năm 1930 (Công ước số 29 của ILO) vào ngày 5/3/2007.  
2) Bất cứ người nào bị bắt giữ đều phải được thông báo  
vào lúc bị bắt về những lý do họ bị bắt và phải được  
thông báo không chậm trễ về sự buộc tội đối với họ.  
3) Bất cứ người nào bị bắt hoặc bị giam giữ vì một tội  
hình sự phải được sớm đưa ra toà án hoặc một cơ  
quan tài phán có thẩm quyền thực hiện chức năng  
tư pháp và phải được xét xử trong thời hạn hợp lý  
hoặc được trả tự do. Việc tạm giam một người trong  
thời gian chờ xét xử không được đưa thành nguyên  
tắc chung, nhưng việc trả tự do cho họ có thể kèm  
theo những điều kiện để bảo đảm họ sẽ có mặt tại  
toà án để xét xử vào bất cứ khi nào và để thi hành  
án nếu bị kết tội.  
Về khía cạnh lao động công ích, tương ứng với nội dung  
Điều 8 ICCPR, Điều 80 Hiến pháp quy định: “Công dân có  
nghĩa vụ lao động công ích theo quy định của pháp luật”.  
Điều này trước đây được cụ thể hóa bằng Pháp lệnh Lao  
động công ích năm 1999, tuy nhiên, xét thấy vấn đề lao  
động công ích không còn cần thiết nữa nên gần đây nhà  
nước đã chấm dứt hiệu lực của Pháp lệnh này.  
– 167 –  
– 168 –  
NỘI DUNG KHÁI QUÁT CỦA MỘT SỐ QUYỀN CON NGƯỜI…  
HỎI ĐÁP VỀ QUYỀN CON NGƯỜI  
4) Bất cứ người nào do bị bắt hoặc giam giữ mà bị tước  
tự do đều có quyền yêu cầu được xét xử trước toà  
án, nhằm mục đích để toà án đó có thể quyết định  
không chậm trễ về tính hợp pháp của việc giam giữ  
và ra lệnh trả lại tự do cho họ, nếu việc giam giữ là  
bất hợp pháp.  
chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm  
tội quả tang. Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp  
luật. Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc  
phạm danh dự, nhân phẩm của công dân”. Điều 72 Hiến  
pháp nêu rõ, không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt  
khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp  
luật. Khoản 2 Điều này quy định: “Người bị bắt, bị giam  
giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi  
thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự. Người  
làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử  
gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh”.  
5) Bất cứ người nào trở thành nạn nhân của việc bị bắt  
hoặc bị giam giữ bất hợp pháp đều có quyền được  
yêu cầu bồi thường.  
Theo Ủy ban giám sát ICCPR, khoản 1 Điều 9 Công ước  
được áp dụng cho tất cả những người bị tước tự do, kể cả  
các trường hợp do phạm tội hay do bị tâm thần, lang  
thang, nghiện ma tuý, hay để nhằm các mục đích giáo dục,  
Các quy định kể trên được cụ thể hoá trong BLHS,  
BLTTHS, BLDS và nhiều văn bản pháp luật khác. Theo  
Điều 6 BLTTHS, không ai bị bắt nếu không có quyết định  
của Toà án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát,  
trừ trường hợp phạm tội quả tang. Điều 7 Bộ luật này quy  
định: “Công dân có quyền được pháp luật bảo hộ về tính  
mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản. Mọi hành vi  
xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài  
sản đều bị xử lý theo pháp luật...” Cũng theo Điều này,  
người bị hại, người làm chứng và người tham gia tố tụng  
khác cũng như người thân thích của họ mà bị đe dọa đến  
tính mạng, sức khỏe, bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm,  
tài sản thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp  
dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ theo quy định  
của pháp luật. BLHS bao gồm một chương quy định về các  
tội xâm phạm hoạt động tư pháp (Chương XXII), trong đó  
bao gồm các tội: Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người  
52  
kiểm soát nhập cư... Cũng theo Ủy ban, việc tạm giữ, tạm  
giam chỉ được coi là ngoại lệ và với thời gian càng ngắn  
càng tốt; thời hạn tạm giữ, tạm giam theo quy định tại  
khoản 3 Điều 9 ICCPR tùy thuộc vào pháp luật của mỗi  
quốc gia, tuy nhiên không nên vượt quá vài ngày53.  
Trong pháp luật Việt Nam, tương ứng với nội dung  
Điều 9 (và cả các Điều 7, 8,10, 11, 14, 15 ICCPR), Điều 71  
Hiến pháp quy định: “Công dân có quyền bất khả xâm  
phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức  
khoẻ, danh dự và nhân phẩm. Không ai bị bắt nếu không  
có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê  
52  
Ủy ban nhân quyền, Bình luận chung số 8, đoạn 1.  
Ủy ban nhân quyền, Bình luận chung số 8, đoạn 2.  
53  
– 169 –  
– 170 –  
NỘI DUNG KHÁI QUÁT CỦA MỘT SỐ QUYỀN CON NGƯỜI…  
HỎI ĐÁP VỀ QUYỀN CON NGƯỜI  
không có tội (Điều 293); Tội ra bản án trái pháp luật (Điều  
295); Tội ra quyết định trái pháp luật (Điều 296); Tội dùng  
nhục hình (Điều 298); Tội bức cung (Điều 299)...  
còn mở rộng đến tất cả những đối tượng khác bị hạn chế tự  
do theo quy định pháp luật của các nước thành viên, chẳng  
hạn như những người bị quản chế để học tập, lao động, rèn  
luyện ở các trại cải tạo, trường giáo dưỡng, bệnh viện tâm  
54  
thần, cơ sở cai nghiện . Ủy ban cũng cho rằng việc đối xử  
Câu hỏi 76  
nhân đạo và tôn trọng nhân phẩm của những người bị tước  
tự do là một nguyên tắc cơ bản về nhân quyền trong tố tụng  
hình sự mà các quốc gia thành viên phải áp dụng như một  
yêu cầu tối thiểu, không phụ thuộc vào nguồn lực sẵn có của  
quốc gia và không mang tính phân biệt đối xử dưới bất kỳ  
Quyền được đối xử nhân đạo và tôn trọng nhân phẩm  
của những người bị tước tự do được quy định như thế nào  
trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam?  
Trả lời  
55  
hình thức nào . Ủy ban cũng nhắc lại rằng không nên coi  
Trong Luật nhân quyền quốc tế, quyền này được quy  
định cụ thể trong Điều 10 ICCPR. Theo Điều này, những  
người bị tước tự do phải được đối xử nhân đạo với sự tôn trọng  
nhân phẩm vốn có của con người. Khoản 2 Điều này quy định:  
Trừ những hoàn cảnh đặc biệt, bị can, bị cáo phải được giam giữ  
tách biệt với những người đã bị kết án và phải được đối xử theo  
chế độ riêng, phù hợp với quy chế dành cho những người bị tạm  
giam. Những bị can chưa thành niên phải được giam giữ  
tách riêng khỏi người lớn và phải được đưa ra xét xử càng  
sớm càng tốt. Đặc biệt, khoản 3 Điều này đề cập đến một  
nguyên tắc định hướng việc đối xử với những người bị  
tước tự do, theo đó, việc đối xử với tù nhân trong hệ thống  
trại giam nhằm mục đích chính yếu là cải tạo và đưa họ trở  
lại xã hội, chứ không phải nhằm mục đích chính là trừng  
phạt hay hành hạ họ.  
các trại giam là nơi để trả thù phạm nhân mà cần coi đó là  
nơi để giúp họ hoàn lương .  
56  
Trong pháp luật Việt Nam, các Điều 71, 72 Hiến pháp,  
Điều 32, 37 BLDS, Điều 6, 7, 9 BLTTHS và các Chương XII,  
XXII BLHS (đã nêu ở trên) cũng chính là sự khẳng định về  
mặt pháp lý về bảo vệ quyền không bị tra tấn, đối xử hay  
trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hay bị hạ nhục. Cụ thể,  
trong tố tụng hình sự, Điều 6 BLTTHS nêu rõ: “Nghiêm  
cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình”. Trong Chương  
XXII (Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp) của BLHS, các  
Tội dùng nhục hình (Điều 298) và Tội bức cung (Điều 299) có  
ý nghĩa trực tiếp trong việc bảo đảm quyền không bị tra  
tấn và nhục hình trong hoạt động tố tụng. Bên cạnh đó, các  
54  
Theo Ủy ban giám sát công ước, khái niệm “những người  
bị tước tự do” nêu ở khoản 1 Điều 10 ICCPR không chỉ giới  
hạn ở những tù nhân hoặc người bị tạm giam, tạm giữ, mà  
Ủy ban nhân quyền, Bình luận chung số 21, đoạn 2.  
55  
Tài liệu trên , đoạn 4.  
56  
Tài liệu trên, đoạn 10.  
– 171 –  
– 172 –  
NỘI DUNG KHÁI QUÁT CỦA MỘT SỐ QUYỀN CON NGƯỜI…  
HỎI ĐÁP VỀ QUYỀN CON NGƯỜI  
văn bản pháp luật về quản lý những cơ sở giam giữ cũng  
đều có quy định nghiêm cấm các hành vi tra tấn, nhục  
hình. Cụ thể, các Điều 4 Pháp lệnh Thi hành án phạt tù  
năm 1993, Quy chế Trại giam (ban hành kèm theo Nghị  
định 60/CP ngày 16/9/1993 của Chính phủ), Điều 5 Quy chế  
về tạm giữ, tạm giam (ban hành kèm theo Nghị định  
89/1998/NĐ‐CP ngày 7/11/1998 của Chính phủ), Điều 8  
Quy chế thực hiện dân chủ trong tạm giữ, tạm giam và  
hoạt động điều tra của lực lượng công an nhân dân đều  
quy định, nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm tính mạng,  
sức khỏe, tài sản, danh dự nhân phẩm của những người bị  
tạm giữ, tạm giam. Điều 15 Quy chế thực hiện dân chủ ở  
trại giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng trực thuộc Bộ  
Công an nhấn mạnh, phạm nhân, trại viên, học sinh có  
quyền được bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân  
phẩm. Nghiêm cấm cán bộ, chiến sĩ công tác tại các trại  
giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng dùng nhục hình,  
đánh đập, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của phạm nhân,  
trại viên, học sinh…  
Câu hỏi 77  
Quyền được xét xử công bằng được quy định như thế nào  
trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam?  
Trả lời  
Trong Luật nhân quyền quốc tế, quyền được xét xử công  
bằng đầu tiên được đề cập trong các Điều 10 và 11 UDHR.  
Theo Điều 10, mọi người đều bình đẳng về quyền được xét xử  
công bằng và công khai bởi một toà án độc lập và khách quan để  
xác định các quyền và nghĩa vụ của họ, cũng như về bất cứ sự  
buộc tội nào đối với họ. Điều 11 bổ sung thêm một số khía  
cạnh cụ thể, theo đó: Mọi người, nếu bị cáo buộc về hình sự, đều  
có quyền được coi là vô tội cho đến khi được chứng minh là phạm  
tội theo pháp luật tại một phiên toà xét xử công khai nơi người đó  
được bảo đảm những điều kiện cần thiết để bào chữa cho mình.  
Không ai bị cáo buộc là phạm tội vì bất cứ hành vi hoặc sự tắc  
trách nào mà không cấu thành một phạm tội hình sự theo pháp  
luật quốc gia hay pháp luật quốc tế vào thời điểm thực hiện hành  
vi hay có sự tắc trách đó. Cũng không ai bị tuyên phạt nặng hơn  
mức hình phạt được quy định vào thời điểm hành vi phạm tội  
được thực hiện. Các quy định kể này sau đó được tái khẳng  
định và cụ thể hóa trong các Điều 14, 15 và 11 ICCPR.  
Tuy nhiên, hiện tại, pháp luật Việt Nam chưa có định  
nghĩa tra tấn mà chỉ có khái niệm “dùng nhục hình”. Nội  
hàm của khái niệm dùng nhục hình cũng chưa được làm rõ  
trong pháp luật, mà mới chỉ được giải thích trong các sách  
chuyên khảo bình luận về các quy định của BLHS. Để bảo  
đảm quyền của những người bị tước tự do một cách có  
hiệu quả, cần thực hiện nhiều biện pháp, trong đó có việc  
làm rõ hai khái niệm quan trọng này.  
Liên quan đến quyền này, trong pháp luật Việt Nam, tố  
tụng hình sự được thực hiện theo hai cấp xét xử có hội  
thẩm nhân dân tham gia; khi xét xử hội thẩm ngang quyền  
với thẩm phán; toà án xét xử tập thể và quyết định theo đa  
số. Điều 16 BLTTHS quy định: “Khi xét xử, thẩm phán và  
hội thẩm độc lập chỉ tuân theo pháp luật”. Theo Điều 8  
– 173 –  
– 174 –  
NỘI DUNG KHÁI QUÁT CỦA MỘT SỐ QUYỀN CON NGƯỜI…  
HỎI ĐÁP VỀ QUYỀN CON NGƯỜI  
Luật Tổ chức TAND năm 2002: “Toà án xét xử theo nguyên  
tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không  
phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành  
phần xã hội, địa vị xã hội; cá nhân, cơ quan, tổ chức, đơn vị  
vũ trang nhân dân và các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc  
mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật”.  
Điều 19 BLTTHS quy định cụ thể về việc bảo đảm quyền  
bình đẳng trước toà án, theo đó: “Kiểm sát viên, bị cáo,  
người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn  
dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án,  
người đại diện hợp pháp của họ, người bảo vệ quyền lợi  
của đương sự đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra  
chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân  
chủ trước Toà án. Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho  
họ thực hiện các quyền đó nhằm làm rõ sự thật khách quan  
của vụ án”.  
Xét về quan hệ hợp đồng, ở Việt Nam có các dạng hợp  
đồng chính là hợp đồng dân sự (bao gồm các hợp đồng dân  
sự thông dụng và hợp đồng liên quan đến quyền sử dụng  
đất, được quy định trong Chương II BLDS năm 1995), hợp  
đồng kinh tế (quy định trong Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế  
năm 1989, hiện đã hết hiệu lực), và hợp đồng lao động (quy  
định trong Điều 27 BLLĐ năm 1994). Về trách nhiệm phát  
sinh từ vi phạm các dạng hợp đồng này, những văn bản  
pháp luật có liên quan chỉ quy định hình thức bồi thường  
thiệt hại tùy theo lỗi của bên vi phạm, cho dù mức độ thiệt  
hại như thế nào. Văn bản pháp luật duy nhất quy định hệ  
thống các tội phạm hình sự và hình phạt ở Việt Nam là Bộ  
luật Hình sự, tuy nhiên, trong BLHS hiện hành không có  
điều nào quy định về trách nhiệm hình sự của một người  
không thể hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng.  
Về nguyên tắc suy đoán vô tội, Điều 72 Hiến pháp quy  
định: “Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội  
của Toà án đã có hiệu lực pháp luật”. Nguyên tắc hiến định  
này được tái khẳng định trong Điều 9 BLTTHS năm 2003,  
trong đó nêu rõ: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình  
phạt khi chưa có bản án kết tội của toà án đã có hiệu lực  
pháp luật”.  
Về khía cạnh xét xử công khai, Điều 7 Luật tổ chức  
TAND năm 2002 quy định: “Toà án xét xử công khai, trừ  
trường hợp cần xét xử kín để giữ gìn bí mật nhà nước,  
thuần phong mỹ tục của dân tộc hoặc để giữ bí mật của các  
đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ”. Điều 18  
BLTTHS cũng có quy định tương tự, theo đó: “Việc xét xử  
của Toà án được tiến hành công khai, mọi người đều có  
quyền tham dự, trừ trường hợp do Bộ luật này quy định.  
Trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần  
phong mỹ tục của dân tộc hoặc để giữ bí mật của đương sự  
theo yêu cầu chính đáng của họ thì Toà án xét xử kín,  
nhưng phải tuyên án công khai”.  
Về khía cạnh hồi tố, Điều 7 BLHS nêu rõ: “Điều luật  
được áp dụng đối với một hành vi phạm tội là điều luật  
đang có hiệu lực thi hành tại thời điểm mà hành vi phạm  
tội được thực hiện”. Tuy nhiên, tương ứng với quy định tại  
Điều 15 ICCPR, pháp luật Việt Nam cho phép áp dụng hồi  
tố trong trường hợp việc đó có lợi cho người phạm tội.  
– 175 –  
– 176 –  
NỘI DUNG KHÁI QUÁT CỦA MỘT SỐ QUYỀN CON NGƯỜI…  
HỎI ĐÁP VỀ QUYỀN CON NGƯỜI  
Liên quan đến quyền được bào chữa, Điều 132 Hiến  
pháp khẳng định: “Quyền bào chữa của bị cáo được bảo  
đảm. Bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào  
chữa cho mình”. Cụ thể hóa điều này của Hiến pháp,  
Điều 11 BLTTHS quy định: “Người bị tạm giữ, bị can, bị  
cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa.  
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án có nhiệm vụ bảo  
đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền  
bào chữa của họ theo quy định của Bộ luật này”. Theo  
Điều 56 BLTTHS, người bào chữa có thể là luật sư, người  
đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo  
hoặc bào chữa viên nhân dân. Theo Điều 57, những bị can,  
bị cáo về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử  
hình hoặc bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người  
có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất thì cơ quan điều  
tra, viện kiểm sát hoặc toà án phải yêu cầu đoàn luật sư  
cử người bào chữa cho họ hoặc đề nghị Ủy ban MTTQ  
Việt Nam hay các tổ chức thành viên của Mặt trận cử  
người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình nếu bị  
can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không  
mời người bào chữa. Tuy nhiên, kể cả trong các trường  
hợp này, bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ  
vẫn có quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào  
chữa. Mặc dù luật tố tụng hình sự Việt Nam không quy  
định thời hạn cụ thể cho việc chuẩn bị bào chữa của người  
bị tạm giữ, bị can, bị cáo nhưng về mặt thời điểm, theo  
Điều 58 BLTTHS, người bào chữa được tham gia tố tụng  
từ khi khởi tố bị can. Trong trường hợp bắt người theo  
quy định tại các Điều 81 và 82 của Bộ luật này thì người  
bào chữa được tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm  
giữ. Trong trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với tội  
xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện KSND  
quyết định để người bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết  
thúc điều tra. Điều 56 Bộ luật này cũng quy định: “Trong  
thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của  
người bào chữa kèm theo giấy tờ liên quan đến việc bào  
chữa, cơ quan điều tra, viện kiểm sát, toà án phải xem xét,  
cấp giấy chứng nhận người bào chữa để họ thực hiện việc  
bào chữa. Nếu từ chối cấp giấy chứng nhận thì phải nêu  
rõ lý do. Đối với trường hợp tạm giữ người thì trong thời  
hạn 24 giờ, kể từ khi nhận được đề nghị của người bào  
chữa kèm theo giấy tờ liên quan đến việc bào chữa, cơ  
quan điều tra phải xem xét, cấp giấy chứng nhận người  
bào chữa để họ thực hiện việc bào chữa. Nếu từ chối cấp  
giấy chứng nhận thì phải nêu rõ lý do”.  
Câu hỏi 78  
Quyền tự do đi lại và lựa chọn nơi ở được quy định như  
thế nào trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam?  
Trả lời  
Trong Luật nhân quyền quốc tế, quyền này được quy  
định trong Điều 12 ICCPR, thể hiện ở bốn khía cạnh: (i) Tự  
do lựa chọn nơi ở trong phạm vi lãnh thổ quốc gia; (ii) Tự  
do đi lại trong phạm vi lãnh thổ quốc gia; (iii) Tự do rời  
khỏi bất kỳ quốc gia nào, kể cả nước mình, và (iv) Tự do  
trở lại quốc gia mình.  
– 177 –  
– 178 –  
NỘI DUNG KHÁI QUÁT CỦA MỘT SỐ QUYỀN CON NGƯỜI…  
HỎI ĐÁP VỀ QUYỀN CON NGƯỜI  
Theo Điều 12, quyền này không chỉ áp dụng cho công  
dân của một quốc gia, mà còn với người nước ngoài đang  
cư trú hợp pháp trên lãnh thổ quốc gia đó. Tuy nhiên, cần  
lưu ý quyền này không phải là quyền tuyệt đối. Theo Điều  
4 ICCPR, các nhà nước có thể hạn chế việc thực hiện quyền  
này nếu thấy cần thiết để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự  
công cộng, đạo đức và sức khỏe của cộng đồng, hay để bảo  
vệ các quyền và tự do của người khác.  
Nam cũng đã sửa đổi nhiều văn bản pháp luật để tạo  
thuận lợi cho công dân trong việc làm hộ chiếu và xuất  
cảnh ra nước ngoài, cũng như cho người định cư ở nước  
ngoài hồi hương, người nước ngoài nhập cảnh vào làm ăn,  
sinh sống và du lịch tại Việt Nam, trong đó tiêu biểu là  
Nghị định 81/2001/NĐ‐CP ngày 5/11/2001 cho phép một số  
đối tượng người Việt Nam định cư ở nước ngoài được mua  
và sở hữu nhà ở hợp pháp ở trong nước để cư trú; Quyết  
định 875/QĐ‐TTg ngày 21/11/1996 cho phép người Việt  
Nam định cư ở nước ngoài hồi hương được hoàn thành  
mọi thủ tục hộ khẩu và đăng ký cư trú trong thời gian 30  
ngày; Quyết định 135/2007/QĐ‐TTg ngày 17/8/2007 ban  
hành Quy chế về miễn thị thực cho người Việt Nam định  
cư ở nước ngoài. Nhà nước Việt Nam cũng đã ký kết các  
hiệp định, thỏa thuận về lãnh sự với nhiều quốc gia trên  
thế giới.  
Trong pháp luật Việt Nam, quyền này được ghi nhận  
trước hết trong Điều 68 Hiến pháp, trong đó quy định:  
“Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có  
quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy  
định pháp luật”. Quy định này được tái khẳng định trong  
các Điều 48 BLDS và Điều 3 Luật Cư trú năm 2006. Tuy  
nhiên, Điều 48 BLDS năm 2005 và Điều 3 Luật Cư trú năm  
2006 đồng thời nêu rằng, quyền tự do đi lại, tự do cư trú  
của cá nhân có thể bị hạn chế theo quyết định của cơ quan  
nhà nước có thẩm quyền và theo trình tự, thủ tục do pháp  
luật quy định.  
Câu hỏi 79  
Quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo được quy định  
như thế nào trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam?  
Cũng liên quan đến quyền tự do đi lại và cư trú, vừa  
qua Chính phủ đã ban hành Nghị định 158/2005/NĐ‐CP  
ngày 27/12/2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch (thay thế các  
Nghị định trước đó về vấn đề này), trong đó bãi bỏ nhiều  
yêu cầu như điều kiện nhà ở, chỉ tiêu... với công dân khi  
đăng ký hộ khẩu ở nơi ở mới. Trước đó, Thủ tướng Chính  
phủ cũng đã ban hành Quyết định 957/1997/QĐ‐TTg ngày  
11/11/1997 trong đó bãi bỏ thủ tục xin thị thực xuất cảnh  
của công dân khi ra nước ngoài. Ngoài ra, nhà nước Việt  
Trả lời  
Trong Luật nhân quyền quốc tế, quyền này được ghi  
nhận trong Điều 18 UDHR. Theo Điều này, mọi người đều có  
quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo, kể cả tự do thay  
đổi tín ngưỡng hoặc tôn giáo của mình, và tự do bày tỏ tín  
ngưỡng hay tôn giáo của mình bằng các hình thức như truyền  
giảng, thực hành, thờ cúng và tuân thủ các nghi lễ, dưới hình  
– 179 –  
– 180 –  
NỘI DUNG KHÁI QUÁT CỦA MỘT SỐ QUYỀN CON NGƯỜI…  
HỎI ĐÁP VỀ QUYỀN CON NGƯỜI  
thức cá nhân hay tập thể, tại nơi công cộng hoặc nơi riêng tư.  
Nội dung của Điều 18 UDHR sau đó được tái khẳng định  
và cụ thể hóa trong các Điều 18 và Điều 20 ICCPR.  
này không chỉ được áp dụng với các tôn giáo, tín ngưỡng  
có tính thể chế mà còn với những tập tục truyền thống  
mang tính tôn giáo (đoạn 2).  
Điều 18 ICCPR cụ thể hóa quy định trong Điều 18  
UDHR về quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo,  
trong đó khoản 3 Điều này xác định quyền này không phải  
là quyền tuyệt đối, đồng thời quy định những giới hạn cho  
việc hạn chế quyền này, theo đó, quyền tự do bày tỏ tôn giáo  
hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật và khi sự  
giới hạn đó là cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức  
khoẻ hoặc đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ  
bản của người khác. Khoản 4 Điều này xác định quyền của  
các bậc cha mẹ được hướng dẫn về niềm tin, đức tin, tín  
ngưỡng cho con cái họ: Các quốc gia thành viên Công ước cam  
kết tôn trọng quyền tự do của các bậc cha mẹ, và của những  
người giám hộ hợp pháp nếu có, trong việc giáo dục về tôn giáo  
và đạo đức cho con cái họ theo ý nguyện của riêng họ.  
Thứ ba, quyền tự do thực hành tôn giáo hay tín ngưỡng  
có thể được thực thi với tư cách cá nhân hay cùng với cộng  
đồng, ở nơi công cộng hay chỗ riêng tư; thể hiện ở các hành  
động như thờ cúng, tham gia những lễ hội tôn giáo, quan  
sát, thực hành và giảng dạy về tôn giáo. Khái niệm thờ  
cúng bao gồm những hoạt động lễ nghi, kỷ niệm, xây dựng  
những nơi thờ tự, sử dụng hay trưng bày các vật dụng và  
biểu tượng nghi lễ, tham gia các lễ hội và các ngày nghỉ lễ  
tôn giáo. Việc quan sát và thực hành tôn giáo không chỉ  
bao gồm các hoạt động nghi lễ, mà còn bao gồm việc tuân  
thủ các nguyên tắc về ăn kiêng, trang phục, sử dụng ngôn  
ngữ đặc biệt, lựa chọn lãnh đạo tôn giáo, tăng lữ, người  
thầy tâm linh, thành lập các trường tôn giáo, biên soạn và  
phân phát các tài liệu tôn giáo (đoạn 4).  
Một số khía cạnh liên quan đến nội dung Điều 18 ICCPR  
sau đó được HRC làm rõ thêm trong Bình luận chung số 22  
thông qua tại phiên họp lần thứ 48 năm 1993 của Ủy ban,  
mà có thể tóm tắt những điểm quan trọng như sau:  
Thứ tư, quyền tin hoặc theo một tôn giáo hay tín ngưỡng  
bao gồm quyền tự do lựa chọn một tôn giáo hay tín  
ngưỡng để tin hoặc theo, kể cả việc thay đổi niềm tin từ tôn  
giáo, tín ngưỡng này sang tôn giáo, tín ngưỡng khác, hay  
thay đổi niềm tin từ vô thần sang hữu thần và từ hữu thần  
sang vô thần (đoạn 5).  
Thứ nhất, quyền tự do tư tưởng, lương tâm và tôn giáo  
không bị hạn chế hay tước bỏ trong mọi hoàn cảnh, kể cả  
trong tình trạng khẩn cấp của quốc gia (đoạn 1).  
Thứ năm, các trường công lập có thể giảng dạy những  
môn học như lịch sử đại cương của các tôn giáo và tín  
ngưỡng, miễn là nội dung cần trung lập và khách quan.  
Việc các trường công lập giảng dạy giáo lý một tôn giáo  
Thứ hai, các khái niệm “tín ngưỡng” (belief) và “tôn giáo”  
(religion) trong Điều 18 ICCPR cần được hiểu theo nghĩa  
rộng, bao gồm cả những lòng tin hữu thần và vô thần. Điều  
– 181 –  
– 182 –  
NỘI DUNG KHÁI QUÁT CỦA MỘT SỐ QUYỀN CON NGƯỜI…  
HỎI ĐÁP VỀ QUYỀN CON NGƯỜI  
hay nội dung một tín ngưỡng cụ thể nào đó là trái với quy  
định trong khoản 4 Điều 18, trừ phi việc giảng dạy như vậy  
là do ý nguyện và thuộc vào quyền quyết định của các bậc  
cha mẹ (đoạn 6).  
định ở các Điều 18 và Điều 27 ICCPR, cũng như không  
được tạo ra sự phân biệt đối xử với tín đồ của các tôn giáo  
khác, hoặc với những người không theo tôn giáo nào.  
Những hình thức phân biệt đối xử với tín đồ của các tôn  
giáo khác, hay với những người không theo tôn giáo trong  
bối cảnh này, ví dụ như việc quy định chỉ những tín đồ  
thuộc tôn giáo chiếm ưu thế mới được tham gia chính  
quyền hay dành những ưu đãi về kinh tế cho họ, đều trái  
với các quy định về quyền bình đẳng nêu ở Điều 26  
ICCPR (đoạn 9).  
Thứ sáu, nghiêm cấm các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng  
có mục đích hoặc tính chất tuyên truyền cho chiến tranh  
hoặc hận thù dân tộc, tôn giáo hay kích động sự phân biệt  
đối xử về chủng tộc, sự thù địch hoặc bạo lực. Các quốc gia  
thành viên có nghĩa vụ sử dụng pháp luật để ngăn chặn  
những hành động đó (đoạn 7).  
Thứ chín, ICCPR không quy định quyền được từ chối  
thực hiện nghĩa vụ quân sự vì lý do lương tâm (mặc dù  
một số quốc gia đã ghi nhận quyền này bằng cách cho  
phép thực hiện nghĩa vụ khác thay thế). Tuy nhiên, nếu  
quyền này được ghi nhận trong pháp luật hay trong thực tế  
thì không được áp dụng theo cách thức phân biệt đối xử  
giữa các nhóm tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau (đoạn 11).  
Thứ bảy, khoản 3 Điều 18 cho phép hạn chế quyền tự do  
tôn giáo, tín ngưỡng trong trường hợp cần thiết để bảo vệ  
an ninh, trật tự công cộng, sự bình yên hoặc đạo đức xã  
hội, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người  
khác. Tuy nhiên, quyền không bị ép buộc làm những điều  
tổn hại đến quyền tự do lựa chọn hoặc tin theo tôn giáo  
hoặc tín ngưỡng và quyền của các bậc cha mẹ hay người  
giám hộ hợp pháp được giáo dục về tôn giáo và đạo đức  
cho con cái họ theo ý nguyện của riêng họ thì không được  
hạn chế trong mọi trường hợp. Những người bị quản chế  
về mặt pháp lý, chẳng hạn như tù nhân, vẫn có quyền  
hưởng tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở mức độ cao nhất phù  
hợp với điều kiện quản chế (đoạn 8).  
Trong pháp luật Việt Nam, quyền này trước hết được  
ghi nhận tại Điều 51 Hiến pháp, trong đó quy định: “Công  
dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không  
theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước  
pháp luật. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo  
được pháp luật bảo hộ…”  
Thứ tám, việc một tôn giáo được xác định là quốc giáo,  
là tôn giáo chính thức hay truyền thống, hoặc có số lượng  
tín đồ chiếm đa số trong xã hội không được sử dụng để  
làm ảnh hưởng đến việc thực hiện các quyền tự do quy  
Quy định trên của Hiến pháp được tái khẳng định và cụ  
thể hoá trong các Điều 47 BLDS, Điều 13 Luật Tổ chức  
Chính phủ năm 1992. Ngoài ra, quyền này còn được khẳng  
định trong các Điều 9 và Điều 16 Luật Giáo dục năm 2005.  
– 183 –  
– 184 –  
NỘI DUNG KHÁI QUÁT CỦA MỘT SỐ QUYỀN CON NGƯỜI…  
HỎI ĐÁP VỀ QUYỀN CON NGƯỜI  
Câu hỏi 80  
Điều 5 BLTTHS quy định, tố tụng hình sự tiến hành theo  
nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật,  
không phân biệt dân tộc, nam nữ, tín ngưỡng, tôn giáo.  
Điều 129 BLHS quy định về tội xâm phạm quyền hội họp,  
lập hội quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân.  
Đặc biệt, Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo (2004) lần đầu  
tiên đã giải thích các thuật ngữ “cơ sở tín ngưỡng”, “tổ  
chức tôn giáo”, “cơ sở tôn giáo”…, đồng thời có các quy  
định về hoạt động tín ngưỡng của người có tín ngưỡng và  
hoạt động tôn giáo của tín đồ, nhà tu hành, chức sắc; tổ  
chức tôn giáo và hoạt động của tổ chức tôn giáo; tài sản  
thuộc cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo…  
Quyền tự do ngôn luận và biểu đạt được quy định như  
thế nào trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam?  
Trả lời  
Quyền này đầu tiên được ghi nhận trong Điều 19  
UDHR: Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ ý  
kiến; kể cả tự do bảo lưu quan điểm mà không bị can thiệp; cũng  
như tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền bá các ý tưởng và thông  
tin bằng bất kỳ phương tiện truyền thông nào và không có giới  
hạn về biên giới. Nội dung Điều 19 UDHR sau đó được tái  
khẳng định và cụ thể hóa trong các Điều 19 và Điều 20  
ICCPR. Theo Điều 19 ICCPR: Mọi người đều có quyền giữ  
quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp. Mọi người có  
quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp  
nhận và truyền đạt mọi thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh  
vực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in, hoặc  
dưới hình thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ phương tiện thông  
tin đại chúng nào tuỳ theo sự lựa chọn của họ (Khoản 1 và 2).  
Khoản 3 Điều này xác định quyền tự do biểu đạt ”phải  
được thực hiện kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm  
đặc biệt. Vì vậy quyền này có thể phải chịu một số hạn chế  
nhất định được quy định trong pháp luật và là cần thiết để:  
(a) tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác và; (b)  
để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sự bình yên  
hoặc đạo đức xã hội”.  
Căn cứ vào những giới hạn của quyền tự do tín ngưỡng  
và tôn giáo nêu ở Điều 18 ICCPR, các Điều 70 Hiến pháp,  
Điều 47 BLDS và Điều 13 Luật Tổ chức Chính phủ năm  
2002, bên cạnh quy định cấm các hành vi xâm phạm tự do  
tín ngưỡng, tôn giáo còn quy định cấm các hành vi lợi  
dụng tín ngưỡng, tôn giáo để xâm phạm lợi ích của Nhà  
nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người  
khác. Những hành vi bị nghiêm cấm còn được nêu cụ thể  
trong Điều 15 của Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo, Điều 2  
Nghị định số 22/2005/NĐ‐CP (ngày 1/3/2005). Ngoài ra,  
liên quan đến vấn đề này, Điều 87 BLHS quy định về tội  
phá hoại chính sách đoàn kết, trong đó bao gồm hành vi:  
“Gây chia rẽ người theo tôn giáo với người không theo tôn  
giáo, chia rẽ các tín đồ tôn giáo với chính quyền nhân dân,  
với các tổ chức xã hội”.  
Theo Ủy ban giám sát ICCPR, quyền được giữ quan  
điểm của mình mà không bị ai can thiệp nêu ở khoản 1  
– 185 –  
– 186 –  
NỘI DUNG KHÁI QUÁT CỦA MỘT SỐ QUYỀN CON NGƯỜI…  
HỎI ĐÁP VỀ QUYỀN CON NGƯỜI  
Điều 19 là quyền tuyệt đối, không được hạn chế hay tước  
bỏ trong bất cứ hoàn cảnh nào, kể cả trong tình huống  
khẩn cấp của quốc gia57.  
lập hay quyền tự vệ của các dân tộc mà phù hợp với Hiến  
chương Liên Hợp Quốc. Trong khi đó, quy định cấm trong  
khoản 2 Điều 20 được áp dụng với những hành động khơi  
gợi lòng hận thù dân tộc, chủng tộc, tôn giáo, từ đó kích  
động sự phân biệt đối xử, sự thù địch hay bạo lực, bất kể  
sự tuyên truyền diễn ra ở bên trong hay bên ngoài các quốc  
gia có liên quan (đoạn 2).  
Bổ sung cho quy định trong Điều 19, Điều 20 ICCPR đề  
cập đến một hạn chế cần thiết của quyền tự do biểu đạt,  
theo đó, mọi hình thức tuyên truyền cho chiến tranh, mọi chủ  
trương gây hằn thù dân tộc, chủng tộc hoặc tôn giáo để kích  
động sự phân biệt đối xử về chủng tộc, sự thù địch, hoặc bạo lực  
đều phải bị pháp luật nghiêm cấm. Một số khía cạnh liên quan  
đến nội dung Điều 20 ICCPR sau đó được Ủy ban giám sát  
ICCPR làm rõ thêm trong Bình luận chung số 11 thông qua  
tại phiên họp lần thứ 19 năm 1983 của Ủy ban, có thể tóm  
tắt những điểm quan trọng như sau:  
Trong pháp luật Việt Nam, liên quan đến quyền trên,  
Điều 69 Hiến pháp quy định: “Công dân có quyền tự do  
ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin”. Cụ thể  
hóa quy định này của Hiến pháp, Điều 2 Luật Báo chí năm  
1990 (được sửa đổi, bổ sung năm 1999) quy định cá nhân  
công dân có quyền đăng tải trên các phương tiện thông tin  
đại chúng những ý kiến cá nhân của mình không trái với  
chính sách, pháp luật của nhà nước. Nhà nước tạo điều  
kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí,  
quyền tự do ngôn luận trên báo chí và không một tổ chức,  
cá nhân nào được hạn chế, cản trở báo chí, nhà báo hoạt  
động. Tuy nhiên, Luật Báo chí đồng thời quy định cấm lợi  
dụng tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí để xâm  
phạm lợi ích của Nhà nước, tập thể và công dân. Những  
hành vi bị cấm này được quy định cụ thể trong Điều 5  
Nghị định 51/2002/NĐ‐CP (ngày 26/04/2005) theo đó báo  
chí không được:  
Thứ nhất, việc cấm các hình thức tuyên truyền cho chiến  
tranh, gây hằn thù dân tộc, chủng tộc, tôn giáo hay kích  
động sự phân biệt đối xử về chủng tộc, sự thù địch, hoặc  
bạo lực là cần thiết và không mâu thuẫn với quyền tự do  
biểu đạt quy định ở Điều 19 ICCPR, bởi Điều này nêu rõ  
việc thực hiện quyền tự do biểu đạt phải kèm theo những  
nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt (đoạn 2).  
Thứ hai, quy định cấm trong khoản 1 Điều 20 cũng áp  
dụng cho tất cả những hình thức tuyên truyền đe dọa thực  
hiện hành động xâm lược hay phá hoại hòa bình trái với  
Hiến chương Liên Hợp Quốc. Tuy nhiên, khoản 1 Điều 20  
không ngăn cấm việc cổ vũ các quyền tự quyết, quyền độc  
‐ Đăng, phát những tác phẩm báo chí, nghệ thuật, văn học,  
tài liệu trái pháp luật, có nội dung chống đối Nhà nước  
CHXHCN Việt Nam và phá hoại khối đoàn kết toàn dân;  
57  
Xem Bình luận chung số 10 thông qua tại phiên họp lần thứ 19  
năm 1983 của Ủy ban nhân quyền, đoạn 1.  
– 187 –  
– 188 –  
NỘI DUNG KHÁI QUÁT CỦA MỘT SỐ QUYỀN CON NGƯỜI…  
HỎI ĐÁP VỀ QUYỀN CON NGƯỜI  
‐ Miêu tả tỉ mỉ những hành động dâm ô, chém giết rùng rợn  
trong các tin, bài, hình ảnh về các vụ án và hành động tội ác;  
sách đoàn kết); Điều 88 (Tội tuyên truyền chống Nhà nước  
CHXHCN Việt Nam); Điều 22 (Tội vu khống); các Điều  
263, 264 về tội tiết lộ bí mật nhà nước...  
‐ Đăng, phát tin, bài, hình ảnh, tranh, ảnh khỏa thân và  
có tính chất kích dâm, thiếu thẩm mỹ, không phù hợp với  
thuần phong mỹ tục Việt Nam;  
Câu hỏi 81  
‐ Đăng, phát ảnh của cá nhân mà không có chú thích rõ  
ràng hoặc làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của cá nhân  
đó (trừ ảnh thông tin các buổi họp công khai, sinh hoạt tập  
thể, các buổi lao động, biểu diễn nghệ thuật, thể dục thể  
thao, những người có lệnh truy nã, các cuộc xét xử công  
khai của Tòa án, những người phạm tội trong các vụ trọng  
án đã bị tuyên án);  
Quyền tự do lập hội, hội họp hòa bình được quy định như  
thế nào trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam?  
Trả lời  
Trong pháp luật quốc tế, quyền này đầu tiên được ghi  
nhận trong Điều 20 UDHR. Ngoài việc quy định mọi người  
đều có quyền tự do hội họp và lập hội một cách hoà bình, Điều này  
còn nêu rõ (trong khoản 2), không ai bị ép buộc phải tham gia vào  
bất cứ hiệp hội nào. Sau đó quyền này được tái khẳng định và  
cụ thể hóa trong hai Điều 21 và Điều 22 ICCPR.  
‐ Đăng, phát tin bài ảnh hưởng xấu đến đời tư, công bố  
tài liệu, thư riêng của cá nhân khi chưa được sự đồng ý của  
người viết thư, người nhận thư hoặc người chủ sở hữu hợp  
pháp tài liệu, bức thư đó;  
Theo Điều 21 ICCPR, quyền hội họp được kèm theo điều  
kiện “hòa bình”, tức là phải mang tính ôn hòa, không được  
mang tính bạo lực, gây rối, làm ảnh hưởng đến hoạt động  
chung của xã hội. Đặc biệt, cả hai Điều 21 và 22 đều nêu rõ,  
việc thực hiện quyền hội họp và lập hội có thể phải chịu  
những hạn chế do pháp luật quy định và là cần thiết trong  
một xã hội dân chủ, vì lợi ích an ninh quốc gia, an toàn và  
trật tự công cộng, và để bảo vệ sức khỏe và đạo đức xã hội  
hoặc bảo vệ quyền và tự do của những người khác. Điều đó  
có nghĩa là quyền này cũng không mang tính tuyệt đối.  
Ngoài hạn chế đó, theo Điều 22 các quốc gia có thể đặt ra  
những hạn chế về thực hiện quyền này với những người  
làm việc trong các lực lượng vũ trang và cảnh sát.  
‐ Đăng, phát tin, bài truyền bá hủ tục, mê tín, dị đoan;  
Liên quan đến quyền tự do ngôn luận trong lĩnh vực  
xuất bản, Luật Xuất bản (2001) quy định: Nhà nước bảo  
đảm quyền phổ biến tác phẩm dưới hình thức xuất bản  
phẩm thông qua nhà xuất bản và nhà nước không kiểm  
duyệt tác phẩm trước khi xuất bản (Điều 5).  
Theo BLHS, tùy theo tính chất và mức độ vi phạm,  
những hành vi lợi dụng tự do báo chí, tự do ngôn luận trên  
báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tập thể và công  
dân có thể bị truy tố theo các Điều 87 (Tội phá hoại chính  
– 189 –  
– 190 –  
NỘI DUNG KHÁI QUÁT CỦA MỘT SỐ QUYỀN CON NGƯỜI…  
HỎI ĐÁP VỀ QUYỀN CON NGƯỜI  
Về quyền này, trong pháp luật Việt Nam, Điều 69 Hiến  
pháp quy định: “Công dân có quyền hội họp, lập hội, biểu  
tình theo quy định của pháp luật”. Để hiện thực hóa quy  
định này của Hiến pháp, (Điều 129) BLHS quy định về tội  
xâm phạm quyền hội họp, lập hội, quyền tự do tín ngưỡng,  
tôn giáo của công dân. Quyền lập hội còn được quy định  
chi tiết trong Luật về quyền lập hội (năm 1957), Nghị định  
88/2003/NĐ‐CP (ngày 30/7/2003) hướng dẫn thi hành luật  
và một số văn bản dưới luật khác.  
quyền bầu cử, ứng cử và quyền có cơ hội tham gia điều  
hành các công việc xã hội một cách trực tiếp hoặc thông  
qua những đại diện do họ tự do lựa chọn.  
Theo Ủy ban giám sát thực hiện ICCPR, để bảo đảm tốt  
quyền bầu cử, ứng cử của công dân, các quốc gia thành  
viên cần có biện pháp khắc phục những trở ngại về ngôn  
ngữ, tình trạng mù chữ cũng như đói nghèo khiến công  
dân không thể thực hiện đầy đủ quyền này. Thêm vào đó,  
các quốc gia cũng phải bảo đảm là các cuộc bầu cử phải  
diễn ra một cách tự do và công bằng.  
Căn cứ vào những giới hạn có thể áp đặt với quyền này  
nêu ở các Điều 21, 22 ICCPR, Điều 89 BLHS đồng thời quy  
định tội phá rối an ninh mà cấu thành hành vi là kích động,  
lôi kéo, tụ tập nhiều người phá rối an ninh, chống người thi  
hành công vụ, cản trở hoạt động của cơ quan, tổ chức. Về  
khía cạnh này, Nghị định của Chính phủ số 38/2005/NĐ‐CP  
ngày 18/3/2005 cũng quy định cụ thể về các hành vi bị cấm  
nhằm bảo đảm trật tự nơi công cộng, thủ tục đăng ký tập  
trung đông người ở nơi công cộng với UBND có thẩm quyền.  
Trong pháp luật Việt Nam, quyền này trước hết được  
ghi nhận trong các Điều 53, 54 của Hiến pháp. Theo Điều  
54: Công dân, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành  
phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề  
nghiệp, thời hạn cư trú, đủ 18 tuổi trở lên đều có quyền  
bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên đều có quyền ứng cử vào  
Quốc hội, Hội đồng Nhân dân theo quy định của pháp  
luật. Điều 53 quy định: “Công dân có quyền tham gia  
quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn  
đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với các  
cơ quan nhà nước”.  
Câu hỏi 82  
Quyền được bầu cử, ứng cử và tham gia quản lý nhà  
nước được quy định như thế nào trong pháp luật quốc tế và  
pháp luật Việt Nam?  
Các quy định trong Hiến pháp về quyền bầu cử và ứng cử  
của công dân được cụ thể hoá trong Điều 2 Luật BCĐBQH và  
Điều 2 Luật BCĐBHĐND. Theo các Điều này, việc bầu cử đại  
biểu Quốc hội và đại biểu HĐND được tiến hành theo  
nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.  
Trả lời  
Trong Luật nhân quyền quốc tế, quyền này được quy  
định trong Điều 25 ICCPR, theo đó, mọi công dân không có  
bất kỳ sự phân biệt hoặc sự hạn chế bất hợp lý nào đều có  
– 191 –  
– 192 –  
NỘI DUNG KHÁI QUÁT CỦA MỘT SỐ QUYỀN CON NGƯỜI…  
HỎI ĐÁP VỀ QUYỀN CON NGƯỜI  
Để bảo vệ quyền bầu cử, ứng cử của công dân, BLHS có  
hai điều về Tội xâm phạm quyền bầu cử, quyền ứng cử của  
công dân (Điều 126), và Tội làm sai lệch kết quả bầu cử  
(Điều 127).  
cáo năm 1998 (sửa đổi, bổ sung một số điều vào các năm  
2004, 2005, hiện đã tách thành hai Luật Khiếu nại và Luật  
Tố cáo) và Điều 6 Luật Phòng, chống tham nhũng năm  
2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2007), trong trường hợp phát  
hiện có hành vi trái pháp luật của các cơ quan, cán bộ, công  
chức nhà nước, công dân có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ  
quan nhà nước có thẩm quyền…  
Về quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, ngoài  
quy định nêu trên của Hiến pháp, pháp luật Việt Nam còn  
có nhiều quy định khác nhằm tạo điều kiện cho công dân  
tham gia quản lý nhà nước và xã hội thông qua việc giám  
sát hoạt động của các cơ quan, cán bộ công chức nhà nước  
và đại biểu dân cử. Cụ thể, Điều 112 Hiến pháp quy định  
Chính phủ có trách nhiệm bảo đảm thực hiện quyền  
tham gia quản lý nhà nước và xã hội của nhân dân; Điều 8  
Hiến pháp quy định: Các cơ quan, cán bộ và viên chức nhà  
nước phải tôn trọng, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát  
của dân; Điều 97 Hiến pháp quy định: Nghĩa vụ của các  
đại biểu Quốc hội phải thu thập và phản ánh trung thực ý  
kiến của cử tri với Quốc hội và các cơ quan nhà nước hữu  
quan. Theo Điều 43 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2002 (sửa  
đổi, bổ sung một số điều năm 2007), đại biểu Quốc hội chịu  
sự giám sát của cử tri, mỗi năm một lần đại biểu phải báo  
cáo trước cử tri về việc thực hiện nhiệm vụ của mình; cử tri  
có thể trực tiếp hoặc thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam  
yêu cầu đại biểu báo cáo công tác và có thể nhận xét về việc  
thực hiện nhiệm vụ của đại biểu. Điều 2 Pháp lệnh Cán bộ,  
Công chức năm 1998 (sửa đổi, bổ sung một số điều vào các  
năm 2000, 2003) cũng quy định, trong quá trình thực hiện  
nhiệm vụ của mình, cán bộ, công chức nhà nước chịu sự  
giám sát của nhân dân. Theo các Điều 1 Luật Khiếu nại, Tố  
Câu hỏi 83  
Quyền được bảo vệ đời tư được quy định như thế nào  
trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam?  
Trả lời  
Trong Luật nhân quyền quốc tế, quyền này đầu tiên  
được đề cập trong Điều 12 UDHR. Theo Điều này, không ai  
phải chịu sự can thiệp một cách tuỳ tiện vào cuộc sống riêng tư,  
gia đình, nơi ở hoặc thư tín, cũng như bị xúc phạm danh dự hoặc  
uy tín cá nhân. Mọi người đều có quyền được pháp luật bảo vệ  
chống lại sự can thiệp và xâm phạm như vậy.  
Quy định trong Điều 12 UDHR sau đó được tái khẳng  
định trong Điều 17 ICCPR. Một số khía cạnh liên quan đến  
nội dung Điều 17 ICCPR sau đó được Ủy ban giám sát  
công ước làm rõ thêm trong Bình luận chung số 16 thông  
qua tại phiên họp lần thứ 31 năm 1988 của Ủy ban, có thể  
tóm tắt những điểm quan trọng như sau:  
Thứ nhất, Điều 17 ICCPR nhằm ngăn chặn những hành  
vi xâm phạm tùy tiện và bất hợp pháp vào đời tư, gia đình,  
– 193 –  
– 194 –  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 85 trang Thùy Anh 12020 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu Hỏi đáp về quyền con người (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftai_lieu_hoi_dap_ve_quyen_con_nguoi_phan_2.pdf